Thiệu Tống

Lượt đọc: 2667 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 361
Kích kiếm

❊ ❊ ❊

"Sơn ngoại thanh sơn lâu ngoại lâu, Tây Hồ ca vũ kỷ thời hưu?

Noãn phong huân đắc du nhân túy, trực bả Hàng Châu tác Biện Châu."

Vả nói, bởi có Tây Hồ, cách cục của thành Hàng Châu xưa nay vốn khác nơi khác, như thành trì hẹp dài, lại như ngoài cửa Tây chính thức của thành là cửa Dũng Kim, đi về phía nam có một khoảng đất trống. Lẽ ra đó là quy chế ngoại thành, đặt chỗ nào khác thì thế nào cũng không sánh được sự phồn hoa trong thành. Nhưng trên thực tế, nơi này vì kề Tây Hồ, có thể xa ngắm Tô Đê, Lôi Phong tháp, lại là cửa cống, bến tàu nơi hào thành thông ra Tây Hồ, nên xưa nay tửu lâu san sát, thương nhân tụ tập, thật sự còn náo nhiệt hơn trong thành vài phần.

Mà nay, đã đến mùa đông năm Kiến Viêm thứ tám, Triệu Quan Gia ở Biện Châu nam tuần, vì ưng ý cảnh đẹp Tây Hồ, trực tiếp đóng quân lâu dài ở ngoại cung cũ của Ngô Việt trên núi Phượng Hoàng, phía tây nam châu thành, đông nam Tây Hồ, khiến nơi này thật tế trở thành trung tâm chính trị của toàn bộ phương nam đế quốc, thì lại càng khiến ngoài cửa Dũng Kim thêm phần phồn hoa gấm vóc.

Chưa nói gì khác, chỉ riêng đám 'dĩ bị tư tuân' qua lại mưu tính kiến lập chế độ địa phương công các, thì mười kẻ đã có đến tám kẻ là quý tộc cũ Giang Nam gia tư dày dặn. Tùy tiện thưởng một chút, cũng đủ khiến bọn tầm thường nơi phố chợ kiếm thêm miếng cơm.

Huống chi, ngoài những người đó ra, còn có các quan lại, tín sứ khắp nước ra vào không ngừng, cùng với mấy ngàn hổ bôn ngự tiền đột nhiên đông thêm quanh núi Phượng Hoàng, đều là những kẻ phải tiêu dùng chi tiêu, lại đủ khiến sự phồn hoa ngoài cửa Dũng Kim này càng lên một tầng nữa rồi.

Vậy trở lại bài thơ mở đầu kia, nghe nói chính là một tên tao khách vô danh nào đó ngâm ra, vì nhà mình không thể vào được công các, nên đề ở một tòa tửu lâu nào đó ngoài cửa Dũng Kim, lấy đó trào phúng những kẻ 'dĩ bị tư tuân' suốt ngày tưởng rằng vào được công các có cái đãi ngộ chính trị là coi như xuất sĩ.

Đúng thế, đây là một bài thơ ghen tị với đám 'dĩ bị tư tuân', thế mà còn bị Triệu Quan Gia sau khi tiễn Lý Cương Lý Công Tướng về quê vào hôm sau đại hội võ lâm kết thúc, tiện đường ghé tòa tửu lâu này xem Lôi Phong tịch chiếu, để mắt ngự trông thấy!

Vì thế, tòa chính điếm tửu lâu này, nghe nói lịch sử đã năm sáu chục năm, hôm qua đặc biệt đổi tên thành Lâu Ngoại Lâu, sinh ý cũng trong phút chốc nhảy lên đệ nhất Tây Hồ… chẳng biết bao nhiêu nhàn nhân tao khách, chuyên môn buổi chiều đến lên tòa Lâu Ngoại Lâu này, chuyên học Triệu Quan Gia ngắm cái thứ lôi phong tịch chiếu chết tiệt gì đó.

Đúng là cái thứ lôi phong tịch chiếu chết tiệt gì đó, nên biết rằng, từ hồi hơn mười năm trước Phương Lạp khởi sự, Lôi Phong tháp bị quan quân và giặc cướp thừa cơ phá hủy rồi, toàn bộ tòa tháp rách nát tả tơi, không còn thắng cảnh ngày xưa. Cũng chỉ hạng người thẩm mỹ kỳ quái như Triệu Quan Gia mới chuyên môn chỉ vào một cái tháp nát, nói cái gì không hổ là Tây Hồ thắng cảnh.

Nhàn thoại thiếu thuyết, chiều hôm nay, trời trong nắng đẹp, lẽ ra lại là một ngày Lâu Ngoại Lâu bị chen ních, thế mà chẳng có mấy khách quý lên lầu. Trái lại, chính chỗ phong cảnh, nhưng chẳng phải nơi ngắm cảnh, dưới chân Lôi Phong tháp nay đổi tên là Tịch Chiếu Sơn, nhất thời người đông nghịt. Hóa ra, chiều nay, bất kể là đám 'dĩ bị tư tuân' cũng tốt, hay các sĩ nhân hào khách khác đến tìm đường sĩ đồ, thì đều trực tiếp ùa đến nơi này để chuẩn bị quan ma nghi thức… Nội chế là Lã Bản Trung phụng chỉ ra hành tại, đến nơi này lập bia ghi lại thịnh huống đại hội võ lâm Kiến Viêm ngày ấy.

"Quả thật, cũng nên lập cái bia rồi."

Trông thấy Lã Bản Trung ở xa xa dưới chân Lôi Phong tháp đang nói gì đó, hai gã niên trường sĩ tử chen mãi không lọt đành phải chắp tay tán gẫu ở vòng ngoài Tịch Chiếu Sơn. "Quan gia một phen lời nói khiến Lý Tướng Công tự thỉnh về quê, để giữ thanh danh lâu dài, cũng khiến Trương Cửu Thành dấy lòng vương tiền khu, chuyển sang nhập sĩ Đông Kinh, chỉ riêng vì hai vị này đã đáng dựng một tấm bia, để làm định luận."

"Đây cũng là được gặp thánh chúa, Lý Bá Kỷ mới có thể có kết cục tốt như thế, Trương Cửu Thành mới có thể có thời vận tốt như thế." Người bên cạnh theo đó cảm khái. "Một kẻ bạch y, bốn mươi bất hoặc rồi, lại có thể vì tấu đối mà từ bạch y nhảy lên Thị lang, ở vào Bí các, loại sự tình này để ở trước Kiến Viêm, chỗ nào có thể thấy được?"

"Ai nói chẳng phải?" Người kia cũng buông tiếng thở dài theo. "Chỉ tiếc rằng, cơ ngộ như Trương Cửu Thành rốt cuộc chỉ có một người, còn lại dù là những người đã có xuất thân, đã nhận sai khiển trong Công Các thì cũng chỉ là Tô Bạch, Lý Thao đám mười mấy người mà thôi. Mà cái địa phương Công Các này nếu thành, cụ thể chương trình ra sao, có thể có phẩm giai thế nào, có thể làm những sai khiển gì thì đều còn hàm hồ... Chẳng lẽ thật sự như bài thơ trào phúng mà cái tên lãng đãng tử kia đề, thuần túy chỉ là cái danh không, Quan Gia một phen hồi Biện Châu rồi liền trực tiếp phế bỏ đó sao?"

"Không đến mức đó." Bên cạnh, một trung niên sĩ nhân chừng bốn mươi tuổi, nãy giờ vẫn chăm chú nghe hai người này nghị luận, bỗng nhiên xen lời. Mà người này nói giọng bản địa, hẳn là nhân sĩ Lưỡng Chiết, thế nhưng lại mang một thanh kiếm, thật là quái dị. "Quan Gia lần này tuần du phương nam, vì Lý Bá Kỷ minh oan, đề bạt Trương Cửu Thành đều chỉ là thuận tay làm thôi, mấu chốt vẫn là đẩy mạnh chính sách vĩnh bất gia phú, cùng với than đinh nhập mẫu những đại chính như thế. Hai phép này nếu thành, thì bách tính Giang Nam oán khí tiêu tan, phía dưới biết bao chuyện nhơ nhuốc cũng có thể được rửa sạch đôi chút, trọng nhiệm phủ an Giang Nam trước ngày Bắc Phạt cũng coi như là thành..."

"Nhưng điều này thì có quan hệ gì đến quyền trách của Công Các sao?" Người trước đó vẫn không hiểu.

"Đương nhiên là có." Vị trung niên sĩ nhân mang kiếm này cười đáp ngay tại chỗ. "Muốn thi hành đại chính này, nhất là than đinh nhập mẫu, căn bản là phải khiến cho phần tiền vốn do bách tính bần khổ xuất chuyển sang cho những hình thế hộ có tiền có thế ở địa phương... Mà nếu muốn áp chế hình thế hộ, chiếu theo thông lệ bản triều tất nhiên phải mượn sức kẻ sĩ, lôi kéo kẻ sĩ đi áp chế những hộ này. Ngoài ra, Quan Gia và Lã Tướng Công tuy rằng trước sau cứng rắn, đến mức tuyên dương rằng sẽ điều đại quân Ngự doanh nam hạ, nhưng Quan Gia cũng được, Lã Tướng Công cũng thế, ai mà muốn thực sự ép cho lũ hình thế hộ kia tạo phản? Cho nên không tránh khỏi còn phải thu lấy một hai... Còn như làm sao thu lấy, thì lại là câu nói kia, phàm sự tất có sơ, chỉ xem Công Các này lúc mới kiến lập là vì cái gì thì liền rõ thôi."

"Ta hiểu rồi." Chẳng đợi hai người kia đáp, bên cạnh lại một người trung niên sĩ nhân khác nãy giờ không lên tiếng, đột nhiên cũng cất lời tham dự vào, thế rồi, vậy mà cũng là một cái đeo kiếm... Cái xứ Đông Nam này, lại là dưới triều Đại Tống, một lúc gặp phải hai sĩ nhân đeo kiếm, không khỏi khiến người ta phải tấm tắc khen kỳ. "Ý của nhân huynh là, Quan Gia tuy là Thiên tử, yêm hữu tứ hải, chỉ là trừ phi bị buộc đến đường cùng, bằng không cũng không tiện trực tiếp dùng sức mà đè người, vẫn là phải tận lực giảng quy củ... Cho nên Công Các này nhất định phải là thường thiết, hơn nữa nhất định sẽ có một chút pháp môn thực sự nghị sự, lại thông đạt tới trước mặt Thiên tử, thậm chí nói không chừng sẽ có một ít sai khiển đặc định chuyên môn phân xuống."

"Không sai!" Vị sĩ nhân thứ ba, thấy đối phương là kẻ hiểu nghề, hơn nữa lại giống mình đeo kiếm, lập tức đại hỉ.

"Mà nếu như thế, chúng ta liền nên sử chút thủ đoạn ra, đối với dưới thì khiến Giang Nam an ổn, không gây rối cho triều đình, để tránh làm nên họa sự; đối với trên thì phải đi khuyến gián Quan Gia, không cần thực sự khiển đại quân nam hạ... Lại đến một vạn cho đến mấy vạn Ngự doanh binh mã tới Đông Nam, thế mới thực là vạn mã tề ám (muôn ngựa cùng câm lặng) đấy nhỉ!" Vị sĩ nhân thứ tư thấy nói chuyện hợp ý, vội vàng vịn kiếm bước lên, rồi ôm quyền đối diện. "Dám hỏi nhân huynh tên họ, sao không liên danh thượng thư?"

"Hai vị hãy khoan, vì sao..." Hai người vốn dĩ khai mào đề tài lại càng thêm hồ đồ, chỉ là liếc nhìn nhau một cái liền cảm thấy hai người mình căn bản theo không kịp mạch suy nghĩ của hai vị đến sau này, thế nhưng kết luận đối phương đưa ra lại khiến họ như trăm vuốt cào tâm. "Cái liên danh thượng thư này lại..."

"Chuyện này đơn giản thôi." Vị sĩ nhân đeo kiếm đầu tiên lên tiếng cười tùy ý, hơi chút giải thích. "Không gì khác, hai vị hiền huynh còn nhớ Quan Gia lần trước lên Lâu Ngoại Lâu uống rượu chăng? Quan Gia ngự giá thân lâm, không trả tiền cũng được, nhưng Thiệu Áp Ban theo hầu thế mà y nhiên trả tiền y như cũ, đây chính là hành vi thỏa đáng hơn vậy... Mà Quan Gia bây giờ muốn cho hào hữu địa phương thay cho bần dân xuất tiền, liền không tránh khỏi phải lấy quyền trách phẩm giai ra đổi lấy sự quy tâm của kẻ sĩ để áp chế hào hữu, đồng thời hơi cho hào hữu một chút đường ra, đổi lấy việc bọn họ không cần phản ứng quá kích... Mà cái Công Các này, chính là nơi để Quan Gia thanh toán tiền."

Hai người đầu tiên lúc này mới vỡ lẽ, cả mừng khôn xiết... Thì ra Công Các này là nơi Quan Gia cầm phẩm giai đến làm ăn mua bán với hạng người như bọn họ, nói như vậy họ tự nhiên tỉnh ngộ.

Ngay sau đó, bốn người vội vàng thông báo họ tên. Hai người đầu chỉ là những kẻ sĩ phế vật tầm thường, nửa đời chẳng có chút danh phận gì, vậy cũng chẳng đáng nói. Nhưng người thứ ba lại xuất thân từ danh môn họ Lục ở Việt Châu, tên là Lục Bảo. Người thứ tư lại tầm thường hơn một chút, chỉ là một kẻ sĩ sa sút ở Vụ Châu, tên là Trần Ích.

Bốn người thông báo họ tên xong, tự nhiên công cử Lục tiên sinh làm người đứng đầu, chuẩn bị dâng thư bàn việc, tỏ rõ quyết tâm với Quan Gia, tiện thể xem thử có thể kiếm chút lợi lộc từ mối làm ăn của Quan Gia hay không… Thế nhưng, bốn người vừa định bàn bạc kỹ lưỡng một phen, thì lại nghe thấy phía trước, chỗ tấm bia dưới chân Lôi Phong tháp đổ nát, vang lên một trận huyên náo. Hỏi han một hồi lâu mới rõ đầu đuôi sự tình.

Thì ra, sau khi quan Nội chế Lã Bản Trung ra mặt dựng bia kỷ niệm Kiến Viêm Vũ Lâm đại hội trước đó, liền trực tiếp đưa ra một việc, nói là Quan Gia quyết tâm đóng quân tại Giang Nam cho đến khi đại chính sách than đinh nhập mẫu thành công mới hồi kinh, nhưng lại có ý lấy Hành tại làm căn cơ, tạm thời lập ra một tờ Hành tại để báo. Việc này là để cho Lã học sĩ làm thay, nhưng lại cần những danh sĩ “tam hảo” trong Công các — hiểu Nguyên học, yêu Quốc gia, trung thành với Bệ hạ — cùng giúp ông ta làm công sai này… Giang Nam khát khao một tờ để báo đã không biết bao nhiêu năm. Lời này vừa thốt ra, nhịn không được liền có mấy kẻ sĩ phong lưu lôi thôi, bất chấp thể thống, tự tiến cử ngay tại chỗ, kế đó dẫn đến một trận xôn xao.

Đứng xa như vậy, bốn người đương nhiên chỉ có thể trơ mắt nhìn. Có điều, cả bốn người bọn họ cũng chẳng phải hạng văn chương xuất chúng gì, hơn nữa cử chỉ này của Lã Bản Trung rõ ràng kiểm chứng lại suy đoán trước đó của họ, Quan Gia đích xác là muốn tiến hành thu mua chính trị nhất định đối với sĩ nhân và hào hữu vùng Đông Nam.

Thế là, bốn người nhìn nhau, trái lại cùng nhau kiên định ý định nhân cơ hội tốt này mà lên núi Phượng Hoàng. Họ liền quay người lui ra, chuẩn bị trở về nơi trọ, hơi bàn bạc đôi chút… Trong đó, Trần Ích vì trong nhà có phần sa sút, chỉ thuê được gian nhà rỗi của nông hộ ở ngoài thành để tá túc, sau đó lại được Lục Bảo mời đến biệt viện nhà mình ở chung. Dần dần tìm hiểu được nỗi khổ và bước thăng trầm tương tự của đối phương, lại thêm đối phương cũng là một kẻ sĩ tập võ hiếm có, hai người cùng nhau nghị luận thời sự, đấu kiếm đọc sách, thế mà lập tức thân cận hẳn lên, cũng không cần phải nói nhiều.

Và hai ba ngày sau, Lục Bảo vung bút viết một mạch, miễn cưỡng gom thành một bài tấu sớ, còn nhờ cháu trai mình xem giúp chữ sai, thế là chính thức dâng sớ.

Văn thư được đưa đến Phượng Hoàng Sơn, vì toàn bộ đều xoay quanh việc than đinh nhập mẫu, nên đương nhiên được Nhân Bảo Trung phân loại rồi đưa đến trước mặt Hoàng đế.

Triệu Quan Gia xem xong, quả nhiên trong lòng có chút xao động. Cách một ngày sau, khi Lã Di Hạo và Hứa Cảnh Hành theo lệ đến Phượng Hoàng Sơn làm báo cáo, liền nhắc đến việc này:

“Nếu trẫm hiểu không sai, thì ý của văn thư này đại khái là nói sĩ nhân Đông Nam sẽ tận lực phối hợp với đại chính, hy vọng trẫm không phái đại quân Ngự doanh Nam hạ phải không? Hai vị tướng công thấy thế nào?”

“Thần cho rằng lời này trúng ý, trước mắt mà nói, sĩ nhân và hào hữu Giang Nam ít nhiều cũng biết điều.” Hứa Cảnh Hành xem xong văn thư, là người đầu tiên phát biểu ý kiến. “Bao gồm cả việc tra xét ruộng đất đối với chùa quán trước mắt, đều coi như thuận lợi, chưa chắc đã phải phát đại quân Ngự doanh Nam hạ đồn trú ở Kim Lăng…”

Ở đây nói thêm một câu, bất kể là muốn than đinh nhập mẫu, hay muốn vĩnh bất gia phú, điều kiện tiên quyết là phải tiến hành thổ đoạn thống nhất và tra xét ruộng đất quy mô lớn… Thổ đoạn là chỉnh lý thống nhất hộ khẩu, tra xét ruộng đất chính là kiểm địa, đây là điều kiện tiên quyết cho bất cứ cuộc cải cách thuế má quy mô lớn nào.

Sau khi Triệu Quan Gia hạ quyết tâm ở Vũ Lâm đại hội, Lý Cương lại buông bỏ hết thảy, triệt để cáo lão về quê, bèn lấy hai vị tướng công Lã Di Hạo và Hứa Cảnh Hành làm chủ đạo, tiến hành thổ đoạn toàn diện và một số ít hoạt động kiểm địa bắt đầu từ chùa quán.

“Tự quán là tự quán.” Trở lại trước mắt, bên trong Hành cung Phượng Hoàng Sơn đầy tiếng quạ kêu, Lã Di Hạo quả nhiên chẳng tán đồng Hứa Cảnh Hành. “Tự quán ấy mà, cái gọi là sư chạy chùa không chạy, đạo môn xưa nay là sản nghiệp của triều đình, muốn bóp méo vo tròn thế nào cũng được, còn Sa môn rốt cuộc lại trọc đầu, nhìn cái là biết, trốn cũng không thoát, bọn họ dù có bất mãn cũng lắm bề giở trò lươn lẹo, sao dám thực sự chống đối quan phủ? Nhưng đằng sau tự quán, liền phải bắt đầu từ Lưỡng Chiết triển khai kiểm địa toàn diện, việc này chẳng khác gì cướp cơm trực tiếp từ miệng mấy nhà hình thế hộ (hào hữu)... Vậy đến lúc ấy, nhỡ xảy ra họa sự, Quan gia chỉ có ba nghìn quân ở Phượng Hoàng Sơn, ai dám gánh trách nhiệm vạn nhất đây?”

Lời cuối cùng này rõ ràng là nhắc nhở Hứa Cảnh Hành, ông chỉ là kẻ đã về hưu được mời lại, ta mới là Đông Nam sứ tướng chính thức.

Đối với điều này, Hứa Tướng Công chần chừ một chút, không đáp thẳng Lã Di Hạo, mà trực tiếp chắp tay về phía Triệu Quan Gia mà nói:

“Quan gia, từ xưa đến nay hào hữu dễ sinh họa là đúng, đời nay không thể quên binh đao cũng đúng, nhưng nơi Lưỡng Chiết và Giang Đông (Giang Nam Đông Lộ) này, xưa nay giàu có, lại có nhiều người đọc sách, cộng thêm thành nhiều mà làng ít, Quan gia, Lã Tướng Công lại trực tiếp giám sát ở đây, thực xứng đáng là nơi thấm nhuần Vương hóa... tấu sớ này chính là bằng chứng... Vậy nếu nói kiểm địa ở Lưỡng Chiết sẽ gây phản, thần thấy có phần lo nghĩ hơi xa quá rồi.”

“Ý của Hứa Tướng Công là...” Triệu Cửu đương nhiên nhìn ra hai vị Tướng Công này xưa nay không vừa mắt nhau, liền vội vàng lên tiếng chen ngang trước khi Lã Di Hạo phản bác. “Có thể để binh mã phía bắc chuẩn bị sẵn sàng, nhưng cần phải tạm hoãn? Hay là đóng quân xa một chút, như ở Dương Châu hoặc Hoài Điện, tạm thời chưa vượt sông?”

“Thần chính là ý này.” Hứa Cảnh Hành thành khẩn chắp tay. “Quan gia, việc này nếu có thể làm mà không dấy binh đao, không gây loạn, thì đối với lòng dân Giang Nam cũng là một sự vỗ về, lại càng khiến cho uy quyền của Trung khu ở Giang Nam thêm phần sinh trưởng, bằng không dù mượn binh đao đè xuống, e cũng sẽ như loạn Phương Lạp, khiến Đông Nam cách lòng với quốc gia... Loạn Phương Lạp, Tây quân vào dẹp, tác hại còn tệ hơn Phương Lạp, đến mức sĩ dân Đông Nam nghe danh quan quân đã tái mặt, về sau Lý Cương Lý Tướng Công gây loạn quân ở Đông Nam, mãi không dẹp yên, lại càng khiến Đông Nam thêm mấy phần tâm lý phản kháng với việc quân vụ... Cho nên, nếu không phải bất đắc dĩ, thần cho rằng không cần đem đại quân đến Lưỡng Chiết.”

Triệu Cửu không nói một lời, trực tiếp nhìn về phía Lã Di Hạo, hiển nhiên ít nhiều đã bị Hứa Cảnh Hành thuyết phục, nhưng vẫn muốn giữ thái độ tôn trọng Lã Di Hạo.

Còn nói, trong gang tấc, hai vị Tướng Công đã giao phong xong xuôi rồi.

Lã Di Hạo muốn nhấn mạnh mình là Tướng Công chính thức, đối phương chỉ là kẻ về hưu được mời lại, nào ngờ Hứa Tướng Công chính vì mình là kẻ về hưu được mời lại, ngược lại căn bản lười để ý tới Lã Tướng Công, lại khiến Lã Di Hạo muốn không thù dai cũng chẳng biết làm sao, đã hoàn toàn rơi vào thế hạ phong.

Đương nhiên, Lã Di Hạo rốt cuộc là người làm việc, trầm mặc một hồi, vẫn chậm rãi gật đầu, giữa tiếng quạ kêu đưa ra kết luận: “Bệ hạ, Lưỡng Chiết và Giang Đông (Giang Nam Đông Lộ) kỳ thực thần cũng không quá lo lắm, bởi người đọc sách ở đây nhiều hơn hình thế hộ rất nhiều, dù là hình thế hộ cũng phần nhiều có nền nếp văn chương, cái gọi là tú tài tạo phản, tam niên bất thành (tú tài làm phản, ba năm không xong), cũng chẳng sợ bọn họ... Còn Lưỡng Hoài, Giang Tây, Phúc Kiến Lộ thì tính sao đây? Mấy chỗ này có nơi dân phong hung hãn, có nơi đầy dâm tự tà đạo, ai biết có gây họa loạn gì không? Cho nên, thần cho rằng Quan gia tối thiểu phải để trên một vạn đại quân Ngự doanh đến Giang Bắc, và phải chuẩn bị sẵn thuyền bè, chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ... Hơn nữa nhất định phải là Ngự doanh tiền quân có quân kỷ tốt nhất.”

“Vậy thì thế đi, chính thức ban minh chỉ, lệnh cho Ngự doanh tiền quân phó đô thống Vương Quý đem một vạn quân đến đồn trú ở Vô Vi quân, bọn họ từng hành quân qua đó lên phía bắc, cũng coi là quen thuộc địa phương.” Triệu Cửu tức khắc chốt lại. “Còn Lã Tướng Công thì vất vả chút, cần phải bảo quan phủ địa phương Vô Vi quân thành thật một chút, không được để tái diễn chuyện năm nọ dẹp loạn ở Kiền Châu, không cho quân sĩ Ngự doanh dừng lại, không cấp lương thảo.”

“Thần hiểu.” Lã Di Hạo lập tức hơi khom người.

"Hai vị tướng công đã đến, về việc than đinh nhập mẫu, còn có lời nào muốn nhắc nhở trẫm không?" Triệu Cửu nghĩ một chút, tiếp tục hỏi.

"Có." Hứa Cảnh Hành nghiêm giọng đáp lời. "Thần muốn hỏi Quan gia, từ thời Đường đến nay, tổ dung điều chế vốn là thành lệ, trong đó tiền thay cho việc thân dịch của đinh là tơ lụa, mà tơ lụa cùng lương thực tô ruộng gộp lại, chính là thứ nhà nhỏ cửa nhỏ nam cày nữ dệt làm ra, cho nên mới bền được. Nhưng sau khi than đinh nhập mẫu, bách tính bớt nộp tơ lụa sẽ phải chuyển sang cho thế hộ, nhưng thế hộ thì lấy đâu ra nhiều tơ lụa thế? Mà bản thân không có tơ lụa, dù mua hay trực tiếp thu tiền, đều không tránh khỏi cái lo thiếu bạc thiếu đồng. Huống hồ, nếu từ phương hướng thống nhất chế độ, tránh cho lại tiểu lại quấy nhiễu bách tính mà nói, thì dù là tiểu hộ bình thường, sau khi vĩnh bất gia phú và than đinh nhập mẫu, cũng nên bãi bỏ luôn việc thu tơ lụa, chuyển sang thu tiền và lương thực… Nhưng chuyển sang thu tiền và lương thực, thì lại chẳng khác nào ép bách tính đem tơ lụa đi bán, khi ấy lại bị bọn thế hộ, hào thương ép giá, việc này thì lại tính sao?"

Triệu Cửu nghe đối phương trình bày, trong đầu bản năng lại hiện ra một từ nữa, đó là nhất điều tiên pháp.

Chỉ có thể nói, từ xưa tới nay, những cải cách quan trọng đều là xu thế tất yếu của lịch sử… Tuy nhiên, vấn đề hiện giờ là, Đại Tống triều thiếu hụt quý kim loại đến mức chưa từng có, vẻn vẹn dựa vào mấy thuyền quý kim loại đổi chác từ Nhật Bản, cũng căn bản chỉ là chén nước đổ vào xe đang cháy.

Huống chi, lời nhắc nhở cuối cùng của Hứa Cảnh Hành cũng đúng… bất kỳ hành vi nào ép buộc dân chúng tham gia vào giao dịch bất bình thường, đều sẽ khiến dân chúng bị bóc lột thêm một lần một cách vô cớ.

Cho nên, cái nhất điều tiên pháp này lúc này, cũng chỉ là quay một vòng trong đầu mình thôi, thật sự làm ra, thật đúng là tự tìm đường chết.

Dù vậy, Triệu Cửu đã làm thiên tử bảy tám năm cũng chẳng phải tay mới ra đời gì, hơi suy nghĩ một chốc, liền nghiến răng đáp lại: "Chuyện này, trẫm cũng không có cách gì hay lắm, nhưng có hai nguyên tắc… Gọi là nguyên tắc, tức là nói như những điều cơ bản trong Nguyên học vậy, là những điều trần bất khả lay động… Một là, bất kể thế nào, không thể đặt cái cày trước con trâu, khiến nhân chính giảm gánh nặng cho bách tính tầng đáy biến thành ác chính, cùng lắm thì đổ cả rắc rối sang cho thế hộ là được, bởi vì thế hộ có rắc rối thêm nữa cũng không thiệt thòi, so với thế thì, chỗ dân nghèo tiểu hộ thật sự vô phương thì vẫn tiếp tục thu tơ lụa. Hai là, bất kể thế nào, việc đại chính vĩnh bất gia phú và than đinh nhập mẫu này nhất định phải thi hành, không thể vì mấy thứ phiền toái phát sinh thế này mà sinh lòng e sợ chùn bước, làm thành cục diện cựu đảng công kích tân pháp."

Hứa Cảnh Hành vội cười đáp: "Quan gia nghĩ đâu xa quá, thần không có ý ấy…"

"Chưa hẳn cứ phải thống nhất đổi lấy bạc đồng, có thể định ra luật cứng, để ba thứ lương, tơ, tiền cùng ngôi." Chính vào lúc ấy, Lã Di Hạo chợt lạnh lùng chen lời. "Một tấm vải tức là hai xâu tiền, cũng là khoảng hai thạch gạo mới! Ít nhất ở Lưỡng Chiết, cái giá tiền này, không ai bảo là không công đạo được! Mà nếu tiền, lương, tơ có thể hỗ thông, thiếu bạc thiếu đồng bèn chẳng phải là vấn đề lớn lao gì nữa."

Triệu Cửu và Hứa Cảnh Hành cùng giật mình, rồi phản ứng mỗi người một khác.

Người trước nhất thời cả mừng, kẻ sau thì khẽ thở dài, lập tức lắc đầu.

"Mỗi năm lúc thu thuế, các lộ Kinh lược sứ ty đứng ra, lấy giá trung bình của tiền, lương, tơ năm trước đó mà điều chỉnh, đưa ra một cái giá công đạo." Triệu Cửu vội vàng giải thích với Hứa Cảnh Hành. "Nếu gặp thiên tai, liền bỏ mấy thứ giá chung đó, vạch ra khu vực thiên tai, chuyên môn ứng phó… Không giấu gì Hứa tướng công, trẫm ở Đông Kinh, Lâm Thượng Thư từng nói với trẫm việc này, chính là muốn thống nhất giản lường, tính toán thu nhập quốc gia, chỉ là quốc gia còn đang đánh trận, không tiện thúc đẩy ào ào, nhưng nếu có thể trước tiên dung hợp cho mấy thứ chính yếu nhất là tiền, tơ, lương, thì cũng coi như là một tiến bộ lớn lao rồi."

“Thần không phải nói không hay hoặc không được.” Hứa Cảnh Hành thấy Triệu Quan Gia hiểu lầm, vội vàng giải thích. “Vừa rồi thần thực ra cũng định nói dùng sách này làm dự bị, thậm chí còn nghĩ tới, cho phép từ giờ đến trước khi chiến sự kết thúc, để bách tính dùng lương thực, tơ lụa mua vào trái phiếu quốc gia… Dù sao, lương có thể làm quân lương, lụa có thể làm quân tư, sĩ tốt cũng sẽ không oán thán, còn có thể ngược lại dùng tín dự của trái phiếu quốc gia để ổn định giá lương tơ…”

Triệu Cửu ngẩn ra: “Kế hay như thế, Hứa Tướng Công sao không sớm nói thẳng ra?”

“Bởi vì chuyện này trị ngọn không trị gốc, nhiều lắm chỉ là một sách lược tạm thời để dự bị.” Hứa Cảnh Hành nghiêm túc đáp lại. “Xin Quan Gia nghĩ thử, nếu lâu dài dùng sách lược này, thời gian lâu, gặp phải một kẻ như Thái Kinh cầm quyền, một kẻ như Chu Miễn làm Kinh lược sứ, ai có thể ngờ được bọn chúng vì vơ vét địa phương sẽ làm tới mức nào trên cái quyền định giá này? Mà Đại Tống rộng lớn, cả nước thống nhất định giá lại rất bất công với nhiều nơi, cho nên, suy cho cùng, vẫn phải là tiền bạc lưu thông, khiến dân gian tự nhiên lưu chuyển tơ lụa, lương thực mới phải.”

Triệu Cửu chợt hiểu gật đầu, nhưng lại nhìn Lã Di Hạo trước, rồi lại nhìn Hứa Cảnh Hành, sau đó bất giác cười khổ: “Nói vậy, Hứa Tướng Công đã sớm chuẩn bị, chỉ là muốn nhắc trẫm, nợ rồi suy cho cùng vẫn phải trả?”

Hứa Cảnh Hành hơi cúi mình: “Thần chỉ hơi tận đạo làm tôi… không có ý chỉ trích bệ hạ, triều đình hay Lã Tướng Công.”

Triệu Cửu liền cười thêm lần nữa.

Mà Lã Di Hạo lại bỗng lên tiếng: “Quan Gia, đã có quyết tâm và phương lược dự bị, thì nên mạnh dạn ra tay thôi! Chuyện sau Bắc Phạt, thì để sau Bắc Phạt hãy nói, chuyện ở đây vốn là vì Bắc Phạt mà ra!”

“Đang định mượn sự thanh cương của Lã Tướng Công!” Triệu Cửu liền phấn chấn hẳn lên, rồi lại chợt nghĩ đến một chuyện. “Đã muốn làm như vậy, bốn người dâng thư này có nên cho một chức sai khiển, làm ra một thái độ không?”

Dùng quyền lực chính trị thu mua sĩ đại phu và nhà hào hữu thế phiệt, để giảm bớt trở lực thi hành cải cách thuế khóa, với Triệu Quan Gia và các Tể Chấp là chuyện bất ngôn tự minh, huống chi Lã Di Hạo tuy với đồng liêu và thuộc cấp hà khắc, đối đãi Quan Gia ít nhiều vẫn có chú ý, lập tức gật đầu đáp lời:

“Bốn người này thần đều biết căn đế, Lục Bí là người Việt Châu, con em Tể Chấp, thời trẻ bắt đầu từ quận huyện, từng làm Tri Huyện, Thông phán, thậm chí từng làm đến chức Đề cử Kinh Kỳ trà diêm sự, còn từng trong năm Tĩnh Khang giữ vững Trần Lưu, xem như có đủ kinh nghiệm thực vụ… Thần nghĩ chi bằng rộng rãi chút, cho một chức Thông phán, để ông ta đi thân thể lực hành mà thanh tra ruộng đất; còn Trần Ích, phụ thân y tuy chỉ là một nhà hào hữu địa phương đọc không nổi sách, nhưng suy cho cùng cũng lấy tư thế cần vương mà chết trong năm Tĩnh Khang, ít nhiều cũng xem là con em công thần, có thể cho phụ thân y một cái danh phận, rồi phát làm một Tri Huyện, ắt sẽ với triều đình cảm kích rơi nước mắt; còn hai người kia, vốn là hạng hỗn độn, để bọn họ theo Lã học sĩ đi làm báo là được rồi…”

Triệu Cửu hơi gật đầu, nhưng không khỏi tò mò: “Từ văn thư mà xem, Lục Bí, Trần Ích này ít nhất là nhân vật sáng suốt, và Lã Tướng Công nói họ là con em Tể Chấp, con em công thần, sao lại rơi vào cảnh phải tìm đường trong công các vậy?”

Lã Di Hạo quay đầu nhìn Hứa Cảnh Hành, một tiếng không nói.

Phe lần này đã chiếm trọn thượng phong, Hứa Cảnh Hành bị nhìn đến phát ngượng, đương trường hỏi vặn: “Lã Tướng Công có ý gì?”

“Để Hứa Tướng Công hay.” Lã Di Hạo hơi chắp tay. “Lục Bí này sở dĩ rơi vào ruộng đất như thế, chính là do Hứa Tướng Công ngài và Lã Công Tướng (Lã Hảo Vấn) gây ra đấy…”

Hứa Cảnh Hành ngơ ngác một lúc.

Lã Di Hạo cũng chẳng vòng vo, trực tiếp vái dài rồi nói: “Lục Bí từ Đông Nam chuyển chức, từng làm việc dưới trướng Chu Miễn, một trong lục tặc. Khi biến cố Tĩnh Khang nổ ra, Thái Thượng Uyên Thánh Hoàng Đế lên ngôi, Lã Công Tướng cùng Hứa Tướng Công thình lình đắc dụng, căm hận lục tặc và Tân đảng đến tận xương tủy. Thế là một mặt ra sức chống Kim, một mặt lại dấy lên trận qua mạn sao trong triều, khăng khăng quy chụp huynh đệ Lục Bí — những người vừa cản được quân Kim — vào bè lũ gian tặc, rồi phất tay gạch tên, đuổi thẳng ra khỏi triều đình. Đáng thương thay cho kẻ bị chính tay đương triều Tướng Công gạch bỏ, còn mặt mũi nào dám mong tiền đồ nữa? Huống hồ bao năm sau đó, Lã Công Tướng cùng Hứa Tướng Công càng thêm như mặt trời giữa trưa, nên đành ở độ tuổi ba bốn mươi mà từ bỏ con đường sĩ hoạn, lui về ở ẩn suốt bảy tám năm trời. Nghe nói suốt ngày chỉ lấy múa kiếm làm vui. Mấy đứa cháu trai của ông ta, đứa lớn mới mười mấy tuổi, đứa nhỏ còn chưa đầy mười, đều được xưng là thần đồng, thế mà cũng bị ông ta ép suốt ngày ở nhà múa kiếm.”

Hứa Cảnh Hành nghe mà trợn mắt há mồm, vậy mà chẳng thể cãi lại… bởi món nợ tồi tệ này chắc chắn có phần của ông ta, và chính nó cùng Lã Hảo Vấn dưới cái nhìn trị giá của tân triều Kiến Viêm đã trở thành vết nhơ chính trị cả đời chẳng thể nào rửa sạch.

Từ thời Tĩnh Khang cho đến đầu thời Kiến Viêm, hai người này mãi chẳng thoát nổi cái lối mòn đảng tranh. Riêng Hứa Cảnh Hành rút lui sớm, cứ tưởng phất phất tay áo, không mang theo một áng mây nào, nào ngờ còn chẳng bằng Lã Hảo Vấn nắm lấy nguyên học, dần dà trở thành nửa bậc thánh hiền. Vậy mà hôm nay vẫn bị bắt về, làm cái việc ‘thi hành tân pháp’ mà trước đây ông ta vẫn luôn e sợ bài xích. Đương nhiên, có lẽ cả đời Lã Di Hạo cũng không biết, chuyện ông ta chẳng thể vào trung khu chấp chính hoàn toàn là do một lời ‘phế phủ nhất ngôn’ của ai đó.

Cái số mệnh này, quả thật kỳ lạ.

“Còn về phụ thân của Trần Ích.” Ngay lúc tâm tư Hứa Tướng Công đang bay bổng tận phương nào, Lã Di Hạo đã khá hơn một chút mới tiếp tục xoa tay thở dài trong tiếng quạ kêu. “Thì lại chẳng liên can gì tới Hứa Tướng Công, mà là có chút liên quan tới Quan Gia...”

Lần này đến lượt Triệu Cửu sững sờ.

“Phụ thân của cậu ta cũng số mệnh bất hạnh. Quốc gia lâm nạn, trong nhà vốn đã là hào hữu lại mang nửa dòng dõi sĩ nhân, bèn dứt khoát quyên góp gia sản tòng quân. Kết quả tới Đông Kinh, cũng chẳng có con mắt tinh đời, lại nhầm vào đầu quân cho Lưu Diên Khánh, thế là nhất mệnh ô hô…” Lã Di Hạo hiếm hoi cảm khái. “Lưu Diên Khánh vừa chết, rồi Lưu Quang Thế cũng chết. Triều đình về sau có kê cứu công lao đi nữa, cũng phải hơi kiêng dè đôi chút.”

Triệu Cửu nhất thời lúng túng, cũng chẳng biết nên nói gì cho phải.

“Bất quá, dùng Lục Bí thì cũng được thôi, nhưng huynh trưởng của y là Lục Tể lại không thể dùng.” Lã Tướng Công tiếp tục nhắc nhở.

“Ồ?” Triệu Quan Gia vội vàng lên tiếng.

“Hồi Tĩnh Khang, Lục Tể được bổ nhiệm làm Kinh Tây chuyển vận phó sứ... thế mà lại không dám đi... Nếu dùng ông ta, thì bên chỗ Lưu Cấp Lưu Tướng Công kia, thật không biết phải ăn nói thế nào.” Lã Di Hạo mỉm cười đáp, nhưng chẳng rõ là cười vì điều gì.

Triệu Cửu liên tục gật đầu, thuận theo như nước chảy.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.