Những Đứa Con Của Cơn Lốc Xoáy

Lượt đọc: 41 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11

❊ ❊ ❊

Một làn mưa lất phất bị cơn gió quái đản thổi thốc tứ tung khi Larry bước ra con phố nhỏ. Hướng về phía sông, ngọn đèn đường độc nhất hắt ánh sáng mờ ảo giống như một tinh vân sắp tàn lụi; tất cả các cửa hàng đều đóng cửa; ánh đèn nhà ai hắt ra sau những tấm rèm cửa đã được kéo kín để chắn cơn bão; khiến con phố lúc bấy giờ trông như một hẻm núi nhỏ ngập tràn những chiếc bóng chập chờn.

Larry chẳng cần phải suy nghĩ cũng biết rằng Gavegan đang lùng sục trả thù từ khu vực phía tây, nơi tọa lạc Tổng hành dinh. Thế nên, bám sát vào những chiếc bóng tối sẫm dọc theo chân tường, Larry rẽ về hướng đông của con phố, chợt nhớ ngay đến một chiếc xuồng nhỏ mà anh từng thấy buộc vào một chiếc sà lan neo ở cầu tàu—nơi vươn ra như một ngón tay chỉ đường từ Quảng trường nhỏ. Lúc này, anh chưa có kế hoạch nào ngoài nhu cầu cấp bách của hiện tại, đó là chạy trốn. Giá mà anh có thể lẻn lên chiếc xuồng đó mà không bị phát hiện rồi tháo dây chèo đi, anh sẽ có chút thời gian trong chốn ẩn náu ngắn ngủi mà dòng sông đen ngòm mang lại, để vạch ra phương án khôn ngoan nhất mà hoàn cảnh ngặt nghèo của anh cho phép.

Khi đến gần ngọn đèn đường đang chập chờn như con đom đóm bị vùi dập ấy, nó bỗng biến thành ánh đèn pha rực rỡ mang đầy vẻ phản chủ đối với anh. Nhưng anh buộc phải đi qua nó để lấy được chiếc xuồng; và với cổ áo dựng cao, vành mũ sụp xuống cùng cái đầu cúi thật thấp, anh bước vào vùng ánh sáng lờ mờ đầy hiểm họa ấy, đi dưới thứ ánh sáng rẻ tiền của ngọn lửa đèn, rồi lướt nhanh về phía bóng tối ở bên kia, đôi mắt căng lên với sự nhạy bén phi thường của một kẻ bị săn đuổi trước mọi bậc thềm và ô cửa phía trước.

Anh vừa bước ra khỏi vùng ánh sáng mờ sương—ngọn đèn lúc này đã ở phía sau lưng giúp anh che khuất—thì nhìn thấy ba bóng người lờ mờ đang rình rập cách đó chừng nửa tá bước chân. Bộ não của anh ghi nhận những bóng nhanh như chớp của một chiếc máy ảnh ở giữa trưa hè rực rỡ. Chúng chỉ là những cái bóng; nhưng kẻ đứng xa hơn trong ba người có vẻ là Barney Palmer—anh không dám chắc; thế nhưng về danh tính của hai kẻ kia thì không còn nghi ngờ gì nữa: đó là "Little Mick" và "Lefty Ed", cả hai đều là những nhân vật cộm cán trong hội đồng của băng Ginger Bucks, và dịch vụ thanh toán thuê của bất kỳ tên nào trong số đó có thể được mua với giá một trăm đô la hoặc một gói cocaine, tùy thuộc vào việc lúc bấy giờ người ta thấy nhu cầu nào lớn hơn.

Ngay khoảnh khắc nhìn thấy họ, Larry quay phắt lại và chạy hết tốc lực ngược lên phố. Hai phát súng vang lên; Larry không thể phân biệt được chúng do Little Mick, Lefty Ed hay Barney Palmer bắn ra—nghĩa là, nếu kẻ thứ ba thực sự là Barney. Lại thêm hai phát súng nữa nổ ra, tiếp theo là tiếng chân người đuổi theo sau. May thay không một viên đạn nào trúng người Larry; bởi vì sát thủ chuyên nghiệp ở New York vốn là những kẻ bắn tồi tệ nhất trên thế giới này, và chẳng thể trông chờ gì vào tay súng của chúng, trừ phi chúng có thể ép chặt vũ khí vào người nạn nhân, hoặc lén lút vòng ra phía sau để bắn lén vị nạn nhân xấu số không một chút phòng thủ.

Khi Larry đến gần cửa hàng cầm đồ với ý định tẩu thoát qua đoạn phía tây của con phố, anh thấy Lão Isaac đã bật đèn lên; và anh cũng nhìn thấy viên cảnh sát Gavegan đang lao thẳng về phía mình. Họ chạm trán nhau chỉ trong một khoảnh khắc, và Gavegan gầm lên một tiếng rồi chồm tới chỗ anh.

Bị kẹt giữa hai thế lực đối đầu, Larry một lần nữa chẳng có thời gian để tính toán. Đúng hơn là chẳng có gì để mà tính toán cả, bởi vì trước mặt anh chỉ còn độc nhất một con đường. Anh lao vào hiệu cầm đồ rồi chạy tuột vào căn phòng phía sau. Tại bàn làm việc của Nữ công tước, Hunt đang cặm cụi viết với tốc độ chóng mặt.

"Tôi bị bắt rồi, Hunt—Gavegan đang đến," anh thở hổn hển, rồi chạy ào lên cầu thang, Hunt lủi thủi theo sau và nhét vội những trang giấy vừa viết vào túi áo. Khi Larry bước qua cánh cửa phòng thu đang mở, anh thấy Casey đang ngồi dậy. "Nằm rạp xuống sàn đi, Casey! Hunt, hãy làm gì đó để hắn tỉnh lại đi—và nếu được thì cứ tìm cách kéo dài thời gian với Gavegan."

Dứt lời, Larry lao vút tới chiếc thang ở cuối hành lang nhỏ, leo phắt lên, tháo móc rồi đẩy tung cửa sập, luồn người lên mái nhà và sập cửa sập lại vị trí cũ.

May mắn thay, hay nói đúng hơn là nhờ sự nhanh trí đầy thiện chí của những người bạn ở phía dưới, đã mang lại cho Larry thêm vài khoảnh khắc quý giá vượt quá dự tính của anh. Anh vừa ngoi được lên mái tôn trơn tuột vì nước mưa và đóng cửa sập lại thì Gavegan đã ầm ầm bước lên cầu thang và xông vào phòng thu. Thoáng thấy Casey đang nằm bất động, đầu rũ rượi trên đầu gối Hunt, và gương mặt phờ phạc đang được Hunt dùng chiếc khăn ướt lau chùi, Gavegan lại gầm lên một tiếng:

"Quỷ tha ma bắt! Thế này nghĩa là thế nào hả?"

"Tôi đã cố tóm lấy Brainard," Casey rên rỉ yếu ớt, "và hắn đã đánh tôi ngất lịm—giống hệt như cách hắn đã làm với anh thôi, Gavegan."

Gavegan hậm hực quát lên, cơn thịnh nộ càng bị châm ngòi thêm bởi lời nhắc nhở ấy. "Còn tụi mày"—hắn quay sang Hunt và Nữ công tước—"Brainard chuồn đi đâu rồi? Hắn chắc chắn đang trốn đâu đây trong cái nhà này!"

"Tôi không biết," Hunt đáp.

"Biết chứ lị! Để mặc cái tên đần độn theo đóm ăn tàn của tao ngủ cho lại sức đi, rồi giúp tao tìm cho ra Brainard, bằng không tụi mày sẽ biết mùi giày của tao đấy!"

Người họa sĩ cao lớn đứng phắt dậy đối mặt với tay thanh tra lực lưỡng, bàn tay trái của anh ta siết chặt cổ tay đối phương trong khi tay phải tóm lấy cổ họng hắn—hệt như cách anh từng tóm lấy cổ họng gầy guộc của Lão Jimmie vào ngày Larry trở về—chỉ có điều lần này cái xiết của bàn tay to lớn ấy hoàn toàn không mang chút đùa giỡn nào. Anh xóc mạnh Gavegan như thể đang cầm một chiếc gối, với ngón cái ấn một cách đau đớn vào sát tai hắn.

"Tôi chẳng làm gì sai cả, và cái thói côn đồ đó không áp dụng được với tôi đâu!" anh gần như nhổ toẹt vào mặt Gavegan. "Nói chuyện với tôi cho đàng hoàng và xin lỗi ngay, bằng không tôi sẽ ném anh ra khỏi cửa sổ để đầu anh va vào đống đá cuội ngoài kia đấy!"

Gavegan ú ớ thốt ra lời xin lỗi, đoạn Hunt liền hất văng hắn ra. Viên cảnh sát vừa trừng mắt nhìn đối phương vừa giật phăng rèm cửa, săm soi từng góc phòng; rồi lùng sục điên cuồng nhưng vô ích các phòng ở tầng dưới, để rồi cuối cùng dừng lại trước cánh cửa phòng Maggie—nơi mà Nữ công tước đã lẹ làng chạy lên trước và khóa trái lại. Khi hắn đòi chìa khóa, Nữ công tước liền kể cho hắn nghe việc Maggie đã đi vắng và mang theo cả chìa khóa bên mình. Đó là một cánh cửa kiên cố, với ổ khóa và bản lề chắc chắn; và Gavegan phải mất tận hai phút dùng vai húc liên hồi mới phá bật được cửa để xông vào. Phải đợi đến khi lục tung căn phòng lên và thấy trống không, Gavegan mới sực nhớ ra cái cửa sập và phần mái nhà.

Larry đã tận dụng rất tốt những phút giây quý giá được ban tặng thêm ấy. Bất cứ việc gì cần làm, anh hiểu rõ mình phải hành động thật nhanh chóng. Các lực lượng vây hãm anh sẽ không chỉ dừng lại ở một vài kẻ trong thời gian dài; Gavegan, dù bị lép vế ngay từ phút đầu, chắc chắn sẽ phát lệnh truy nã làm chấn động toàn bộ cảnh sát trong thành phố—và theo cách riêng của mình, bọn xã hội đen cũng sẽ làm y như vậy. Trong những tuần lễ tự do vừa qua, bản năng cũ đã thúc đẩy Larry vô tình nghiên cứu kỹ lưỡng sơ đồ của khu phố này. Kiến thức tiềm thức thu được từ đó lập tức phát huy tác dụng tức thì. Anh rảo bước thật nhanh dọc theo những mái nhà trơn trượt, cẩn thận không để vấp phải những bức tường ngăn, rồi tiến đến mép phía sau của một mái nhà nơi anh từng đánh dấu một chiếc thang thoát hiểm có khoảng sân thượng phía trên rộng rãi bất thường. Anh có thể lờ mờ nhận ra bóng dáng của nó; và bám lấy máng xối, anh thả mình xuống chiếc thang thoát hiểm, để rồi chỉ một thoáng sau đã đặt chân xuống khoảng sân sau; và thêm hai phút ngắn ngủi nữa, anh đã vượt qua hai hàng rào để chui qua một lối đi nhỏ chật hẹp luồn dưới một ngôi nhà để ra con phố nằm ngay sau lưng nhà mình.

Anh không dừng lại để thám thính xung quanh. Thời gian chính là cốt lõi của sự an toàn, và anh buộc phải chấp nhận mạo hiểm. Anh lao vút ra khỏi cái lối đi ngầm—rẽ qua góc phố đầu tiên—rẽ tiếp góc thứ hai—cứ thế luồn lách qua lại, di chuyển dần về phía tây, cho đến tận khi rẽ vào một con phố có đèn sáng rực, anh nhìn thấy niềm hy vọng lóe lên từ hai chiếc taxi đang đỗ trước một nhà hàng nhỏ ở khu Đông Side, trong đó một chiếc vừa chuẩn bị khởi hành.

"Taxi!" anh hụt hơi gọi lớn.

Người tài xế của chiếc xe đang chuyển bánh liền đánh lái tạt vào lề đường và mở cửa xe. Thế nhưng, ngay cả khi anh ta vừa bước chân lên xe, Larry đã nhìn thấy Little Mick và Lefty Ed đang rẽ vào con phố phía sau lưng mình. Dù vậy, sự sáng sủa của con phố này lại không hề phù hợp với sự ẩn dật—vốn là điều kiện để nghề nghiệp của họ được thực hiện một cách an toàn và sinh lợi nhất—thế nên Larry đã kịp chui vào trong xe mà không phải nhận lấy viên đạn nào sượt qua.

"Đường 42 và Đại lộ Broadway," anh hô lớn với tài xế khi đóng sầm cửa lại.

Chiếc xe lăn bánh khởi hành. Nhìn qua khung cửa kính nhỏ phía sau, anh thấy Lefty Ed đang bước lên chiếc taxi còn lại, và thấy Little Mick đang đứng chết trân trên lề đường. Anh chợt hiểu ra vấn đề. Little Mick được giao nhiệm vụ đi phát động lệnh báo động, trong khi Lefty sẽ đóng vai trò kẻ bám theo dấu vết.

Cứ để Lefty bám theo đi. Ít nhất thì lúc này Larry cũng đã có được vài phút ngắn ngủi để suy tính một kế hoạch nào đó vượt ra ngoài sự an toàn mang tính chớp nhoát của hiện tại. Anh ăn mặc lịch sự, dẫu cho có hơi ẩm ướt và vấy bẩn; trong túi anh vẫn còn tiền. Anh phải làm gì đây?

Ừ thì, anh phải làm gì đây? Càng ngẫm nghĩ, anh càng thấy tình thế của mình trở nên không thể thoát nổi. Lúc này chắc chắn Gavegan đã phát đi lệnh truy nã; chỉ trong chốc lát nữa thôi, mọi viên cảnh sát đang làm nhiệm vụ sẽ nhận được chỉ thị phải canh chừng anh. Anh có thể trốn tránh được đám tay chân của những kẻ từng là đồng cũ của mình trong chốc lát bằng cách vào một khách sạn nào đó và thuê phòng; nhưng bước chân vào khách sạn chẳng khác nào tự dâng mình vào tròng cảnh sát. Mặt khác, anh có thể qua mặt lực lượng cảnh sát nếu tìm đến ẩn náu ở một trong những sào huyệt cũ, hoặc may ra là chỗ lão Bronson; nhưng khổ nỗi đám đồng bọn đang tức giận của anh đều biết rõ những chốn ấy, và đặt chân đến đó chẳng khác nào dâng hiến bản thân để mặc chúng trả thù.

Vẫn còn những thành phố khác—nhưng ngặt nỗi làm sao anh có thể đến được đó? Anh nhìn thấu Manhattan dưới lăng kính thực tế của một kẻ chạy trốn khỏi cả công lý lẫn bất công: đó chỉ là một hòn đảo, một cái bẫy khổng lồ, với vỏn vẹn vài lối ra vào cho hàng triệu con người: hai nhà ga xe lửa—vài bến phà—vài cây cầu—vài đường hầm; và ở bất kỳ đâu cũng có cảnh sát đang chực chờ rình rập để bắt lấy anh. Anh không thể rời khỏi New York. Nhưng chúa mới biết làm sao anh có thể bám trụ lại nơi này đây?

Anh chợt nghĩ đến Maggie. Vậy ra cô ấy thực sự khao khát một cuộc sống lóa mắt, ngập tràn những kích thích và phiêu lưu hào nhoáng cơ đấy? Anh tự hỏi cô ấy sẽ cảm thấy thế nào nếu trải nghiệm một chút thực tế phũ phàng—như hoàn cảnh hiện tại của anh đây?

Khi tiến sát đến đường 42, anh vẫn chưa vạch ra được một kế hoạch cụ thể nào có thể đảm bảo an toàn cho bản thân, trong khi tên Lefty vẫn cứ lì lợm bám riết phía sau. Một ý chợt lóe lên trong đầu, ít nhất nó cũng giúp anh kéo dài thêm khoảng thời gian trốn chạy và cho anh thêm thời gian suy ngẫm. Anh đẩy mở cửa chiếc taxi và nhét vờ tờ giấy bạc mười đô la vào bàn tay đang sẵn sàng theo phản xạ của người tài xế.

"Cứ giữ lấy tiền thừa đi—và lái cho tôi một vòng quanh Công viên Trung tâm, nhớ chạy chậm lại ở những khúc cua dốc bên phía tây đấy nhé."

"Tôi rõ rồi."

Chiếc xe tiến vào công viên từ khu vực Plaza và phóng vút lên con đường rợp bóng mát gần như vắng bóng người qua lại. Larry liên tục quan sát qua gương chiếu hậu, lúc thì nhìn tên Lefty đang bám đuôi đằng sau, lúc lại tính toán cơ hội tốt nhất để thực hiện ý đồ của mình—suốt dọc theo rìa phía đông và vòng qua khúc cua ở cực bắc. Khi chiếc xe, lúc này đang chạy theo hướng nam, lao lên con ngọn đồi gần đường 105—nơi đỉnh đồi có một khúc cua gắt với những tán cây rậm rạp rủ xuống—Larry liền đẩy cánh cửa bên phải ra và cất giọng bảo:

"Lái nhanh lên chút nữa tài xế, ngay sau khi vừa qua khúc cua này nhé!"

"Tôi rõ rồi," người lái xe đáp gọn lỏn.

Chiếc xe giảm tốc ôm sát vào phía trong của khúc cua gấp, tay Larry vẫn giữ chặt cửa xe và chờ đợi thời điểm thích hợp. Ngay khoảnh khắc chiếc taxi lượn qua khúc cua, chiếc xe của Lefty liền bị khuất tầm nhìn; và đúng giây phút ấy, Larry phóng bách phát từ bệ bước chân lên, sập mạnh cửa lại phía sau, đáp người xuống thảm đất mềm và lẩn nhanh vào giữa những lùm cây. Nấp trong bóng tối, anh nhìn thấy chiếc xe của mình phóng đi theo đúng mệnh lệnh đã dặn, và ngay sau đó, anh thấy chiếc xe của Lefty—hiện rõ vẻ bất ngờ trước cú lừa ngoạn mục này—chồm lên tăng tốc đuổi theo quyết liệt.

Larry len lỏi sâu hơn vào giữa những tán cây rồi ngồi thụp xuống, lưng tựa vào thân một cội cây lớn. Thế này thì tốt hơn rồi. Ít ra thì tạm thời anh đã được an toàn.

Anh hít một hơi thật dài. Rồi trong khoảnh khắc, những gì vừa trải qua suốt tiếng đồng hồ vừa qua bỗng ùa về trong tâm trí anh dưới một góc nhìn gần như đầy vẻ hài hước: tựa như một sự việc phi lý đến lố bịch—giống hệt như những cuộc rượt đuổi hỗn loạn, hoàn toàn xa rời thực tế vốn từng là kịch bản chủ đạo của dòng phim câm thời kỳ sơ khai với đôi chút biến tấu nhỏ về nhân vật và trang phục. Dù có vẻ tương đồng là thế, nhưng thực tế lại mang một khoảng cách vô cùng lớn. Bởi vì đây là đời thực! Tất cả mọi người đều đang hành động hoàn toàn nghiêm túc!

Anh lại nghĩ về Maggie. Cô ấy sẽ nghĩ gì, thái độ của cô ấy sẽ ra sao, nếu biết được sự thật về con người anh?—sự thật về những kẻ mà cô từng cặp kè và cuộc đời mà cô dấn thân vào? Liệu cô ấy có thiên vị về phía ANH, liệu cô ấy có giúp đỡ anh không?...

Anh lại trăn trở về việc mình nên làm gì tiếp theo. Giờ đây, khi đã lấy lại được sự bình tĩnh vốn không có trong suốt quãng thời gian hoảng loạn trốn chạy, anh bắt đầu xem xét mọi khía cạnh với sự cẩn trọng hơn. Thế nhưng những kết luận khi tâm trí bình tĩnh lại chẳng có gì khác biệt so với lúc đang hoang mang. Anh không thể bước vào một khách sạn lớn nào đó để ẩn náu trong phòng giữa hàng ngàn người xa lạ; anh cũng chẳng thể tìm kiếm chốn dung thân ở bất kỳ sào huyệt cũ nào; và anh tuyệt đối không dám mạo hiểm tìm đường rời khỏi Manhattan. Anh chẳng khác nào một tù nhân, mà đặc quyền duy nhất chỉ là một khoảng không gian tự do rộng lớn hơn nhưng vô cùng bấp bênh.

Và sự tự do ấy đang dần trở nên buốt giá đến khó chịu. Đã một tiếng đồng hồ trôi qua, mặt đất nơi anh đang ngồi vừa ẩm ướt lại vừa lạnh lẽo, bầu trời đượm sương mù bắt đầu mang theo sự khắc nghiệt gợi nhắc đến mùa đông vừa qua, len lỏi tấn công và làm buốt giá từng thốn xương tủy của anh. Nói cho cùng, anh hiểu rõ mình không thể hy vọng tiếp tục ẩn nấp an toàn trong cái chốn hoang dã được chăm chút này cho đến khi trời sáng. Khi ánh bình minh ló dạng, anh chắc chắn sẽ trở thành con mồi của lũ đồng bọn hoặc lực lượng cảnh sát. Và nếu họ không lôi được anh ra khỏi chỗ ẩn nấp, thì cơn đói cồn cào của một con người bình thường cũng sẽ buộc anh phải bước ra ngoài ánh sáng của những con phố. Nếu muốn làm bất cứ điều gì, anh buộc phải hành động khi vẫn còn nhận được sự che chở tương đối của màn đêm.

Và rồi, lần đầu tiên anh chợt nhớ đến lời dặn dò gấp gáp của Hunt, được đưa ra giữa khung cảnh hỗn loạn của cuộc trốn chạy mà khi ấy tâm trí anh chẳng thể dung nạp thêm điều gì ngoài khoảnh khắc hiện tại. "Nếu bị dồn vào đường cùng, hãy gọi số Plaza chín-không-không-một và nói 'Benvenuto Cellini'."

Larry hoàn toàn không tài nào đoán được lời dặn vội vã ấy ám chỉ điều gì. Hơn nữa, cơ hội này có vẻ thật mong manh và hoang đường, ngay cả khi anh có thể tìm được một chiếc điện thoại công cộng một cách an toàn. Thế nhưng, đó dường như lại là tia hy vọng duy nhất còn sót lại của anh.

Anh đứng dậy, tận dụng tối đa những khu vực hoang sơ nhất của công viên, khéo léo nương vào bóng râm mỗi khi phải băng qua một lối đi hay đoạn đường xe chạy, và lặng lẽ tiến về phía nam. Anh sực nhớ tới một hiệu thuốc nằm ở đường 84 và đại lộ Columbus, nơi cực kỳ phù hợp cho mục đích của mình, bởi nó có một lối đi phụ hướng ra đường 84 và tọa lạc trong khu vực ít bóng cảnh sát tuần tra.

Thần may mắn đã mỉm cười với anh. Cuối cùng anh cũng đến được đường 84 và ngó đầu nhìn qua bức tường chắn. Đại lộ Central Park West hầu như chẳng có bóng chiếc ô tô nào qua lại, bởi các rạp chiếu phim vẫn chưa đến giờ thả khách và bóng dáng cảnh sát hoàn toàn vắng bóng. Anh tung người nhảy qua bức tường; chỉ một phút sau, anh đã đứng bên trong buồng điện thoại của hiệu hiệu thuốc, thả đồng xu niken vào khe và yêu cầu được kết nối với số Plaza chín-không-không-một.

"Xin chào ngài!" Giọng nói cực kỳ trang trọng của một người đàn ông vang lên ở đầu dây bên kia.

"Benvenuto Cellini," Larry đọc khẩu lệnh.

"Xin vui lòng giữ máy, thưa ngài," giọng nói điềm đạm đáp lời.

Larry ngoan ngoãn giữ máy trong tâm trạng đầy tò mò khó hiểu. Chỉ một lát sau, cũng chính giọng nói chuẩn mực ấy cất lên hỏi xem Larry đang gọi tới từ đâu. Larry liền cung cấp chính xác địa điểm.

"Hãy cứ ở yên trong bốt điện thoại, và tiếp tục nói chuyện; ngài muốn nói gì cũng được; đường dây ở đây sẽ được giữ kết nối liên tục," người đàn ông tiếp lời. "Chúng tôi sẽ không để ngài phải chờ lâu đâu, thưa ngài."

Đầu dây bên kia im bặt. Larry bắt đầu huyên thuyên đủ thứ chuyện trên trời dưới biển, về những người bạn tưởng tượng và những cuộc hẹn hò bịa đặt, thừa hiểu rằng dòng trò chuyện vô nghĩa của mình sẽ chẳng bị ai nghe thấy trừ khi tổng đài đang “nghe lén”; đồng thời anh cũng biết rằng, đối với bất kỳ ai nhìn xuyên qua cánh cửa kính của buồng điện thoại, trông anh lúc bấy giờ hoàn toàn giống như một con người bận rộn không có gì đáng ngờ. Và trong lúc anh cứ rả rích nói, sự tò mò trong lòng anh lại càng dâng cao. Điều gì sắp xảy ra đây? Cái quái gì liên quan đến nhân vật Benvenuto Cellini này chứ?

Anh đã luyên thuyên được chừng mười lăm phút hoặc hơn thế thì cánh cửa kính của buồng điện thoại bỗng bị đẩy mở từ bên ngoài và giọng nói của một người đàn ông vang lên:

"Khi nào xong việc, thưa ngài, chúng ta có thể đi được rồi."

Đó chính là giọng nói anh từng nghe qua điện thoại. Larry cúp máy và lẽo đẽo bước theo người đàn ông ra bằng cửa hông, kịp nhận ra gã sở hữu một khuôn mặt gầy gò và đầy cung kính. Đợi sẵn bên lề đường là một chiếc xe limousine sang trọng, người đàn ông lịch sự mở cửa xe cho Larry. Larry bước lên xe.

"Ngài có bị ai bám theo không?" người đàn ông cẩn trọng hỏi.

"Tôi không rõ."

Chúng ta tốt nhất nên kiểm tra cho chắc chắn. Nếu có, chúng ta sẽ cắt đuôi bọn chúng, thưa ngài. Chúng ta sẽ ghé đâu đó dọc đường để đổi biển số xe một lần nữa."

Thay vì chui vào khoang xe tối thui ngồi cùng anh như Larry vẫn tưởng tượng, người đàn ông đóng sập cửa lại, bước lên ghế trước ngồi cạnh tài xế, và chiếc xe lập tức vọt đi hướng về phía tây rồi rẽ thẳng lên đại lộ Riverside.

Người ta hoàn toàn có thể phá vỡ luật tốc độ ở New York nếu sở hữu một chiếc xe có tốc độ tương xứng, và nếu có đủ khả năng để tẩu thoát trót lọt. Chiếc xe này hội tụ đủ cả hai yếu tố đó. Chưa bao giờ Larry lại được trải nghiệm cảm giác phóng nhanh đến thế trong phạm vi giới hạn của thành phố New York; anh thừa hiểu rằng bất kỳ chiếc taxi nào bám theo sau cũng sẽ bị bỏ lại phía sau đến mất hút. Đến đường 245, chiếc xe lướt vào Công viên Van Cortland, đồng thời tắt vụt toàn bộ hệ thống đèn chiếu sáng.

Chỉ hai phút sau, xe dừng bánh ở một đoạn đường vắng tối thui nằm bên trong các lối đi phụ của Công viên.

"Chúng ta chỉ dừng lại đúng một phút để đổi biển số xe cho đúng quy cách thôi, thưa ngài," người đàn ông mở cửa giải thích.

Chưa đầy một phút sau, họ đã tiếp tục lên đường, lần này di chuyển thong thả hơn, theo đúng phong thái ung dung của một chiếc xe tư nhân đang lo việc riêng—dù không gian bên trong xe được giữ tối một cách kín đáo và Larry thì nép mình đầy cảnh giác vào một góc khuất. Cứ thế, họ băng qua các Đại lộ Lớn, vượt qua sông Harlem một lần nữa và chẳng mấy chốc đã dừng bánh ngay trước một tòa cao ốc căn hộ sang trọng nằm trên đại lộ Park Avenue.

Người đàn ông mở cửa xe. "Xin mời ngài cứ tự nhiên bước vào, cứ như thể ngài là chủ nhân nơi này vậy. Người gác cửa và nhân viên vận hành thang máy đều đã được dặn dò kỹ lưỡng rồi."

Họ có thể đã được chuẩn bị trước, nhưng Larry thì tuyệt đối chưa; và anh lướt vút lên tầng cao nhất bằng thang máy với tâm trí ngập tràn sự hoang mang tột độ. Người đàn ông mở khóa một căn hộ, ra hiệu cho Larry bước vào, đón lấy chiếc mũ đang đẫm nước của anh, rồi tiếp tục dẫn dắt một Larry đang ngẩn ngơ đi qua góc của một phòng khách mờ ảo ánh đèn và bước qua một cánh cửa khác.

"Ngài sẽ đợi ở đây," người đàn ông nói gọn lỏn rồi lặng lẽ lui ra ngoài.

Larry đảo mắt quan sát xung quanh. Anh chỉ thu vào tầm mắt một vài chi tiết nhỏ, nhưng ngần ấy sự tinh tế trong cách bài trí cũng đủ để anh nhận thức được rằng mình đang hiện diện giữa một không gian vừa ngập tràn tiền tài lại vừa có gu thẩm mỹ đỉnh cao. Anh chú ý đến lò sưởi đang bập bùng cháy rực lửa ở bức tường rộng, những chiếc ghế bành êm ái, tấm thảm nhập khẩu trải trên sàn nhà sáng bóng, những dãy kệ sách vươn cao sát tận trần nhà, và một chiếc bàn viết cổ kính nằm ở góc phòng thoạt trông cứ như thuộc về một vùng đất khác và một thế kỷ khác, nhưng lại vô cùng hòa hợp đến hoàn hảo trong căn phòng này.

Ngay trên bàn viết, anh nhìn thấy một khung ảnh bọc da trông vô cùng quen thuộc. Anh bước đến gần và cầm nó lên. Quả thực rất quen! Đó chính là bức ảnh chụp Hunt: một Hunt hoàn toàn khác xa với bộ dạng rách rưới, xơ xác mà anh từng thấy ở chỗ Nữ công tước, mà là một Hunt khoác lên mình vẻ bề ngoài của một người quen thuộc với không gian sang trọng thế này—dù rằng trong bức ảnh ấy vẫn giữ nguyên chiếc cằm bướng bỉnh cùng ánh mắt ngập tràn vẻ bất tuân nhưng vô cùng đôn hậu.

Làm sao và bằng cách nào mà gã họa sĩ túng thiếu, thô lỗ ấy lại có thể dính líu đến—

Thế nhưng câu hỏi đầy ngỡ ngàng mà Larry đang tự thầm hỏi bỗng bị cắt ngang bởi một giọng nói vang lên từ hướng cửa ra vào—giọng trầm đục của một người đàn ông:

"Cái quái gì mà mày lại bén mảng đến đây?"

Larry giật mình quay phắt lại. Ngay ngưỡng cửa đang đứng một thanh niên cao lớn, hống hách độ chừng hai mươi tư hay hai mươi lăm tuổi, diện trang phục dạ tiệc lịch lãm, mặt đỏ bừng vì hơi men và đang vịn lảo đảo vào khung cửa.

"Xin lỗi anh," Larry nói.

"Và mày đang giở trò quái quỷ gì ở đây hả?" gã thanh niên ngổ ngáo tiếp lời chất vấn.

"Tôi rất biết ơn nếu anh có thể giải đáp cho tôi câu hỏi đó," Larry đáp.

"Đừng có mà văn vở đánh trống lảng ở đây," gã thanh niên tuyên bố với vẻ mặt nhíu mày ra điều thâm trầm lắm. "Không có chuyện đó đâu. Mau bước ra khỏi góc phòng rồi đấu tay đôi với tao đi. Và tao sẽ cho mày một trận nhừ tử."

Gã thanh niên lảo đảo tiến về phía Larry và thủ sẵn tư thế chuẩn bị chiến đấu.

"Nào, giơ tay lên!" hắn ra lệnh.

Quả là một đêm đầy rẫy những cuộc phiêu lưu kỳ quái, Larry thầm nghĩ. Cuộc trốn chạy điên cuồng của anh—việc lạc bước đến chốn xa lạ này—và giờ đây là một gã trai say xỉn đang hầm hầm chực chờ lao vào tẩn anh một trận.

"Hay là chúng ta để dành trận chiến này vào ngày mai nhé," Larry nhẹ nhàng đề xuất.

"Giơ tay lên tao bảo!" gã kia quát lớn. "Nếu mày không biết mình đang làm gì ở cái xó này, tao sẽ dạy cho mày nhớ!"

Thế nhưng hắn chưa kịp dạy dỗ gì Larry, bởi vì ngay khi hắn vừa thốt ra những lời cuối cùng, cố gắng chấn chỉnh lại tư thế chùng gối để chuẩn bị tung ra một cú đấm, một giọng nói sắc lẹm đột ngột vang lên từ phía ngưỡng cửa—giọng của một người phụ nữ:

"Dick!"

Gã thanh niên từ từ quay đầu lại. Nhưng Larry đã kịp nhìn thấy cô ấy trước. Trong khoảnh khắc đầu tiên ấy, anh chẳng có cơ hội để ngắm nhìn kỹ hơn, ngoại trừ việc nhận ra cô rất mảnh mai, trẻ tuổi và diện trên mình bộ cánh vô cùng tinh tế, bởi cô sải bước thẳng tiến về phía họ.

"Dick, anh lại say mèm nữa rồi đấy!" cô thốt lên đầy vẻ trách móc.

"Sai bét rồi, em gái," hắn ta phản bác với giọng điệu tủi thân. "Vẫn là trận say hôm trước thôi mà."

"Dick, lên giường đi ngủ ngay cho tôi!"

"Thôi nào, em gái..."

"Bảo anh lên giường đi ngủ cơ mà!"

Gã thanh niên dường như chùng bước trước ánh nhìn đầy quyền uy của cô. "Tùy ý em thôi—tùy ý em muốn sao cũng được," hắn lầm bầm, rồi lảo đảo bước đi về phía cửa.

Người phụ nữ đứng dõi theo bóng hắn khuất hẳn, rồi mới quay cặp gương mặt đang đượm nét lo âu trở lại nhìn Larry. "Tôi rất tiếc vì thái độ vừa rồi của Dick với anh."

Và rồi trước khi Larry kịp lên tiếng đáp lời, vẻ mặt u ám lúc nãy của cô đã biến mất. "Cuối cùng anh cũng đến được đây, ông Brainard." Cô đưa tay ra, mụm mỉm một nụ cười mà bằng thứ ma lực kỳ diệu nào đó như muốn bao bọc lấy anh trong một tình bạn thân thiết tức thì.

Tôi là Miss Sherwood." Anh nhận ra bàn tay thon thả của cô có lực siết mạnh mẽ gần như tay đàn ông. "Anh không cần phải kể bất cứ điều gì về bản thân mình đâu," cô nói thêm, "bởi vì tôi đã biết rất rõ rồi—tất cả những gì tôi cần biết: về anh—và về cả Maggie Carlisle nữa. Chắc anh không ngờ cách đây một tiếng đồng hồ, có một người đưa thư đã mang đến cho tôi một bức thư dài dằng dặc viết về anh đấy." Nói đoạn, cô hất cằm về phía bức ảnh mà Larry vẫn đang cầm trên tay.

"Cô... cô quen biết anh ấy sao?" Larry lắp bắp hỏi.

Cô trả lời kèm theo một nụ cười hóm hỉnh: "Vâng. Ông ta chẳng phải là một lão già vĩ đại nhưng cũng đầy ngốc nghếch đáng yêu hay sao? Hắn ta là một kẻ chuyên la cà hát hò và khoác lác đến mức tôi đã đặt cho hắn cái biệt danh là Benvenuto Cellini—dù hắn chẳng phải là kẻ nói dối hay trộm cắp gì sất. Chắc hẳn hắn đã kể với anh về cái tên mà tôi đặt cho hắn rồi chứ."

Thì ra đó là lý do giải thích cho mật khẩu "Benvenuto Cellini" này! "Không, anh ấy chẳng giải thích gì cả. Lúc đó chẳng có lấy một chút thời gian."

Cô tiếp lời: "Tôi không biết anh ấy đang ở đâu; xin anh đừng nói cho tôi biết. Tôi không muốn biết cho đến khi chính anh ấy muốn cho tôi hay."

Larry từ nãy đến giờ vẫn đang nhanh chóng đánh giá về người phụ nữ trước mặt. Cô độ chừng ba mươi tuổi, sở hữu làn da trắng ngần, mái tóc màu nâu vàng được búi gọn gàng bởi một chiếc lược bằng vàng chạm trổ tinh xảo, đôi mắt màu xanh hoa violet, khoác trên mình chiếc váy nhung voan màu tím cắt xéo ngực cùng đôi giày màu vàng xỉn. Bản năng của Larry mách bảo rằng trước mặt anh là một tiểu thư dòng dõi quyền quý, một con người mang dòng máu thuần chủng: đầy vẻ điềm tĩnh, am hiểu sự đời, có khiếu hài hước dí dỏm, thấu hiểu con người một cách nhân hậu, ẩn chứa một ý chí kiên định sắt đá, và luôn sẵn sàng mỉm cười đối phó với hầu hết mọi tình huống trớ trêu.

"Tôi nghĩ sẽ chẳng ai tìm ra anh đâu—ít nhất là vào thời điểm hiện tại," giọng nói trầm ấm dễ chịu của cô tiếp tục cất lên. "Có rất nhiều điều tôi muốn trò chuyện cùng anh. Có lẽ tôi có thể giúp được gì đó cho chuyện của Maggie. Tôi hy vọng anh không phiền khi tôi nhắc đến cô ấy." Larry chẳng thể nào tưởng tượng nổi có ai lại đi thấy khó chịu trước bất kỳ điều gì mà sự xuất hiện rực rỡ này thốt ra. "Nhưng chúng ta sẽ để dành câu chuyện đó vào ngày mai nhé. Trời đã khuya, người anh lại đang ẩm ướt và lạnh buốt thế kia, hơn nữa, dì tôi đang lên cơn đau và nghĩ rằng bà rất cần tôi bên cạnh. Judkins sẽ lo liệu chỗ nghỉ ngơi cho anh. Chúc anh ngủ ngon."

"Chúc cô ngủ ngon," Larry đáp.

Cô uyển chuyển bước đi—giống như đang lướt đi thì đúng hơn, Larry thầm nghĩ. Ngay khoảnh khắc tiếp theo, người đàn ông từng là hộ vệ của anh đã xuất hiện trở lại, dẫn Larry tiến vào một căn phòng ngủ rộng rãi có phòng tắm kèm theo. Mười phút sau, Judkins bước ra ngoài, mang theo bộ quần áo ướt sũng của Larry; và thêm mười phút nữa trôi qua, sau khi đã ngâm mình trong bồn nước nóng và khoác lên người bộ đồ ngủ bằng lụa do một tay Judkins chuẩn bị sẵn, Larry chính thức chìm đắm vào chiếc giường êm ái và thơm tho nhất mà anh từng được nằm.

Thế nhưng giấc ngủ vẫn chẳng tài nào đến với Larry trong suốt một thời gian dài. Anh cứ trằn trọc suy nghĩ về Miss Sherwood—người phụ nữ tóc vàng mang phong thái điềm tĩnh đến lạ kỳ ấy. Cô chắc chắn chính là bóng hồng ẩn giấu phía sau cuộc đời của Hunt. Và anh cũng bận tâm về Hunt—rốt cuộc anh ta thực sự là ai—điều gì đã đẩy anh ta vào chốn lưu vong kỳ quái này. Rồi anh lại nghĩ về Maggie—rằng cô ấy đang làm gì—và từ vị trí chiến lược mới mẻ kỳ lạ này, anh có thể làm những gì cho cô và cùng cô. Anh tự hỏi bản thân tình cảnh rắc rối phức tạp của chính mình rồi sẽ tìm ra lối thoát thế nào đây.

Và mang theo muôn vàn trăn trở ấy, cuối cùng Larry cũng chìm dần vào giấc ngủ.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.