Cô ấy liền đưa tôi đến nhà bạn trai. Nhà anh ta không xa nhà cô ấy mấy, nằm ở Phải Tử Hồ Đồng. Cô ấy bàn bạc với bạn trai vài câu, rồi dẫn tôi bước vào một căn phòng gạch mới cất, không lớn lắm, chừng mười mấy thước vuông. Một chiếc giường đôi mới, chăn đệm mới, một cặp gối thêu hoa, một chiếc bàn viết mới đóng chưa quét sơn.
Cô ấy đỏ mặt nói: "Đây là tân phòng tương lai của chúng tôi."
Tôi cũng đỏ mặt, nói: "Thế này thì không ổn, thế này thì không ổn..." Cô ấy nói: "Có gì mà không ổn? Anh là bạn của anh trai em, thì cũng giống như anh trai em vậy thôi!"
Bạn trai cô ấy cũng nói: "Đừng khách sáo, hai chị gái của tôi đều ở Đại Hoang Bắc. Mỗi lần họ về thăm nhà, đổi tàu ở Cáp Nhĩ Tân, đều phải ở lại nhà những thanh niên trí thức Cáp Nhĩ Tân các anh một ngưu hai ngày, toàn do thanh niên trí thức Cáp Nhĩ Tân ra đón vào tiễn. Thanh niên trí thức Cáp Nhĩ Tân rất trọng nghĩa khí. Người Bắc Kinh chúng tôi đối với thanh niên trí thức Cáp Nhĩ Tân cũng phải cho ra trò chứ!"
Cứ như vậy, tôi đã ở lại trong tân phòng tương lai của nhà người ta. Có chỗ ở rồi, điều cần nhất chính là ngủ. Ngồi ghế cứng từ Thượng Hải đến Bắc Kinh, hôm qua bôn ba suốt một ngày, lại còn “du ngoạn ban đêm” ở ga tàu, mệt mỏi vô cùng, sau khi họ đi, tôi ngả đầu là ngủ, một giấc ngủ đến tận hơn ba giờ chiều mới tỉnh. Tỉnh dậy liền đi dạo Đại Sách Lan, dạo Quảng trường Thiên An Môn. Dạo chán chê rồi mới quay về ăn tối. Ăn tối xong, "em gái" của tôi đến thăm tôi, cùng với bạn trai của cô ấy ngồi trò chuyện với tôi. Lúc chuẩn bị ra về, cô ấy hỏi: "Anh Lương, chắc là anh đang thiếu tiền tiêu phải không?"
Tôi nói: "Không thiếu, không thiếu."
Cô ấy nói: "Dù anh có thiếu hay không, cứ để lại cho anh hai mươi đồng." Nói đoạn nhét hai mươi đồng xuống dưới gối.
Tôi nói: "Tháng lương đầu tiên em lĩnh sẽ trả lại cho anh."
Cô ấy nói: "Anh xem, anh lại nói thật rồi phải không! Đây giống như nhà của anh vậy, còn khách sáo cái gì chứ!"
Ba ngày sau, tôi lại đến Bộ Văn hóa.
Nữ đồng chí từng tiếp đón tôi hỏi tôi: "Anh muốn ở lại bộ, hay muốn đi các đơn vị văn nghệ cụ thể?"
Tôi hỏi vặn lại: "Ở lại bộ thì sẽ phân công tôi làm công việc gì?"
Cô ấy nói: "Tiếc là anh không phải đảng viên. Nếu không thì có thể phân về Ban Tổ chức, Cục Cán bộ. Nhưng bản nhận xét tốt nghiệp của anh rất khá — từng đấu tranh với 'Băng Hải Tặc', điểm này rất quan trọng. Dựa vào bản nhận xét này, anh có thể đến 'Văn phòng Thanh tra' của bộ để hỗ trợ công việc trước, khối lượng công việc của họ rất lớn, đang thiếu người."
Tôi nói: "Vậy vẫn phân công tôi đến một đơn vị văn nghệ cụ thể nào đó đi." Cô ấy nói: "Việc này liên quan đến tiền đồ cá nhân sau này của anh đấy, anh hãy suy nghĩ thật kỹ lại đi. Ở lại bộ có cái lợi của việc ở lại bộ, giải quyết vấn đề tổ chức sẽ dễ dàng hơn, bản nhận xét trong hồ sơ của anh có lợi cho anh lắm đấy!"
Tôi nói: "Không có gì phải suy nghĩ cả."
Cô ấy nói: "Tùy anh vậy! Xưởng phim Bắc Kinh, Học viện Điện ảnh, Học viện Hịch Trung ương, Đoàn Nghệ thuật Thanh niên Trung Quốc, bốn đơn vị văn nghệ này tùy anh lựa chọn."
Tôi suy nghĩ đủ năm phút. Tôi nghĩ, mình đến Học viện Hịch Trung ương và Học viện Điện ảnh thì có thể làm gì? Làm giảng viên? Tôi hiểu gì về lý thuyết điện ảnh hay lý thuyết hịch? Chẳng lẽ lại đợi sinh viên đuổi tôi xuống bục giảng ư? Đến Đoàn Nghệ thuật Thanh niên? Tôi lại không có hứng thú lắm với kịch nói. Còn đến xưởng phim thì sao? Tôi vào xưởng phim thì có thể đảm đương được gì chứ? Hồi đó, tôi mới thực sự cảm thấy kiến thức nghệ thuật, tu dưỡng nghệ thuật các mặt của mình quá ít ỏi!
Tôi ấp ú hỏi: "Có nơi nào cần biên tập văn học không ạ? Tỷ như các đơn vị như 'Văn học Nhân dân', 'Văn học Bắc Kinh', nguyện vọng lớn nhất của tôi sau này là có thể làm một biên tập viên giỏi. Tôi tin là mình làm được."
Cô ấy nói: "Vậy thì anh đến Xưởng phim Bắc Kinh đi! Xưởng phim cũng có tòa soạn, đang cần biên tập."
Tôi không suy nghĩ nữa, nói: "Được!"
Thầm nghĩ: Trước đây mình xem phim ít quá, sau này tha hồ mà xem phim rồi.
Cô ấy giữ lại bức thư giới thiệu do Phúc Đán cấp cho tôi, viết lại cho tôi một bức thư giới thiệu của Bộ Văn hóa. Sau đó, cô ấy lại giao hồ sơ của tôi cho tôi, bảo tôi tự cầm lấy sang Bắc Hĩnh.
Tôi đến Bắc Hĩnh, thấy bên cạnh cổng xưởng Bắc Hĩnh cũng có binh lính gác, thật sự vô cùng khó hiểu. Cứ như thể từ Bộ Văn hóa cho đến Bắc Hĩnh, các đơn vị văn hóa nghệ thuật ở Bắc Kinh đều đang thực hiện "quản lý quân sự" vậy.
Một đồng chí ở khoa nhân sự Bắc Hĩnh sau khi xem thư giới thiệu của Bộ Văn hóa, liền nói: "Bộ sao lại không thèm trưng cầu sự đồng ý của chúng tôi trước mà đã phân người đến thế! Định mức nhân viên của chúng tôi đã vượt biên chế rồi. Chúng tôi phải xin ý kiến lãnh đạo xem có tiếp nhận anh hay không. Anh cứ về trước, mấy ngày nữa hãy đến nghe tin."
Lòng tôi lạnh đi nửa đoạn, hỏi: "Mấy ngày?"
Anh ta nói: "Ba bốn ngày nữa đi!"
Tôi muốn để lại hồ sơ.
Anh ta nói: "Anh cứ tự cầm lấy trước đi."
Tôi chán nản rời khỏi Bắc Hĩnh. Tâm trạng còn chán nản hơn cả lúc rời Bộ Văn hóa ba ngày trước.
"Em gái" tôi thấy tâm trạng tôi không tốt, bèn gặng hỏi kết quả ra sao?
Tôi không giấu giếm chút nào, kể hết cho cô ấy nghe về chuyện đụng phải một "cục đá mềm" ở Bắc Hĩnh.
Cô ấy khuyên giải: "Hừ, thế mà cũng đáng để phiền muộn á? Bắc Hĩnh không nhận anh, chẳng lẽ vẫn còn mấy cơ sở văn nghệ để đi sao? Anh là sinh viên đại học đường đường chính chính, chẳng lẽ còn sợ ở Bắc Kinh mà thành kẻ thất nghiệp lang thang hay sao?"
Tôi nói: "Mấy ngày nay tôi đã gây cho hai người không ít phiền phức, cứ ở lại mãi thế này, trong lòng bất an lắm!"
“Em rể” tôi nói: "Đừng bất an. Chúng tôi có cúng rước gì anh đâu! Coi anh như người một nhà, anh có gì mà phải bất an? Ngày mai là chủ nhật, chúng tôi đưa anh đi Bắc Hải chèo thuyền, hoặc đến Di Hoà Viên, chơi đùa thật vui vẻ một ngày." Được hai người họ khuyên giải, sự u uất trong lòng tôi mới vơi đi đôi chút.
Chủ nhật, họ đưa tôi đi Bắc Hải chèo thuyền. Chỗ phân công đi về chưa có manh mối, chơi không được vui vẻ cho lắm.
Tối về, nằm trên giường, trằn trọc không sao ngủ được. Bỗng nhiên nảy sinh một ý định, muốn bóc túi hồ sơ của chính mình ra, xem bên trong rốt cuộc đựng những tài liệu gì về họ Lương này. Thế là để trần đôi chân, lôi nó ra từ trong cặp sách. Nhưng ngẫm lại, tự ý bóc túi hồ sơ của mình, chưa nói đến chuyện "vi phạm pháp luật tội phạm" đi, thì cũng coi là hành vi lén lút mờ ám. Lại bỏ vào chỗ cũ. Nằm lại lên giường, trong lòng vẫn không cam tâm từ bỏ. Tại sao không cho phép một người biết trong túi hồ sơ của mình đựng những tài liệu gì liên quan đến bản thân, liên quan đến cha mẹ và họ hàng người thân của mình chứ? Nó giống như một cái bóng vậy, đi theo bạn suốt cả đời. Bạn cảm thấy mình là người tốt, bạn nỗ lực sống như một người tốt, nhưng nó lại rất có thể chứng minh với rất nhiều người rằng bạn là kẻ xấu. Rất nhiều người tin vào nó, vượt xa cả việc tin vào hành vi và biểu hiện thực tế của bạn trong cuộc sống, trong công việc. "Không được giao phó trọng trách", "có dã tâm chính trị", "tư tưởng ý thức không tốt", "phẩm hạnh đoan", vân vân và vân vân. Những lời phê phán kiểu như vậy từng được viết trên bản nhận xét đủ loại của bao nhiêu con người chứ! Mà người viết bản nhận xét lại chưa chắc đã là một trang quân tử chính chuyên. Bạn chết rồi, bị đem đi hỏa táng, nhét vào hộp tro cốt. Hồ sơ của bạn, lại trở thành một phần hồ sơ của con trai hoặc con gái bạn. Nghĩ đến đây thôi cũng đủ khiến người ta giận sôi máu rồi!
Mặc dù tôi thừa biết trong hồ sơ của mình tuyệt đối không thể có tài liệu đen nào, mặc dù lời của nữ đồng chí ở Bộ Văn hóa cũng đã xác thực điều đó, nhưng sự tò mò mà tôi nảy sinh đối với túi hồ sơ của mình quả thực không sao dời đi nổi. Mẹ kiếp dù có viết toàn là ưu điểm đi nữa, tôi cũng muốn biết bản thân mình rốt cuộc có những ưu điểm cụ thể nào. Thuận lợi cho việc phát huy lớn mạnh sau này chứ! Ai bảo họ để túi hồ sơ của tôi rơi vào tay chính tôi cơ chứ! Không xem thì phí! Cơ hội thế này hiếm lắm chứ bộ!
Thế là tôi lại tót chân trần xuống đất, lần thứ hai lôi túi hồ sơ ra khỏi cặp sách. Cầm trong tay, giống như đang cầm lấy linh hồn của chính mình, cái "linh hồn thứ hai" do người khác tạo ra cho tôi, cân thử xem, rất nhẹ. Mẹ kiếp cái "linh hồn" của một người hai mươi tám tuổi, sao lại chỉ có chút xíu trọng lượng thế này cơ chứ!
Nước rửa chân vẫn chưa đổ. Liền dùng nước rửa chân làm ẩm chỗ dán miệng, sau đó dùng cây kim băng cẩn thận cạy mở ra, với tâm trạng kích động rút ra mấy tờ giấy và bảng biểu từ trong đó.
Hồ sơ của tôi quả thực quá đơn giản, đơn giản đến mức khiến tôi thất vọng tràn trề. Bản nhận xét tốt nghiệp tiểu học, bản nhận xét tốt nghiệp trung học, đều viết khá là hay. Trong bản nhận xét tốt nghiệp trung học, bất ngờ lại có cả những lời khen ngợi như "đối với người thì rộng lượng, đối với mình thì nghiêm khắc" thế này. Không kìm được nghĩ, ước gì điều này sau khi tôi chết, trên điếu văn cũng viết như vậy. Các loại nhận xét trong bảy năm ở Đại Hoang Bắc cũng khá tốt, không thiếu những lời ca ngợi. Tôi bỗng cảm thấy kỳ lạ, tôi vốn dĩ tốt như vậy, sao lại không kết nạp tôi vào Đảng nhỉ? Xem xét từng trang từng điều một cách tỉ mỉ, cuối cùng cũng nhìn ra chút manh mối. Có hai điều là: Không tôn trọng lãnh đạo. Về mặt chính trị chưa chín chắn. Mang theo hai khuyết điểm thế này thì chẳng phải không dễ gì vào Đảng lắm sao! Thảo nào thảo nào. Cái điều không tôn trọng lãnh đạo thì là công bằng. Ở đại đội cũ, từng cãi nhau với đại đội trưởng chính trị viên. Ở xưởng gia công gỗ, từng cãi nhau với đại đội trưởng chính trị viên. Lúc ở cơ quan trung đội, từng cãi nhau với chủ nhiệm bộ chính trị, phó chính ủy, tham mưu trưởng. Tôi nghĩ điều này sau này khi đến cương vị công tác mới, thật sự phải nỗ lực sửa đổi cho bằng được.
Điểm về mặt chính trị chưa chín chắn thì tôi có chút không phục. Về mặt chính trị chưa chín chắn, mà có thể chỉ viết một tờ đại tự báo mang tính biểu thái "phê Đặng" thôi sao? Về mặt chính trị chưa chín chắn, mà có thể "đấu tranh với 'Băng Hải Tặc'" sao? Lấy bút máy từ trong cặp sách ra, định bụng mặc tính tình sửa chữ "không" thành chữ "rất". Cân nhắc mấy nét, thấy nét bút thực sự rất khó sửa, đành tức tối bỏ dở.
Không có bất kỳ "tài liệu đen" nào, "hồng" cũng coi như tàm tạm, khiến tôi không những cảm thấy chán ngắt, thậm chí còn cảm thấy có chút tiếc nuối nữa cơ. Giá mà có chút "tài liệu đen" nào đó, thì tôi đã không công cốc làm trò này rồi.
Túi hồ sơ đã bóc bị vứt lăn lóc trên chiếc bàn viết chưa quét sơn, tôi chán ngản lăn ra ngủ.
Từ đó trở đi, tôi không còn sinh ra bất kỳ sự tò mò nào đối với cái "linh hồn thứ hai" được đựng trong túi hồ sơ của chính mình nữa, cũng không còn phát sinh bất kỳ hứng thú nào nữa. Cứ để nó yên nghỉ trong túi hồ sơ đi!
Ngược lại, cái linh hồn cùng tồn tại với thể xác tôi, vì một số hành vi của bản thân, một số ham muốn chưa biến thành hành vi, một số ý thức chưa biến thành ham muốn, một số xung động xấu mập mờ thậm chí còn chưa biến thành ý thức, mà thường xuyên cảm thấy hổ thẹn. Cái linh hồn này mới đích thị là vĩnh viễn không yên nghỉ.
Tôi đến Bắc Hĩnh lần thứ hai.
Người từng tiếp đón tôi không có ở đó, một nữ đồng chí khác mà tôi chưa từng gặp nói người đó bị ốm rồi, trong mười mấy ngày tới sẽ không đi làm. Tôi hỏi công việc của tôi đã chốt chưa. Cô ấy nói không nắm rõ chuyện này.
Tôi lại nổi can qua rồi, hầm hầm hỏi: "Xưởng trưởng của các anh đâu? Tôi muốn gặp ông ấy!"
Cô ấy nhạt giọng đáp: "Anh không gặp được ông ấy đâu. Đang đi thăm nước ngoài đấy!" Hỏi: "Vậy bí thư đảng ủy của các anh đâu?"
Đáp: "Không thể nói cho anh biết được. Đang họp."
Tôi trừng mắt nói: "Cô không nói cho tôi biết, làm lỡ đại sự phân công của tôi thì tôi với cô không xong đâu đấy!"
Cô ấy thấy tôi đến kẻ thiện chí không phải, bèn đổi sang một điệu bộ khách sáo hơn một chút nói: "Tôi có nói cho anh biết cũng vô ích thôi. Ông ấy đang ở phòng họp tầng hai, đang họp đấy, có tiếp anh được không?"
Tôi cũng không lôi thôi với cô ấy nữa, quay người bỏ đi. Huỳnh huỵch bước xuống một tầng lầu, tìm đến phòng họp, nén cơn can qua lại giơ tay gõ cửa.
Có người hé mở một đường cửa, thò đầu ra nói một câu: "Đang họp đấy!" rồi lại định đóng cửa lại.
Cơn can qua của tôi cuối cùng cũng không nén lại được nữa, vung chân đạp tung cửa, khí thế hung hăng xông thẳng vào trong.
Mười mấy người đều ngẩn người nhìn tôi.
Tôi trợn trừng mắt đảo mắt nhìn quanh họ, gầm lên: "Ai là bí thư đảng ủy?!" Nhất thời không một ai lên tiếng, nhìn nhau ngơ ngác.
Tôi nâng tông giọng lên cao hơn nữa: "Ai là bí thư đảng ủy?!"
Một người sáu mươi mấy tuổi mặt vàng vọt gầy gò chi chít nếp nhăn, dùng giọng khàn khàn mang âm điệu Hồ Nam đầy vẻ bất an hỏi: "Anh tìm ông ấy có việc gì?" Tôi từ trong cặp sách rút túi hồ sơ ra (lúc đến vẫn dán kín, keo dán vẫn chưa khô), trước mặt bọn họ, xé rách toạc miệng túi như xé phong bì, rút mấy tờ "linh hồn" của tôi ra, ném phắt lên một chiếc bàn trà, quát lớn: "Tôi là sinh viên tốt nghiệp khoa Trung văn Đại học Phúc Đán, do Bộ Văn hóa phân công về Bắc Hĩnh, thế mà qua ba ngày, đến hai lần, vậy mà đến một câu trả lời cụ thể cũng không tài nào nhận được! Tôi ở Bắc Kinh thân cô thế cô, tiền trên người đã tiêu sạch, đến một chỗ dung thân cũng không có. Các anh đối xử với một sinh viên đại học từng đấu tranh với 'Băng Hải Tặc' như vậy, đối xử với việc phân công công việc cho sinh viên đại học như vậy, quá mức quá đáng rồi chứ phỏng? Trong lòng các anh rốt chẳng còn coi Bộ Văn hóa ra gì nữa rồi sao?! Chẳng lẽ Bắc Hĩnh các anh không nằm dưới sự lãnh đạo của Bộ Văn hóa nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sao?! Các anh không muốn nhận tôi, thì cứ nói thẳng ra một tiếng, coi như cũng là một câu trả lời! Bắc Kinh lớn thế này, các đơn vị văn hóa nghệ thuật nhiều vô kể! Tôi không phải là kẻ lang thang đến Bắc Hĩnh các anh để xin xỏ việc làm tạm bợ!..." Màn diễn xuất ứng biến này của tôi, lý lẽ đanh thép, hiệu quả vô cùng tốt.
Lập tức có một nữ đồng chí tầm năm mươi mấy tuổi rất khách sáo nói: "Anh đừng tức giận đã, ngồi xuống nói chuyện, ngồi xuống nói chuyện." Vừa nói vừa cầm bản hồ sơ của tôi từ trên bàn trà lên xem. Xem một lát, ngước nhìn những người khác lại nói: "Đúng là từng đấu tranh với 'Băng Hải Tặc'." Giấy trắng mực đen, sao mà giả được cơ chứ!
Vào xưởng rồi tôi mới biết, cô ấy là chủ nhiệm bộ chính trị Bắc Hĩnh. Cũng là người phụ trách "tổ thanh tra" Bắc Hĩnh lúc bấy giờ, là thành viên của "văn phòng thanh tra" Bộ Văn hóa. Một nam đồng chí có tuổi tác xấp xỉ cô ấy, mặt đen đỏ hơi mập mạp nói: "Tôi xem hồ sơ cái nào."
Cô ấy liền đưa hồ sơ cho ông ta.
Ông ta xem một lúc, nói với người mặt vàng gầy gò kia: "Tòa soạn chúng ta nhận cậu ta."
Ông ấy là chủ nhiệm tòa soạn đầu tiên của tôi sau khi vào xưởng.
Người mặt vàng gầy gò liên tục gật đầu: "Đồng ý, đồng ý."
Ông ấy chính là bí thư đảng ủy. Sau đó tôi mới biết, cuộc họp diễn ra khi đó là cuộc họp thúc giục ông ta "nói rõ". Những người ngồi đây đều là ủy viên đảng ủy, thảo nào trông ông ta lại ủ rũ đến thế. Vở kịch "Xuân Thảo xông đường" do tôi đóng chính lại đúng lúc bắt trúng nhịp trống chiêng. Điều trong bản nhận xét tốt nghiệp của tôi là "từng đấu tranh với 'Băng Hải Tặc'", rõ ràng đã phát huy tác dụng ảnh hưởng tiềm tàng đối với từng người bọn họ.
Chủ nhiệm tòa soạn nói với tôi: "Cậu đi tìm khoa nhân sự làm thủ tục quan hệ đi."
Thật không ngờ bôn ba mấy bận, chuyện khiến tôi sầu não đến mức ăn không ngon ngủ không yên trong suốt một tuần lễ, lại được giải quyết đơn giản gọn gàng chỉ trong mấy phút ngắn ngủi.
Xem ra có những lúc một mực ôn lương khiêm nhượng không xong việc đâu. Chuyện cần nổi can qua, vẫn phải nổi can qua chút ít.
Cái "vinh quang" của việc "từng đấu tranh với 'Băng Hải Tặc'", mặc dù được viết trên cái "linh hồn thứ hai" của tôi, nhưng lại thường khiến tôi cảm thấy buồn cười và hổ thẹn.
Chính trị đôi khi quá mức hào phóng đối với con người ta... Chủ nhiệm tòa soạn lại hỏi tôi: "Đồ đạc các thứ của cậu đều để ở đâu thế?" Tôi nói: "Đều đóng trong hành lý ký gửi rồi."
Ông ấy nói: "Đợi phiếu giục nhận đến nơi, tôi phái xe ra kéo về cho."
Tôi nói: "Vậy phải giải quyết cho tôi chỗ ở trước chứ ạ?"
Ông ấy nói: "Chuyện này bàn sau đi. Cậu cứ đến nhà khách của xưởng trước đi, tôi gọi điện thoại ngay đây, sắp xếp cho cậu một chiếc giường. Hôm nay nghỉ ngơi, đi tham quan trong xưởng một chút, sáng mai đến tòa soạn tìm tôi."
Cứ như vậy, tôi đã trở thành biên tập viên của tòa soạn Xưởng phim Bắc Kinh, được phân công về tổ bản thảo bên ngoài.
Trở thành biên tập viên xưởng Bắc Hĩnh rồi, tôi lại cảm thấy hối hận, cảm thấy hổ thẹn, cảm thấy bất an đối với hành vi "xông đường" của chính mình. Hồi tưởng lại bộ dạng của mình lúc đó, lúc nào cũng thấy có chút tính chất của việc "làm càn". Chỉ sợ để lại ấn tượng đầu tiên không mấy tốt đẹp trong lòng những vị ủy viên đảng ủy đó mà thôi.
Đa số các đồng chí trong tòa soạn lại đối xử với tôi cực kỳ tốt. Từ chủ nhiệm cho đến tổ trưởng cũ tổ bản thảo bên ngoài của chúng tôi. Vị sau là cán bộ lão thành Diên An kiểu "Ba tám", xuất thân từ "Lỗ Nghệ", một trong những người chấp lời bài hát "Nhà tôi ở sông Tùng Hoa Đông Bắc", biên tập viên phim "Người trong tranh", người đồng hương quê hương của Tiêu Hồng, đương nhiên cũng dính dáng chút ít quan hệ đồng hương với tôi. Chú ấy dáng người lùn tịt, hình tượng giống như nông dân, ăn mặc cũng giống nông dân, chiếc tẩu thuốc dài thước rưỡi không rời tay suốt cả ngày. Ban đầu tôi còn thấy rất kỳ lạ, tưởng chú ấy là người thừa thãi của "đội tuyên truyền nông nghiệp" kỳ cựu nào đó. Sau khi tìm hiểu rồi, vô cùng kính trọng.
Chú ấy thường trò chuyện vài câu với tôi khi rảnh rỗi. Hỏi đi hỏi lại mấy lần: "Hồi ở Phúc Đán đã đấu tranh với 'Băng Hải Tặc' thế nào vậy? Kể nghe xem nào, kể nghe xem nào."
Lần nào cũng khiến tôi vô cùng hổ thẹn. Ra vẻ khiêm tốn đáp: "Không có gì để kể cả, không có gì để kể cả."
Thiện cảm của chú ấy đối với tôi ngày càng tăng, coi tôi là một thanh niên khiêm tốn.
Sau đó chủ nhiệm nói với tôi, nếu trong bản nhận xét của tôi không có câu đó, thì dựa vào cái phong cách di sản "Hồng vệ binh" lúc tôi "xông đường" khi đó, chú ấy tuyệt đối sẽ không nhận tôi đâu. Kỳ thực lúc tôi làm "Hồng vệ binh", ngược lại còn rất "ôn lương khiêm nhượng". "Đại liên lạc" trở về Cáp Nhĩ Tân, gặp giáo viên ngữ văn của tôi, lúc đó đã bị đánh thành "phản cách mạng lịch sử", cạo trọc đầu, tôi vẫn đứng ở cổng trường hành lễ với cô, hỏi "Thầy cô giáo có khỏe không." Bởi vì tôi là học sinh yêu quý của cô. Tính khí xấu của tôi, là sau khi đến Đại Hoang Bắc, trong quá trình "nhận giáo dục lại", không biết từ lúc nào đã hình thành nên.
Một câu dạy bảo của mẹ từ nhỏ dành cho tôi — "Ba cước đầu khó đá". Ý nghĩa là, đến một nơi mới, đơn vị mới, ở giữa những đồng chí mới, đặc biệt phải cẩn trọng lời nói việc làm, để lại ấn tượng ban đầu thật tốt đẹp. Mẹ tuy là phụ nữ gia đình bình thường, không biết chữ, nhưng lại rất coi trọng việc giáo dục gia phong đối với chúng tôi. Hy vọng mấy chị em chúng tôi sau khi lớn lên thành người, đều nho nhã lịch sự, nói năng từ tốn, làm việc điềm đạm vững vàng. Thanh niên tốt trong quan niệm của bà, là kiểu loại "giống như một thiếu nữ" vậy. Trước năm mười tuổi, thành tích của sự giáo dục gia phong này trên người tôi thể hiện vô cùng rõ rệt. Không những nho nhã lịch sự, mà còn "thẹn thùng e ấp". Sau mười tám tuổi. Dấu vết của sự giáo dục gia phong này bắt đầu mờ nhạt, bắt đầu thoái hóa. Bởi vì mẹ đã không còn thời gian để dạy bảo tôi nữa. Xã hội đã thay mẹ làm việc đó. Nội dung giáo dục của xã hội khác một trời một vực so với gia đình và nhà trường, hơn nữa cũng có sức thuyết phục hơn giáo dục của gia đình và nhà trường. Nó áp dụng một phương thức khác, thường khơi gợi lên tâm lý phản kháng của tôi. Cả hai thứ giáo dục đều có ảnh hưởng tiềm tàng trên người tôi. Ngày thường tôi tự yêu cầu bản thân cố gắng hết sức nho nhã lịch sự, đối xử nhã nhặn với người ta. Một khi đã phản kháng lên, thì "tóc dựng ngược", hận không thể "hai thây phơi thây, máu vung mấy thước". Đúng là cái "cơn giận của kẻ thất phu". May mà dáng người tôi gầy yếu, hoàn toàn không có chút công phu quyền cước nào. Bằng không, phỏng chừng từ lâu đã gây ra vụ án mạng người nào rồi. Những điều này chỉ có thể trải nghiệm cảm giác "đánh nhau bạo lực" lúc xem phim võ thuật mà thôi.
Tuy nhiên tôi cho rằng câu dạy bảo đó của mẹ không hổ danh là lời vàng ý ngọc. "Ba cước đầu khó đá", thì phải "đá" cho thật tốt. Nói chung mà nói, mỗi khi đến một đơn vị mới, vùng đất mới, "ba cước đầu" của tôi chung quy vẫn "đá" tạm ổn. Đến khi ngày tháng lâu dài, không tránh khỏi lại có pha "đánh đầu" hoặc "đá phản lưới". Cái "quả bóng" đó phần lớn đều sút thẳng về phía các lãnh đạo, kết quả thường là ấn tượng tốt đẹp bị một cước "xóa sổ". Ai mà có cái sự kiên nhẫn ghê gớm đến mức ba trăm sáu mấy ngày trong năm, ngày nào cũng "ôn lương khiêm nhượng" cơ chứ? Thỉnh thoảng lộ ra chút "vẻ sắc bén" cũng là điều nên có mà.
Những ngày đầu tiên, tôi thủ phận an phận thủ thường ở tòa soạn. Ngày nào cũng đến nhà khách làm việc từ rất sớm, quét nhà, lau bàn, xách nước, rồi ngồi ngay ngắn đọc bản thảo bên ngoài. Mặc ăn cũng rất giản dị, đi trên đường cũng không đảo mắt nhìn lung tung mấy cô gái. Không giống như một số thanh niên nhìn thấy cô gái nào có vóc dáng thì "mắt sáng quắc như trộm", càng không đi sán lại làm quen, dây dưa dính líu để làm quen với các nữ diễn viên trẻ tuổi hoặc nữ diễn viên "á" trẻ tuổi. Tan làm thì nhốt mình trong phòng ở nhà khách đọc sách, tuyệt đối không đi lang thang khắp xưởng. Ngày lễ ngày tết ở một mình thấy buồn chán, liền bước ra cổng xưởng đón chiếc xe buýt số mười sáu, đi thẳng đến sở thú, để ngắm tê giác. Trong số tất cả các loài động vật, thứ khiến tôi ngắm hoài không chán chính là tê giác. Bởi vì nó từ trước đến nay chưa bao giờ bận tâm người khác nhìn nhận nó thế nào, cũng chưa bao giờ làm dáng.
Tóm lại ấn tượng mà tôi để lại cho người ta hồi đó là quy củ, thật thà, bổn phận. Đối với các đồng chí trong tòa soạn đều gọi một tiếng "thầy". Có lúc giả vờ như còn hôi sữa, không hiểu sự đời, giả vờ trông rất giống thật.
Đến một ngày cuối cùng cũng làm ra một chuyện kém văn minh, tát một ngôi sao nhí điện ảnh mà nam nữ già trẻ toàn quốc đều quen thuộc hai cái bạt tai.
Căn phòng tôi ở có bốn chiếc giường. Lúc đông khách thì không trống một chiếc giường nào. Giai đoạn đó thường xuyên đông khách.
Trong số khách trọ có một người đàn ông Cẩm Châu. Người thì cũng được đấy, nhưng sự tồn tại của anh ta khiến tôi cảm thấy vô cùng đau đầu. Anh ta là một "tiên ngủ", vừa nói chuyện với bạn, mí mắt đã sụp xuống. Mí mắt vừa sụp xuống, liền từ từ tựa như tảng đá lớn đổ ập xuống. Người vừa đổ xuống, tiếng ngáy liền nổi lên vùn vụt, chấn động cả tai. Đêm hôm khuya khoắt, tiếng ngáy đó giống như một cỗ máy ủi đang khởi động. Tôi sắp mắc bệnh suy nhược thần kinh đến nơi rồi.
Cuối cùng cũng mong ngóng được "hẹn gặp lại" anh ta, hơn chín giờ là tôi đã sớm lên giường nằm, hy vọng thần kinh bị tàn phá mười mấy ngày nay được nghỉ ngơi đầy đủ.
Thế nhưng, hoàn toàn không thể ngủ được. Phòng bên cạnh có mấy người đang lớn tiếng nói chuyện cười đùa, xen lẫn tiếng cười nói vui vẻ nam nữ hí hào. Hai căn phòng không hoàn toàn cách biệt chết ngạt, trên một bức tường còn trổ một ô cửa, bị chặn ngang bởi một chiếc giường. Bọn họ chẳng khác nào đang nói chuyện cười đùa, hí hào ngay trong phòng của tôi vậy.
Yêu cầu bọn họ giữ trật tự một chút đi, tôi lại không muốn. Không đáng để vì loại chuyện này mà đi cầu xin người ta.
Liền dùng chăn trùm kín đầu. Không thể ngủ, đành nhắm mắt hờ.
Nhắm đến mười giờ, là giờ nghỉ ngơi quy định của nhà khách. Chồm dậy gõ nhẹ mấy cái lên ô cửa đó, để tỏ ý nhắc nhở.
Yên ắng được một lát, tiếng cười hí lại hì hí, tiếng cười ha lại ha ha. Hơn nữa những lời nói đó, lại có chút thô tục. Người phương bắc chúng tôi gọi đó là "đùa cợt tiêu khiển".
Nhìn đồng hồ, mười rưỡi rồi. Chịu đựng tiếp.