Tháng Chín năm 1977, tôi tốt nghiệp Đại học Phục Đán và được phân công về Bắc Kinh.
Trước khi đến báo danh, tôi có nửa tháng nghỉ phép. Ba năm không về thăm nhà, tôi rất nhớ nhà, nhớ mẹ. Nhưng tôi dự định chờ xác định xong đơn vị công tác, làm việc vài tháng rồi mới về thăm nhà. Tôi rất hy vọng sớm biết được đơn vị công tác của mình sẽ là nơi nào, vô cùng hy vọng sớm nảy sinh tình cảm với đơn vị đó.
Bước ra khỏi ga Bắc Kinh, giống như ba năm trước bước ra khỏi ga Thượng Hải, tôi có phần bàng hoàng. Thời kỳ "Đại xâu chuỗi", với tư cách là "đại biểu Hồng vệ binh", tôi từng hai lần đi đi về về Bắc Kinh. Tôi được bầu ra từ hơn một nghìn hai trăm học sinh toàn trường, cứ mỗi mười lăm người thì bầu một đại biểu. Trường cấp hai cũ của tôi vào đầu thời "Văn cách" khá "bảo thủ", điều kiện chọn "đại biểu Hồng vệ binh" không lấy "tính tạo phản" làm nguyên tắc, thực ra cũng xấp xỉ điều kiện chọn "học sinh ba tốt". Đến Bắc Kinh rồi, nghe nói "Hồng vệ binh" của các trường đại học, trung học bao gồm cả tiểu học đã lên tới gần một triệu người. Đầu tiên chúng tôi chịu rét một đêm trong lều bạt dã chiến ở công viên Thiên Đàn, sau đó chuyển đến Bảo tàng Địa chất. "Hồng vệ binh" khắp nơi thấy trên ngực chúng tôi đeo dải lụa đỏ ghi chữ "đại biểu" liền giễu cợt thậm tệ. Họ nói "xâu chuỗi cách mạng", đến Bắc Kinh tiếp nhận sự biểu dương của Chủ tịch Mao là quyền lợi của mỗi "Hồng vệ binh", mỗi học sinh cách mạng. Các người có tư cách gì mà lấy danh nghĩa "đại biểu" để tước đoạt quyền lợi của người khác? Tất cả chúng tôi đều hổ thẹn khôn cùng, lần lượt giật phăng chiếc huy hiệu "đại biểu" vốn dĩ làm tự hào rồi vứt đi.
Sau khi được biểu dương, tôi một mình đi tới Lạc Sơn, Tứ Xuyên để thăm cha. Địa chỉ liên lạc của cha là một hòm thư mật mã, hỏi nhiều người đều không ai biết, đến bưu điện hỏi, họ đáp biết chỗ này nhưng thuộc đơn vị công nghiệp quân sự, bảo mật, không thể tiết lộ. Chẳng còn cách nào, tôi đành gửi một bức điện văn cho cha theo địa chỉ hòm thư. Điện phản hồi của cha chỉ vỏn vẹn ba chữ "Mau về Cáp". Sau này nghe cha kể lại, lúc đó chỗ của họ đại loạn, chuyện chết người xảy ra như cơm bữa. Ông sợ tôi đến đó rồi sẽ vĩnh viễn "ở lại" nơi ấy.
Tôi lại trở về Bắc Kinh. Lại may mắn tham dự một cuộc "biểu dương" nữa. Hình thức ra sao tôi không nhớ rõ, chỉ nhớ là ở tại ký túc xá người nhà Bộ Ngoại giao ở Đông Đơn, trong nhà của một vị tham tán nào đó. Tôi ở chung với chín nam sinh thuộc một "Đội Vạn Lý Trường Chinh" ở Vũ Hán. Trong một căn phòng rộng chừng mười hai mét vuông, rải một lớp cỏ khô mỏng, bên trên trải chăn nệm bẩn thỉu, có cả rận. Các thành viên "Đội Trường Chinh" rất bất mãn với điều kiện ở, liền dùng bút lông đại phết đầy mực tàu viết đủ loại khẩu hiệu biểu ngữ lên bức tường trắng tinh. Ngày tôi rời đi, bốn bức tường trông như treo bốn tấm da bò Hà Lan, khoang đen khoang trắng. Thực ra, "bà ngoại" của chủ nhà đối xử với chúng tôi rất niềm nở. Dù không phết một nét nào lên tường, nhưng tôi lại thấy vô cùng áy náy thay cho người khác... Tôi đứng ngẩn ngơ trên sân trước ga, nghĩ đến việc từ nay về sau mình sẽ làm việc tại Bắc Kinh, trở thành một công dân thủ đô, trong lòng tự nhiên không khỏi có chút xao xuyến.
Ánh nắng tháng Chín chói chang làm tôi nheo mắt lại. Hơi nóng từ đường nhựa bốc lên nghi ngút trên mặt đất, xe cộ, người đi bộ, cây cối bên đường hình như đều đang rung rinh nhẹ.
Chiếc đồng hồ lớn của nhà ga điểm giờ. Tôi ngoái đầu nhìn nó, trong lòng thầm thì: "Bắc Kinh, Bắc Kinh, từ nay về sau xin giúp đỡ nhiều nhé!..."
Cáp Nhĩ Tân — Bắc Đại Hoang — Thượng Hải — Bắc Kinh, mười năm trôi qua trong tầm tay. Tôi tưởng như bắt đầu từ năm mười tám tuổi, mình đã mơ một giấc mơ thật dài. Tỉnh dậy một cái đã hai mươi tám tuổi rồi. Nhưng hồi nhỏ, ngay cả trong mơ tôi cũng chưa từng nghĩ tới, sau năm hai mươi tám tuổi mình sẽ trở thành một người Bắc Kinh. Thời "Đại xâu chuỗi", Bắc Kinh không để lại ấn tượng tốt đẹp gì cho tôi. Nơi nơi đều sơn màu đỏ, khiến lòng người bồn chồn bất an, hơn nữa gió cát mùa thu lại lớn như vậy. Đến tham quan Bảo tàng Quân sự, gió tây cuốn theo bụi mờ mịt cuồn cuộn trên đường lớn. Mọi người dễ liên tưởng đến thời "Nguyên Đại Đô", khi những kỵ binh dũng mãnh dạo bước qua phố lớn, dưới móng ngựa bụi hồng tung bay dữ dội.
Dù Bắc Kinh không khiến tôi cảm thấy thân thuộc, nhưng trong lòng tôi vẫn tràn ngập cảm giác may mắn. Đúng vậy, là cảm giác may mắn chứ không phải cảm giác hạnh phúc. Thử nghĩ xem, trong số những người cùng thế hệ với tôi, còn có hàng trăm nghìn người vẫn ở lại Bắc Đại Hoang! Trong đó bao gồm hơn mười vạn thanh niên tri thức Bắc Kinh. Vậy mà một thằng nhóc Cáp Nhĩ Tân như tôi, chẳng biết được vị thần linh nào trong số phận phù hộ, đùng một cái đã biến thành người Bắc Kinh!
Số phận con người thật lắm cơ duyên! Mọi thành công của mọi người đều có sự tác động quan trọng của một cơ duyên nào đó vào một thời điểm nào đó. Đó chính là mối quan hệ vừa mâu thuẫn vừa thống nhất giữa con người và xã hội. Đối với mỗi người, điều quan trọng là phải biết nắm bắt cơ hội, bởi vì cơ hội rốt cuộc không thể thuộc về những kẻ hoàn toàn không có sự chuẩn bị. So với những người cùng thế hệ, số phận của tôi tốt đến thế, cho dù tôi được phân công về bộ môn nào, đơn vị nào, tôi nhất định phải làm việc thật tốt, nếu không thì quá có lỗi với mả tổ nhà mình. Đó chính là suy nghĩ mãnh liệt nhất nảy ra trong đầu khi tôi đứng trên quảng trường ga Bắc Kinh. Tôi hỏi nhiều người xem Bộ Văn hóa ở đâu, ai cũng nói không biết. Cũng chả trách được, người tôi hỏi phần lớn là người từ nơi khác đến. Ở ga Bắc Kinh, mười người thì ít nhất sáu bảy người là khách vãng lai. Mà tôi cũng hoàn toàn không nhận ra ai là người Bắc Kinh, ai là người tỉnh ngoài. Tôi hỏi một anh cảnh sát trẻ.
Anh ta trả lời: "Không biết. Anh hỏi tôi Bộ Công an ở đâu thì còn hỏi đúng người. Bộ Văn hóa... tôi chưa từng nghĩ sẽ có người hỏi tôi Bộ Văn hóa ở đâu."
Dù sao cũng là sinh viên đại học rồi, đầu óc tôi linh hoạt hơn ba năm trước nhiều. Tôi sang bưu điện đối diện nhà ga tra danh bạ điện thoại. Tra được số, tôi bấm máy, hỏi cơ quan văn hóa cao nhất của cộng hòa chúng ta ở đâu.
Người nghe điện thoại là bảo vệ phòng trực, hỏi ngược lại tôi là ai? Đến Bộ Văn hóa làm gì? Giọng điệu mang tinh thần cảnh giác rất cao.
Tôi kính cẩn giải thích mình là sinh viên đại học tốt nghiệp đến báo danh.
"Sa Than." Đối phương nhả ra hai chữ rồi dúp máy.
Tôi mua một bản đồ tuyến đường giao thông nội thành Bắc Kinh, không hỏi thêm ai nữa, cứ theo bản đồ mà bắt xe đổi tuyến. Một tiếng rưỡi sau, cuối cùng tôi đã đứng trước cổng Bộ Văn hóa.
Người lính ôm súng gác cổng hỏi tôi có công tác gì? Tôi lôi thư giới thiệu của trường phát từ trong cặp ra đưa cho anh ta xem.
Anh ta liếc qua, trả lại cho tôi và nói: "Đây không phải Bộ Văn hóa, đây là tòa soạn tạp chí 'Hồng Kỳ'."
"Hồng Kỳ"! Thảo nào lại có lính gác ôm súng bảo vệ. Mang định kiến từ thời "Văn cách", trong tâm trí tôi, đó là tên gọi khác của "Bộ Tư pháp Văn hóa". Nó là ấn phẩm quyền lực một thời đại diện cho "Trung ương Đảng" để định tội cho văn hóa nghệ thuật. Phê phán "Hải Thụy bãi quan", phê phán "Yến Sơn dạ thoại", phê phán "Buổi sáng Thượng Hải", phê phán "Hồng nhật", nơi này đều từng đăng những bài viết dung lượng lớn. Mọi văn hóa nghệ thuật, mọi nhân vật nổi tiếng trong giới văn hóa nghệ thuật, hễ qua tay nó phê phán, không thành "phản động" thì cũng thành "phong kiến", "xét lại". Đây là nơi trong thời "Văn cách" chuyên vơ vét khép tội, lấy việc "đốt sách chôn nho" làm nhiệm vụ của mình! Không chỉ định tội cho văn hóa nghệ thuật và giới nhân sĩ văn hóa nghệ thuật trong nước, mà còn định tội cả nước ngoài. Ví như từng viết bài dài vạn chữ phê phán hệ thống nghệ thuật của Stanislavski, phê phán tác phẩm "Làm gì?" của Chernyshevsky, trong một bài báo ca ngợi múa ballet hiện đại Trung Quốc, còn phê phán cả ballet cổ điển.
Tôi thầm nghĩ, mình muốn tìm Bộ Văn hóa, sao lại mò đến cái nơi này chứ! Dù tôi chỉ là một con kiến nhỏ trong số một tỷ dân, cho dù thời "Văn cách" có phạm phải tội lỗi văn hóa gì thì cũng chẳng đủ tư cách để bị "Hồng Kỳ" hại. Nhưng đối với nơi này, tôi vẫn có phần nơm nớp lo sợ.
Tôi quay đầu bước đi.
Đi được hai bước, không kìm được quay lại nói: "Nhưng người ta bảo tôi Bộ Văn hóa nằm trong khuôn viên này mà!"
Người lính gác nói: "Đúng rồi, đúng là trong khuôn viên này, ở tòa nhà kia kìa. Cổng này là cổng của 'Hồng Kỳ', đi vòng ra đường phía trước cổng chính mới là cổng Bộ Văn hóa."
Tôi khẩn khoản: "Thế anh cho tôi đi nhờ qua đây đi!"
Anh lính đáp: "Không được! Cổng ai người nấy đi."
Tôi bảo: "Được, được, được."
Thế là lại vòng mất mười phút mới ra đến cổng chính. Nhìn thấy biển hiệu Bộ Văn hóa, giống như đứa trẻ nhìn thấy bà ngoại, trong lòng dâng lên niềm thân thương.
Cổng lớn nhà "bà ngoại" cũng có lính ôm súng đứng gác.
Được cho phép vào trong sân, tôi vội vã lao về phía tòa nhà chính.
Không ngờ ngay lối vào tòa nhà lại bị một người lính gác giơ tay chặn lại, đòi tôi đưa "Phiếu đăng ký khách" phải điền ở phòng bảo vệ ngoài cổng chính. Thế nhưng lúc đi vội trong sân tôi đã tiện tay vứt đi mất rồi.
Anh lính nói: "Anh đi tìm lại đi."
Tôi thấy người lính đó là kiểu người không thể thương lượng, đành bó tay, đành phải quay lưng chậm rãi vừa đi vừa tìm. Trong sân có hai người dừng lại, tò mò nhìn tôi, chắc tưởng tôi đánh rơi ví hay vật gì quý giá.
Cuối cùng cũng tìm thấy. Sợ bị anh lính mắng, tôi cẩn thận dùng tay vuốt thật phẳng phiu rồi mới dám cầm đi vào lại tòa nhà.
Rốt cuộc cũng bước vào trong nhà, thứ tình cảm thân thương như cháu nhìn thấy bà ngoại trước đó đã tan thành mây khói. Cổng sân lối vào, bảo vệ hai lớp, không tới mức "canh phòng nghiêm ngặt" thì cũng gọi là "bước bước đề phòng". Tôi nghi ngờ nơi mình đến không phải Bộ Văn hóa, mà là bộ lệnh của quân binh chủng nào đó.
Lúc lên tầng, tôi bước từng bước rất vững vàng, sợ rằng trong lúc hoàn toàn không chuẩn bị tinh thần, lại từ đâu vọt ra một người lính bắt dừng lại tra hỏi.
May sao, chỉ có hai lớp gác mà thôi.
Đi lên tầng của Bộ Văn hóa, gặp một đồng chí nam chừng hơn năm mươi tuổi, tôi hỏi anh ấy "Văn phòng phân công sinh viên tốt nghiệp" ở phòng nào.
Trả lời: "Vẫn chưa thành lập mà!"
Tôi cuống lên, nhất thời ngẩn ngơ không biết nói gì, mồ hôi lập tức vãi ra.
Thấy tôi cuống quýt như vậy, anh ấy bảo: "Có một người có thể sẽ phụ trách công việc mảng này, để tôi đi hỏi giúp cậu."
Tôi bèn đứng ở hành lang chờ đợi.
Một lúc sau, đồng chí nam đó dẫn đến một đồng chí nữ gần bốn mươi tuổi. Chị ấy hỏi tôi: "Cậu đến báo danh à?"
Tôi nói: "Vâng."
Lại hỏi: "Tốt nghiệp trường đại học nào?"
Tôi nói: "Phục Đán." Rồi lại móc thư giới thiệu ra đưa cho chị ấy.
Chị ấy nhìn qua rồi nói: "Cậu đến báo danh sớm quá rồi đấy! Còn hơn nửa tháng nữa cơ mà! Mới hôm qua tôi mới được giao phụ trách việc này, tôi còn chưa có chút đầu mối nào đây, mười ngày sau cậu quay lại nhé!"
Tôi vội nói: "Thế thì không được đâu ạ, mười ngày này tôi biết ở đâu?" Chị ấy hỏi: "Nhà cậu ở đâu?"
Tôi nói: "Cáp Nhĩ Tân."
Chị ấy bảo: "Thế cậu về Cáp Nhĩ Tân đi, đến báo danh muộn vài ngày cũng chẳng sao đâu."
Về Cáp Nhĩ Tân — trong túi tôi chỉ còn lại chừng mười đồng bạc, không đủ mua vé tàu hỏa.
Tôi ngại không muốn nói thẳng, chỉ bảo: "Dù sao tôi cũng không thể về Cáp Nhĩ Tân. Nếu về được thì tôi đã không xuống xe ở Bắc Kinh rồi."
Chị ấy nghe tôi nói vậy, tưởng tôi có nỗi niềm uẩn khúc đặc biệt gì, lại hỏi: "Bắc Kinh không có họ hàng à?"
Tôi lắc đầu: "Không có ạ."
Lại hỏi: "Cũng không có bạn học?"
Tiếp tục hỏi: "Một người quen cũng không có luôn?"
Tôi nói: "Có mấy người bạn thanh niên tri thức Bắc Kinh hồi đó cùng đại đội ở Bắc Đại Hoang." Chị ấy như được giải tỏa nỗi lo giúp tôi, liền nói: "Thế thì tốt rồi! Đến ở nhà họ đi. Ba ngày sau cậu đến tìm tôi. Không được đến sớm hơn đâu đấy. Tôi thế này là đã chiếu ốm cậu lắm rồi!..."
Còn nói gì được nữa đây? Không thể nói thêm gì nữa. Tôi bày tỏ sự cảm ơn vô cùng, rồi mang tâm trạng chán nản rời khỏi Bộ Văn hóa.
Hơn bốn giờ rồi, tôi không biết nên đi đâu? Trong đầu chợt nảy ra một người — Hoàng Tông Giang.
Nên quyết định đi tìm ông ấy.
Hồi đó tôi còn chưa quen thầy Hoàng Tông Giang, nhưng đã quen cô Hoàng Tông Anh. Ba năm đi học ở Thượng Hải, điều tôi cảm thấy vinh hạnh nhất chính là quen biết hai người mà tôi vô cùng kính trọng: một người là cô Hoàng Tông Anh, một người là cô Nhữ Chí Sương. Mỗi lần nghĩ đến họ, trong lòng tôi lại dâng lên niềm biết ơn.
Tôi quen họ, nói ra cũng coi như là "cơ duyên".
Sau khi đập tan "Băng bốn tên", Thượng Hải đã tổ chức một hội nghị toàn thành phố cho giới văn nghệ sĩ, kỷ niệm bao nhiêu năm ngày phát biểu bài "Nói chuyện tại buổi tọa đàm văn nghệ Diên An". Khoa Ngữ văn Đại học Phục Đán có một giảng viên và hai sinh viên tham dự. Tôi là một trong hai sinh viên đó, tham gia tổ thảo luận tiểu thuyết và làm thư ký ghi chép. Nếu tôi nhớ không lầm thì cô Nhữ Chí Sương hình như làm tổ phó. Tổ tiểu thuyết còn có cụ Ba Kim, Sư Đà, Nhậm Can... tổng cộng hơn mười người.
Cụ Ba năm đó sức khỏe còn tốt, bước đi rất vững chãi. Ấn tượng cụ để lại cho tôi là ít lời, bình dị dễ gần, nói chuyện rất chậm, dường như mỗi câu đều phải trải qua suy nghĩ. Dù trong thời "Văn cách" chịu nhiều tàn hại, danh dự vẫn chưa được khôi phục công khai và bình phản, nhưng hoàn toàn không tự hạ thấp mình. Từ khuôn mặt mang vẻ "nhà tư tưởng" ấy, không khó để nhận ra sự cứng cỏi và tự tôn trong lòng. Hội nghị họp năm ngày, chúng tôi thường ăn chung một bàn. Tôi chưa từng trò chuyện với cụ. Bởi vì quá đỗi kính trọng ông cụ thấp bé mà khó lòng đánh gục này. Nhưng khi ăn cơm, tôi thường xới cơm giúp cụ, hoặc chủ động dịch đĩa thức ăn mà cụ không gắp tới về phía trước mặt cụ. Cô Nhữ Chí Sương phát biểu không nhiều. Với tư cách người chủ trì thảo luận, cô bắt buộc phải "mời" người khác phát biểu. Tôi thấy rõ cô coi "nhiệm vụ" đó như một hình phạt. Những ai từng đọc "Hoa bách hợp" đều nói cô Nhữ Chí Sương hẳn phải là một phụ nữ thanh tú. Hình như không nên cao lớn, tay to và còn hút thuốc như bản thân cô ngoài đời. Hình như lúc viết "Hoa bách hợp", nếu cô không phải là một phụ nữ như hoa bách hợp thì có gì đó không đúng lắm. Hơn nữa có người còn nói tên của cô cũng văn nhã như vậy.
Trước khi gặp cô, trong hình dung của tôi, vị nữ nhà văn khiến tôi kính trọng này cũng không phải mang dáng vẻ ngoài đời của cô. Nhưng sau khi gặp cô rồi, lại thấy cô nhất định phải mang dáng vẻ đó. Cảm thấy việc hút thuốc đối với cô là một loại phong thái đặc biệt. Đôi bàn tay to như tay đàn ông của cô mới chính là đôi bàn tay viết ra "Hoa bách hợp". Nếu bàn tay ấy mà nhỏ nhắn thon gọn thì lại hơi không giống bàn tay của nữ nhà văn Nhữ Chí Sương nữa.
Tôi về cơ bản không phát biểu. Toàn là bậc tiền bối, toàn là những người làm tôi kính trọng. Tôi không muốn nói, chỉ muốn nghe.
Nhưng có một ngày khi họp toàn thể, một đại biểu của tòa soạn "Triêu Hà" phát biểu, lại dám nói cái gì mà "Những tiểu thuyết như 'Hoa bách hợp', tình cảm tư tưởng rốt cuộc là không lành mạnh, rốt cuộc thuộc về tư tưởng tiểu tư sản, sau khi học tập 'Nói chuyện tại buổi tọa đàm văn nghệ Diên An', các cán bộ văn học nên tự giác nỗ lực khắc phục..." vân vân.
Điều này khiến tôi rất tức giận. "Hoa bách hợp" là tiểu thuyết tôi cực kỳ yêu thích từ thời học cấp hai. Đối với một người tôi yêu mến, hay một tác phẩm tôi yêu thích, tôi không thể chịu đựng được việc người khác hạ thấp nó trước mặt công chúng. Thế là buổi chiều khi tiếp tục thảo luận, tôi liền phát biểu một trận với lời lẽ gay gắt. Đó chẳng qua chỉ là một bài phát biểu mang tính cảm xúc, không đưa ra được lý luận logic gì. Lúc đó tôi cũng chẳng nói ra được lý luận gì. Trước lần phát biểu đó, tôi và cô Nhữ Chí Sương dù họp chung mấy ngày, ăn chung mấy bữa cơm nhưng cũng chưa từng nói với nhau câu nào. Đối với người mình kính trọng, tôi chỉ muốn giữ sự kính trọng ở trong lòng chứ không muốn phô trương ra ngoài.
Khi tôi phát biểu, cô Nhữ Chí Sương nhìn tôi chăm chú. Nét mặt có chút kinh ngạc, có chút bất ngờ, hình như còn có vài phần lo lắng. Có lẽ sợ tôi nói "quá đà", nói ra điều gì không thỏa đáng.
Tôi không "quá đà".
Tôi nhớ mình đã nói: Cái thứ tình cảm gọi là "tiểu tư sản" của giai cấp vô sản chúng ta, tôi cho rằng thực sự là thứ tình cảm vô cùng giàu tính thơ của nhân loại. Nếu cuộc sống của chúng ta thiếu đi thứ tình cảm này thì thật không biết sẽ biến thành cái dạng gì nữa. Cầu mong cuộc sống của chúng ta có nhiều thứ tình cảm như thế hơn. Cầu mong văn học của chúng ta có nhiều thứ tình cảm như thế hơn...
Cho đến tận bây giờ, những lời tôi cho rằng mình từng nói và nói rất hay thực sự không nhiều. Lời nói lần đó chính là một trong số đó. Cho nên tôi không bao giờ quên.
Sau khi tôi phát biểu, mọi người im lặng hồi lâu. Không ai ủng hộ tôi, cũng không ai phản đối tôi. Mọi người tiếp tục phát biểu, đều không liên quan đến chủ đề này.
Sau đó lại họp thêm một ngày rưỡi nữa. Cô Nhữ Chí Sương vẫn chưa nói chuyện với tôi. Tôi cũng vẫn chưa nói chuyện với cô.
Cho đến khi bế mạc, cô đưa cho tôi một trang giấy xé ra từ sổ nhật ký, trên đó viết địa chỉ nhà cô, chân thành nói với tôi: "Rảnh rỗi thì đến nhà cô chơi nhé, cô là người rất thoải mái, tuyệt đối không làm cháu cảm thấy gò bó đâu. Hơn nữa cô cũng thích tiếp xúc với thanh niên."
Tôi tổng cộng từng đến nhà cô hai lần.
Lần đầu tiên là trước khi tốt nghiệp, tôi dẫn theo hai người bạn học, trò chuyện với cô gần một tiếng rưỡi. Cô rất thẳng thắn với chúng tôi, nói nhiều quan điểm văn nghệ trái ngược với lý luận văn nghệ vốn vẫn còn rất "cách mạng" thời bấy giờ.
Đang trò chuyện giữa chừng, cô đột nhiên nói: "Để cô gọi con gái cô xuống cho các cháu làm quen nhé, nó cũng thích văn học lắm."
Chính vào ngày hôm đó, tôi đã quen Vương An Ức. Khi đó An Ức còn ở đoàn văn công khu vực Từ Châu, chiều cao thấp hơn bây giờ ít nhất nửa đầu, làn da bị cháy nắng rất đen, xõa mái tóc không mấy dày dặn, mặc chiếc quần ngủ mà người Thượng Hải hay mặc ở nhà, đi dép lê. Cô Nhữ Chí Sương nói với An Ức: "Các anh ấy gọi mẹ là cô, theo lý thì con cũng nên gọi các anh ấy là thầy, vì họ đều là sinh viên khoa Ngữ văn đại học đấy." An Ức không gọi chúng tôi là "thầy", cũng không thèm nhìn chúng tôi, hình như chỉ vì vâng lời mẹ nên mới miễn cưỡng ngồi đối diện chúng tôi, trên tay còn cầm cuốn sách gì đó. Cô Nhữ Chí Sương lại nói: "Các cháu đều là người trẻ tuổi, sau này đều có chí hướng với văn học, giữa các cháu nên có nhiều chủ đề chung hơn."
An Ức vẫn không cất lời.
Tôi không nhớ mình đã hỏi cô ấy câu gì, cô ấy mới rõ ràng là vì phép lịch sự nên đành phải trả lời. Trả lời thế nào tôi cũng không nhớ nữa. Chỉ nhớ cô ấy nói chuyện cực nhanh, ngắt nghỉ không rõ ràng. Ấn tượng cô ấy để lại cho tôi là cô ấy rất gấp giáp muốn bày tỏ suy nghĩ của mình, nhưng suy nghĩ trong đầu cô ấy lại có nhiều tầng nấc, nội hàm rộng lớn, là thứ chỉ hợp dùng bút chứ không hợp dùng lời để diễn đạt. Một ấn tượng khác là từ trong thâm tâm cô ấy có phần coi thường ba học viên Công Nông Binh chúng tôi.
Nói xong, cũng hoàn toàn xuất phát từ phép lịch sự, cô ấy ngồi tiếp chuyện vài phút rồi đứng dậy lên tầng.
Cô Nhữ Chí Sương liền vội vàng giải thích với chúng tôi: "Tính nết An Ức nó thế đấy, các cháu đừng chấp nhặt nhé."
Lúc chúng tôi đứng dậy xin phép về, cô Nhữ Chí Sương bảo tôi: "Hiểu Quang cháu ở lại chút đã, cô còn có chuyện muốn nói với cháu."
Tôi bèn ở lại.
Cô nói: "'Triêu Hà' sắp bị bãi bỏ rồi, 'Thượng Hải văn học' sắp được khôi phục rồi. Tốt nghiệp xong, nếu cháu muốn ở lại Thượng Hải, cô có thể giúp cháu kiến nghị với nhà trường." Tôi nói: "Cháu là người phương Bắc, cháu vẫn muốn về Cáp Nhĩ Tân. Sống giữa những người Thượng Hải, cháu thường cảm thấy cô đơn."
Cô trầm ngâm một lúc rồi nói: "Cô có thể hiểu cho cháu. Vậy thì sau này dù cháu được phân công đi đâu, có dịp đến Thượng Hải, cô đều hoan nghênh cháu đến nhà cô chơi."
Câu nói đó lúc ấy khiến tôi vô cùng cảm động.
Cô lại nói: "Cháu là một thanh niên tốt. Cháu đừng tưởng là vì cháu nói vài lời bào chữa cho 'Hoa bách hợp' mà cô mới khen cháu nhé! Cô dựa vào cảm giác trực tiếp đấy. Cháu trông giống người Thượng Hải, nhưng tính cách thì đúng là tính cách người phương Bắc. Cô thích tính cách của người phương Bắc."
Tháng Năm năm nay, khi tôi ở Thượng Hải sửa bản thảo cho "Thượng Hải văn học", tranh thủ thời gian đến nhà cô Nhữ Chí Sương thăm cô, lúc giới thiệu tôi với bố của An Ức, câu đầu tiên của cô vẫn là: "Hiểu Quang là một thanh niên tốt..."
Cô nói câu này lúc nào cũng rất nghiêm túc.
Có lẽ cô không thể biết được câu nói này có ý nghĩa quan trọng đến nhường nào đối với tôi. Tôi chưa bao giờ tự cho mình là một thanh niên tốt, nhưng tự nhận thấy mình cũng không xấu. Từ Phục Đán đến Xưởng phim Bắc Kinh, đến nay đã tám năm, trong chốn danh lợi, trong giới điện ảnh truyền hình, tôi không vướng phải những thói hư tật xấu đáng ghét, không làm những chuyện lén lút mờ ám, thực sự là vì thường xuyên bất giác nghĩ tới: Giả sử mình biến thành loại người nào đó, cô Nhữ Chí Sương sẽ nhìn nhận mình thế nào? Giả sử mình làm chuyện không quang minh chính đại, thì còn mặt mũi nào đi gặp lại cô Nhữ Chí Sương nữa?