Gia Tộc Wolfings

Lượt đọc: 5 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 31
Già Asmund Cất Lời Viếng Các Thủ Lĩnh Chiến Trận: Người Đã Khuất Được Đưa Về Gò Mả

❊ ❊ ❊

Giờ đây, khi mọi người đều ngắm nhìn, ông bước đến nơi đặt thi hài các thủ lĩnh chiến trận, cúi xuống nhìn khuôn mặt của Otter và cất tiếng:

“Hỡi Otter, ngươi đang nằm đó! ngươi mà ta từng biết từ thuở xưa,

Khi râu ta bắt đầu điểm bạc, như kẻ xuất chúng trong hàng dũng mãnh và can trường,

Và ngươi tựa như người em út của ta, và ngươi đã dẫn dắt các con trai ta

Khi chúng ta vượt núi xa để đối đầu với đoàn quân Hungô mưa tên bời bời,

Và ta mỉm cười khi thấy ngươi truyền dạy những tri thức mà ta từng dạy ngươi thuở trước.

Hỡi Otter, ngươi có nhớ người Goth đã thất trận thê thảm ra sao,

Và với ngươi trong vòng tay, ta lội qua dòng nước cuồn cuộn tên bay bời bời

Liếm lấy chân núi với làn nước hòa lẫn máu hồng;

Và cách chúng ta ẩn mình nơi thung sâu khuất lẩn của núi non

Đợi chờ các tộc người tới như đêm ẩm ướt đợi ngày?

Ngươi có nhớ, hỡi Otter, chúng ta đã có biết bao niềm vui,

Biết bao nỗi buồn được nhắc lại đã làm cho ngày hội lớn của chúng ta thêm hân hoan?

Hỡi người bạn cùng chung tiếng ca trong đại sảnh! Hỡi người bạn cùng kề vai trên chiến địa!

Sao ngươi lại đành ra đi để bỏ lại ta dưới tấm khiên này?

Ta, kẻ già cỗi, ta, kẻ không con, trong khi ở đại sảnh Laxing kia

Các con trai của anh em ngươi vẫn ở đó và con cháu họ vẫn gọi tên ngươi.

“Hỡi các tộc người! linh hồn từng ngụ trong thân xác này,

Thân xác nhọc nhằn vì dặm trường nhưng vô cùng tốt đẹp này, đã tha thiết mong mỏi cho các ngươi

Có được những ngày tươi đẹp và sức chịu đựng bền bỉ. Ai mà thấu hiểu được hành động của ngài

Đã tạo tác điều gì cho các ngươi từ ngọn lửa của cơn hoạn nạn?

Nhưng điều này ít ra chúng ta đều biết rõ, rằng nó xuất phát từ trái tim các ngươi

Và trở về với trái tim các ngươi làm hạt giống cho sự thịnh vượng và vinh quang.

Nơi mảnh đất mà các ngươi chôn cất nó, thân xác của người này,

Không có chiến công nào của ngài ở lại, không có vinh quang nào ngài từng đoạt được,

Nhưng người Markmen sẽ mãi mãi mang những chiến công của ngài khắp trần gian,

Cùng với niềm vui của những chiến công sắp tới, chiếc vòng nguyệt quế tôn vinh giá trị của ngài.”

Ông lặng đi một lúc khi đứng nhìn khuôn mặt của Otter với nỗi buồn sâu sắc, dù cho lời nói của ông vẫn vô cùng cứng cỏi. Quả thực, như ông đã nói, Otter là người bạn chiến đấu và bạn đồng hành nơi đại sảnh của ông, dẫu ông trẻ hơn Asmund rất nhiều; và họ từng đứng sát vai nhau trong trận chiến mà các người con trai của già Asmund đã gục ngã bên cạnh ông.

Một lúc sau, ông chậm rãi quay đi khỏi Otter để ngắm nhìn Thiodolf, thân thể ông run lên khi nhìn, và ông hé miệng muốn nói; nhưng chẳng có lời nào thốt ra; và ông ngồi phịch xuống mép chiếc cáng, những giọt nước mắt bắt đầu tuôn trào từ đôi mắt già nua, và ông bật khóc nức nở. Khi ấy, những ai chứng kiến đều kinh ngạc; bởi tất cả đều biết sự kiên cường trong tim ông, và cách ông đã gánh vác nhiều gánh nặng hơn cả tuổi già, mà không hề gục ngã trước chúng. Nhưng cuối cùng ông lại đứng dậy, vững vàng trên đôi chân, quay mặt về phía đại hội toàn dân, và bằng một giọng nói giống với giọng của một người đang ở độ tuổi tráng niên hơn là một ông lão, ông cất tiếng ca:

“Dữ dội cơn bão đang hoành hành

Từ sắc bén của lưỡi gươm!

Đường đi của bước chân chiến trận đầy thịnh nộ

Đang tiến xa vời vợi!

Các vị thần lắng nghe và thấu hiểu

Tiếng đồn đại dài lâu của nỗi sợ hãi

Từ những đồng cỏ phía dưới

Lan tràn hung hãn qua miền hoang địa,

Cho đến khi nó vây đánh quanh chốn ở của họ được xây dựng nơi cao vắng

Và cuối cùng dâng tràn phá tung mái nhà của họ,

Dập tắt tiếng cười và cất tiếng gọi mọi người,

Khi nó cuồn cuộn quanh rường cột của Đại sảnh,

Tựa như tiếng nói của đám mây giông cuộn xoắn trên cao,

Khi những sảnh đường núi rách bươm theo tiếng gầm của sự sợ hãi.

“Thế là họ mở toang cánh cửa

Của Đại sảnh nơi họ ngụ cư,

Và tiếng nói của sự bất công ấy

Biến thành khúc ca lẩm bẩm,

Và các vị thần chờ đợi ngóng trông

Kẻ Đạo Sĩ ấy:

Bởi họ biết ngài đã dấn bước

Trong một hành trình dài đằng đẵng một mình.

Giờ đây họ đang lắng nghe bước chân ngài, và giờ đây ngài đã đến,

Với những vết thương chiến trận sẫm tối trước cửa ngôi nhà của mình,

Không giáp trụ, không khiên thuẫn, ngài đứng cô độc,

Và thanh gươm ngài từng vung lên đã rời khỏi tay—

Đôi tay buông xuôi không mang theo chiến lợi phẩm nào từ trận mạc,

Khi ngài đứng lặng thinh, không sợ hãi trước mắt họ.

“Cha đẻ chiến trận ngời sáng

Nơi ánh sáng trắng tuôn trào

Xung quanh các vị vua thời xưa

Đỏ rực ánh vàng,

Và các vị thần mang tên tuổi ấy

Bừng cháy niềm vui.

Tất cả những bậc trưởng thượng của loài người

Nay đã trở nên vinh quang một lần nữa:

Cho đến khi vị Cha đẻ của những kẻ ngã xuống cất tiếng hô vang vào phút cuối:

‘Đây là kẻ không hề phản bội lại bất kỳ niềm hy vọng nào của quá khứ!

Không vũ khí, không báu vật nào của mặt đất ngài mang theo,

Không món quà nào để chia sẻ niềm vui chốn thần điện;

Nhưng bàn tay ngài mang theo sự sống, được nâng niu trân trọng, ngọt ngào biết bao;

Và hãy lắng tai nghe! Đại sảnh đang cất tiếng hát chào mừng Sói-của-nhân-dân!’

“Như cơn mưa tháng Năm

Vào ngày hạnh phúc nhất của trái đất,

Những bông hoa đẹp đẽ rơi xuống

Trên Đại sảnh rực rỡ ánh mặt trời

Khi các vị thần đứng dậy

Cùng chén rượu chào mừng,

Và đám đông đang chào đón

Bắt đầu cất tiếng lẩm bẩm ngợi ca.

Rồi vị Thần của Đất cất lời; với những từ ngữ ngọt ngào, ngài phán rằng,

‘Kìa, Mặt trời vẫn luôn tìm kiếm Sự sống được tạo thành từ cái chết;

Và hôm nay khi ngài quay quần khắp thế gian rộng lớn

Ngài hướng về Wolf-stead với niềm khao khát; bởi ở đó không còn nghi ngờ gì nữa

Chính là nơi ngụ cư của câu chuyện được tạo nên từ cái chết, là đóa hoa của mọi vinh quang.

Hãy đến đây, Vinh quang mới, hãy đến, Chiếc mão của Danh tiếng!’”

Trái tim mọi người đều dâng trào khi ông hát, và khi ông dứt lời, tiếng gươm khiên va chạm vang lên rền vang khắp đồng cỏ, cùng tiếng hô vang dội đầy vui sướng của người Markmen xé toạc bầu trời: bởi quả thực vào khoảnh khắc ấy, họ nhìn thấy Thiodolf, vị anh hùng của họ, đang ngồi giữa các vị thần trên chiếc ghế vàng của mình, xung quanh là hương thơm ngào ngạt và âm thanh ca hát ngọt ngào, bản thân ngài thì mặt mày rạng rỡ và vui vẻ như chưa từng có ai trên trần gian từng thấy, dẫu ngài vẫn luôn là một người vô cùng vui tính.

Nhưng khi tiếng reo hò mừng rỡ lắng xuống, Nữ thần Đại sảnh lại cất lời:

“Giờ đây mặt trời đang hướng về phương Tây, và Trái đất trở nên mệt mỏi

Vì tất cả những việc làm suốt ngày dài trong nỗi buồn và niềm vui;

Và khi mặt trời vĩ đại lụi tàn, ngọn nến của ta cũng lụi tàn theo,

Và ngọn lửa chập chờn của nó khát khao được nghỉ ngơi rồi lịm tắt một lần nữa.

Thế nên khắp các đồng cỏ, chúng ta hãy quay bước trở lại lần nữa

Đến Mái nhà thiêng liêng của tộc Wolfings, ngôi đền của hòa bình và chiến tranh.

Và những người từng yêu thương chúng ta, những hình tượng chiến binh này,

Sẽ ngồi giữa bữa tiệc của chúng ta, và nhìn ngắm, như cách Đức Cha nhìn ngắm

Những công trình mà nhân loại tạo tác và bàn tay lao nhọc được nghỉ ngơi,

Khi đôi mắt ngài nhìn xuống từ những ngọn núi và bầu trời bao la trên mọi miền đất,

Và hướng lên từ những đồng cỏ ngập tràn hoa và vực sâu cuồn cuộn của đại dương.

Ở đó, ngay tại bữa tiệc, chúng ta sẽ thân mật bên những vị anh hùng của mình

Như cách chúng ta thường thân mật bên các vị thần, khi trong những vần thơ ca tụng và khúc ca

Chúng ta mỉm cười kể về tiếng cười của họ, và những chiến công từ những ngày tháng cũ.

“Vậy thì hãy đến đây, hỡi những người con của các tộc người đã khiêng hai vị này tới đây!

Hãy nâng những chiếc giường vinh quang của họ lên, và chúng ta hãy cùng nhau trở về nhà,

Và ăn mừng như những kẻ vừa được giải thoát khỏi lao nhọc khôn kham,

Những người qua màn đêm đang ngóng trông ánh bình minh tươi tắn và đẹp đẽ

Cùng buổi sáng và buổi trưa tiếp nối, rồi buổi chiều và buổi sáng hôm sau,

Tất cả cuộc sống của sự giải thoát và những ngày tươi đẹp chưa từng sinh ra.”

Bà nói vậy, và một tiếng thì thầm nổi lên khi những chiến nhân dũng cảm ấy bước ra lần nữa. Nhưng kìa, giờ đây họ đã khoác lên mình những xiêm y tươi mới, đẹp đẽ và chiến phục rực rỡ. Bởi trong lúc tất cả chuyện này đang diễn ra và được cất lời, theo lệnh của Nữ thần Đại sảnh, họ đã đến những cỗ xe của các Gia tộc mình và sửa soạn trang phục từ kho dự trữ trong đó.

Thế là giờ đây họ nâng những chiếc cáng lên, Nữ thần Đại sảnh dẫn đầu, và họ đi qua đồng cỏ trước đoàn người đông đảo của các tộc người, những người tuân thủ thứ tự bước theo sau, mỗi Gia tộc vây quanh lá cờ của mình; và khi họ đi qua khu vườn rào mà người La Mã đã dựng lên để đến Cửa đàn ông của Đại sảnh, ở đó có những người phụ nữ trong Gia tộc trong trang phục mới tinh, đang rắc hoa lên những chiến binh còn sống của đạo quân và lên các thủ lĩnh chiến trận đã khuất, trong khi họ khóc vì thương xót cho họ. Thế là những người tự do của các Gia tộc bước vào Đại sảnh, nối bước Nữ thần Đại sảnh và những người khiêng các thủ lĩnh chiến trận; nhưng các lá cờ vẫn ở lại bên ngoài trong khu vườn rào do người La Mã dựng nên; còn các nô lệ thì dọn một bữa tiệc cho riêng họ quanh những cỗ xe của các tộc người ở khoảng trống trước lán trại, các xưởng rèn và chuồng gia súc.

Và khi Nữ thần Đại sảnh bước vào Đại sảnh, bà cắm ngọn nến xuống ngưỡng cửa của Cửa đàn ông, và cứ thế dập tắt nó.

Các tộc người phải mất một lúc lâu mới bước vào hết, và khi họ đã ở dưới Mái nhà của tộc Wolfings, họ ngước nhìn và thấy Thiodolf được đặt ngồi trên chiếc ghế của ngài một lần nữa, còn Otter được đặt ngồi bên cạnh ngài; và các tù trưởng cùng thủ lĩnh của Gia tộc đã tề tựu tại các vị trí trên bục cao dành cho họ, còn Nữ thần Đại sảnh ngồi dưới ngọn Đèn kỳ diệu mang tên bà.

Lúc này bóng tối đang buông xuống mặt đất; nhưng bên trong Đại sảnh vẫn rực rỡ y như Nữ thần Đại sảnh đã hứa. Nơi ấy bày biện Khoả báu của tộc Wolfings; những tấm vải đẹp được treo trên tường, những y phục thêu thùa tinh xảo trên các cột nhà: những chiếc vạc đồng đẹp đẽ và những chiếc ráp chạm trổ tinh xảo được đặt trong các góc khuất để mọi người có thể nhìn rõ, cùng những chiếc bình bằng vàng và bạc được bày la liệt dọc theo các bàn tiệc. Các cột nhà cũng được kết hoa, và những tràng hoa được treo rủ từ tường che lên những tấm thảm thêu quý giá; nhựa cây thơm và hương liệu đang cháy trong những chiếc lò xông bằng đồng được chế tác tinh xảo, và có biết bao ngọn nến đang cháy sáng dưới Mái nhà, khiến cho nơi đây chẳng kém phần rực rỡ so với lúc người La Mã châm lửa vào nhữngh đống củi để thiêu rụi nó giữa cơn vội vã của Trận chiến Ban sáng.

Thế rồi họ bắt đầu yến tiệc, ăn mừng ngày hội trở về trong tay nắm trọn chiến thắng; và những thi hài của Thiodolf và Otter, khoác trên mình những xiêm y lấp lánh quý giá, nhìn xuống họ từ Ghế cao, và các tộc người tôn kính họ với niềm hân hoan; họ nâng Chén rượu chúc tụng hai vị trước bất kỳ ai khác, dù là thần linh hay con người.

Nhưng trước khi bữa tiệc được cử hành xong xuôi, Ali con trai của Grey tiến đến Ghế cao, tay cầm một vật: và kìa! đó chính là Throng-plough, thứ mà cậu đã tìm kiếm khắp bãi chiến trường nơi người Markmen bị người La Mã đánh bại, và cuối cùng đã tìm thấy nó. Mọi người đều nhìn thấy cậu đang cầm nó trên tay lúc bước đến chỗ Nữ thần Đại sảnh và nói chuyện với bà. Nhưng bà đã hôn lên trán cậu thiếu niên, nhận lấy Throng-plough, quấn những dải lụa hòa bình quanh nó và đặt nó lên bàn trước mặt Thiodolf; rồi bà cất lời dịu dàng như thể đang tự nói với chính mình, nhưng đủ lớn để một số người nghe thấy:

“Hỡi cha, cha sẽ không bao giờ còn rút Throng-plough khỏi vỏ cho đến khi trận chiến được bày ra ở chiến trường cuối cùng, và những người con của Trái đất trù phú cùng những người con của Ban ngày gặp gỡ Swart và con cháu của hắn vào phút cuối, khi sự thay đổi của Thế giới đã cận kề. Có lẽ con sẽ ở bên cha khi ấy: nhưng bây giờ và trong lúc này, xin vĩnh biệt, hỡi bàn tay dũng mãnh của cha!”

Thế là các Gia tộc của vùng Mark đã tổ chức Ngày hội Trở về dưới Mái nhà Wolfing mà không có ai quở trách hay khiến họ sợ hãi; và mặt trăng mọc lên, đêm mùa hè trôi dần về phía rạng đông, cả trong lẫn ngoài Mái nhà đều vang lên tiếng yến tiệc, ca hát, tiếng đàn hạc và âm thanh của niềm vui ngập tràn: bởi bên ngoài Mái nhà, đám nô lệ, khách lạ và các tù binh chiến tranh La Mã đang cùng nhau yến tiệc.

Nhưng vào ngày hôm sau, các tộc người đã đưa những người đã khuất vào gò mả nằm giữa Mái nhà Lớn và Rừng Hoang. Họ chôn cất họ chung trong một gò mả với các thủ lĩnh chiến trận nằm ở chính giữa, và Arinbiorn ở bên phải Otter; còn Thiodolf mang theo Throng-plough cùng vào gò mả với mình.

Cách gò mả của người nhà không xa, về phía nam, họ chôn cất những người La Mã, một đoàn quân đông đảo, với vị Tướng chỉ huy ở chính giữa; và họ đắp một gò mả dài đè lên họ nhưng không quá cao; để rồi khi năm tháng trôi qua, và bước chân của người cùng muông thú giẫm đạp lên, nó trông giống như một gò đất nổi lên tự nhiên chứ không phải do tay người làm ra; và có lẽ chẳng ai biết được có bao nhiêu bộ xương của những dũng sĩ nằm bên dưới; thế mà nó vẫn có một cái tên tồn tại suốt thời gian dài, ấy là Gò Chiến Trận.

Còn gò mả nơi người Markmen được an nghỉ thì được gọi là Gò Thiodolf qua nhiều thế hệ loài người, và có rất nhiều câu chuyện được kể về ngài; bởi người ta luyến tiếc không muốn mất đi và quên lãng ngài; và trong những ngày sau này, người ta tin rằng ngài vẫn ngồi trong Gò mả ấy không phải đã chết mà đang ngủ, với thanh Throng-plough đặt trước mặt trên chiếc bàn; và rằng khi con cháu của người Goth rơi vào cơn hoạn nạn hiểm nghèo nhất và những chú chim ưng ngừng đậu trên nóc Mái nhà Lớn của tộc Wolfings, ngài sẽ thức dậy và bước ra từ Gò mả để đến cứu giúp họ. Nhưng chưa ai từng dám phá mở Gò mả đó để tận mắt nhìn xem có gì bên trong.

Thế nhưng gò đất trên đồng cỏ nơi người Goth phải chịu thất bại dưới tay người La Mã, và nơi Thiodolf ngã xuống đất mà không hề mang thương tích, cũng có một cái tên, được gọi là Gò Ngất Ngây; và nó giữ cái tên ấy mãi cho đến tận lâu sau khi người ta đã quên mất lý do vì sao nó lại mang cái tên đó.

Giờ đây, khi tất cả những việc này đã hoàn tất, và các chiến binh của các tộc người đã giải tán ai nấy trở về trang trại của mình, tộc Wolfings tụ họp lại thu hoạch lúa mì, và bắt tay vào việc khôi phục lại tất cả những gì người La Mã đã tàn phá; họ dọn dẹp, sửa chữa Mái nhà Lớn và làm cho nó trở nên đẹp đẽ hơn trước, đồng thời xóa bỏ mọi dấu vết cháy xóm, ngoại trừ việc họ giữ lại những vết xém và dấu tích của ngọn lửa trên một thanh xà ngang, thanh thứ hai tính từ bục cao, như một kỷ vật về biến cố trong quá khứ. Hơn nữa, khi mùa Màng đã thu hoạch xong, tộc Wolfings, tộc Beamings, tộc Galtings và tộc Elkings cùng với tộc Bearings bắt tay vào việc xây dựng lại Mái nhà Lớn cùng các gian nhà và lán xưởng khác đã bị người La Mã đốt phá; và ngôi nhà ấy đẹp đẽ vô cùng.

Song tộc Wolfings vẫn thịnh vượng trên đồng cỏ và chuồng trại, họ sinh hạ những người con lớn lên thành những dũng sĩ mạnh mẽ và khéo léo, và Gia tộc ngày càng trở nên vinh quang qua từng năm tháng.

Truyện kể rằng người La Mã chưa từng tấn công vùng Mark thêm lần nào nữa; bởi vào khoảng thời gian này, họ bắt đầu kìm hãm việc bành trướng lãnh thổ, hoặc thậm chí thu hẹp bớt biên giới của mình.

VÀ ĐÓ LÀ TẤT CẢ NHỮNG GÌ CÂU CHUYỆN CÓ THỂ KỂ VỀ GIA TỘC WOLFINGS VÀ CÁC TỘC NGƯỜI CỦA VÙNG MARK.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.