Suốt cả ngày, đứng trên đồi Nghị sự của tộc Wolfings, người ta có thể thấy những đoàn chiến binh tiến về dọc theo bờ sông Mirkwood-water ở cả hai bên dòng; và những người đến sau từ vùng Nether-mark đều vội vã hết mức có thể, bởi họ không muốn đến muộn tại nơi hẹn gặp. Nhưng nhóm này thuộc một thị tộc gọi là Laxings, mang hình con cá hồi trên cờ hiệu; số lượng họ hơi ít, vì chỉ trong những năm gần đây họ mới trở thành một Nhà của người Markmen. Xe cờ hiệu của họ được kéo bởi những con ngựa bạch vừa nhanh vừa khỏe, đoàn quân cũng chẳng lấy gì làm đông đúc vì họ chỉ dẫn theo vài nô lệ, và tất cả mọi người, từ tự do dân đến nô lệ, đều cưỡi ngựa; thế nên họ vội vã phi đi cùng chiếc xe cờ hiệu, theo sau là vài chiếc xe quân nhu chạy hết sức có thể.
Giờ đây câu chuyện kể về các chiến binh của tộc Wolfings và Beamings rằng chẳng mấy chốc họ đã bắt kịp đại quân Elkings. Đoàn quân này đang lững thững hành hành quân để tộc Wolfings có thể bắt kịp: họ là một thị tộc rất đông đảo, đông nhất trong toàn củ vùng Mid-mark, và vào lúc bấy giờ họ có mối quan hệ thân tộc với người Wolfings. Nhưng những bô lão trong Nhà nhớ lại họ từng nghe các bậc ông cố và những người rất già kể rằng, đã từng có thời điểm Nhà Elkings được thành lập bởi những người xuất thân từ dòng dõi Wolfings, và cách họ đã rời bỏ vùng Mark từ những ngày đầu khai phá, rồi sống tách biệt qua bao thế hệ loài người; và cuối cùng họ cũng quay trở lại vùng Mark, lập cư tại một nơi ở vùng Mid-mark vốn chỉ là chốn ở của một nhóm người sót lại thuộc Nhà Thyrings. Nhóm này từng vô cùng hùng mạnh, nhưng vào thời điểm ấy đã gần như lụi tàn hoàn toàn bởi một trận đại dịch xảy ra trong những năm tháng đó. Thế rồi hai Nhà này, những kẻ lữ hành quay về và số người sót lại sau trận dịch của các vị thần, đã hợp lại làm một Nhà, lớn mạnh và thịnh vượng sau khi đoàn tụ, kết thông gia với người Wolfings, và trở thành một Nhà vô cùng lớn lao.
Hiên ngang và rực rỡ làm sao đoàn quân của họ lúc bấy giờ, khi họ hành tiến cùng lá cờ hình con nai sừng xám được kéo chính bởi những con thú đã được thuần hóa để kéo xe qua nhiều thế hệ; chúng béo tốt và mượt mà hơn những người anh em chốn rừng hoang, nhưng không khỏe mạnh bằng.
Thế là người của ba thị tộc có phần hòa lẫn vào nhau trên đường đi. Tộc Wolfings là những người cao lớn và vóc dáng vạm vỡ nhất; nhưng trong số những người tóc sẫm màu đã nhắc đến ở trên, ít nhất là ở tộc Beamings, và nhiều nhất là ở tộc Elkings, tựa như thể họ đã thu hút thêm nhiều người mang dòng máu lạ trong những chuyến lãng du trước kia của họ. Do đó, họ trò chuyện cùng nhau và khích lệ lẫn nhau, đúng như thói quen của những người bạn đồng hành trong binh đao vào trước thềm trận chiến; và cuộc trò chuyện, như có thể đoán được, xoay quanh cuộc hành trình ấy cùng những gì có khả năng xảy ra; và một chiến binh tộc Elkings cất lời với một người thuộc tộc Wolfings đang cưỡi ngựa sát bên:
“Này Wolfkettle, Ánh Dương Điện có dự liệu điều gì về ngày chiến trận không?”
“Không,” người kia đáp, “khi nàng thắp ngọn nến tiễn biệt, nàng giục chúng ta hãy trở về và nhắc đến ngày ta khải hoàn; nhưng điều đó, theo ta nghĩ, cũng như anh và tôi bàn luận với nhau, là ngẫm xem điều gì khả năng sẽ xảy ra. Bởi chúng ta là một đại quân gồm những dũng sĩ cường tráng, còn những kẻ ngoại bang kia {2} thì vô cùng dũng mãnh, và theo lời đồn thì vóc dáng họ còn to lớn hơn cả người Hun, lại được tổ chức quy củ chưa từng thấy ở bất kỳ dân tộc nào. Thế nên nếu ta đánh bại họ, chúng ta sẽ quay về; còn nếu họ đánh bại ta, phần tàn quân của chúng ta sẽ rút lui trước họ cho đến khi về tới chốn định cư; vì không thể mong chờ rằng họ sẽ đánhọc vào hậu phương và chặn đường ta, khi mà chúng ta có bụi rậm của rừng hoang che chở hai bên sườn.”
“Lời ấy thật chuẩn xác,” người tộc Elkings nói; “và bàn về sức mạnh của dân tộc này cùng phong tục của họ, các anh có thể lượm lặt đôi điều từ những khúc ca mà Nhà chúng ta vẫn đang ca hát, và mà các anh từng nghe vang vọng khắp vùng Mark; vì đây chính là dân tộc mà rất nhiều bài ca trong đó đã kể lại, dệt nên khúc ca sự tích được gọi là Khúc Ca Người Welsh Phương Nam; kể về việc chúng ta đã chạm trán dân tộc này thuở trước khi ta còn kết nghĩa với một tộc người Welsh có phong tục tương tự như ta: bởi người Elkings chúng ta thuở ấy chỉ là một tộc người yếu ớt. Thế nên chúng ta đã hành quân cùng dân tộc Kymry này và đối đầu với cư dân các thành thị, có lúc ta thắng có lúc ta thua, nhưng cuối cùng trong một trận chiến lớn, ta đã đại bại với một cuộc tàn sát đẫm máu đến mức máu đỏ tràn ngập qua cả bánh xe, và dân thành thị ngất lịm đi vì mệt mỏi sau chốn tru diệt, tựa như những kẻ gặt lúa trên đồng cỏ khi các dãy lúa đã khô và nặng hạt giữa buổi chiều giữa hè oi ả; và rồi họ đứng đó trân trân nhìn bãi chiến trường ngập thây ma, chẳng biết mình đang ở nhân gian hay địa phương, dữ dội làm sao trận chiến ấy.”
Cùng lúc ấy, một người thuộc tộc Beamings đang cưỡi ngựa ở phía bên kia của người Elkings bèn nhoài người qua cổ ngựa và nói:
“Phải rồi bằng hữu ơi, nhưng chẳng phải có câu chuyện kể về việc anh và đồng đội đã chiếm lấy đại thành của người Welsh phương Nam và lưu trú ở đó suốt một thời gian dài sao?”
“Đúng vậy,” người Elkings đáp, “Hãy lắng nghe cách câu chuyện được kể trong Khúc Ca Người Welsh Phương Nam:
“‘Các ngươi há chẳng từng nghe
Về những nẻo đường Định Mệnh ghê?
Rằng người đời đã dời chân
Rời xa phương Bắc muôn phần?
Và tựa như khi rảo bước
Đến nơi rừng sâu xuôi ngược,
Chẳng bận lo lắng điều chi,
Chẳng ai kể lể sự gì,
Rodger chẳng mỏi mệt và Reidfari nước da nhợt nhạt
Đã tới thị trấn chẳng bóng người lơi lả khiên đao khua hạt.
Lẻ loi thay từng góc phố, trống vơ thay lối đi về
Chẳng gì cản bước chân ta ngoài thây người ngã ê chề
Dưới chiếc khiên giấu trong ngõ hẻm của những tòa nhà cao chạm tận mây,
Toàn những tráng sĩ mang nhẫn ngọc đã nằm lại đó để rồi phơi thây.’”
“Khúc ca kể rằng, không một ai dám chống lại người Goths và đồng minh của họ, trừ những kẻ đủ sức mạnh để ngã xuống trước mũi kiếm của họ; còn lại, cả nam lẫn nữ, đều hoảng hốt tháo chạy trước tộc nhân chúng ta và trước dân tộc Kymry, bỏ lại thị trấn cho chúng ta vào ở; đúng như khúc ca đã cất lời:
“‘Vàng ròng lấp lánh
Đập vào mắt người nhanh nhanh;
Lưỡi gươm nhợt nhạt ngời ngời
Vung lên trên lời chưa nói với đời,
Chẳng ai dám đến gần ta
Mang theo vũ khí xông pha,
Bởi chiếc khiên do người Welsh tạo tác
Đã nằm bẹp lì trên đồng cỏ nát.
Mọi thứ tựa hồ chẳng phải do bàn tay con người dựng xây,
Những bức tường dát đỏ rực, những viên ngọc trai biển khơi đây:
Phải, mọi vật đều đã chết lặng trừ cột nhà và vách tường,
Nhưng chúng vẫn sống và cất lên khúc ca của sảnh đường;
Ngôi sảnh quý giá bị bỏ mặc cho lụi tàn bởi những kẻ bản xứ,
Để rồi dân tộc Goth gìn giữ bằng bàn tay chiếm đoạt đầy tư vị.’”
“Các anh thấy không, khúc ca kể rằng sảnh đường còn gan dạ hơn cả những kẻ đã bỏ trốn khỏi nó, phó mặc tất cả cho hội đoàn chúng ta định đoạt trong những ngày tháng qua?”
Người tộc Wolfings liền nói:
“Và xưa thế nào, nay sẽ thế ấy. Biết đâu chúng ta sẽ tiến xa trong cuộc hành trình này, và chí ít sẽ nhìn thấy một trong những ngôi làng thành trì của phương Nam, chính là những nơi mà họ gọi là các thành phố. Bởi ta từng nghe người ta nói rằng họ có nhiều hơn một thành phố, và các thị tộc của họ đông đúc đến mức mỗi tộc sống trong một thành trì đầy những ngôi nhà nguy nga, với một bức tường bằng đá và vữa bao quanh; và rằng trong mỗi thành trì ấy đều tích tụ vô số của cải không tài nào đếm xuể. Và cớ sao tất cả những thứ này lại không thể thuộc về người Markmen cùng sự dũng cảm của họ cơ chứ?”
Người tộc Elkings đáp:
“Nói về việc họ có nhiều thành phố và của cải thì đúng là thế; nhưng nói rằng mỗi thành phố là chốn dung thân của từng thị tộc riêng biệt thì không phải vậy: thay vào đó, có thể nói rằng họ đã quên mất tình thân tộc, chẳng còn ai mang họ hàng, cũng chẳng màng xem mình kết hôn với ai, và sự hỗn loạn giữa họ là vô cùng lớn. Những kẻ quyền thế trong số họ ra lệnh nơi họ phải ở, thứ họ được ăn, và họ phải lao động bao lâu sau khi đã kiệt sức, tóm lại là định đoạt mọi phong cách sống tồn tại giữa họ; và dẫu người ta gọi những kẻ phải chịu đựng điều ấy là tự do dân, thì chẳng có nhà hay thị tộc nào dám cãi lại quy củ và trật tự đó. Quả thực họ là một dân tộc hùng mạnh, nhưng bất hạnh.”
Wolfkettle liền lên tiếng:
“Và anh đã học được tất cả những điều này từ những khúc ca cổ xưa phải không, hỡi Hiarandi? Vì ta cũng biết vài bài trong số đó, dẫu không hết, và trong đó ta chẳng hề thấy chút gì nhắc đến những điều này. Phải chăng có một nghệ nhân hát rong nào mới xuất hiện trong Nhà của anh với trí nhớ vượt trội hơn tất cả những người đi trước? Nếu quả thực là vậy, ta xin mời hắn đến Mái Nhà của người Wolfings ngay khi có thể; vì chúng ta đang thiếu những câu chuyện mới.”
“Không,” Hiarandi đáp, “Những gì ta kể với anh đây không phải là chuyện của ngày xưa, mà là chuyện của ngày hôm nay. Bởi đã có một kẻ từ trong rừng hoang tìm đến chúng ta, cầu xin sự hòa bình, và chúng đã ban cho hắn; và hắn kể rằng hắn thuộc về một Nhà của người Gael, và Nhà của hắn từng tham gia một trận chiến lớn chống lại những kẻ mà hắn gọi là người Romans; và rằng hắn đã bị bắt trong trận chiến đó, bị đem bán làm nô lệ tại một trong những thành trì của chúng; dẫu đó không phải là thành trì chính của chúng, nhưng tại đó hắn đã được mục kích phong tục của chúng: và đó là một bài học đắng cay! Cuộc sống của hắn thật cơ cực giữa chốn ấy, bởi nô lệ của chúng còn không được đối xử tử tế bằng cả thú kéo xe của chúng, do số lượng chúng bắt được trong chiến trận là quá nhiều; vì chúng là một dân tộc hùng mạnh; và chính những người nô lệ này cùng những tự do dân bất hạnh kể trên phải làm tất cả công việc cày cấy, chăn gia chủ và mọi việc thủ công: còn bên trên họ là những kẻ được gọi là chủ nhân và lãnh chúa, những kẻ chẳng làm gì cả, thậm chí chẳng thèm tự tay rèn lấy vũ khí sắc bén cho mình, mà chỉ uổng phí những ngày tháng trong các dinh cơ lẫn ngoài dinh cơ, nằm phơi mình dưới ánh nắng hay bên đống tro tàn của sảnh đường, hệt như những con chó săn đã tha hóa giống nòi.”
“Thế nên người đàn ông này đã tìm cách trốn thoát khỏi thành trì đó, vì nó nằm không xa con sông lớn; và vốn là một tráng sĩ dũng cảm, lại trẻ tuổi và vóc dáng vạm vỡ, hắn đã vượt qua mọi hiểm nguy để đến với chúng ta qua khu rừng Mirkwood. Nhưng chúng ta thấy hắn không phải kẻ nói dối và đã bị đối xử vô cùng tàn nhẫn, bởi trên thân thể hắn hằn rõ dấu vết của biết bao lằn roi, cùng gông xiềng từng được hàn gắn vào chân tay; hơn nữa, hắn đã tiêu diệt không chỉ một kẻ trong số đám người bị nguyền rủa ấy khi tẩu thoát. Thế nên hắn trở thành khách của chúng ta, chúng ta yêu quý hắn, và hắn đã sống giữa chúng ta cho đến tận bây giờ, vì chúng ta đã thu nhận hắn vào Nhà của mình. Nhưng ngày hôm qua hắn bị ốm nên không thể cưỡi ngựa cùng chúng ta; thế nhưng có lẽ hắn sẽ đuổi theo và bắt kịp chúng ta trong một hai ngày tới. Và nếu hắn không đến, ta sẽ đưa hắn sang chỗ người Wolfings khi trận chiến đã kết thúc.”
Bấy giờ, người tộc Beamings cười lớn và cất lời:
“Thế nhỡ các anh không quay về, rồi Wolfkettle, rồi vị Khách người Welsh, hay chính bản thân ta cũng không về thì sao? Ta ngẫm rằng chúng ta sẽ chẳng được mục kích bất kỳ Thành phố Phương Nam nào, và chẳng thấy gì ở người phương Nam ngoài chiến trận của họ mà thôi.”
“Đó là những lời xui xẻo,” Wolfkettle nói, “dẫu rằng một kết cục như thế cũng là điều cần phải tính tới. Nhưng cớ sao anh lại nghĩ vậy?”
Người tộc Beamings đáp: “Tại Mái Nhà của chúng ta ở quê nhà chẳng có vị Ánh Dương Điện nào ngồi đó để kể những câu chuyện chân thực về Thị Tộc mỗi ngày. Tuy nhiên, quả thực thỉnh thoảng vẫn có lời được thốt lên tại Sảnh Dân Xã của chúng ta, dù là điềm lành hay điềm gở; và làm sao người ta có thể cưỡng lại việc lắng nghe cho được? Và chiều tối hôm qua, đã có một lời dự báo đầy bi ai thốt ra, lại bởi một đứa trẻ mới tròn mười mùa đông.”
Người tộc Elkings nói: “Đến đây thì anh đã kể cho chúng tôi bấy nhiêu rồi, anh buộc phải kể tiếp thôi, vâng, hãy kể toàn bộ những lời đã được thốt ra; bằng không chúng ta sẽ tưởng tượng sự việc còn tồi tệ hơn thực tế mất.”
Người tộc Beamings kể: “Sự tình là thế này; đứa bé này đã bật khóc nức nở vào chiều hôm qua, khi Sảnh đường đang đông đúc và chìm trong tiệc tùng; và nó gào thét, khóc lóc như trẻ con thường thế, chẳng tài nào dỗ dành được, và khi được hỏi tại sao lại làm rùm beng lên như vậy, nó nấc lên rằng: ‘Đáng đời chưa! Raven đã hứa làm cho em một con ngựa bằng đất sét và nướng nó trong lò gốm cùng với những chiếc bình vào tuần tới; thế mà giờ anh ấy lại ra trận mất rồi, và anh ấy sẽ chẳng bao giờ quay về nữa, con ngựa của em cũng chẳng bao giờ thành hình được.’ Nghe thế chúng tôi đều cười òa lên như các anh có thể đoán được. Nhưng đứa bé liền quạu mặt nhìn chúng tôi và nói: ‘Sao các bác lại cười? Nhìn đằng kia kìa, các bác thấy gì nào?’ ‘Nào,’ một người đáp, ‘chẳng thấy gì ngoài bức tường Sảnh Tiệc và những tấm thảm treo tường trong ngày hội lớn cả.’ Đoạn đứa bé vừa sụt sùi vừa nói: ‘Các bác nhìn kém quá: xa hơn ngoài kia kìa, em thấy một đồng cỏ nhỏ, nằm trên đỉnh đồi, và những ngọn đồi phía sau còn lớn hơn cả đồi nghị sự của chúng ta rất nhiều; và ở đó trên cánh đồng, Raven đang nằm trắng bệch như da thuộc; chẳng ai có sắc diện ấy ngoài người chết.’ Bấy giờ Raven mới nói (và anh ấy là một thanh niên trẻ tuổi, đang đứng ở ngay gần đó): ‘Và điều đó thật tốt làm sao, hỡi cậu nhóc, được chết trong khi mặc giáp! Nhưng hãy vững lòng lên; ở đây có Gunbert sẽ quay về và nướng con ngựa cho em.’ ‘Không, chẳng bao giờ có chuyện đó nữa đâu,’ đứa bé kêu lên, ‘Vì em thấy cái đầu tái nhợt của anh ấy đang nằm dưới chân Raven; nhưng thân thể anh ấy mặc chiếc áo tunic thêu chỉ vàng xanh thì em chẳng thấy đâu.’ Bấy giờ những tiếng cười bỗng chốc tắt ngấm, từng người từng người một tiến lại gần đứa bé, tra hỏi nó và gặng hỏi rằng: ‘em có thấy ta không?’ ‘em có thấy ta không?’ Và nó chỉ không nhìn thấy vài người trong số những kẻ đã hỏi nó mà thôi. Thế nên giờ đây ta ngẫm rằng không nhiều người trong số chúng ta sẽ được nhìn thấy những thành phố phương Nam, và số ít ỏi đó có lẽ cũng sẽ ngắm nhìn xiềng xích của chính mình ở nơi đó mà thôi.”
“Không,” Hiarandi nói, “Tất cả những chuyện này là sao thế? Các anh đã từng nghe về một đoàn chiến binh xuất quân, tìm thấy kẻ thù, rồi quay về nhà mà không để lại một ai ở lại phía sau bao giờ chưa?”
Người tộc Beamings đáp: “Thế nhưng hiếm khi nào ta nghe thấy một đứa trẻ lại đi tiên tri về cái chết của các chiến binh. Ta nói với các anh rằng, nếu các anh có mặt ở đó lúc ấy, các anh sẽ cảm thấy mọi thứ cứ như thể ngày tận thế đang đến gần vậy.”
“Thôi,” Wolfkettle nói, “sự thể thế nào đành chịu vậy! Tuy nhiên chí ít ta cũng sẽ không để kẻ thù lôi cổ ra khỏi chiến trường. Đôi khi người ta có thể bị cướp mất chiến thắng, nhưng chưa bao giờ bị tước đoạt cái chết nếu hắn muốn điều đó.”
Nói rồi hắn mân mê con dao nhỏ đeo quanh cổ, và tiếp tục nói: “Nhưng quả thực, ta rất đỗi ngạc nhiên khi Ánh Dương Điện chẳng hé lộ lời nào vào chiều hôm qua hay sáng nay, ngoại trừ những điều mà bất kỳ người phụ nữ nào trong thị tộc cũng có thể thốt lên.”
Thế rồi cuộc trò chuyện của họ chùng xuống một lúc, và vừa cưỡi ngựa họ vừa tiến đến đoạn khúc sông uốn lượn sát rừng hơn, và thế là vùng Mid-mark đã đi đến hồi kết; bởi chẳng còn Nhà nào định cư ở vùng Mid-mark ngược dòng nước lên phía trên tộc Elkings nữa, ngoại trừ một Nhà duy nhất, không quá lớn, thường hay xuất trận cùng tộc Elkings: đó chính là tộc Oselings, mang trên cờ hiệu hình ảnh con chim hoạ mi rừng, loài chim đen với chiếc mỏ vàng; và họ vừa mới nhập đoàn cùng Nhà lớn hơn.
Thế là giờ đây vùng Mid-mark đã qua đi, và những thân cây mọc sát nhau của khu rừng sừng sững như một bức tường chỉ cách mép nước một khoảng ngắn; và những cây mọc rải rác, phần lớn là cây thanh lương trà, mọc đây đó ngay bên bờ nước. Trong khi đó, dòng sông Mirkwood-water chảy sâu, xiết và hẹp giữa những bờ sông cao vách dựng, khiến chẳng ai dám mơ chuyện lội qua, và cũng chẳng mấy ai dám bơi qua làn nước xanh sẫm đầy hiểm nguy ấy. Ngày dần trôi về chiều và vẻ đẹp rực rỡ của bầu trời phía tây bị che khuất bởi bức tường cây cao vút. Và đoàn quân vẫn tiếp tục tiến bước, và vì khoảng giữa sông và rừng quá hẹp nên đội hình bị kéo dài ra trông giống như một đoàn người vô cùng đông đúc. Hơn thế nữa, những người ở phần phía đông của vùng Mid-mark giờ đây đang hành quân san sát ở bờ sông bên kia cách chỗ người Wolfings và đồng minh một khoảng ngắn; bởi chẳng có gì ngoài dòng sông hẹp ngăn cách họ.
Rồi đêm buông xuống, những vì sao lấp lánh, vầng trăng mọc lên, thế nhưng người Wolfings và đồng minh vẫn không dừng lại, vì họ biết rõ rằng bám sát phía sau họ là rất nhiều người thuộc xứ Mark, cả vùng Mid và vùng Nether, và họ tuyệt đối không muốn làm chậm trễ bước hành quân.
Thế là người Markmen rảo bước giữa rừng và suối ở hai bên bờ sông Mirkwood-water, cho đến khi đêm đã về khuya, trăng lặn, lúc ấy đã điểm gần nửa đêm, và họ đã châm nhiều ngọn đuốc để soi đường ở cả hai bên bờ sông. Khi họ đã đến một nơi mà hàng cây lùi xa bờ sông một chút, nơi có những bãi cỏ xanh tốt cho ngựa và gia súc, được gọi là Baitmead, các đoàn quân ở bờ tây liền dừng chân tại đó cho đến sáng. Họ kéo những chiếc xe tiến sát vào sâu trong rừng, và mọi người rẽ khỏi con đường mòn để vào bãi cỏ, cốt để những ai đi sau có thể tiếp tục hành trình của họ nếu muốn. Tại đó, họ cắt cử những người canh gác ban đêm, trong khi những người còn lại nằm ngả lưng trên thảm cỏ ven mép rừng, và chìm vào giấc ngủ suốt đêm hè ngắn ngủi.
Câu chuyện không kể rằng bất kỳ ai đã mơ thấy trận chiến sắp tới theo cách mà có nhiều điều để bàn tán về giấc mơ của mình vào sáng hôm sau; rất nhiều người không mơ thấy chiến trận hay việc đi đánh giặc, mà mơ về những chuyện vặt vãnh, thường là buồn cười, chỉ là những ký ức hỗn độn về quá khứ mà ý thức lúc tỉnh giấc chẳng thể nào sắp xếp nổi.
Nhưng người đàn ông thuộc tộc Beamings ấy lại mơ thấy mình đang ở nhà quan sát một người thợ gốm, một người nô lệ trong Nhà đang làm việc bên chiếc bàn xoay, tạo hình những chiếc bát và bình nước: và anh ta chợt nảy ý định lấy một ít đất sét của hắn để nặn một con ngựa cho đứa trẻ vừa khóc lóc vì món đồ chơi chưa thành hiện thực. Và anh ta loay hoay mãi mà chẳng nặn nổi thứ gì ra hồn; bởi cục đất sét cứ rời rã ra trong tay; cho đến cuối cùng nó kết dính lại và bỗng nhiên phình to lên, không phải thành hình dáng một con ngựa, mà là hình con HợT Rừng Yule vĩ đại, hình ảnh của Linh Thú thần thánh thuộc về thần Frey. Thế nên anh ta mỉm cười trong giấc ngủ đầy hoan hỉ, rồi vùng dậy rút kiếm bằng đôi bàn tay dính đầy đất sét để vung lên trên mặt đất nơi con HợT Rừng đang ngự trị, và thề một lời thề trọng đại về một chiến công lẫy lừng. Và cùng lúc ấy, anh ta nhận ra mình đang đứng thẳng trên đôi chân, vừa tỉnh giấc trong buổi bình minh lạnh lẽo, và tay phải đang bám vào một thân cây tần bì non mọc ngay bên cạnh. Thế nên anh ta lại mỉm cười, ngả lưng xuống và tiếp tục chìm vào giấc ngủ say cho đến khi ánh mặt trời cùng tiếng gọi của những người đồng đội đánh thức anh dậy.
{2} tức là Người ngoại bang: xem chú thích {1}
❀ ❀ ❀