Truyện kể rằng Geirbald và Viglund phi ngựa qua những lối mòn trong rừng nhanh hết mức có thể. Chúng đi chưa bao xa và đang lượn theo lối mòn giữa một khu rừng rậm xen lẫn cây trăn và ô-rô, lấp ló qua các khoảng trống là những khóm dương xỉ mọc cao quá đầu, thì Viglund, vốn có thính giác rất nhạy, chợt ngỡ ngưởng nghe thấy tiếng ngựa đang tiến lại gần phía họ: thế là họ nấp kỹ nhất có thể, kéo ngựa lấp đằng sau một lùm ô-rô lớn kẻo lỡ đụng phải toán kẻ thù nào đó đã tẩu thoát vào rừng khi quân La Mã bị đánh tan trong trận chiến đầu tiên ấy. Nhưng khi tiếng động đến gần hơn và rành mạch là tiếng móng của một con ngựa lớn, họ đoán rằng đây hẳn là sứ giả nào đó của Thiodolf, và quả nhiên đúng như vậy: vì khi kẻ mới tới tiến bước có phần bất cẩn, họ thoáng thấy một chiếc mũ chiến sáng ngời theo kiểu của người Goth lấp ló giữa những tán cây, rồi ngay sau đó họ nhận ra qua trang phục rằng hắn thuộc tộc Bearings, và cuối cùng thì họ nhận ra đó là Asbiorn thuộc gia tộc vừa kể, một tráng sĩ dũng mãnh; thế là họ bước ra đón đường, còn hắn bèn kìm cương khi trông thấy những kẻ mang vũ khí, nhưng rồi nhìn kỹ mặt họ thì hắn nhận ra và mỉm cười chào, rồi cất tiếng:
“Chào các bạn hiền! Có tin tức gì chăng?”
“Tin đây,” Viglund đáp, “rằng ngươi gặp đúng lúc lắm, vì giờ đây ngươi phải quay lại và dẫn chúng tôi về diện kiến Thiodolf nhanh nhất có thể.”
Nhưng Asbiorn cười vang và bảo: “Thôi, chi bằng hãy quay lại cùng ta; mà sao trông mặt mày hai ngươi đăm chiêu thế?”
Geirbald đáp: “Việc của chúng tôi chẳng phải chuyện tầm thường đâu, còn ngươi, sao mà vui vẻ thế?”
Hắn đáp: “Ta đã thấy quân La Mã ngã gục, và có lẽ chẳng bao lâu nữa sẽ lại được xem trò hay đó: vì ta đang mang sứ mệnh từ Thiodolf đến gặp Otter; vị Thủ lĩnh Trận mạc, sau khi tra khảo một số tù binh ta bắt được trong Ngày trên Dãy Núi, bắt đầu hoài nghi rằng quân La Mã đã đánh lừa chúng ta, và sẽ tấn công Vùng Đất qua ngả những bãi hoang phía nam-đông: thế nên giờ đây ngài đang vội vã đi đường vòng để bám theo con đường đó nhằm bắt kịp hoặc chặn đánh chúng; và ngài dặn Otter chớ chần chừ, mà hãy phi ngựa thật nhanh dọc theo mép nước để đón đánh chúng nếu có thể, trước khi chúng kịp đặt tay tàn phá các chòm xóm của gia tộc ta. Và có lẽ khi hoàn thành sứ mệnh với Otter, ta sẽ cùng ngài phi ngựa đi ngắm nhìn những kẻ đốt phá và tàn sát đó một lần nữa; đó là lý do ta vui vẻ. Giờ thì đến lượt tin tức từ các ngươi đây, mấy bồ.”
Geirbald nói: “Tin của chúng tôi là cả hai sứ mệnh đều bị lỡ làng và đi tong: vì Otter nào có chần chừ, mà đã cùng toàn bộ quân sĩ phi thẳng đến trang ốc của gia tộc ngươi rồi. Ngươi sẽ thực sự được mục kích những kẻ đốt phá chém giết đó nếu phi ngựa cho mau; bởi chúng tôi nhận được tin rằng lúc này quân La Mã hẳn đã tiến vào Trung Vùng. Còn về sứ mệnh của chúng tôi, ấy là đến để giục Thiodolf hành động y như ngài đã làm. Qua đây ta có thể thấy chúng ta may mắn có được một cặp Thủ lĩnh Trận mạc tài ba nhường nào, khi mà cả hai đều có chung một mưu lược. Giờ chúng ta hãy cùng bàn định xem phải làm gì; liệu chúng tôi sẽ quay lại với Otter cùng ngươi, hay ngươi quay lại với Thiodolf cùng chúng tôi; hay mỗi người đi theo con đường đã định sẵn cho mình.”
Asbiorn nói: “Ta sẽ phi ngựa đến chỗ Otter như đã được dặn, để tận mắt chứng kiến cảnh mái nhà mình bị đốt cháy, và sau đó sẽ trả thù quân La Mã; ta khuyên hai ngươi hãy đi cùng ta, vì quân của Otter ít hơn, và ngài ấy sẽ là người đầu tiên phải gánh chịu mũi nhọn của trận chiến.”
“Không,” Geirbald bảo, “về phần ta, các ngươi đành phải chịu mất đi sự trợ giúp của một người; vì ta được phái đến chỗ Thiodolf, và ta sẽ đến chỗ Thiodolf: hãy suy xét xem điều này có phải là tốt nhất không, bởi Thiodolf mới chỉ đoán mò về đường đi nước bước của quân La Mã trong khi chúng ta nắm rõ mồn một về chúng. Sự xuất hiện của chúng ta sẽ khiến ngài ấy hành động nhanh hơn, và ít có khả năng quay đầu hơn nếu có bất kỳ băng đảng ngoại bang nào bám theo sau. Ngươi nghĩ sao, Viglund?”
Viglund đáp: “Cũng như ngươi thôi, Geirbald ạ: nhưng riêng ta, ta thấy mình hoàn toàn có thể quay lại cùng Asbiorn. Vì ta muốn được phục vụ gia tộc trong trận chiến ngay khi có thể; và biết đâu chúng ta sẽ tàn sát lũ diều hâu thành thị này, khiến Thiodolf chẳng còn việc gì để làm khi ngài ấy đến nơi.”
Asbiorn bảo: “Geirbald, ngươi có rành rẽ các lối mòn trong rừng và bên kia rừng, dẫn đến nơi Thiodolf đang đóng quân không? vì ngươi thấy đấy, trời sắp tối rồi.”
“Không, không rành cho lắm,” Geirbald đáp.
Asbiorn liền bảo: “Thế thì ta khuyên ngươi hãy dắt theo Viglund; vì cậu ta thuộc làu từng thước đất, biết chỗ nào đi được và chỗ nào lầy lội. Hơn nữa, tốt nhất là hai ngươi nên gặp Thiodolf từ sớm; vì ta chắc rằng ngài ấy tiến bước khoan thai, dẫu luôn cẩn trọng, bởi ngài không nghĩ rằng Otter sẽ xuất phát trước sáng ngày mai. Lắng nghe đây, Viglund! Thiodolf sẽ nghỉ đêm ở bên kia dòng nước, gần chỗ những ngọn đồi sụt xuống thành vách đá dựng đứng gọi là Tổ Diều Hâu, và dòng nước chảy bên dưới chúng, bắt nguồn từ phía đông: và trước mặt ngài là vùng đất bằng phẳng của những bãi hoang phía đông, nơi ngài dự tính sẽ bước đi từ sớm tinh mơ ngày mai: và nếu hai ngươi cố hết sức, các ngươi sẽ có mặt ở đó trước khi ngài nhổ trại, và chắc chắn rằng tin tức của các ngươi sẽ giục giã ngài mau chân hơn.”
“Ngươi nói phải,” Geirbald đáp, “chúng ta chớ chần chừ thêm nữa; đường ai nấy đi từ đây; chúc thượng lộ bình an!”
“Bình an nhé,” hắn nói, “còn ngươi, Viglund, hãy ghi nhớ lời chia tay này, rằng có lẽ ngươi vẫn sẽ được thấy quân La Mã, và giáng một đòn, rồi biết đâu lại bị đánh trúng. Bởi quả thực bọn chúng là những chiến binh vô cùng dũng mãnh.”
Thế là họ không chần chừ thêm phút nào, phi ngựa theo hai ngả đường riêng. Và Geirbald cùng Viglund suốt đêm rong ruổi qua những đèo dốc gập ghềnh, và ra khỏi khu rừng rậm khi trời vừa rạng sáng; và vì họ phi ngựa hết tốc lực cùng với việc Viglund nắm rất rõ đường đi, họ đã đến Mirkwood-water trước khi ngày mới qua đi bao nhiêu, và thấy rằng đại quân đang rục rịch nhổ trại nhưng chưa lên đường. Và trước khi họ đặt chân đến bờ nước, họ đụng độ Wolfkettle xứ Wolfings, Hiarandi xứ Elkings, cùng ba người khác vừa từ nơi những chiến binh bị thương nằm dưỡng sức trong một thung lũng gần Dãy Núi Lớn trở về; ở đó Wolfkettle và Hiarandi đã chăm sóc Toti xứ Beamings, người anh em chiến hữu của họ, vốn bị thương nặng trong trận chiến nhưng nay đã hồi phục tốt và chắc chắn sẽ qua khỏi. Thế là khi trông thấy các sứ giả, họ liền tiến lại gần, chào hỏi và gặng hỏi xem tin tức là lành hay dữ.
“Chuyện đó còn tùy,” Geirbald đáp, “nhưng tóm lại thì ngắn gọn thế này: quân La Mã đã có mặt ở Trung Vùng, còn Otter đang phi ngựa bạt mạng đi đón đánh chúng, và phái chúng tôi đến giục Thiodolf băng qua các bãi hoang để cùng giáp công. Chúng tôi cũng không thể dừng lại dù chỉ một phút cho đến khi diện kiến được Thiodolf.”
Wolfkettle nói: “Chúng tôi sẽ dẫn các ngươi đến chỗ ngài; ngài đang ở bờ đông con sông, cùng toàn bộ đại quân, và họ đang rục rịch lên đường.”
Thế là họ lội qua chỗ nước cạn, vốn không quá sâu; và Wolfkettle ngồi ngựa phía sau Geirbald, còn một người khác ngồi sau Viglund; riêng Hiarandi đi bộ cùng những người khác bên cạnh những con ngựa, bởi ông là một người có vóc dáng vô cùng cao lớn.
Nhưng khi họ đang lội giữa dòng nước trong vắt, Wolfkettle cất cao giọng và cất tiếng ca:
Ngựa trắng hỡi, ngươi đang chở gì qua dòng nước nông ấm áp,
Hay chở tin tức trận mạc, cùng nỗi sợ cơn bão định mệnh bao trùm khắp?
Điều gì đang vần vũ phía sau, điều gì đang chất chồng mây xám phía trước,
Hai bên đường còn gì tụ lại ngoài dòng thủy triều chiến tranh cuồn cuộn nước?
Giữa mùa hè nay bỗng xám xịt, buổi ban mai bỗng ngả màu cỏ úa,
Chị em của Mặt Trăng chìm vào bóng tối, những tán cây trông tàn tạ héo khô;
Cây Tần Bì của Thần linh rung lên bần bật, và vách đá dựng đứng hiện lên trắng xóa
Như bộ xương của cha đẻ những người khổng lồ khi các vị thần lần đầu xung trận ra đi.
Và quả thực buổi sáng đã trở nên ảm đạm, xám xịt và đầy đe dọa, từ đằng xa tiếng sấm gầm gừ, mặt thành Tổ Diều Hâu hiện lên nhợt nhạt và đầy vẻ uy nghi ngăm đen chống lại đám mây màu thép sẫm; vài giọt mưa lất phất rơi xuống làn nước phẳng lặng trước mặt họ từ một dải mây vắt ngang ngay trên đỉnh đầu. Họ giờ đang ở giữa dòng, bởi đoạn sông ở đó khá rộng; bên bờ đông các chiến binh đang tụ tập, vì họ đã trông thấy bóng dáng những người đang tới, và giọng hát của Wolfkettle vang vọng sang tận bên kia sông, thế nên họ đoán rằng có tin lớn sắp đến và rất muốn biết những kẻ kia mang sứ mệnh gì.
Rồi dòng nước ở chỗ cạn sâu thêm cho đến khi Hiarandi lội ngập quá thắt lưng, và nước tràn qua cả yên ngựa của Geirbald; lúc đó Wolfkettle bật cười, vừa xoay người vừa tuốt gươm, khua khoắng từ đông sang tây và cất tiếng hát:
Hỡi mặt trời nhợt nhạt trên cao, hãy né tránh chúng ta nếu ngươi muốn,
Và quay mặt đi chớ nhìn cuộc va chạm giữa tội lỗi với tội lỗi!
Hãy đứng yên hỡi máu mùa hè! và để mùa màng phai lụi,
Cho đến khi chỉ còn lại bãi đất hoang nơi từng có hoa nở và cỏ xanh tươi!
Hỡi ban ngày, hãy lóe lên dù chỉ một tia sáng le lói từ dòng ánh sáng ngập tràn,
Miễn là đủ để mắt chúng ta nhìn rõ con đường tiến vào trận chiến gian nan!
Hãy quên hết thảy và ngủ vùi, nếu các ngươi vẫn để chúng tôi thức giấc,
Và miệng chúng tôi sẽ tạo nên tiếng sấm, gươm giáo sẽ làm nên tia chớp sáng ngời,
Và chúng ta sẽ là cơn gió bão cuốn theo cơn mưa đỏ rực,
Cho đến khi niềm vui trong lồng ngực trận mạc mang ngày mới trở lại thảnh thơi.
Dứt lời, họ bước lên từ vùng nước nông, người ướt sũng nước, đặt chân lên bờ, và họ cùng những kẻ đang chờ đợi trên bờ cùng tung hô mừng hội ngộ, tất cả đều giơ cao vũ khí. Kẻ nấp phía sau Viglund tuột xuống đất; nhưng Wolfkettle vẫn ngồi yên vị trí sau lưng Geirbald.
Thế là các sứ giả tiến lên, những người khác vây quanh họ, và toàn bộ đám đông kéo đến nơi Thiodolf đang ngồi trên một tảng đá dưới bóng một cây tần bì đơn độc, phía sau ông là vách Tổ Diều Hâu sừng sững bên kia khúc quanh của dòng sông. Tại đó, ông ngồi không đội mũ giáp, mặc chiếc áo giáp lưới do người lùn chế tạo, tay cầm thanh Throng-plough nằm trong bao vắt ngang đầu gối, trong khi miệng chỉ thị cho người này kẻ nọ về đội hình của đại quân.
Thế là khi họ đến nơi, đám đông rẽ ra để các sứ giả bước lên; vì đến lúc này đã có thêm rất nhiều người kéo lại gần để lắng nghe tin tức. Tại đó, họ ngồi trên lưng ngựa, con màu trắng và con màu xám, còn Wolfkettle đứng cạnh dây cương của Geirbald, vì anh ta đã xuống ngựa; và ngay phía sau anh, với cái cao lừng lững vượt hẳn những người khác, là Hiarandi to lớn và gầy guộc. Đám mây rách tơi tả giờ đã trôi dạt về hướng nam-đông và trời không còn mưa nữa, nhưng mặt trời vẫn nhợt nhạt và bị mây che khuất.
Rồi Thiodolf đăm chiêu nhìn họ và cất tiếng:
Hỡi những đứa con của Khiên Trận, các ngươi làm gì đây, có tin tức gì kể lại?
Phải chăng dòng tộc đã sa vào lưới rọ của Địa Ngục hoang tàn tê tái?
Gà trống đỏ gáy vang trên những nóc gia, chúng ta đã đến gặp kẻ thù quá trễ muộn rồi ư?
Vì ta thấy trán các ngươi nặng trĩu những điềm gở của định mệnh bao phủ bốn bề.
Nhưng Geirbald đáp lời:
Sườn núi Khiên Vệ vẫn lạnh đẫm sương mai vào buổi sớm,
Và Địa Ngục xám xì chưa trói buộc tay của các chiến binh Khiên Vệ đâum
Nhưng kìa những thanh gươm, hỡi Thủ lĩnh Trận mạc, đang khua vang dày đặc trong gió lốc,
Bởi chúng tôi mang tin rằng ngài phải dấn thân vào con đường chiến cuộc,
Chớ chần chừ trước tiếng sấm hay cơn mưa sắp đổ xuống đầu,
Hay màn đêm lộng gió mây mù, kẻo trận chiến của ngài trở thành vô ích về sau.
Và đây là lời mà hôm qua Otter đã trao gởi vào miệng ta:
Hãy tìm dấu vết của đám Ngoại bang từ các Thành phố phía Nam xa xà,
Và ngươi sẽ thấy nó dẫn qua những bãi hoang đến khu rừng sồi bạt ngàn,
Rồi từ đó đến những nơi sỏi đá là chốn loài cáo tìm kiếm thức ăn;
Rồi từ đó đến lùm cây rậm rạp nơi lối mòn cắt ngang qua,
Đến rìa phía đông Trung Vùng nơi bộ tộc Bearings đang hành động và xông pha.
Rồi Thiodolf lạnh lùng hỏi: “Thế thì điều gì đã xảy ra với Otter?”
Geirbald đáp:
Khi lần cuối ta nhìn thấy Otter, ngài phi ngựa đầy đủ giáp trụ giữa đồng bằng,
Cùng toàn bộ đại quân rầm rập vây quanh như tiếng mưa mùa hè ào ạt đổ xuống băng băng;
Họ chẳng liếc nhìn sang trái hay sang phải mà cứ thế phi qua chạng vạng và bóng tối đen ngòm
Chẳng thấy gì trước mắt ngoài ảo ảnh về kẻ thù trong Vùng Đất đang ngóng trông.
Ngài đã đi như thế; nhưng lời nhắn của ngài đã vượt lên trước và phi trên lưng ngựa của ta,
Và nó lại cất lời, hỡi Thủ lĩnh Trận mạc hãy tìm đến nơi ở của loài Gấu xa xả,
Và chớ chần chừ dù chỉ một khoảnh khắc trước bất cứ thứ gì có vẻ đáng giá,
Vì ở đó các ngươi sẽ tìm thấy lưỡi gươm và ngọn lửa của kẻ thù trái đất này.
Chớ chần chừ, hỡi Thiodolf, cũng chớ quay đầu dù kẻ thù mới đang bám sát gót chân. Chẳng cần phải gặng hỏi ta thêm; ta chẳng còn gì để kể, ngoại trừ việc một người phụ nữ đã mang tin này đến cho chúng ta, người mà Nhật Luân đã phái đi cùng những người khác để canh gác các ngả đường: và một số bọn họ đã tận mắt thấy quân La Mã, vốn là một đại quân hùng hậu chứ không phải băng đảng lẻn ra để ăn trộm gia súc.”
Giờ thì tất cả những người xung quanh đều nghe rõ lời anh, vì anh cất giọng rất lớn; và họ thừa biết lệnh của Thủ lĩnh Trận mạc sẽ là gì; thế nên họ không chần chừ, mà mỗi người tự lo việc kiểm tra vũ khí và tập trung về địa điểm quy định của gia tộc mình. Và ngay khi Geirbald còn đang nói, Hiarandi đã dẫn đến kẻ mang chiếc tù và lớn, người mà khi Thiodolf bật đứng dậy để tìm kiếm đã đứng ngay sát bên. Thế nên ngài liền ra lệnh cho hắn thổi tiếng kèn xung trận, và mọi người đều hiểu ý nghĩa của tiếng kèn đó, ai nấy khẩn trương mặc giáp, những ai có ngựa (đó là tộc Bearings và Warnings) liền lên yên, và lời hò reo truyền từ miệng người này sang người khác rằng quân La Mã đã tiến vào Trung Vùng và đang tàn phá các dinh thự của tộc Bearings. Thế là toàn bộ đại quân nhanh chóng sẵn sàng lên đường, đi đầu là tộc Wolfings. Kế đó Thiodolf bước ra từ giữa gia tộc mình, và họ nâng ngài lên một chiếc khiên chiến lớn do nhiều người cầm chắc, ngài đứng trên đó và cất tiếng:
Hỡi những người con của Tyr, các ngươi đã chiến thắng, dẫu nỗi đau đớn thật đắng cay;
Nhưng kẻ đánh giặc trên chiến trường thì luôn phải vung gươm tiếp tục đổi thay;
Và số phận các ngươi cũng vậy, ngày đó vẫn còn đang chờ đợi ở phía trước
Khi các ngươi tóm gọn lũ Ngoại bang như cá cất lên trong lưới bắt được.
Trên Dãy Núi các ngươi đã tiêu diệt rất nhiều; nhưng rồi lại có thêm vô số kẻ kéo đến
Từ những thành trì bên bờ nước đến trang trại chiến tranh mới dựng lên,
Và tất cả bọn chúng đều bị dẫn dắt bởi những kẻ hèn nhát qua con đường chân ta phải bước qua
Xuyên qua những bãi hoang phía đông và rừng sồi đến tận cửa ngõ của tộc Bearings nhà ta.
Hôm qua ta cũng đã linh cảm điều đó, nhưng ta không dám vội vã lên đường
Cho đến khi tin tức được truyền đến Otter và chính ngài là người giục giã hôm nay lên đường;
Thế nên từ nay ngày lẫn đêm chúng ta buộc phải bước đi
Và kéo guồng quay trận mạc cho đến khi dệt xong tấm vải ấy mới thôi.
Nếu các ngươi tin mắt ta có thể nhìn thấu tương lai, ta sẽ kể cho các ngươi nghe những gì ta thấy,
Rằng ta thấy nhân dân được giải cứu và lũ Ngoại bang phải tháo chạy,
Trong khi đôi chân ta tiến bước về hướng Ngôi Nhà của người Cha xưa cũ.
Nhưng có lẽ đó chỉ là những ảo ảnh đến với rất nhiều người
Khi họ bước xuống trận tuyến, và trước mặt họ sừng sững dâng cao
Bức tường của những kẻ thù dũng mãnh che khuất mọi vật xung quanh vào.
Nhưng quả thực ta biết chắc chắn rằng không có công việc nào chúng ta có thể làm nên
Vào ngày mai hay ngày kia có thể dập tắt dòng dõi của dân Vùng Đất đâu.
Trong rất nhiều ngày sau này các chiến binh của họ vẫn sẽ mang khiên ra trận;
Trong rất nhiều ngày các thiếu nữ của họ vẫn sẽ lùa bò ra đồng cỏ xanh rờn,
Trong rất nhiều ngày những người gặt lúa vẫn sẽ mang liềm ra cánh đồng lúa mì
Khi gợn sóng vàng óng do gió tạo ra lay động dưới chân sảnh tiệc kìa đi.
Kìa, giờ đây công việc trong ngày thật đơn giản — sống và chiến thắng,
Hoặc ngã xuống mà vẫn khải hoàn ngay trên thềm cửa Ngôi Nhà mình ở.
Dứt lời, ngài trèo xuống và đi bộ đến đầu hàng quân Wolfings, cùng đi với một tiếng hò reo vang dội hòa lẫn với tiếng kèn trận giục giã lên đường.
Thế là toàn bộ đại quân xếp thành đội hình chỉnh tề, quân số có hơn ba nghìn chiến binh một chút, toàn là những tráng sĩ can trường, dày dạn kinh nghiệm và sẵn sàng đối mặt với những thử thách khốc liệt nhất của trận chiến giáp lá cà trên chiến trường rộng mở; họ cất bước lên đường với tốc độ nhanh nhất mà bộ binh có thể đạt được, trong đội hình ngay ngắn; bầu trời trên đầu họ đã quang mây, nhưng tiếng sấm từ đằng xa vẫn gầm gừ quanh thế giới. Geirbald và Viglund gia nhập hàng ngũ Wolfings và đi bộ cùng Wolfkettle; trong khi Hiarandi đi cùng tộc nhân của mình, những người đứng thứ hai trong đội hình chiến đấu.