Otter cùng đoàn tùy tùng dong ngựa dọc theo dòng nước Mirkwood, không dừng chân dọc đường, ngoại trừ đôi bận cho ngựa dừng lại lấy sức, cho đến tận sáng sớm thì tới Bến Chiến (Battleford); tại đó họ cho ngựa ăn cỏ, bởi đồng cỏ bên sông rất tươi tốt và việc lấy nước lại vô cùng thuận lợi.
Thế rồi, sau khi nghỉ ngơi tại đây chừng một khắc ngắn ngủi và ăn chút thức ăn sẵn có, họ vượt qua bến nước, tiếp tục tiến bước dọc theo dòng Mirkwood nằm giữa khu rừng và dòng sông. Họ đi chậm hơn trước để tránh làm ngựa mỏi mệt, thế nên khi ra khỏi con đường rừng để bước vào Trung Biên (Mid-mark) thì trời đã đứng bóng. Ngay khi toàn bộ vùng bình nguyên của xứ Mark mở ra trước mắt, họ liền thấy cảnh tượng mà hầu hết mọi người đều ngóng đợi (bởi không ai hoài nghi câu chuyện của Hrosshild): một cột khói bốc cao và thẳng đứng lên bầu trời, vì buổi chiều hôm ấy oi ả và lặng gió. Sự phẫn nộ dâng trào trong lồng ngực họ, và biết bao tráng sĩ run lên vì căm giận dẫu chẳng chút sợ hãi, trong khi Otter giơ tay phải, hướng thẳng về phía dấu hiệu tàn phá và điêu tàn ấy. Dù vậy, họ vẫn không dừng chân, cũng chẳng rảo bước vội vã, bởi họ biết mình sẽ đến Bearham trước khi trời tối, và họ không muốn chạm trán với người La Mã khi đã mệt mỏi vì đường sá; thay vào đó, họ cứ dũng mãnh tiến lên, một đoàn quân đáng sợ ngập tràn hờn căm.
Họ đi ngang qua những chòm xóm của các thị tộc, dẫu ngoại trừ người Galtings ra, những ngôi nhà ở phía đông dòng nước nằm giữa xứ Bearings và con đường rừng hoang vốn chỉ thưa thớt và nhỏ bé; bởi bụi rậm mọc khá sát mép nước nên đã thu hẹp các đồng cỏ lại. Thế nhưng, người Galtings vốn là những thợ săn tài ba và rất rành đường trong rừng thẳm, còn người Geddings, người Erings và người Withings – những Thị tộc nhỏ hơn – thì sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt cá trên dòng Mirkwood (tương tự như người Laxings ở xứ Hạ Biên - Nether-mark), bởi ở quanh vùng đó có rất nhiều vũng sâu, dòng nước xoáy cùng những khúc nông chan hòa ánh nắng rất thích hợp cho cá hồi sinh sản; ngoài ra còn có những cù lao giữa dòng mà phần lớn chóp dưới đều thoải dần thành những bãi sỏi nông.
Bấy giờ, khi toán kỵ mã của người Goths tiến đến gần khu định cư của người Withings, họ trông thấy dân làng, phần lớn là phụ nữ, đang lùa gia súc từ đồng cỏ hướng về phía trang trại; còn trên các mảnh đất quanh nhà thì tụ tập rất nhiều người, ai nấy đều dán mắt về phía cột khói tang thương đang lơ lửng trên bầu trời vùng bình nguyên tươi đẹp. Nhưng khi nhận ra đoàn quân đang tiến tới, họ liền giơ cao đôi tay cùng bất cứ thứ gì đang cầm lên trời, và tiếng kêu lanh lảnh của họ (bởi toàn là phụ nữ và thiếu niên) theo chiều gió vọng đến tai đoàn kỵ mã. Trong khi đó, ở sát bờ sông trên một gò đất cao có mấy mục đồng và vài kẻ nô lệ, lẫn trong số đó là một vài người mang vũ khí cưỡi ngựa; khi nhận ra đoàn quân đang tới, những người này liền quay đầu cưỡi ngựa ra đón. Khi đến gần, họ hô vang như những kẻ vui mừng khôn xiết khi được đoàn tụ với thân tộc – quả nhiên, những chiến binh thuộc chính Thị tộc của họ cũng đang cưỡi ngựa trong đoàn quân ấy. Những kẻ có vũ khí gồm có ba lão già, một cụ già rất lớn tuổi với mái tóc trắng dài kỳ lạ, bốn thiếu niên mười lăm tuổi, cùng bốn gã nô lệ vạm vỡ mang cung và khiên mộc đi theo sau các mục đồng. Thế là họ đã gặp lại thân tộc của mình và hòa lẫn vào hàng ngũ.
Khi tất cả cùng nhau tiến bước trong tiếng kèn trống rộn ràng và tiếng vũ khí va vào nhau lanh lanh, bụi tung mù mịt từ thảm cỏ khô cháy dưới ánh mặt trời, mặt đất rung chuyển bởi tiếng vó ngựa rầm rập, thì lòng vị lão nhân tóc bạc trắng bỗng xốn xang khi nhớ về những ngày tháng tuổi trẻ. Xông vào cánh mũi già nua của cụ là mùi của loài ngựa và hơi thở nồng đượm của những chiến binh kề vai sát cánh phi ngựa qua đồng cỏ. Cụèn cất cao giọng và hát vang rằng:
Hỡi những tráng sĩ kiên cường
Cùng sóng đôi trên đường thương mộc!
Kiếm trong bao khẽ cất lời ca,
Khiên tròn chuyện trò cùng đỉnh mũ.
Hỡi ôi, chẳng mấy chốc lời ca ấy giữa trận mạc hãi hùng
Sẽ chìm trong tiếng gươm giáo khua vang hỗn độn vô tình,
Chẳng ai còn màng đến ánh vàng trên đốc kiếm,
Khi cổ văn chẳng còn ý nghĩa, lời đầu môi chẳng kịp thốt thành,
Lúc biển chiến của loài người cuồn cuộn trộn hòa
Hất tung ngọn sóng thép quanh chín mươi tráng sĩ.
Kìa như các thiếu nữ đốt cỏ lau
Nơi khoảng đất giữa ruộng đồng và bãi cỏ,
Mái nhà của dòng họ Bearings đang bốc cháy
Tỏa ánh sáng đỏ rực giữa những bức tường xinh,
Nơi xưa kia ta từng nhấm nháp men say trong những ngày tháng cũ,
Lúc chân mỏi mệt sau dặm dài hành trình;
Khi tình yêu đôi lứa nở hoa buổi hoàng hôn,
Và bàn tay ta chạm những bàn tay mềm mại trao chén rượu.
Kìa bao vòng vây kẻ thù đang đứng đó
Ném những đứa trẻ lên ngọn giáo như cỏ dại bờ mương.
Hãy phi nhanh, phi nhanh! Đừng tiếc chi
Những chiến mã hồng mao trên dặm dài chặng đường!
Nhưng nếu ánh ngày tắt lịm,
Dưới ánh lửa bập bùng tang tóc
Ta sẽ nhìn thấy đôi mắt lờ đờ
Của lũ người khôn ngoan từng trải trận mạc.
Nơi chiến địa, chiến công đang chờ đón,
Hãy sống bằng sức lao động, gặt hái những lúa vàng nơi ấy;
Và như xưa ta từng hát vang bên lưỡi liềm
Khi con chim cuốc từng nhạo báng nay cuối cùng đã bay đi,
Hãy cất vang khúc ca bên thanh gươm và bàn tay tôi luyện,
Đem cơn thịnh nộ của xứ sở giáng xuống mùa gặt ngút ngàn!
Cụ hát dứt bài, một tiếng hô vang dậy trời chuyển từ thân tộc và những người xung quanh, rồi lan tỏa khắp cả đoàn quân dẫu nhiều người chẳng hiểu vì sao họ phải hô hoán như thế. Toàn quân liền rảo bước nhanh hơn, chuyển sang đi nước kiệu dũng mãnh trên cánh đồng cỏ phẳng lì.
Chẳng bao lâu sau, họ đã tiến đến ngang qua trang trại của người Erings. Ở vùng này không có gia súc ngoài đồng cũng chẳng có bóng dáng phụ nữ, bởi toàn bộ đàn súc vật đã được lùa vào trong vòng rào của Thị tộc; nhưng những ai không đủ sức chiến đấu đều đứng ngoài cửa, nhìn về phía vùng Mark hướng về cột khói bốc lên từ khu nhà của dòng họ Bearings, và họ cũng cất tiếng reo hò chào mừng đoàn quân thân tộc. Dọc theo bờ sông, một toán chiến binh gồm hai lão già, hai thiếu niên là con trai họ, cùng mười hai tên nô lệ mang giáo dài cưỡi ngựa kéo ra chào đón đoàn quân. Thế là họ nhập vào hàng ngũ thân tộc, và đoàn quân không dừng lại mà cứ thế ào ạt vượt qua đồng cỏ. Cột khói ấy vẫn cuồn cuộn bốc lên, càng lên cao càng dày đặc, đen sẫm và ánh lên sắc đỏ rực ở tận sâu bên trong.
Rồi họ tiến đến trang trại của người Geddings. Nơi đây gia súc và cừu cũng đã được lùa kín trong hàng rào gia cư, nhưng các tráng sĩ có vũ khí đang nằm hoặc đứng rải rác bên bờ sông, thong thả trò chuyện hoặc ca hát vui vẻ chẳng khác nào xứ sở đang hưởng trọn thái bình. Khi thấy đoàn quân tiến đến, họ liền vùng đứng dậy reo hò và lập tức nhảy lên ngựa. Số lượng của họ đông hơn các toán trước, bởi người Geddings là một Thị tộc lớn hơn; gồm có bảy lão già, mười thiếu niên và mười tên nô lệ mang giáo dài y như người Erings. Ngay khi họ vừa hòa vào hàng ngũ thân tộc, những người trong đoàn quân lại trông thấy một toán quân đông đảo khác đang tiến đến đón họ. Đó là người thuộc dòng dõi Galtings; trong số đó có mười chiến binh đang độ sung sức, bởi họ vừa mới trở về sau chuyến săn bắn trong rừng và bị lỡ buổi tập hợp của thị tộc. Đi cùng họ có tám lão già, mười lăm thiếu niên và mười tám tên nô lệ. Các thiếu niên và nô lệ đều mang cung bên cạnh thanh gươm giắt ở hông, không phải ai cũng có ngựa nên những kẻ đi chân đành ngồi phía sau người khác. Họ cùng nhau gia nhập đoàn quân với tiếng reo hò inh ỏi; họ mang theo một chiếc tù và lớn và cứ thổi liên hồi cho đến khi đã đứng vào vị trí trong đội hình. Bởi vì dòng họ của họ gắn bó với Thiodolf, nên họ tiến bước cùng với những người ở tốp hậu quân của dòng họ Shieldings.
Bấy giờ, toàn bộ đoàn quân cùng nhau tiến bước. Khi họ đã đi qua các khu nhà của người Galtings thì chẳng còn gì nằm giữa họ và Bearham nữa, họ cũng chẳng cần phải mong chờ thêm sự tiếp viện nào của con người. Không còn bóng gia súc ngoài đồng hay bất kỳ kẻ chăn dắt nào, những kẻ ở lại đều ở trong nhà chuẩn bị sẵn sàng trốn vào rừng thẳm nếu tình thế đòi hỏi. Chỉ một chốc sau khi qua khỏi những xóm làng ấy, có hai thiếu niên chừng đôi mươi cùng một thiếu nữ dũng mãnh là chị của họ đuổi theo kịp đoàn quân; họ chẳng mang vũ khí nào ngoài những chiếc giáo ngắn và dao găm. Người họ ướt sũng nước vì vừa mới bơi qua sông Mirkwood. Họ thuộc dòng dõi người Wolfing, vốn đang chăn dắt vài con cừu ở phía tây bờ sông thì trông thấy đoàn quân đang tiến ra trận, không kìm nén được lòng mình nên đã thúc ngựa bơi qua dòng nước xiết sâu thẳm để gia nhập thân tộc, nguyện sống chết cùng họ. Truyện kể rằng ba chị em họ đã chiến đấu trong những trận đánh diễn ra sau đó, và dù bước vào trận mà không mang giáp trụ nhưng họ không hề bị giết mà còn sống thêm nhiều năm sau nữa; về họ, không cần phải nói gì thêm.
Khi đoàn quân vừa qua khỏi xóm Galtings một đoạn ngắn, người ta bắt đầu nhìn thấy những ngọn lửa lẫn trong khói lửa ngùn ngụt, bản thân cột khói cũng thưa dần đi như thể ngọn lửa đã thiêu rụi mọi thứ và đang tự tàn lụi vì chính sự hung tàn của nó. Ít lâu sau, khi qua khỏi một gò đất cao, họ đã có thể nhìn thấy đồng cỏ của dòng họ Bearings cùng đám quân địch ở đó; tiến thêm một chút nữa, từ đỉnh của một con dốc khác, họ tận mắt trông thấy những ngôi nhà đang cháy cùng chiến tuyến của người La Mã. Thế là họ dừng lại, để ngựa nghỉ ngơi một lát.
Họ chứng kiến một đại quân La Mã đang tập hợp thành đội hình khít khao giữa bến nước và ngôi nhà lớn của dòng họ Bearings, nhưng nằm gần bến nước hơn, cách chỗ họ chừng một dặm ngắn. Trong khi đó, những tốp khác đang tuôn ra từ những ngôi nhà đang cháy như thể công việc của chúng ở đó đã hoàn tất, và họ không thấy chúng dắt theo tù nhân nào khác. Vẫn còn những tốp quân La Mã khác, trong đó có cả những kẻ mặc trang phục của người Goths, đang lúi húi bên bờ sông như thể chuẩn bị dò dẫm tìm đường vượt bến.
Otter đứng lại nơi đó chừng một lát, rồi khẽ vung tay ra hiệu và tiếp tục phi ngựa tiến lên, toàn quân rắp ranh theo sau. Khi đến gần hơn, Otter – kẻ vốn dày dạn kinh nghiệm chiến trận – quan sát quân La Mã và nhận định rằng đây là một đại quân hùng hậu, phần chủ lực của chúng đông gấp mấy lần toàn bộ binh lực của ông; hơn nữa, chúng lại được bày trận ngay ngắn và cẩn trọng tựa như đang chờ đợi kẻ thù. Do đó, ông biết mình phải hết sức cẩn trọng nếu không muốn chuốc lấy họa diệt vong cho bản thân và toàn quân.
Ông bèn ra lệnh cho quân dừng lại khi cách quân địch chừng hai furlong. Đại quân địch không hề động đậy, nhưng kỵ binh và lính ném đá từ hai bên cánh đã tách ra tiến về phía người Goths. Chỉ trong vòng ba, bốn phút, chúng đã nằm trong tầm bắn của cung tên. Ngay lập tức, những cung thủ người Goths liền tuột xuống ngựa, giương cung lắp tên rồi xả một trận mưa tên tới tấp, giết và làm bị thương rất nhiều kỵ binh địch. Bọn chúng chỉ chịu đựng trận mưa tên được chừng một, hai phút rồi phải quay đầu ngựa lùi về chậm rãi với đại quân của mình; trong khi đó, đám lính ném đá không dám tiến lên quá hăng hái bởi chúng đang đối đầu với những kỵ sĩ, và các cung thủ người Goths cũng bình tĩnh thủ thế tại chỗ.
Bấy giờ Otter quay lại nhìn thuộc hạ, ra hiệu lệnh quen thuộc giục họ xuống ngựa. Khi tất cả đã đứng trên mặt đất, các đội trưởng chỉ huy các tiểu đội mười và trăm người liền sắp xếp họ thành đội hình mũi nêm (wedge-array), với các cung thủ trấn giữ ở hai bên sườn. Otter mỉm cười khi chứng kiến cảnh tượng ấy và thấy quân La Mã không hề quấy nhiễu họ, có lẽ vì chúng nghĩ rằng sẽ dễ dàng tiêu biểu đám người hoang dã ít ỏi này.
Khi đã dàn trận xong xuôi, ông ngồi yên trên lưng ngựa, cất lời ngắn gọn và sắc bén:
“Hỡi những người Goths, các ngươi muốn trèo lên ngựa quay về rừng để tán lá che chở, hay muốn chiến đấu với đám người La Mã này?” Họ đáp lại ông bằng một tiếng hô vang trời cùng tiếng vũ khí khua đập vào khiên mộc. “Thế thì tốt,” Otter nói tiếp, “đã đi đến chừng này rồi; ta thấy địch thủ sẽ tiến ra đón đánh, nên chúng ta hoặc là phải chịu đựng đòn phủ đầu của chúng, hoặc là quay lưng bỏ chạy. Dù vậy, chúng ta phải chiến đấu khôn ngoan nếu không muốn bị tiêu diệt, và đẩy Thiodolf vào hiểm cảnh. Việc chúng ta cần làm, nếu có thể, là chen chân vào giữa chúng và bến nước; một khi làm được điều đó, hãy chiến đấu đến cùng cho đến khi ngã gục đè lên nhau. Nhưng nếu không tài nào làm được, ta sẽ không ném bỏ sinh mạng một cách vô ích mà sẽ gây cho kẻ thù tổn thất nhiều nhất có thể mà không hòa lẫn vào giữa hàng ngũ chúng, rồi cứ thế chờ đợi sự xuất hiện của Thiodolf. Bởi vì nếu không len vào được giữa chúng và bến nước, chúng ta sẽ chẳng tài nào ngăn cản chúng vượt sông. Ta nói tất cả những điều này để các ngươi biết tuân theo ta một cách khôn ngoan, kìm nén cơn giận dữ để rồi trút bỏ xiềng xích của nó khi thời cơ đến.”
Nói đoạn, ông tuột xuống ngựa, rút gươm tiến lên đầu đội hình mũi nêm và bắt đầu chậm rãi dẫn quân đi. Trong khi đó, các nô lệ và mục đồng có trách nhiệm trông coi bầy ngựa, họ lùi dần về phía khu rừng chỉ cách đó một quãng ngắn.
Về phần Otter, ông dẫn dắt thuộc hạ tiến về phía bến nước. Khi quân La Mã nhìn thấy thế, đại quân của chúng bắt đầu chuyển động, di chuyển chéo như loài cua hướng về phía bến nước. Otter liền hối hả rảo bước nhanh hơn – điều hoàn toàn hợp lý bởi binh lính của ông đều là những kẻ dày dạn trận mạc và không hề làm vỡ đội hình. Nhưng vừa lúc ấy, nhóm lính La Mã đi đốt phá ban nãy đã bắt kịp đại quân, và tên tướng chỉ huy người La Mã liền tung ngay bọn chúng ra nghênh chiến với người Goths. Chúng tiến lên khá hiên ngang, một đám mây binh lính mang đội hình lỏng lẻo ùa vào nã tên và ném đá xối xả vào đội hình mũi nêm, sát hại và làm bị thương không ít người. Dẫu vậy, Otter không hề dừng bước; dẫu thế việc hành quân vô cùng khó khăn bởi những bên sườn không có khiên che đều phơi bày ra trước mặt quân La Mã, và Otter cũng không dám phân tán các cung thủ ra khỏi đội hình mũi nêm vì sợ rằng quân La Mã – vốn đông hơn họ – sẽ tràn vào lọt giữa vòng vây. Ông đăm đăm quan sát đại quân La Mã và những gì chúng đang làm, và chẳng mấy chốc ông nhận ra rằng chúng sẽ vượt qua mặt ông để chiếm lấy bến nước. Bấy giờ ông thừa hiểu rằng chúng sẽ đánh úp ông ngay lúc đám lính nhẹ đang bám lấy sườn và hậu quân của ông, và khi ấy đội hình chắc chắn sẽ vỡ nát và mọi thứ sẽ tiêu tan. Do đó, ông giảm bớt tốc độ, tiến đi rất chậm rãi, và quân La Mã cũng chẳng đi chậm lại vì thế; ngược lại, toán lính nhẹ của chúng càng lúc càng bạo dạn hơn, xích lại gần người Goths hơn như thể sắp sửa mở cuộc tấn công.
Thế nhưng đúng vào khoảnh khắc ngặt nghèo ấy, Otter liền truyền lệnh dọc theo các hàng quân, vung gươm quay ngoắt sang bên phải và lao bổ toàn bộ đội hình mũi nêm vào đám lính nhẹ đang tụ tập đông đúc. Ngay lập tức, các cung thủ ở cánh phải đội hình mũi nêm tản ra, giương cung bắn những mũi tên chí mạng và chớp nhoáng; trong khi các cung thủ ở cánh trái nhanh chóng lao lên vượt qua đội hình mũi nêm để vòng ra sườn đám lính nhẹ La Mã. Bị kẹp giữa các chiến binh sử dụng gươm giáo của người Goths cùng những mũi tên sắc lẹm, đám quân La Mã chẳng biết phải xoay sở lối nào, thây chết chất thành núi, và những kẻ may mắn nhất là những kẻ kịp dùng đôi chân để tẩu thoát.
Sau trận cuồng phong ấy và sau khi quét sạch đám quân đó, Otter không dừng lại mà vòng qua chiến trường hướng về phía bầy ngựa. Quả thực, ông những mong đại quân La Mã sẽ đuổi theo mình, nhưng chúng không làm thế mà vẫn đứng ì ra đó để đón nhận tàn quân của toán lính nhẹ đang tháo chạy. Quả là một may mắn lớn cho người Goths; bởi vì họ đã phần nào bị rối loạn đội hình trong lúc truy kích toán lính nhẹ, và họ chém giết không nương tay, lòng tràn ngập căm hờn cay đắng – điều hoàn toàn dễ hiểu. Bởi vì ngay lúc họ quay lưng đối đầu với quân La Mã, họ chứng kiến mái nhà vĩ đại của dòng họ Bearings sụp đổ đè lên ngôi nhà lớn đã cháy rụi, một trận mưa tàn lửa bắn tung tóe lên cao từ đống đổ nát, chỉ còn lại những bức tường hồi loang lổ đứng sững, bị những ngọn lửa liếm láp nhưng chẳng tài nào bén nổi bởi lớp đất sét đã trám kín những khoảng trống giữa các thanh xà lớn. Và họ thấy tất cả những ngôi nhà khác đều đã chìm trong biển lửa hoặc đang âm ỉ cháy, từ túp lều nhỏ nhất của kẻ nô lệ cho đến những vựa lúa, lều quán lớn nhỏ.
Do đó, dẫu số lượng người xứ Mark ít hơn hẳn so với đại quân La Mã, và dẫu đại quân ấy đang đứng trong một đội hình vô cùng hoàn hảo, chắc chắn rằng người Mark sẽ bị tàn sát thê thảm nếu quân La Mã tung quân đánh úp. Thế nhưng vị tướng chỉ huy người La Mã lại không muốn làm thế. Dẫu hắn là một kẻ gan lì, sự gan lì ấy lại giống như loài sói: chỉ chồm lên cắn xé khi đói lả và lủi thủi trốn tránh lúc đã no nê. Hắn còn trẻ, vô cùng giàu có, là một nhân vật thế lực trong số những đồng bào của mình, và hắn thừa hiểu rằng "gừng cay thì dễ nuốt", dẫu hắn có kéo quân ra chiến trận để mưu cầu danh tiếng thì hắn cũng chẳng có chút ý định bỏ thây nơi xứ người vì thành Rome hay vì bất kỳ ai, mà chỉ muốn sống cho chính bản thân mình. Vì thế, hắn đến đây để giành chiến thắng một cách dễ dàng, nhằm lấy danh tiếng đó để vơ vét thêm tài sản và quyền lực ở Rome; hắn cũng rất hoan hỉ chiếm đoạt bất cứ chiến lợi phẩm nào đáng giá trong đống đồ cướp bóc của đám "người hoang dã" này (như hắn nghĩ), dù chỉ là một vài người phụ nữ xinh đẹp. Hắn ta thầm nghĩ: Nhiệm vụ của ta là vượt bến nước tiến vào Wolfstead, chiếm lấy kho báu của bộ lạc, biến nơi đó thành cứ điểm để từ từ tiêu diệt lũ thú vật này mà quân ta chẳng tổn thất bao nhiêu, để rồi sau đó có thể rút lui êm thấm với đầy ắp chiến lợi phẩm trong tay, ngay cả khi Maenius và quân của lão không đến kịp cứu viện (điều chắc chắn sẽ xảy ra). Thế nên, đối với đám người đang sục sôi căm giận và không hề thiếu uy lực lẫn mưu lược chiến trận này, hãy nhớ lấy câu cổ ngữ "hãy bắc cầu vàng cho kẻ thù đang tháo chạy", để mặc họ rút lui mà không phải chịu thêm tổn thất nào từ quân La Mã, rồi hãy tính chuyện tìm kiếm chúng sau khi ta đã cố thủ trong trang trại của chúng – nơi khi ấy sẽ là căn cứ của ta. Hắn đã nói với các thuộc cấp của mình như thế.
Phải biết rằng hắn hoàn toàn không hề hay biết gì về thảm bại của quân La Mã trên vùng Ridge; hắn cũng chẳng rõ lực lượng chiến đấu của người Mark có bao nhiêu, ngoài những thông tin từ miệng mấy kẻ phản bội hèn nhát người Goths; và dẫu hắn đã bắt được hai người phụ nữ trong chốn hoang vu, hắn cũng chẳng khai thác được gì từ họ. Bởi vì khi biết mình sắp bị tra tấn, họ đã làm theo lời Hall-Sun dặn dò: tự đâm mình bằng những con dao găm nhỏ sắc bén rồi đi về với các vị thần.
Thế là vị tướng La Mã đành để người Mark rút lui an toàn rồi quay đầu hướng về bến nước, trong khi người Mark chầm chậm tiến về phía bầy ngựa. Dẫu vậy, trong số họ có không ít kẻ lầm bầm oán trách Otter, cho rằng thật dại dột khi đã vượt chặng đường xa xôi phi ngựa bạt mạng để rồi chẳng làm được tích sự gì, và nếu là ngày mai, họ sẽ không đời nào chịu để bị dắt mũi dễ dàng thế. Họ cho rằng hành động này là sai lầm, bởi quân La Mã sẽ vượt sông tiến thẳng đến Wolfstead mà chẳng vấp phải sự kháng cự nào, rồi chúng sẽ đốt phá nhà cửa, tàn sát các bô lão cùng nô lệ, cướp đi phụ nữ, trẻ em cùng Hall-Sun – kho báu của người Mark. Thực ra, họ đâu biết rằng một toán lính nhẹ La Mã đã vượt sông từ trước, tập kích vào các khu định cư của người Wolfings, nhưng đã bị các bô lão, thiếu niên và nô lệ của Thị tộc đánh cho tơi bời khi chúng lăng xăng vướng víu giữa các mảnh vườn, chuồng trại, khiến chúng phải bỏ mạng vô số.
Thế là Otter và thuộc hạ dắt nhau về phía bến ngựa khi trời đã ngả về chiều (bởi bao nhiêu chuyện đó ngốn không ít thời gian), rồi kéo nhau đến một gò đất cao không xa bìa rừng. Tại đây, họ dựng lên một vòng rào dã chiến bằng ngựa, cành cây và những cây giáo dài; họ cắt cử lính canh gác cẩn mật trong vòng rào, đêm xuống không đốt lửa mà chỉ ăn tạm chút lương thực ít ỏi mang theo, cứ thế vừa ngủ vừa canh thức chờ bình minh. Về phần đại quân La Mã, đêm đó họ không dám vượt sông vì sợ lạc đường, bởi đó là một con bến vô cùng hiểm trở đối với những kẻ lạ nước lạ cái. Thế nên họ đành cắm trại ngay bên bờ sông sát mép nước, nung nấu ý định vượt sông ngay khi trời vừa hửng sáng.
Về phần Otter, ông đã tổn thất chừng một trăm hai mươi người tử trận hoặc bị thương nặng; họ mang theo những người bị thương cùng tử thi của các chiến binh ngã xuống. Truyện không kể rõ có bao nhiêu tên lính La Mã bị giết, chỉ biết rằng rất nhiều lính nhẹ của chúng đã ngã xuống khi người Mark bất ngờ quay đầu tập kích, bởi bên cạnh họ lúc đó có rất nhiều cung thủ cừ khôi nhất xứ Mark.