Dự Án Cyclops

Lượt đọc: 45 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Hai

❊ ❊ ❊

7 giờ 58 tối.

“Khốn kiếp!” Ramirez cúi xuống nhìn các bảng hiển thị thông số vũ khí.

“Anh đã kích hoạt tên lửa Swatter chưa? Lẽ ra hệ thống phải được ngắt. Nếu nó còn bật, gã đó có thể đã khiến nó phát nổ bằng lực va chạm.”

Peretz trân trân nhìn thêm một giây vào đống đổ nát của chiếc tàu ở phía dưới, rồi liếc lại các bảng đồng hồ và tái mặt đi. “Tôi tưởng nó đã... chắc chắn nó bị hỏng trục trặc gì rồi. Không thể nào có chuyện đó—”

“Sự cẩu thả. Đúng là sự cẩu thả ngu ngốc.” Ramirez cúi đầu kiểm tra phần cánh, đoạn xem lại trạng thái hoạt động trên bảng điều khiển vũ khí. “Chúng ta cũng đã mất cả cụm ống phóng rocket bên mạn phải.”

Peretz liếc qua một cái và nhận ra điều đó là sự thật. Cụm ống phóng rocket đã bị cắt đứt hoàn toàn, để lại phần khung kim loại rối bời của cánh trơ trọi. Dẫu vậy, chiếc Hind vốn chẳng cần đến đôi cánh để giữ thăng bằng; chúng sinh ra chỉ để gắn vũ khí mà thôi.

“Thôi thì sao chứ? Dù là kẻ nào đi nữa, tôi cũng tiễn gã về chầu trời rồi.” Anh ta cố nặn ra một nụ cười, khiến những nếp nhăn hằn lên làn da rám nắng khi ánh đèn từ bảng điều khiển vũ khí hắt lên khuôn mặt. Đó là cách anh ta vẫn thường dùng để che giấu sự căng thẳng.

Mày thật đáng chết, Ramirez thầm nghĩ. Một tên cao bồi gốc Israel. Tao sẵn sàng kết liễu mày ngay tại chỗ nếu tao không cần đến mày. Đó là một sai lầm ngạo mạn, và tao không thể để nó lặp lại lần nữa. Sẽ không có lần sau đâu.

Anh ta quay người bước trở lại buồng lái. “Tình hình chúng ta thế nào rồi?”

“Góc trượt ở mức bình thường,” Salim báo cáo với vẻ mặt nghiêm nghị, đôi mắt sẫm màu liếc xuống vùng biển động cuồn cuộn chỉ cách họ chừng vài trăm mét bên dưới. “Tôi nghĩ chúng ta vẫn ổn.”

“Chúng ta vừa phải trả giá cho việc một sự sơ suất có thể phá hỏng cả một chiến dịch,” Ramirez tuyên bố khi quay lại khoang chính. “Chúng ta sẽ không thể thành công nếu trở nên bất cẩn và lỏng lẻo kỷ luật. Tôi đã lên kế hoạch cho chiến dịch này tỉ mỉ đến từng chi tiết nhỏ nhất. Tất cả các anh đều đã được phổ biến nhiệm vụ, hết lần này đến lần khác.” Anh ta ngừng lại, đưa mắt quan sát những người còn lại. Đôi khi anh ta có cảm giác như mình đang giảng bài cho lũ trẻ, nhưng đây rõ ràng chẳng phải trẻ con. “Mỗi người trong các anh đều biết rõ nhiệm vụ của mình. Tôi kỳ vọng các anh phải hoàn thiện nó một cách thật chính xác và chuẩn mực. Bất kỳ ai ở đây mắc thêm một lỗi sơ suất nữa thì đó sẽ là lần cuối cùng trong đời. Các anh đã rõ chưa?”

Sự im lặng bao trùm, rồi cuối cùng một giọng nói cất lên từ phía những chiếc cáng cứu thương ở căn phòng tối phía đuôi tàu, lọt thỏm và chìm nghỉm trước tiếng gầm rú của hai động cơ. Đó là Jean-Paul Moreau, tên người Pháp. Hắn căm ghét việc bay lượn, và đặc biệt căm ghét việc phải ngồi trên một chuyến bay do một tên người Iran cầm lái.

“Chuyện quái gì đã xảy ra thế?”

“Ai đó trên... có lẽ là một chiếc bè nào đó. Chúng ta đã hứng chịu vài phát đạn bắn từ vũ khí bộ binh.” Anh ta ngoái đầu nhìn ra sau, đảm bảo giọng mình vang đến tai Peretz ở trạm vũ khí. “Quả tên lửa Swatter cuối cùng đã bị bỏ lại ở trạng thái bật và đã kích hoạt, chắc nó đã bị trúng đạn. Có lẽ là bộ phận ngòi nổ. Một sự sơ suất ngu ngốc.”

“Xem ra lỗi đó là của tôi rồi,” giọng Peretz vang lên, cố tỏ ra vẻ ăn năn nhưng chẳng mấy thành công. “Đâu thể thắng mãi được, cưng ơi.”

Lại cái vẻ khôn lỏi quen thuộc ấy, Ramirez nghĩ bụng, vẫn nghiến chặt hàm vì giận dữ. Nhưng rồi anh ta dằn xuống. “Quên nó đi. Trong cái nghề này, người ta chỉ nhìn lại quá khứ nếu có thể rút ra bài học từ sai lầm của mình. Chúng ta vừa nhận ra hậu quả của việc quên đi nhiệm vụ. Vấn đề đến đây là chấm hết.”

“Bây giờ”—anh ta quay lại với khoang chính—“khi chúng ta đáp xuống cơ sở, tôi yêu cầu kỷ luật tuyệt đối. Sẽ không có bất kỳ sự dung túng nào cho việc lơ đễnh. Đã rõ chưa?” Anh ta ra hiệu cho Peretz rời khỏi trạm vũ khí và bước vào thay thế vị trí đó.

Liệu những gã này có gắn kết với nhau theo đúng cách mà anh ta đòi hỏi không? Khi đưa mắt đánh giá lại một lượt, anh ta cảm thấy vô cùng tự tin. Anh ta đã có đủ kinh nghiệm để ngửi thấy mùi vị của thành công.

Sabri Ramirez thực chất đã trải qua đủ mọi sương gió cuộc đời. Sinh ra tại Venezuela gần nửa thế kỷ trước, là con trai của một luật sư mác-xít nổi tiếng, anh ta đã trở thành một nhà cách mạng nhiệt thành từ năm hai mươi tuổi. Đến tuổi hai lăm, anh ta sang Cuba, nhưng phải đến mãi sau này, khi theo học tại Đại học Patrice Lumumba ở Liên Xô, anh ta mới thực sự tìm ra bản chất tư tưởng cốt lõi của mình — hóa ra anh ta lại căm ghét “những con người bị áp bức trên trái đất,” cùng với lệnh giới nghiêm, sách vở và những bài diễn văn. Không, thứ mà anh ta thực sự muốn gia nhập không phải là Đảng phái, mà là những cuộc vui xa hoa — cuộc sống sung túc, phụ nữ, và sự nổi tiếng. Và thứ cuối cùng là thứ anh ta khát khao hơn cả. Chỉ sau chín tháng, sự thiếu nhiệt huyết về mặt tư tưởng đã khiến anh ta bị tống cổ về nước không một lời thương tiếc. Nhưng thẳm sâu trong lòng, anh ta lại cảm thấy nhẹ nhõm.

Với sự nhạy bén đánh hơi xem nơi nào có thời cơ, anh ta di cư đến Beirut... và một cách rất thực tế, anh ta cải đạo để trở thành một người Hồi giáo. Sau đó, anh ta bắt đầu tạo lập các mối quan hệ — Beirut vẫn luôn là mảnh đất màu mỡ để giao du kết nối. Và thành quả đến rất nhanh. Anh ta còn trẻ, rõ ràng là rất thông minh, và sẵn sàng làm bất cứ điều gì. Đầu thập niên 1970, anh ta được tuyển mộ bởi nhóm khủng bố mang tên Mặt trận Dân chủ Giải phóng Palestine và được giao trọng trách lãnh đạo chi nhánh của nhóm này tại châu Âu. Thế là anh ta lên đường đến Paris, vùng đất mơ ước bấy lâu.

Anh ta từ lâu đã ấp ủ giấc mơ trở thành một huyền thoại, một trong những tên khủng bố khét tiếng nhất thế giới, và chẳng mấy chốc, anh ta đã thành công vượt ngoài cả những kỳ vọng hoang đường nhất của mình. Năm 1974, anh ta rời bỏ PFLP để tự thành lập tổ chức riêng. Hoạt động như một kẻ chuyên đâm thuê chém mướn ở Trung Đông, tổ chức này mang tên Tổ chức Đấu tranh Vũ trang Ả Rập. Cái tên này, theo anh ta nghĩ, mang một âm hưởng cách mạng rất hay, thứ mà anh ta từ lâu đã nhận ra là vô cùng quan trọng. Dự án mới của anh ta — dịch vụ khủng bố trọn gói — nhanh chóng thu hút những khách hàng sừng sỏ như Libya và Iraq. Trong số những chiến công vang dội của hắn phải kể đến vụ đánh bom Trung tâm Văn hóa Pháp ở Tây Berlin, kích nổ quả bom giấu trong va-li tại một nhà ga xe lửa ở Marseilles, và đặt thiết bị gây cháy lên đoàn tàu cao tốc "bullet train" của Pháp.

Mặc dù chưa bao giờ bận tâm đến hệ tư tưởng, anh ta thừa hiểu tầm quan trọng của việc phải có một lập trường chính trị đúng đắn trong thế giới Hồi giáo, và vì thế, anh ta thường xuyên đóng vai thủ lĩnh của một "cuộc đấu tranh vũ trang" chống lại "Kẻ thù Phục quốc Do thái". Nhưng trên hết, mọi thứ luôn phải mang lại lợi nhuận. Thậm chí, anh ta đã hoàn thiện nghệ thuật tống tiền đỉnh cao, ép các chế độ "phản động" ở Ai Cập, Jordan, Kuwait, Ả Rập Xê-út và các tiểu vương quốc vùng Vùng Vịnh phải đóng tiền bảo kê đội lốt "quyên góp cách mạng". Sau khi dàn dựng vụ khủng bố OPEC năm 1975 tại Vienna, bắt giữ mười một bộ trưởng dầu mỏ làm con tin, rồi tiếp tục cho nổ tung một khu nghỉ dưỡng ven biển khiến một quan chức Kuwait thiệt mạng, anh ta bắt đầu đều đặn nhận những khoản tiền bảo kê béo bở từ tất cả các quốc gia vùng Vịnh.

Cuối cùng, vào năm 1984, anh ta khép lại mọi hoạt động dưới danh nghĩa OAAS, chuyển đến Damascus và bắt đầu huấn luyện cho các điệp viên tình báo Syria. Vào thời điểm đó, anh ta đã biến thành một bóng ma ẩn hiện, một huyền thoại sống mà biệt danh "Linh cẩu" gắn liền với mọi vụ đánh bom xe hơi khắp châu Âu. Và cũng vào lúc đó, Linh cẩu (cái tên mà hắn vô cùng căm ghét) đã trở thành chất liệu cho những cuốn tiểu thuyết trinh thám ăn khách, cũng như nằm trong hồ sơ mật của cơ quan an ninh ở ba châu lục.

Sau khi biến khủng bố thành một môn khoa học — một môn khoa học nhàm chán — hắn tạm thời giải nghệ. Nhưng giờ đây, sau cuộc xâm lược Trung Đông của người Mỹ, hắn quyết định tái xuất để thực hiện một vụ làm ăn lớn cuối cùng, làm những điều mà hắn hằng ao ước bấy lâu nay. Người Mỹ đã vô tình tạo ra một cơ hội hoàn hảo. Tại sao lại không chớp lấy nó chứ? Tuy nhiên, lần này hắn muốn tự mình ra tay, chứ không thông qua một đội quân những kẻ Hồi giáo cực đoan nửa điên nửa dại...

Anh ta bước tới buồng lái và xem xét các dãy đồng hồ đo. “Giữ tốc độ bay dưới một trăm hải lý. Và đảm bảo giữ độ cao là là mặt đất.”

Rồi anh ta nhìn xuống phía dưới. “Peretz, lần này hãy chắc chắn rằng tất cả các trạm vũ khí đều đã được ngắt điện. Nhớ là phải tắt hoàn toàn.”

Tên người Israel gật đầu, lần này không kèm theo nụ cười cợt nhả thường thấy.

Lúc này, chiếc trực th lực Hind đã bắt đầu tiến trình hạ cánh cuối cùng. Màn hình tivi hồng ngoại hiển thị một bãi đáp nhỏ có kích thước khoảng ba mươi mét mỗi chiều, với một chiếc trực thăng tư nhân đậu lơ lửng ngay chính giữa một vòng tròn đồng tâm trắng đen. Anh ta thừa biết rằng ARM — một tổ chức mà anh ta căm ghét từ lâu — đã bao bọc hòn đảo bằng một hệ thống an ninh công nghiệp tối tân. Anh ta nhớ lại, năm năm trước, bọn chúng từng thủ tiêu ba điệp viên của anh ta ở Beirut trong một nỗ lực bất thành nhằm lấy mạng anh ta. Hơn thế nữa, vụ việc đó thậm chí chưa từng lên mặt báo. Thật đúng là phong cách của bọn chúng. Hệ thống an ninh mà chúng phát triển cho hòn đảo này rất tốt, nhưng lại hoàn toàn không tính đến kiểu thâm nhập thế này. Việc được một phen biến bọn chúng thành những kẻ hề khiến anh ta vô cùng đắc ý.

“Chúng ta đang hạ độ cao,” Salim thông báo. Hắn khẽ chạm chân trái vào bàn đạp bánh lái để duy trì hướng bay, đồng thời nắm lấy cần điều khiển bước cánh tổng hợp khi giảm dần động cơ về chế độ chạy không tải. “Đã có một chiếc trực thăng ở bãi đáp rồi. Trông giống một chiếc Agusta đời mới.”

“Tôi biết rồi. Cứ đáp xuống ngay cạnh nó, nằm trong phạm vi vòng tròn bãi đáp. Tôi muốn mọi chuyện diễn ra thật đơn giản.”

Anh ta thừa biết, đêm nay chính là thời điểm họ lên lịch khởi động toàn bộ công suất cho hệ thống Cyclops. Mọi thứ đều phụ thuộc vào kết quả của cuộc thử nghiệm đó, nhưng anh ta không thể trì hoãn việc thâu tóm thêm một ngày nào nữa. Đây chính là thời điểm quyết định...

Bất chợt, anh ta tự hỏi liệu chiếc cánh bị tổn hại có làm ảnh hưởng đến độ ổn định khi bánh chạm đất hay không? Họ sẽ sớm có câu trả lời thôi.

8 giờ 10 tối.

Dòng hải lưu cuốn phăng anh trôi dạt không thể cưỡng lại về phía nam, trong khi ngay phía sau anh, đống ván gỗ còn sót lại của chiếc Odyssey II đang nhanh chóng phân rã tản mác. Anh thầm nguyền rủa bản thân vì đã để mất chiếc bộ đàm Ross DSC. Mặt khác, anh tự nhủ mình vẫn còn may mắn chán khi thân thể vẫn còn nguyên vẹn. May mắn hơn cả các thủy thủ đoàn trên chiến hạm USS Glover. Thật là đau lòng. Chứng kiến một thảm họa sắp xảy ra mà hoàn toàn bất lực không thể ngăn chặn: đó thực sự là cơn ác mộng tồi tệ nhất trên đời. Anh rất muốn quay lại để tìm cách cứu giúp, nhưng biển cả hung dữ đã khiến điều đó trở thành bất khả thi.

Anh rướn người vượt qua chiếc cột buồm đang trôi nổi bập bềnh, cảm thấy nó đập thẳng vào mặt khi sóng biển hất tung nó như một que diêm. Xung quanh anh, những mảnh vỡ sắc nhọn đến chết người của chiếc Odyssey II đang cắt ngang qua mặt nước, tua tủa như những ngọn giáo sắc nhọn bị thúc đẩy bởi những đợt sóng cồn. Bóng tối bao trùm lấy anh, chỉ bị xé toạc bởi phần xác cháy rụi đang bập bùng của chiếc khinh hạm Hải quân nay đã trôi dạt cách đó chừng ngàn thước.

Nó phải ở đâu đó chứ, lạy Chúa. Xin hãy để nó còn vướng vào cột buồm. Ý nghĩ đó lúc đầu có vẻ thật ngớ ngẩn, nhưng giờ đây...

Anh mò mẫm bơi xuống cho đến khi những ngón tay chạm vào một sợi dây nylon trơn tuột. Có phải nó không... đúng rồi.

Biết đâu Chúa vẫn tồn tại.

Các dây đai bị xoắn rối tung lên – điều vốn dĩ không được phép xảy ra, và những mảnh ván gỗ bách từ mạn tàu đã đâm thủng lớp vỏ bọc bằng nylon, nhưng chiếc bè cứu sinh Switlik của anh vẫn đang lơ lửng bám vào phần còn lại của chiếc cột buồm. Giờ thì hy vọng vào một phép màu nhỏ nhoi nữa: Liệu anh có kịp tháo gỡ nó ra trước khi mọi thứ chìm nghỉm vào màn đêm và những con sóng cuồn cuộn hay không?

Anh khua khoắng một tay để giữ nổi đầu trên mặt nước, trong khi những ngón tay hì hục gỡ nút thắt dây thừng. Cuối cùng nút thắt cũng lỏng ra, và anh giật mạnh nó ra.

Chúa ơi, liệu còn sót lại thứ gì không? Liệu nó còn có thể phồng lên được nữa không?

Anh chộp lấy ống chứa bằng sợi thủy tinh đựng chiếc bè, rồi giật tung nắp ra. Dồn chút sức lực cuối cùng còn lại, anh giật mạnh sợi dây kéo, giải phóng lượng khí carbon dioxide nén bên trong khiến chiếc Switlik phì phò hồi sinh. Chỉ một phần thôi. Anh nhận ra ống phao nổi phía dưới đã bị rách bươm bởi những loạt đạn máy 12,7 ly từ chiếc trực thăng Hind đã phá hủy cột buồm, nhưng ống phao phía trên may mắn vẫn còn nguyên vẹn. Coi như anh chỉ may mắn được một nửa.

Nó có màu vàng, hình lục giác, và trông chẳng khác nào thiên đường. Anh chưa từng dùng đến nó bao giờ, và cũng chưa bao giờ tưởng tượng được cảm giác này. Nó giống như một chiếc săm xe hơi quá khổ vậy.

Với một luồng sinh khí trào dâng nhờ sự nhẹ nhõm, anh trèo lên bè, nhích từng chút một khi cảm thấy những con sóng cồn ập qua người, rồi anh kéo những chiếc mái chèo xếp gọn ra và lắp chúng lại. Với hướng trôi mới này, anh biết chắc mình sẽ lệch khỏi bến cảng Kythera mà Bates từng khuyến nghị — anh đời nào chống chọi nổi với dòng hải lưu để bơi tới đó. Sự bất thường của gió và dòng nước đang đẩy anh trôi thẳng về phía nam. Đó chính là hướng mà chiếc trực thăng đã bay tới — hướng thẳng tới hòn đảo nhỏ Andikythera.

Liệu họ có phá vỡ được hệ thống an ninh của SatCom để đột nhập vào trong không? Có lẽ là có. Hệ thống mà ARM lắp đặt chỉ đạt tiêu chuẩn công nghiệp thông thường. Anh đã từng cảnh báo Bill về điều đó rồi.

Anh nhăn mặt và dồn sức chèo hai mái chèo nhôm nhỏ xíu. Hướng gió và sóng biển đang cuốn anh đi, và anh sẽ sớm có câu trả lời thôi. Anh lại thầm tiếc nuối chiếc bộ đàm đã mất — nếu có nó, anh đã có thể phát đi tín hiệu cấp cứu Mayday cho bất kỳ con tàu nào ở quanh đây để tới cứu vớt những người sống sót trên chiếc khinh hạm. Anh cũng có thể cảnh báo cơ sở SatCom rằng rắc rối đang chĩa mũi nhọn về phía họ. Vấn đề là chiếc trực thăng Hind có tốc độ tối đa lên tới hơn một trăm năm mươi hải lý. Nếu Andikythera là điểm đến của chúng, thì có lẽ chúng đã đặt chân tới đó từ đời nào rồi.

Nước biển lạnh buốt táp vào mặt và những con sóng nhấp nhô khiến anh hơi say sóng, nhưng anh cảm nhận được sự sống đang trở lại trong huyết quản. Gần như theo bản năng, anh ngước lên tìm kiếm những vì sao, thèm khát vẻ sắc sảo và rực rỡ của chúng trên bầu trời Aegean. Chẳng thấy gì cả, nhưng phía bắc đã bắt đầu xuất hiện những ánh sáng lấp lánh. Một điềm lành. Cơn bão đang dần tan đi, những đám mây bắt đầu tản ra mở lối.

Nếu Bill thử dùng bộ đàm, chắc hẳn cậu ta sẽ tưởng tao đã bốc hơi khỏi mặt đất này rồi.

Cảm giác đúng là như vậy thật. Khi dòng nước mùa thu lạnh giá của biển Aegean cuồn cuộn vây quanh, những con sóng cao hai mét vỗ ầm ầm qua chiếc bè Switlik mới bơm căng một nửa, anh nghĩ về Bill Bates. Cậu ta là một người bạn, một người bạn rất tốt. Liệu cậu ta có sắp lâm vào cảnh rắc rối không nhỉ?

Mặc dù Bates là một nhà điều hành tầm cỡ thế giới, cậu ta đồng thời cũng là một người đàn ông tận tụy vì gia đình. Cậu ta có một người vợ mẫu mực ở Arlington và hai cậu con trai ngoan ngoãn đều đang theo học tại các trường nội trú tư tháp danh giá. Vợ cậu ta, một phụ nữ da trắng thuộc dòng dõi thượng lưu theo lối truyền thống mang họ của một ngân hàng nổi tiếng ở Philadelphia, dường như chưa bao giờ thấy mệt mỏi với các công việc từ thiện, thế nên cậu ta thường dẫn các con đi chèo thuyền vào mỗi dịp hè. Đó chính là cách Vance quen biết cậu ta, khi cùng chèo thuyền với hai cậu con trai ở vùng Bahamas.

Bill được giới kinh doanh kính trọng gọi là "Giám đốc điều hành của các giám đốc điều hành", và điều đó hoàn toàn có cơ sở. Một phần — điều ít vô bổ hơn mọi người vẫn tưởng — chính là ngoại hình rất ra dáng CEO của cậu ta. Mái tóc điểm bạc luôn được cắt tỉa chuẩn xác đến từng milimet, đôi má rám nắng luôn phảng phất vẻ khỏe khoắn sau những buổi tập tại câu lạc bộ, hoặc bất kỳ câu lạc bộ nào tiện đường trong những chuyến đi công tác không bao giờ dứt của cậu ta. Cậu ta từng tuyên bố rằng mình thuộc làu vị trí của nhiều câu lạc bộ sức khỏe hơn bất kỳ ai ở nước Mỹ.

Tuy nhiên, tuyệt vời nhất là cậu ta biết cách kêu gọi vốn. Khi mô tả về một dự án sắp triển khai, ánh mắt cậu ta luôn bừng sáng vẻ của một tín đồ thực thụ đầy niềm tin. Ngay cả trong một môi trường đầu tư rủi ro, cậu ta vẫn luôn tạo ra được thứ năng lượng nhiệt huyết đủ để đảm bảo một đợt phát hành cổ phiếu mới sẽ được bán sạch bách và đóng cửa ở mức giá cao hơn giá chào bán ngay trong ngày lên sàn. Gã này thậm chí có thể bán cả đèn sưởi giữa sa mạc Sahara.

Cậu ta luôn cạnh tranh quyết liệt trong mọi việc mình làm. Khi quyết định, vài năm sau khi anh và Vance quen nhau, rằng cậu ta muốn dành trọn mùa hè để đua thuyền, cậu ta chẳng thèm mua một chiếc du thuyền riêng nào sất; thay vào đó, cậu ta bay thẳng tới Nassau và thuê chiếc thuyền nhanh nhất mà cậu ta biết. Vào thời điểm đó, con tàu hoàn toàn đáp ứng tiêu chí ấy chính là chiếc Argonaut, thuộc sở hữu của công ty Windstalker, Ltd. Đó là một chiếc sloop dài bốn mươi bốn thước, rất có tiếng tăm trong giới đua thuyền. Tuy nhiên, chủ nhân của nó chẳng bao giờ để bất kỳ ai trong số ba chiếc du thuyền của mình rời bến nếu chưa tự mình trực tiếp kiểm tra vị thuyền trưởng mới — dù đó có là một người bạn cũ.

Vance nhớ rất rõ điều đó. Bill nắm giữ bánh lái — một chiếc vô lăng bằng gỗ gụ luôn được đánh bóng loáng, và họ đang lướt đi ổn định với tốc độ tám hải lý trên đồng hồ đo. Đó là một trong những buổi sáng ở các hòn đảo mà vạn thứ đều trong vắt tựa bầu trời sa mạc. Không có chiếc tàu du lịch nào lên lịch vào cảng, và những chiếc cano động cơ ồn ào rất may là có số lượng khá hạn chế. Gió thổi hoàn hảo và mặt nước phẳng lặng như một tấm gương chiếu sáng rực rỡ. Tuyệt vời nhất là Bates điều khiển bánh lái điêu luyện cứ như thể cậu ta sinh ra để làm việc đó suốt cả cuộc đời vậy.

“Cậu nghĩ chúng ta có thể đẩy nó lên mười hải lý không?” cậu ta hỏi, nheo mắt che ánh nắng để ngắm nghía cánh buồm genoa, một tam giác trắng muốt lấp lánh phía trên mũi tàu.

Vance ngả người ra sau và ngước lên cảm nhận sức gió. “Khẽ nới bánh lái sang mớn phải một chút đi, tôi nghĩ cô nàng sẽ chiều ý cậu đấy.” Anh rất tự hào về công cuộc đại tu chiếc thuyền gần đây của mình — hệ thống định vị vệ tinh kỹ thuật số Northstar tối tân nhất, những cánh buồm mới tinh tốn bộn tiền, cùng màn lợp lại toàn bộ trạm thiết bị ở khoang dưới.

Bates khẽ xoay nhẹ bánh lái và cánh buồm genoa càng phồng to hơn nữa. “Tôi rất kết con tàu chết tiệt này đấy, Mike,” cậu ta tuyên bố. “Thế này nhé. Tôi muốn thuê nó trong ba tháng, đưa nó tới Norfolk, triệu tập một thủy thủ đoàn và làm cho mọi người quen thuộc với nó.”

“Tôi nghĩ chúng ta có thể bàn bạc thêm.” Vance mỉm cười. Chiếc du thuyền sẽ nằm trong những bàn tay tin cậy, và một hợp đồng cho thuê ba tháng chính là giấc mơ có thật đối với một gã làm ăn trong lĩnh vực của anh.

“Nhưng thực ra, tôi cũng muốn nhờ cậu giúp một việc khác nữa. Về mảng an ninh.”

“Này, tôi chỉ là một tay quản lý tàu thuê tầm thường thôi. Không phải chuyên môn của tôi đâu.”

“Đừng có qua mặt tôi, bạn hiếm.” Cậu ta cười lớn. “Cậu biết rõ SatCom đang xây dựng một cơ sở công nghiệp mới ở biển Aegean mà.”

“Một cơ sở không gian tư nhân.”

“Tôi nghĩ công nghệ của người Mỹ đang bị đánh giá thấp một cách bất công, Michael,” cậu ta bỗng nói với giọng điệu nghiêm túc bất thình lình. “Tôi định thay đổi điều đó.”

“Tạp chí Journal nói rằng cậu đang muốn đua tranh một phen với người châu Âu đấy.”

Cậu ta liếc sang, mái tóc óng ả tung bay trong gió. “Thông tin của một tay thủy thủ quèn mà cậu nắm bắt nhạy bén phết nhỉ. Nhưng tôi nói thật, nếu chúng ta thành công, chúng ta sẽ thay đổi hoàn toàn cách thức con người sử dụng không gian. Tôi sẽ có thể đưa một vệ tinh lên quỹ đạo với giá rẻ bèo. Nói nhỏ giữa chúng ta thôi nhé, tôi đang xây dựng sân bay vũ trụ tư nhân lớn nhất hành tinh. Trạm hoạt động của người Pháp ở Guiana chẳng thấm vào đâu so với nó đâu. Tôi đã khóa chặt mười vị trí quỹ đạo địa tĩnh với Hội nghị Vô tuyến Quản trị Thế giới. Ngay cả NASA tốt hơn hết cũng nên chuẩn bị tinh thần mà giữ chặt quần của họ đi.”

“Tiền ở đâu ra thế? Lại đám quen thuộc đó à?”

“Còn ai vào đây nữa.” Cậu ta cười, đoạn khẽ đánh lái sang phải thêm một chút. “Cổ phiếu được bán qua quầy và nó bốc hơi sạch bách chỉ trong vòng ba tiếng đồng hồ chết tiệt. Bùm. Sạch bách. Thú thực là giờ nó đang giao dịch cao hơn gần mười lăm phần trăm so với giá phát hành ban đầu đấy.” Cậu ta nhún vai. “Lẽ ra tôi nên phát hành nhiều hơn. Nhưng cái thói ngu ngốc như một thằng khốn, tôi lại nhụt chí. Đã không chịu làm theo bản năng của mình.”

“Lần tới, sao không cho tôi tham gia góp vui với?”

“Cậu đúng là một gã quái gở thật đấy, Michael. Và chiếc thuyền này cũng vậy. Thế này nhé. Tôi đưa ra một thỏa thuận thế này. Tôi đoán cậu đang mong đợi khoảng bốn ngàn một tuần cho em yêu này, đúng chứ?”

“Cái gì cũng được nếu vì bạn bè.”

“Chuẩn.” Cậu ta cười vang. “Tôi muốn thuê nó mười hai tuần. Thế nên... nếu tôi trả công cậu bằng một ít cổ phiếu SatCom cá nhân của tôi thì sao? Trị giá năm mươi ngàn tính theo giá hiện hành nhé? Cậu thấy sao?”

“Chốt đơn,” Vance nói mà không mảy may do dự. Anh từng nghe khối lời khoác lác đao to búa lớn trong ngành cho thuê tàu thuyền này rồi, nhưng Bates là một tay chơi sòng phẳng. Khoảng trống tạm thời về dòng tiền mặt có thể sẽ khiến việc trả ba khoản tiền thế chấp — mỗi chiếc du thuyền một khoản — trở nên chật vật, nhưng anh thực sự thích cái cách dự án này nghe có vẻ tiềm năng.

“Chuyện này không làm cậu rơi vào cảnh túng quẫn chứ?” Bates trông có vẻ hơi lo lắng.

“Tôi xoay sở được mà. Như tôi vẫn hay nói, hai con chim trong bụi không bằng một con nắm trong tay.”

“Michael, nửa thời gian cậu chẳng có lấy một xu dính túi để mà tiêu nữa là. Tôi lạ gì cậu. Cậu là tay quản lý tài chính cá nhân tồi tệ nhất mà tôi từng biết.” Cậu ta cười lớn và gõ nhẹ vào bánh lái, bẻ lái sang trái một nấc. “Đó thực sự là một trong những điều trớ trêu lớn nhất trên đời, nếu xét đến công việc mà cậu đang làm cho ARM.”

“Cậu cũng hóng hớt được khối thứ đấy nhỉ.” Anh chưa bao giờ thực sự bàn về công việc ở ARM với Bates.

“Cậu cừ lắm. Tôi biết điều đó. Tiếng tăm bay xa mà.” Cậu ta ngập ngừng. “Thực ra, tôi muốn nhờ cậu một việc. Tôi hy vọng cậu có thể thảo cho tôi một bản hợp đồng với bên người của cậu. Như tôi đã nói, tôi cần chút bảo vệ an ninh cho cơ sở đó ở Hy Lạp.”

“Kiểu gì cơ?”

“Cái đó là việc của mấy tay chuyên gia bên cậu. Chỉ cần nó thật tốt là được. Chúng tôi sắp lắp đặt một số công nghệ độc quyền vượt trội trước thời đại ánh sáng so với bất kỳ thứ gì từng xuất hiện trước đây. Và chúng tôi sẽ làm chấn động cả ngành công nghiệp này. Sẽ có rất nhiều gã người châu Âu ngoài kia cực kỳ thèm thuồng muốn biết chúng tôi đang mưu tính trò gì. Nguy cơ gián thụt công nghiệp là hoàn toàn có thật.”

“Vậy chương trình thế nào? Giám sát vành đai? Lực lượng bảo vệ? Chúng ta có thể sắp xếp việc thầu lại.”

“Tôi sẽ rất kích động nếu được thế. Người của cậu hiểu rõ châu Âu, hiểu rõ tình hình bản địa. Tôi có linh cảm điều đó sẽ vô cùng quan trọng.”

“Không thành vấn đề.” Sự thật là, đây chính xác là loại công việc không rủi ro mà đám đàn em ở ARM rất khoái. Chẳng có ai chĩa súng vào người cậu cả. “Tôi sẽ gọi một cú sang Paris nếu cậu thích. Chắc chắn sẽ sắp xếp được gì đó thôi.”

“Tốt.” Bates gật đầu, cứ như thể một cái bắt tay đã được thực hiện xong xuôi. Lại thêm một mục được gạch khỏi danh sách việc cần làm của cậu ta. “Chủ yếu tôi muốn mấy món bảo vệ vật lý. Cậu biết đấy — hàng rào, còi báo động, mấy thứ vớ vẩn kiểu đó.”

“Bọn tôi có một gã ở Athens chuyên lo vụ đó. Hắn không bao giờ báo giá qua điện thoại đâu, nhưng nếu cậu cho phép hắn ghé qua thị sát hiện trường, hắn sẽ định giá công việc cho cậu chuẩn xác đến từng đồng drachma. Kèm theo nhiều lựa chọn khác nhau. Nhưng khôn hồn thì cậu nên chọn gói cao cấp nhất của hắn. Cứ cò kè bớt một thêm hai là hắn xách dép lượn luôn đấy. Tôi chứng kiến hắn làm thế vài lần rồi.”

“Thế cái gọi là ‘hàng đỉnh’ đấy ngốn của tôi khoảng bao nhiêu?” Bates hỏi.

“Ừm, có những hệ thống cậu nhìn thấy được và những hệ thống cậu chẳng thấy gì.” Anh cười toác miệng. “Mấy thứ cậu không thấy được thì đắt tiền hơn.”

“Tôi bảo rồi, tôi cần thứ tốt nhất.”

“Thế thì chắc chắn cậu muốn dùng MAD rồi,” Vance nói, khóe mắt ẩn giấu một tia tinh nghịch.

Cậu ta quay sang, vừa bực bội vừa khó hiểu. “Cậu đang lảm nhảm cái quái gì thế?”

“Thiết bị phát hiện dị thường từ tính. Cậu chôn những sợi cáp truyền dẫn đặc biệt xuống dưới lòng đất, bao quanh vòng ngoài ranh giới, để chúng tạo ra một từ trường điện từ vô hình bao phủ xung quanh và phía trên vị trí của chúng. Bất cứ thứ gì — thậm chí không nhất thiết phải bằng kim loại — lọt vào từ trường đó đều sẽ làm biến dạng nó. Nếu cậu dùng hệ thống Sentrax, do một công ty ở Thụy Sĩ tên là Cerberus sản xuất, cậu có thể liên kết toàn bộ hệ thống đó với một bảng điều khiển trung tâm hiển thị sơ đồ vành đai bảo vệ ngay trên màn hình máy tính.”

“Nghe được đấy. Chắc sắp tới chúng ta đặt cả máy tính trong nhà vệ sinh luôn quá.”

“Không rẻ đâu nhé.”

Bates nhún vai đón gió biển. “Miễn là đám người các cậu không định cướp cả cửa hàng của tôi, tôi thấy chẳng có vấn đề gì. Tôi đã lên ngân sách cho an ninh rồi, và lúc nào chẳng có khoản tiền dự phòng.”

“Để tôi xem mình có thể làm gì.” Anh ngước nhìn lên và xác định mặt trời đã vượt qua xà ngang thuyền buồm. Nhưng dù chưa qua đi chăng nữa thì sao nào. Anh nhìn thấy viễn cảnh một khoản hoa hồng béo bở đang lờ mờ hiện ra trước mắt. “Làm chai Heineken nhé?” Anh với tay vào thùng giữ lạnh ở sàn trũng.

“Cậu đọc được suy nghĩ của tôi đấy.”

“Nhân tiện, muốn bật mí cho tôi vị trí chính xác của cơ sở đó không? Cậu đã che giấu thông tin đó khỏi mặt báo thành công suốt thời gian qua đấy. Tôi đoán chắc đó là một hòn đảo hoang không có người ở, đúng chứ?”

“Đoán chuẩn đấy. Nó nằm ở phía bắc đảo Crete, rộng khoảng hai mươi kilômét vuông. Đất tư nhân, nhưng tôi vừa mới ký một hợp đồng thuê dài hạn.”

Vance cố hình dung về nơi đó. Hầu hết các hòn đảo của Hy Lạp đều có địa hình bằng đá granite, chẳng mọc nổi thứ gì ngoài cây bụi gai. “Địa hình ở đó thế nào?”

“Đó mới chính là điểm thu hút tôi. Vách đá dựng đứng bao bọc khắp bờ biển — cậu đố lòng ghé vào nổi dẫu chỉ bằng một chiếc xuồng bơm hơi — và rồi có một vũng nước sâu thực sự tuyệt diệu. Nhưng phần tuyệt nhất là bên trong nội địa hầu như phẳng lì và hoàn hảo cho những gì chúng ta cần. Và có một ngọn núi đá granite ở một đầu rất lý tưởng cho hệ thống thu phát từ xa của chúng tôi.”

“Một vị trí cập bến được bảo vệ và một căn cứ thu phát từ xa tự nhiên.”

“Chuẩn. Toàn bộ thiết bị điện tử sẽ được lắp đặt trên cao phía trên cơ sở phóng, và chúng ta có thể tận dụng vũng nước đó để vận chuyển vật liệu vào. Chúng ta chỉ cần nạo vét thêm một chút và đóng cọc xuống là xong. Mọi thứ đang tiến triển rất tốt. Tôi đã đặt bút ký xong phần lớn các hợp đồng chính rồi.” Cậu ta trân trân nhìn đường chân trời xanh thẳm và điều chỉnh lại bánh lái. “Và tôi sẽ bật mí thêm cho cậu một bí mật nữa, Michael. Tôi đã dốc toàn bộ cơ ngơi vào ván bài này rồi đấy. Đợt phát hành cổ phiếu chẳng thấm vào đâu để tài trợ vốn cho toàn bộ doanh nghiệp cả. Tôi đã phải đi vay tiền từ mọi ngõ ngách trong thành phố — trái phiếu rác, mấy ngân hàng chết tiệt, đủ thứ trên đời. Riêng tiền phần cứng đã ngốn gần ba trăm triệu rồi. Thậm chí tôi còn thế chấp cả cổ phiếu của mình ở tất cả các công ty khác nữa. Nếu dự án này không cất cánh” — cậu ta cười lớn — “theo đúng nghĩa đen, thì tôi sắp sửa đi gia nhập vào đội ngũ vô gia cư của nước Mỹ rồi đấy. Tôi thậm chí còn đem thế chấp cả căn nhà của mình ở Arlington. Trị giá hai triệu đô, và tôi sở hữu đứt đoạn nó không vướng bận nợ nần gì. Giờ chắc tôi phải ngoan ngoãn giao chìa khóa nhà ra thôi. Dorothy mà biết chắc ả giết tôi mất.”

“Thế thì chúng ta phải đảm bảo không một tên tò mò nào bén mảng tới được.” Anh bật nắp một chai bia lạnh ngắt đưa cho Bates, rồi tự khui cho mình một chai. “Cả trên cạn lẫn dưới biển.”

“Trên cạn lẫn dưới biển.” Bates nâng chai bia xanh lạnh toát của mình lên chạm nhẹ.

“Nói đến đây lại nảy sinh một câu hỏi khá thú vị.” Anh nhấp một ngụm bia mát lạnh và sảng khoái. “Thế còn an ninh chống các mối đe dọa từ trên không thì sao? Máy bay bay qua, kiểu hành động thế ấy?”

“Cứ để chúng tới. Sẽ chẳng có cái quái gì để mà nhìn ngó đâu. Ngoại trừ bệ phóng và trạm thu phát, mọi thứ đều nằm dưới lòng đất. Có rất nhiều hang động trên hòn đảo này — giống như cái hang nổi tiếng ở Antiparos ấy. Chúng tôi sẽ dùng chúng làm phòng máy tính và khu vực lắp ráp. Còn chỗ nào tự nhiên không có sẵn, chúng tôi sẽ cho đào khoét thêm.”

Mọi chuyện bắt đầu nghe có vẻ hơi quá suôn sẻ rồi đấy, Vance thầm nghĩ. Nhưng đó chính là lý do những chuyên gia an ninh như họ tồn tại. Họ là những kẻ được trả tiền để vạch ra những lỗ hổng trong một dự án thế này...

Tuy nhiên, thứ cứ cắn rứt mãi trong tâm trí anh lại chính là câu nói “trả giá bằng đường bộ hay đường biển”. Từ trước đến nay, anh vẫn luôn lo ngại về nguy cơ đột nhập từ đường không. Phải chăng cuối cùng anh đã đúng?

Chương Ba

7 giờ 48 tối.

Ngồi tại Bàn Điều khiển Chính, chiếc bàn trung tâm đối diện với màn hình hiển thị lớn, Cally Andros vừa đi đến một kết luận. Cô đang già đi. Chỉ còn hai tuần nữa là đến sinh nhật tuổi ba mươi lăm, rồi thêm vỏn vẹn năm năm khốn khổ nữa là chạm mốc bốn mươi tròn. Sau đó cô sẽ chỉ có thể mong chờ vào một cuộc chiến giữ gìn trận địa, chống lại làn da chảy xệ và những nếp nhăn đuôi cá. Xây những con đê để ngăn chặn dòng lũ thời gian.

Thật là chán nản.

Cô nhấp một ngụm cà phê đen đựng trong chiếc cốc in logo của SatCom, hình con mắt laser của Cyclops, và thiếu kiên nhẫn gõ nhịp các ngón tay lên bàn phím máy tính trạm, cố gắng không để bản thân bị phân tâm bởi những suy ngẫm về sự hữu hạn của đời người. Đêm nay, lần đầu tiên họ sẽ chạy thử cuộn siêu dẫn hết công suất, trong cuộc thử nghiệm quan trọng nhất từ trước tới nay của họ. Các đội kỹ thuật ở đầu bên kia của hòn đảo dự đoán nó sẽ đạt đỉnh công suất trong vòng — cô liếc nhìn chiếc đồng hồ kỹ thuật số khổng lồ gắn trên bức tường màu xanh lam ngay cạnh màn hình — hai mươi bảy phút nữa...

Có gì không ổn với cô thế nhỉ? Cô đã ngẫm nghĩ về điều đó rất nhiều và đi đến kết luận là chẳng có gì bất ổn cả. Cô sở hữu đôi mắt thẫm màu của người Hy Lạp, làn da ngăm bánh mật và một vóc dáng chuẩn mực khiến thời gian phải ngừng trôi — một số đo hoàn hảo cỡ tám. Nhưng tuyệt hơn thế nữa. Cô sở hữu đôi chân đẹp nhất trên đời. Tuyệt vời nhất quả đất. Dù chúng không nhất thiết làm đồng hồ ngừng quay, nhưng chắc chắn chúng đã làm chậm lại khối lượng giao thông qua lại suốt bao năm qua.

Không, vấn đề của cô nằm ở cơ hội. Trong khi trên giấy tờ, hòn đảo này chính là giấc mơ của mọi cô gái — đàn ông bị kẹt lại đây từng đống — thì tất cả những gã đàn ông hấp dẫn và thú vị lại hoặc là quá trẻ, hoặc là quá già, hoặc quá ngu ngốc, hoặc đã có vợ. Hơn nữa, những người trong phòng điều khiển — phần lớn là các tiến sĩ độ tuổi cuối hai mươi — chỉ nhìn nhận cô dưới cái tên Tiến sĩ C. A. Andros, Giám đốc Điều hành. Dường như có một bất thành văn trong phòng Điều khiển rằng người ta không được phép tơ tưởng đến sếp nữ. Bất kỳ ai có thể điều hành dự án này đều phải được đối xử với một khoảng cách đúng mực dành cho quyền lực. Nhất là khi họ tin rằng tất cả những gì cô quan tâm chỉ là công việc.

Cảm ơn đời nhé, bất cứ kẻ nào đã nghĩ ra cái luật lệ quái quỷ đó.

Điều tệ hại nhất là họ đúng một nửa. Cô chẳng muốn bản thân mình xuất hiện ở bất kỳ nơi nào khác trên trái đất này vào lúc này, có đàn ông hay không cũng mặc kệ. Cô đang chiếm giữ trung tâm của vũ trụ, đang đứng trước cơ hội ăn trọn vẹn tất cả mà năm năm trước cô chỉ dám mơ mộng, hồi cô vẫn còn đang đấu tranh với những tên quan liêu vô cảm ở NASA. Với Dự án Cyclops, cô đang vận hành một canh bạc trị giá nửa tỷ đô la cho giải thưởng lớn cuối cùng của thế kỷ hai mươi. Dù cô có sống đến trăm tuổi đi nữa, sẽ chẳng bao giờ có thứ gì tuyệt vời nhường này được trao tận tay cô lần thứ hai.

Sinh ra với cái tên Calypso Andropolous ba mươi tư năm trước, là con gái của những người nông dân Hy Lạp kiên cường, cô đã học cách tin tưởng vào bản thân bằng một niềm tin mãnh liệt, không gì lay chuyển nổi. Tuy nhiên, cho đến tận bây giờ, cô chưa bao giờ thực sự có cơ hội để kiểm chứng niềm tin đó. Cho đến tận bây giờ.

Đó không phải là một hành trình dễ dàng. Sau khi lấy bằng tiến sĩ kỹ thuật hàng không vũ trụ tại Cal Tech, cô đã chật vật leo lên qua guồng máy quan liêu của Trung tâm Không gian Kennedy thuộc NASA để đạt đến vị trí nhà phân tích trưởng. Nhưng cô chưa bao giờ chạm tới được thứ gì vượt quá một công việc bàn giấy. Cô muốn nhiều hơn thế, nhiều hơn thế rất nhiều. Giờ đây, nhờ có SatCom, chỉ ba ngày nữa cô sẽ có được điều đó. Sử dụng một tia laser vi sóng mười lăm gigawatt có biệt danh là Cyclops, cô sắp đưa SatCom vươn lên vị trí tiên phong trong cuộc đua tư nhân hóa không gian.

Trớ trêu thay, công ty lại xây dựng sân bay vũ trụ của mình cách nơi sinh ra cô trên đảo Naxos chưa đầy ba mươi kilômét. Cô thường suy ngẫm về những trò đùa của số phận: đôi khi bạn buộc phải quay trở về nhà để thay đổi tương lai. Giờ đây cô hầu như chẳng còn nhớ gì nhiều về hòn đảo nhỏ gồ ghề đó nữa; những hình ảnh đã mờ nhạt và mang màu sắc lãng mạn hóa thái quá. Thời điểm đó gắn liền với giai đoạn tập đoàn quân sự cực hữu cánh hữu nắm quyền ở Hy Lạp. Ngay sau đó, cha mẹ cô đã di cư; họ cùng cô con gái chín tuổi hòa vào làn sóng di cư ồ ạt của những người Hy Lạp yêu chuộng tự do tới New York. Họ mới đặt chân tới đó được ba tháng thì cha cô qua đời — bệnh viện nói là do viêm phổi; còn cô biết thừa đó là nỗi đau thương nhớ quê hương Hy Lạp và tất cả những gì ông đã đánh mất. Ông yêu nơi đó hơn cả sinh mạng mình. Cô sợ rằng, tận sâu thẳm trong góc khuất nào đó trong tâm hồn mà cô chẳng mấy khi lui tới, ông còn yêu đất nước ấy hơn cả yêu cô. Thế nên dọc theo hành trình trưởng thành, cô đã cố gắng quên sạch mọi thứ, chôn vùi ký ức về Hy Lạp. Và giờ thì cô lại quay trở lại đây. Ở New York, Cally Andropolous đã, dẫu có muốn hay không, không ngừng nghĩ về Hy Lạp; còn khi đã trở lại nơi này, tất cả những gì cô có thể nghĩ tới lại chính là New York.

Ký ức sâu đậm nhất là căn hộ tầng ba của một tòa nhà tập thể không có thang máy nằm trên Đại lộ Số Mười và Phố Bốn mươi Chín, một khu vực nổi tiếng với biệt danh "Nhà bếp của Địa ngục" — và cái tên đó hoàn toàn có cơ sở của nó. Các trường học ở đó được thiết kế để biến tất cả những đứa trẻ bị kẹt lại bên trong thành những kẻ rối loạn nhân cách; chỉ có Trường Trung học Khoa học Bronx nổi tiếng của New York, một trong những cơ sở công học tốt nhất và có tính cạnh tranh khốc liệt nhất quốc gia, mới mang đến một lối thoát khỏi cơn ác mộng đó.

Được nhận vào trường năm mươi ba tuổi, Calypso Andropolous tốt nghiệp đứng thứ ba trong lớp. Cho dự án khoa học cuối cấp của mình, cô đã chế tạo ra một tên lửa nhiên liệu rắn, sử dụng, như người ta vẫn thường nói, những hóa chất thông thường trong gia đình. Và cô đã làm tất cả điều đó một mình, với một chút giúp đỡ từ một cậu bé người Pháp gốc Canada gầy gò tên là Georges LeFarge, sống cùng mẹ ở Soho.

Vào thời điểm đó, cô biết chính xác bản thân muốn gì. Tham vọng của cô là trở thành người phụ nữ đầu tiên bay vào vũ trụ.

Chẳng ai bảo mọi chuyện sẽ dễ dàng cả. Nhưng sau quả tên lửa đó — cô và Georges đã phóng nó từ Bến tàu Phố Morton ở Greenwich Village — cô cảm thấy mình đang đi đúng hướng. Cô đã trổ mã — theo mọi nghĩa, điều khiến cô vô cùng bực bội — nhanh hơn Georges rất nhiều. Ở tuổi mười bảy, quan hệ tình dục trong suy nghĩ của cậu ta vẫn chỉ là trao đổi các công thức hóa học. Thế nên cuối cùng cô đành từ bỏ việc coi cậu ta là người tình và quyết định chờ đến khi lên đại học.

Cô chọn Cal Tech, quyết định được đưa ra sau khi từ chối giấy mời nhập học từ nửa tá trường đại học danh tiếng ở miền Đông. Khi ấy, Calypso Andropolous đã quyết định cô muốn rời xa Phố Bốn mươi Chín Tây càng xa càng tốt. Và cô thề sẽ không bao giờ muốn nhìn thấy món moussaka cà tím nào nữa chừng nào còn sống trên đời.

Cô cũng muốn một cái tên ngắn gọn hơn, và đó là lý do họ tộc dài ngoằn ngoèo gốc Hy Lạp của cô đơn giản được rút gọn thành Andros. Sự thay đổi đơn giản đó mang lại một hiệu ứng giải phóng cho cô vượt xa mọi kỳ vọng. Cuối cùng cô cũng cảm thấy mình thực sự là một người Mỹ... và có thể thoải mái thừa nhận rằng chẳng gì tuyệt vời hơn việc sống nhờ bánh Whoppers và khoai tây chiên. Đồ ăn vặt thực ra là thứ cô nhớ nhất khi ở đây. Không, thứ cô nhớ nhất chính là Alan. Vẫn là anh ấy.

Georges đã chọn học MIT, và cô đã không gặp lại cậu ta cho đến khi cậu ta đến Cal Tech học cao học. Vào thời điểm đó, cô đã vướng vào một mối tình sâu đậm với Alan Harris, một người lớn hơn cô tận hai mươi tuổi. Cô đang khám phá ra những khía cạnh của bản thân mà cô thà rằng mình không bao giờ biết đến. Harris là một giáo sư sinh hóa, cao lớn với vẻ đẹp trai nam tính nhuốm màu phong trần, và cô khao khát đến phát điên được sống chung với anh ta. Cô thừa nhận anh ta là một gã trăng hoa khét tiếng nhưng điều đó chẳng hề gì. Cô đang tìm kiếm hình bóng người cha đã mất và cô chẳng bận tâm điều đó. Đó là những gì cô muốn.

Khi anh ta phũ phàng cắt đứt quan hệ, cô tưởng mình muốn chết quách đi cho rồi. Người duy nhất còn lại để cô có thể bấu víu tìm đến chính là Georges. Và họ nối lại tình bạn trong sáng thuần khiết hệt như thời ở trường Bronx Science, dù lần này nó sâu sắc hơn nhiều. Georges khuyên cô hãy quên Harris đi và tập trung hoàn toàn vào một bản luận văn xuất sắc.

Đó không phải là một thử thách dễ dàng, nhưng cô đã làm được. Dự án của cô xoay quanh việc nén một chương trình máy tính cồng kềnh chuyên tính toán quỹ đạo tàu vũ trụ thành một chương trình nhỏ gọn có thể chạy mượt mà trên chiếc máy tính cầm tay Hewlett-Packard. Sau đó, cô phát triển một phương thức tạo ra các lệnh bằng giọng nói giúp giải phóng đôi tay của phi hành gia — mà chẳng mấy chốc nữa, cô tự nhủ, người đó sẽ chính là cô — trong khi anh ta bận xử lý các bảng điều khiển khác.

Sau khi ngấu nghiến đọc mọi báo cáo của NASA mà cơ quan NTIS phát hành dưới dạng vi phim (microfiche), cô biết chắc chắn không một ai ở đó từng tạo ra thứ gì tương tự. Cô cũng nhận ra rằng NASA là một cái ổ của những kẻ chạy đua danh lợi, ai nấy đều khư khư giữ chặt địa hạt của mình. Chướng ngại vật duy nhất ngăn cản họ chấp nhận chương trình máy tính mới của cô chính là hội chứng NIH — Không phải do chúng tôi phát minh (Not Invented Here). Hóa ra cô đã đúng, mà cũng đồng thời sai.

Nhờ một cơ duyên may mắn, bản luận văn của cô lọt vào mắt xanh của Tiến sĩ Edward Olberg, phó giám đốc bộ phận điều khiển quỹ đạo tại Trung tâm Không gian Kennedy, người đã tuyển dụng cô chỉ một tuần sau đó, với hệ số lương GS cao hơn hẳn hai bậc so với thông thường. Ông ta là kẻ biết nhìn nhận nhân tài khi đối mặt với nó. Và giờ đây, công việc lập trình máy tính của Tiến sĩ Cally Andros chính thức là sản phẩm của một nhân viên NASA. Chấm dứt mọi rắc rối. Cô vẫn khao khát được tham gia chương trình phi hành gia, nhưng cô tự nhủ mình đã có một khởi đầu vô cùng tốt đẹp.

Cô đã nhầm. Hóa ra cô quá có giá trị trong bộ phận định hướng để họ có thể buông tay thả cho đi. Cô xuất bản rất nhiều bài báo khoa học, ngày càng trở nên vỡ mộng, và đã ở bờ vực tuyên bố tống cổ bọn chúng đi cho rảnh nợ thì...

Một giám đốc điều hành mà cô chưa từng nghe tên, tên là William Bates, gọi điện đến vào một buổi sáng tháng Năm ba năm trước, nói rằng ông đã đọc tất cả các bài báo của cô, rồi chìa ra một lời mời làm việc khiến cô phải tạm hoãn lại những giấc mơ bay vào vũ trụ của mình. Ông muốn cô đứng đầu một chương trình không gian tư nhân. Cô quá tài năng để làm thuê cho chính phủ, ông nói thế. Cô nên vươn ra thế giới thực ngoài kia, nơi vạn vật thực sự chuyển động.

Khi hoàn hồn sau cú sốc, cô cảm nhận được một xúc cảm mà cô chưa từng trải qua kể từ ngày đầu tiên bước chân đến trường Bronx Science — cô thấy sợ hãi. Trong thế giới kinh doanh, những trách nhiệm vô cùng rạch ròi và mang tính sinh tử. Bạn không đang đốt tiền của những người nộp thuế vô danh nào đó: đó là tiền mặt thực sự. Hơn thế nữa, trách nhiệm của bạn nhân đôi. Bạn không chỉ phải làm cho nó hoạt động trơn tru, mà còn phải tạo ra lợi nhuận. Cô say mê thách thức đó, nhưng đồng thời cũng run rẩy trước rủi ro khổng lồ đi kèm.

Cuối cùng cô đã đồng ý ký hợp đồng. Vâng, cô sẽ từ bỏ một sự nghiệp ăn chắc mặc bền để đổi lấy một canh bạc mủi rủi ro, nhưng với hai điều kiện. Đầu tiên, cô được quyền tự tay tuyển chọn đội ngũ nhân sự của mình; và thứ hai, một ngày nào đó cô phải được tự mình bay lên vũ trụ.

Mặc dù rõ ràng nghĩ rằng yêu cầu thứ hai nghe có vẻ hơi viển vông đối với SatCom, ông ta vẫn gật đầu đồng ý cả hai...

“Tình hình thế nào rồi, Cally?” Bates sải bước tiến vào Phòng Chỉ huy, vừa bước ra từ văn phòng của mình ở tận góc bên kia căn phòng rộng thênh thang như hang động. Đã bước sang tuổi năm mươi, mái tóc điểm bạc nhưng vóc dáng gọn gàng, ông mặc chiếc áo sơ mi trắng mở cổ đặc trưng và quần âu xanh — phảng phất phong cách của một tay chơi du thuyền, ngay cả khi đang ở trên đất liền. Từng là một phi công tiêm kích tham chiến ở chiến trường Việt Nam, ông đã bay chiếc Gulfstream IV của công ty cất cánh từ trụ sở chính ở Arlington, Virginia hai ngày trước — đáp xuống Athens — để túc trực tận nơi khi phương tiện đầu tiên, VX-1, được phóng lên. Khi sải bước tới gần, ông vẫn giữ nguyên vẻ cằn nhằn quen thuộc, dường như chưa bao giờ thấy hài lòng với bất cứ chuyện gì đang diễn ra.

Cô đưa mắt đánh giá ông và kìm nén cái xung đột khủng khiếp đôi khi trỗi dậy trong đầu là gọi ông ta bằng cái tên Alan. Ông ta nóng tính hệt như cách Alan Harris từng thế, và sở hữu chất giọng cộc lốc y hệt. Ngoài những điểm đó ra, họ hoàn toàn chẳng có điểm gì giống nhau. Bộ óc con người đôi khi hoạt động thật kỳ lạ.

“Tiến trình đếm ngược của Cyclops đang diễn ra chuẩn xác từng xu, Bill. Chuẩn đến từng giây. Cỗ máy Big Benny đang vận hành trơn tru và nhiệt độ cuộn dây ở mức tiêu chuẩn. Georges khẳng định lần này chắc chắn sẽ suôn sẻ. Chúng ta sẽ đạt đến các mức công suất cần thiết để bắn tia laser.” (Họ từng thử nghiệm tăng công suất sơ bộ hai lần trước đó, nhưng siêu máy tính đều tự động ngắt hệ thống vào giờ chót của buổi đếm ngược trong cả hai lần). “Xem ra đêm nay chính là thời điểm chúng ta gặp vận may.”

Georges LeFarge vẫn luôn đóng vai trò là trợ lý cá nhân của cô trong suốt dự án, mặc dù danh chính ngôn thuận cậu ta đứng đầu bộ phận máy tính. Dạo này cậu ta vẫn giữ nguyên vẹn vóc dáng gầy gò, gần như hốc hác, với bộ râu lồm xồm cố tình để phất phơ không thèm cắt tỉa hệt như hồi còn ở Cal Tech. Bates đã ban ơn cho cậu ta chức danh Giám đốc Hệ thống Máy tính, điều này hoàn toàn trái khoáy với tư tưởng chính trị cánh tả của cậu ta. Lương tâm của cậu ta muốn cậu ta phải làm nô lệ cho giai cấp tư bản bóc lột, chứ quyết không đứng chung hàng ngũ với bọn chúng. Tuy nhiên, cậu ta chưa bao giờ từ chối việc đem cất các tấm séc tiền thưởng vào ngân hàng. Cậu ta đã tán tỉnh Cally, gửi gắm qua lại những lời nhắn nhủ trên màn hình máy tính trạm của Fujitsu suốt hai năm qua. Cuối cùng cô cũng đã đồng ý cho cậu ta một cơ hội; và kết quả là thảm họa trên mọi mặt trận. C'est la vie (Đời là thế mà).

Vào khoảnh khắc này, cậu ta đang hòa mình vào biển nhân viên kỹ thuật mặc áo sơ mi tay ngắn đang dán chặt mắt vào các màn hình máy tính tại Trung tâm Chỉ huy, trung tâm đầu não của toàn bộ dự án. Những người lao động trẻ tuổi người Mỹ đều làm việc trong một căn phòng rộng tương đương ba sân quần vợt, với các dãy bàn làm việc màu be nhạt dành cho nhân viên và ba màn hình chủ khổng lồ gắn ở bức tường phía cuối phòng. Ánh đèn huỳnh quang dịu nhẹ, những bức tường màu xanh nhạt vui mắt dán đầy poster cùng logo hình con mắt laser SatCom khổng lồ, những âm thanh du dương của ban nhạc Pink Floyd văng vẳng phát ra từ chiếc loa nào đó ở góc phòng, và dòng không khí lưu thông mang theo thoang thoảng mùi vị của biển cả — tất cả tạo nên một môi trường hoàn hảo cho mười chín công nhân trẻ tuổi đang ngồi cách đều nhau một cách thoải mái tại các dãy bàn làm việc trong ca trực tối nay.

Khi họ cùng chăm chú theo dõi, cuộn siêu dẫn liên tục bơm những luồng xung năng lượng ngày càng lớn vào cỗ máy gia tốc, kích thích nó hoạt động mạnh mẽ. Ở mức mười hai gigawatts, Cyclops sẽ — nếu mọi chuyện diễn ra suôn sẻ — bắt đầu phát tia laser.

Cuộn dây, một khái niệm mang tính cách mạng hoàn toàn mới để lưu trữ năng lượng điện, được đặt sâu trong phần lõi của hòn đảo. Đây là một hệ thống lưu trữ gần như hoàn hảo, cho phép một dòng điện khổng lồ tuần hoàn vô thời hạn mà không gặp bất kỳ điện trở nào, luôn sẵn sàng để tạo ra những xung năng lượng khổng lồ tính bằng microsecond (phần triệu giây). Trái tim của hệ thống là một cuộn cảm ứng điện từ có đường kính 350 thước và cao 50 thước được chôn sâu vào một hang động tự nhiên nằm trong tầng đá gốc của hòn đảo. Bản thân cuộn dây được làm từ một hợp chất hợp kim niobi-titan hoàn toàn mới có khả năng siêu dẫn, lưu trữ điện năng mà không chịu tổn thất điện trở nào ở nhiệt độ của nitơ lỏng. Một bình chứa chân không trông hệt như một chiếc phích đựng nước nóng khổng lồ bao bọc lấy cuộn dây cùng bể dung dịch làm lạnh đông của nó.

Cuộn dây cung cấp năng lượng cho một cỗ máy gia tốc hạt đóng vai trò vận hành tâm điểm của tổ hợp — Cyclops — một tia laser electron tự do được thiết kế để chuyển đổi năng lượng tích trữ trong cuộn dây thành các xung vi sóng đồng bộ cực mạnh. Siêu máy tính sau đó sẽ tập trung các xung này thông qua các ăng-ten mảng pha để phóng thẳng vào đơn vị đẩy của phương tiện không gian. Đơn vị đó chứa đá khô đơn giản — thứ duy nhất đơn giản trong toàn bộ hệ thống — sẽ bị biến đổi thành dạng plasma bởi năng lượng nhiệt và giãn nở mạnh mẽ, tạo ra lực đẩy cho phương tiện bay.

“Cally, chúng ta đã đạt mười phẩy ba gigawatts,” LeFarge tự tin thông báo. Cậu ta vừa lơ đễnh vuốt ve chòm râu lơ thơ của mình. “Năng lượng vẫn đang duy trì ổn định.”

“Tốt.” Cô dõi theo các thông số hiển thị trên màn hình máy tính ngay trước mặt khi những con số tiếp tục cuộn trôi. Nếu Cyclops hoạt động đúng như những gì các kỹ sư đã dự báo, cỗ máy laser mạnh nhất hành tinh sắp sửa đạt tới ngưỡng phản ứng dây chuyền tới hạn. Một cảm giác phấn khích chạy dọc sống lưng cô.

Ý tưởng này thực sự thiên tài. Bằng cách định hướng thẳng năng lượng vào một phương tiện không gian, bạn giữ lại được toàn bộ nhà máy cung cấp năng lượng cho các tên lửa của nó ngay dưới mặt đất. Không giống như các loại tên lửa thông thường, trọng lượng của phương tiện sẽ hầu như chỉ là tải trọng hữu ích, thay vì gần như toàn bộ là nhiên liệu. Nó sẽ cắt giảm chi phí phóng bất kỳ thứ gì xuống ít nhất một trăm lần...

Lúc này, một màn hình dao động ký màu xanh lá cây nằm cạnh các màn hình máy tính đang hiển thị quá trình tích tụ năng lượng, một đường cong hình sin đang từ từ tăng dần tần số.

“Mười một phẩy một,” Georges thông báo, chật vật kìm nén một nụ cười toe toét hồn nhiên như trẻ con. “Mọi thông số vẫn đang ở mức tiêu chuẩn.”

Cally liếc nhìn màn hình. “Cứ cầu trời khấn Phật đi. Sắp tới đích rồi đấy.”

“Nhân tiện,” Bates xen vào, “giả sử mọi chuyện ở đây diễn ra tốt đẹp tối nay và cơn bão chịu tạnh ráo, tôi đã lên lịch bay bằng chiếc Agusta sang Kythera vào sáng mai. Một người bạn của tôi đi thuyền gần vùng đó, và tôi đang hơi lo lắng. Tôi vừa thử liên lạc với cậu ta qua bộ đàm mà chẳng thấy hồi âm. Có lẽ máy của cậu ta bị ngập sóng rồi, nhưng tôi muốn qua tận nơi xem thế nào.” Ông quay người định bước về phía văn phòng của mình. “Tuy nhiên, lúc này tôi đang có mấy cuộc gọi nối sang Tokyo. Thế nên hãy liên tục cập nhật cho tôi tiến trình đếm ngược, cùng với tình hình thời tiết nhé.”

Lại thêm mấy nhà đầu tư nữa đây, cô tự nhủ thầm trong đầu. Lại đi xin xỏ. Điều đó có nghĩa là dòng vốn lại sắp cạn kiệt đến nơi rồi đây. Nhưng hãy cố chịu đựng thêm vài ngày nữa thôi, Bill, rồi chúng ta sẽ cho thế giới thấy thế nào là lễ độ. Bọn chúng sẽ phải khẩn khoản cầu xin cậu cho phép được đầu tư đấy cho mà xem.

“Tôi ghé qua chỉ để tiếp thêm tinh thần cho cô thôi,” Bates tiếp tục, khựng lại, “và để nói rằng tôi nghĩ cô đang hoàn thành công việc một cách xuất sắc.”

“Lại định xỏ xiên nhân viên nữa đấy à?” Cô bật cười, không chắc lắm liệu mình có nên tin vào giọng điệu đó hay không.

“Sao lại không chứ? Miễn phí cơ mà.” Một cái cau mày xuất hiện. “Nhưng nhớ tiếp tục phát huy phong độ tốt nhé.” Ông móc ra một chiếc túi đựng thuốc lá bằng da từ chiếc áo blazer xanh của mình và bắt đầu lúi húi nhồi thuốc vào chiếc tẩu bằng gỗ thạch nam nặng trịch. Cô định mở miệng nhắc ông vui lòng đừng hút thuốc ở đây khi xung quanh toàn là những trạm máy tính Fujitsu nhạy cảm, nhưng rồi lại thôi, đằng nào đó chẳng phải là máy tính của ông ta sao. “Nếu cái món này cất cánh thật, theo đúng nghĩa đen, tôi sẽ thưởng cho cô một quyền chọn mua cổ phiếu cực khủng. Thêm một suất nữa. Vì đã phải chịu đựng tôi đấy.”

“Đổi thành một lọ thuốc giảm đau được không?” Cô làm bộ mặt nhăn nhó. “Tôi chẳng có thời gian đâu mà tiêu số tiền đó.”

“Tôi lo nốt cả khoản đó luôn cho. Sau khi vụ này kết thúc, tôi sẽ thuê một gã trai bãi biển người Hy Lạp bắt cóc cô đến một hòn đảo hoang vắng nào đó nơi chỉ có đúng một cách duy nhất để giết thời gian.” Ông cười nhăn nhở đáp trả, một nếp nhăn tinh quái thoáng hiện lên vùng da rám nắng ở khóe mắt. “Hơi hai chục năm về trước có lẽ tôi đã tự mình làm điều đó rồi đấy.”

“Vẫn nuôi hy vọng đưa tôi lên giường cơ à?” Cô ném về phía ông ánh nhìn ra chiều kinh ngạc nhất có thể, và cả hai cùng bật cười ha hả. Luồng điện kích thích giới tính luôn tồn tại ở đó, cho dù bất kỳ ai trong số họ có muốn thừa nhận hay không.

“Thời gian và địa điểm nào thì cũng có giá trị riêng của nó,” ông nói tiếp, thể hiện rõ việc vừa có thể bóng gió vừa có thể nói thẳng thừng cùng một lúc. “Cô đang làm việc quá sức rồi đấy, rõ chưa.”

“Tôi không dám nhận hết công lao đâu.” Cô thừa nhận thời điểm nào nên khiêm tốn và khi nào nên lái sang chuyện khác thật nhanh. “Chúng ta nợ tất cả những điều này là nhờ vào fan hâm mộ cao tuổi nhất còn sống của câu lạc bộ Red Sox.”

Ý cô muốn nhắc tới Isaac Mannheim, vị giáo sư MIT đã nghỉ hưu mà ý tưởng động lực mang tính cách mạng của ông đã biến toàn bộ dự án này thành hiện thực. Vào năm 1969, ông từng trình diễn khái niệm laser đặt trên mặt đất của mình trước NASA, nhưng họ đã thoái thác, viện cớ rằng họ đã đầu tư quá nhiều tiền vào các loại tên lửa hóa học truyền thống. Nhưng ông biết chắc nó sẽ hoạt động tốt, biết rằng nó sẽ thay đổi cách nhân loại sử dụng không gian, thế nên ông đã mang ý tưởng đó đến gặp nhà tư nhân William Bates và ngỏ ý nhường lại các bằng sáng chế để đổi lấy một phần lợi nhuận. Bates vô cùng ấn tượng. Ông chấp nhận lời đề nghị đó, gây quỹ thành công, rồi tuyển dụng vị kỹ sư hàng không vũ trụ giỏi nhất mà ông có thể tìm thấy để đứng đầu dự án. Họ kết hợp lại thành một đội ngũ hoàn hảo không tì vết.

Mannheim, với mái tóc trắng bồng bềnh cùng những bộâu phục vải tu-e, nay đã ở độ tuổi bảy mươi và đang tận hưởng cuộc sống nghỉ hưu ở Cambridge, Massachusetts. Ông có lịch bay đến đây vào ngày mai, kịp lúc chứng kiến màn phóng thử đầu tiên của một phương tiện kích thước thật. Mỗi khi ông đáp xuống Athens, Cally luôn điều chiếc trực thăng Agusta của công ty đi đón ông. Một tập đoàn hạng nhất, cô nghĩ thế, thì phải hành xử ra dáng một tập đoàn hạng nhất chứ.

“Nếu việc khởi động tăng áp Cyclops tối nay diễn ra suôn sẻ không vướng bận gì, thì chúng ta sẽ có vô số tin vui để báo cáo với ông ấy trong chuyến đi lần này,” Bates nói. “Tôi sẽ để cô làm người thuyết trình cho ông ấy nghe.”

“Ồ, thế nào ông ấy chẳng nắm rõ mọi thứ trước khi đặt chân tới đây. Ngày nào ông ấy chẳng gọi điện cho tôi vào lúc 17 giờ chiều theo giờ của chúng ta để kiểm tra tình hình. Tôi hoàn toàn có thể dùng giờ của ông ấy để chỉnh đồng hồ đeo tay luôn ấy chứ.”

“Isaac giống như tiếng nói từ lương tâm của chúng ta vậy, lúc nào cũng giục giã chúng ta phải làm việc chăm chỉ hơn và hoàn thiện hơn. Chà, thật đáng hoan nghênh ông cụ.” Ông mỉm cười và bật chiếc bật lửa bằng vàng. Nhóm kỹ thuật viên trẻ tuổi quanh phòng ném về phía ông cái nhìn không mấy bằng lòng, nhưng vẫn giữ im lặng. Sếp thì vẫn là sếp. Hơn nữa, tất cả mọi người trong phòng Chỉ huy, đang đứng chực chờ trước màn hình của mình, còn có những chuyện khác quan trọng hơn để lo lắng.

8 giờ 22 tối.

Eric Hamblin, cựu cư dân Sweetwater, Texas, đã làm bảo vệ cho SatCom suốt hai năm rưỡi qua và cậu rất yêu công việc này. Cậu mới hai mươi bốn tuổi, một sinh viên đại học bỏ học giữa chừng của thập niên 80 đầy cuồng nhiệt, người có đặc quyền dành trọn những buổi chiều lang thang trên một trong những hòn đảo đẹp nhất Hy Lạp. Cậu cao, gầy và sở hữu làn da rám nắng hoàn hảo. Trong những dịp cuối tuần ghé thăm đảo Crete, cậu suýt chút nữa có thể bị nhầm là người Pháp khi la cà tán tỉnh đám khách du lịch nữ người Đức đang nằm phơi mình trên bãi cát trong những bộ bikini hai mảnh siêu nhỏ.

Tối nay cậu bắt đầu ca trực lúc bảy giờ — thực ra là muộn hơn vài phút so với giờ quy định, bởi vì cậu bận tám chuyện điện thoại với một cô bé người Dresden mà cậu từng hứa hẹn mấy lời thề non hẹn biển. Cô bé muốn quay lại Crete vào cuối tuần này để lặp lại từ đầu tất cả những chuyện đó. Cậu nhe răng cười thỏa mãn, tự trêu chọc bản thân xem liệu mình có đủ sức khỏe dẻo dai để kham nổi không.

Cậu thở dài, rồi thong thả tản bộ dọc theo vành đai phía đông. Hệ thống an ninh ở đầu này của hòn đảo rất tốt, cũng giống như ở mọi nơi khác: hàng rào lưới thép cao kều được giăng thép gai sắc bén phía trên và cài đặt hệ thống báo động điện tử. Tất nhiên là bạn chẳng thể nhìn thấy hết tất cả các thiết bị an ninh, điều đó có nghĩa là nơi này không hề mang lại cảm giác tù túng hay đáng sợ chút nào. Điều đó cực kỳ hợp ý cậu. Cậu đeo một khẩu súng lục .38, nhưng chủ yếu là để làm cảnh cho oai. Cậu không chắc mình có bắn trúng nổi thứ gì không nếu — lạy Chúa — lỡ có lúc phải rút nó ra dùng thật.

Hơn thế nữa, hòn đảo được bao quanh bởi những dặm dài mênh mông nước, là vùng biển Aegean xanh thẳm. Khung cảnh đúng là một thiên đường chết tiệt, và cậu say sưa tận hưởng nó. Biển, cát, và — vào những dịp cuối tuần — những cô nàng nóng bỏng người Đức sẵn sàng dâng hiến. Còn ai có thể đòi hỏi gì hơn thế nữa?

Andikythera quả thực là một tấm áp-phích du lịch bước ra đời thực. Dù hòn đảo vẫn thuộc quyền sở hữu của nhà tài phiệt đóng tàu người Hy Lạp Telemachus Viannos, như một phần trong khoản đầu tư lớn của ông vào công ty, Bates đã đàm phán thành công hợp đồng thuê dài hạn cho SatCom, và ngay khi đội ngũ nhân viên kỹ thuật bắt đầu kéo đến, một số ít người chăn cừu Hy Lạp trên đảo đã được di dời đến sinh sống thoải mái ở Paros. Công tác xây dựng bắt đầu gần như ngay lập tức sau khi Bates tiếp quản, và chẳng mấy chốc nơi đây trông hệt như một phòng thí nghiệm khổng lồ của Cal Tech. Mọi thứ từ Big Benny, siêu máy tính Fujitsu của SatCom, cho đến hệ thống lắp đặt vi sóng mảng pha đều đạt tiêu chuẩn tối tân nhất thời đại. Tại đây, SatCom đã kiến tạo nên một cơ sở phóng nằm trong phạm vi mười độ vĩ tuyến so với Mũi Canaveral, hoàn toàn được bảo vệ an ninh tuyệt đối khỏi nạn gián điệp công nghiệp, và có vị trí hoàn hảo để phóng lên một mạng lưới vệ tinh truyền thông quy mô lớn.

Ngay cả lúc này, hòn đảo vẫn giữ được vẻ đẹp kỳ lạ đến khó tin — những vách đá trắng sắc cạnh nhô ra sát vùng biển xanh ngắt, rồi vươn cao lên thành những dải đá granite gồ ghề hướng về phía đỉnh duy nhất ở một đầu, nơi các ăng-ten truyền dẫn mảng pha đang sừng sững tọa lạc. Bầu không khí trong trẻo không tì vết lấp lánh dưới ánh nắng ban mai, rồi chín muồi chuyển sang sắc hồng rực rỡ vào lúc hoàng hôn. Vì mục đích an ninh và an toàn, cũng như tính thẩm mỹ, các tổ hợp công nghệ cao chủ yếu đã được cất giấu kiên cố sâu trong phần lõi của hòn đảo. Khu vực Chỉ huy nằm ở một đầu, ẩn sau những cánh cửa an ninh được niêm phong kín kẽ, và một đường hầm từ đó dẫn thẳng xuống nhà máy điện, được lắp đặt sâu tới một trăm năm mươi mét dưới mực nước biển. Việc canh gác mảnh thiên đường nhỏ bé này hóa ra dễ như trở bàn tay...

Hamblin gãi cổ và tiếp tục lê bước qua lớp cát. Cậu căm ghét đôi giày bắt buộc phải mang và ao ước được đi chân trần, tháo cục chun buộc đuôi ngựa để mái tóc màu cát xõa tung bay tự do xung quanh...

Cái gì thế nhỉ? Vành đai phía đông hoàn toàn tối thui, nhưng cậu chợt bắt được một thứ âm thanh nghe có vẻ gần giống như... gì nhỉ? Một chiếc trực thăng đang bay tới à? Nhưng làm gì có ánh đèn nào xuất hiện ở đường chân trời phía đông, và bãi đáp thì vẫn tối om. Chẳng có ai dại dột đi lái chiếc trực thăng Agusta 109 Mark II hàng hiệu mới cóng của ông Bates vào ban đêm cả. Nhất là lại không thèm bật đèn đóm gì thế kia.

Tuy nhiên, bây giờ thì không thể nhầm lẫn đi đâu được nữa. Một chiếc trực thăng đang hạ độ cao tiến vào. Cậu có thể nghe rõ mồn một tiếng cánh quạt chính đập thình thịch nặng nề.

8 giờ 24 tối.

Salim thay đổi mức ga khi họ cách bãi đáp chừng mười mét, và chiếc trực thăng bắt đầu trượt ngang sang một bên. Trong tích tắc, trông có vẻ như họ sắpủi thẳng vào chiếc Agusta, nhưng rồi anh ta gạt côn, ngắt khóa van nhiên liệu động cơ và đạp phanh rotor. Chiếc Hind chạm đất an toàn, lốp xe trượt dài trên mặt đường nhựa. Họ đã hạ cánh thành công.

Tuyệt vời nhất là chẳng có bất kỳ cảnh báo radar nào phát lên từ bảng điều khiển thiết bị cả. Xung quanh họ, cơ sở ngập chìm trong bóng tối và, khi anh ta tắt hẳn động cơ, tĩnh mịch đến rợn người. Bánh của hệ thống càng đáp thu gọn vừa mới kịp ổn định trên lớp nhựa đường thì cửa sập chính đã bật mở và lũ lượt những gã đàn ông túa ra ngoài, lăm lăm lăm những khẩu Uzi đen ngòm trong tay, những viên đạn đầu tiên đã được lên nòng sẵn sàng.

8 giờ 25 tối.

Hamblin thoáng nghĩ đến việc gọi cho Phòng Chỉ huy An ninh ở bàn tiếp tân qua bộ đàm để gặng hỏi xem cái quái gì đang xảy ra vậy. Nhưng rồi cậu nhớ ra họ căm ghét những tin báo giả mộng mị cỡ nào. Nhất là khi đám chóp bu đang bận rộn ngập đầu, chẳng hạn như tối nay.

Cậu quay người và đăm đăm quan sát luồng sáng trắng lóa mắt bao quanh hai phương tiện phóng, VX-1 và VX-2, nằm ở khu vực cấu trúc thượng tầng phía đầu tây của hòn đảo. Chúng đang ngập chìm trong vinh quang rực rỡ, hệt như đang hồi hộp ngóng chờ màn khởi động công suất của Cyclops diễn ra vào tối nay. Cậu tự động liếc nhìn đồng hồ đeo tay: bài kiểm tra lớn được lên lịch diễn ra vào khoảng hai mươi phút nữa.

Thôi, thay vì chuốc lấy rủi ro trông như một thằng ngốc khi đi báo cáo về màn ghé đến đã được lên lịch trước của đám sếp lớn SatCom mà lẽ ra cậu phải nắm rõ, cậu sẽ tự mình đi kiểm tra cho ra ngô ra khoai. Chúa ơi, sao chẳng có ma nào thèm mở miệng thông báo cho cậu lấy một câu thế này?

Cậu thầm ngẫm nghĩ rằng các biện pháp phòng ngừa an ninh ở đây vốn chỉ được thiết kế để phòng ngừa tình huống xâm nhập qua hàng rào, chứ chẳng ai thèm tính đến chuyện ngăn chặn một chiếc trực thăng bay thẳng vào trong. Chắc bọn chúng tưởng tượng rằng sẽ chẳng có kẻ nào điên rồ đến mức dám liều mạng đột nhập bằng trực thăng.

Khi tiến về phía bãi đáp, cách đó chỉ hơn một trăm thước dọc theo đường hàng rào, cậu lục lọi trong trí nhớ xem có bỏ sót thứ gì không. Không, cậu vừa liếc qua lịch trình sử dụng bãi đáp chiều nay và chẳng có ghi chú nào cả. Tiến sĩ Andros — đúng là một cô nàng cáo già quyến rũ, khiến đám đàn bà béo trục béo méo người Đức trông chẳng khác gì thịt băm thừa — luôn làm rất tốt công việc cập nhật lịch trình. Cậu rất thích điều đó và hoàn toàn dựa vào nó. Nhưng biết đâu đây lại là một tình huống đột xuất nào đó, có liên quan đến buổi kiểm tra thì sao? Ai mà thèm biết quái nào được chứ?

Cậu sắp sửa có câu trả lời rồi đây. Còn năm mươi thước nữa. Cậu đã có thể nhìn rõ chiếc trực thăng và nó thực sự khổng lồ, lớn hơn nhiều so với bất kỳ phương tiện nào mà cậu từng biết công ty sử dụng. Có lẽ đây là một chuyến hàng giao đến phút chót. Một trường hợp khẩn cấp chăng.

Chúng đã đáp xuống đất rồi, vậy mà vẫn chẳng thèm bật đèn hạ cánh. Điều đó hoàn toàn vô lý. Đột nhiên mọi thứ đều vô lý. Thêm mười giây nữa thôi, cậu sẽ chiếu thẳng chiếc đèn pin bự chảng vào mặt bọn chúng cho xem.

Cậu gạt dây đeo cố định trên khẩu .38 và nắn lại phần báng súng cho quen tay. Cứ chuẩn bị sẵn sàng cho chắc ăn.

Cách ba mươi thước và cậu đã có thể nghe thấy tiếng bọn chúng đang nói chuyện với nhau, dù cậu vẫn chưa nhận diện được hết các thứ tiếng. Tuy nhiên, cậu nhận ra ngay lập tức rằng đám hề này chẳng có liên quan mảy may nào với SatCom cả. Cậu đã mang cảm giác bất an đó suốt từ nãy đến giờ, và giờ thì cậu hoàn toàn chắc chắn.

Liệu bọn chúng có phải là đám gián điệp công nghiệp đang tính giở trò bẩn thỉu gì không? Có khi nào định lén lút đột nhập vào để chụp vài kiểu ảnh?

Cậu chẳng còn thời gian để gọi bộ đàm cầu cứu nữa. Cậu chỉ có một mình đối phó lúc này thôi.

Cậu rút khẩu .38 ra và lên nòng. Đột nhiên nó nặng trĩu hẳn đi. Sau đó, bằng bàn tay trái, cậu xoay chiếc đèn pin dài cho đến khi ngón cái chạm đúng nút công tắc.

Bắt đầu.

Cậu bật tung đèn, rọi thẳng qua hàng rào an ninh bằng lưới thép và bắt trúng thân chiếc trực thăng — Chúa ơi, nó thật khổng lồ — vừa đúng lúc nhìn thấy vài gã đàn ông đang bước xuống. Bọn chúng mặc trang phục biệt kích màu đen và tuyệt đối không phải là nhân viên bất kỳ nào của công ty.

“Chúng mày!” cậu hét lên, lòng can đảm bỗng trỗi dậy mạnh mẽ. “Đứng yên tại chỗ và khai danh tánh mau—”

Một trong những kẻ đột nhập quay phắt về hướng cậu, và trước khi cậu kịp thốt xong câu nói, cậu cảm giác được một luồng cảm giác bỏng rát sâu thẳm ngay trước ngực hất văng cậu ngã ngửa về phía sau. Tiếp theo đó, một cơn đau nhói buốt bùng nổ ở cổ và đầu cậu gục sang một bên. Lớp nhựa đường cứng ngắc của mặt đường chồm lên, đập thẳng vào mũi cậu. Cậu nghe thấy tiếng thình đục ngầu của bộ giảm thanh ngay trước khi thế giới chìm nghỉm vào bóng tối vĩnh viễn.

8 giờ 26 tối.

“Vành đai bãi đáp đã được an toàn,” Jamal Khan, người em trai có ánh mắt sắc lạnh của Salim cất giọng bằng tiếng Ba Tư với vẻ tỉnh bơ. Hắn vừa mới tiễn một gã xa lạ về chầu trời; chẳng có gì to tát cả. Rồi hắn trượt quai đeo khẩu Uzi lên vai và quay người lại. Nghĩ kỹ lại thì đây là gã thứ mười ba bị hắn thủ tiêu bằng khẩu Uzi rồi. Biết đâu con số đó lại mang lại may mắn nhỉ...

Ramirez phóng tầm mắt quan sát toàn bộ cơ sở với vẻ đầy tự tin. Đóng giả làm một nhà cung cấp thiết bị điện tử, hắn đã tiến hành trinh sát toàn diện khu vực này từ hai tháng trước, ghi nhớ tỉ mỉ vị trí của mọi thứ họ cần. Một lần nữa hắn thầm ngẫm nghĩ về cấu trúc địa lý thuận lợi đến mức nào của nơi này. Cơ sở này sinh ra là để dành cho việc đột nhập từ đường không.

Stelios Tritsis, gã người Hy Lạp của bọn chúng, đang bận rộn dò quét các kênh bộ đàm, nhưng hắn không nghe thấy bất kỳ tiếng báo động nào từ phía lực lượng bảo vệ — điều đó có nghĩa là sẽ không có thêm bất kỳ bất ngờ nào ở xó xỉnh hẻo lánh này. Vì lý do an toàn, SatCom đã chủ động đặt bãi đậu trực thăng ở khoảng cách xa nhất có thể so với Cyclops và khu vực lắp đặt bãi phóng. Toàn bộ nhân viên đều đang bận rộn tụ tập tít ở đầu bên kia. Gã bảo vệ này chỉ đi tuần một mình, và hắn đã phải trả giá đắt cho sự ngu ngốc của bản thân.

“Giai đoạn hai hoàn tất,” Ramirez điềm đạm thông báo khi ngoái nhìn lại chiếc Hind. “Giờ thì nhớ kỹ điều này. Không được phép làm anh hùng cá nhân. Tất cả chuyển sang chế độ bán tự động.”

Khu vực an ninh rõ mồn một duy nhất ở ngoài này nằm ở cổng ra vào của bãi đáp trực thăng. Sau khi Peretz nhanh chóng vô hiệu hóa báo động của nó bằng cách làm chập các điểm tiếp xúc bằng đồng, bọn chúng nối đuôi nhau di chuyển qua lối đi đơn. Ramirez đứng ngay cửa mở, quan sát từng người một lần cuối cùng với hy vọng có thể giữ họ gắn kết như một cỗ máy đồng đội.

Cho đến nay hầu như mọi chuyện đều diễn ra đúng theo kế hoạch. Hắn đã tự tay tuyển lựa, tập hợp và huấn luyện bọn chúng suốt bốn tháng trời ở Libya, diễn tập với chúng tất cả các kỹ thuật chống khủng bố tiêu chuẩn có thể được sử dụng để đối phó — từ lựu đạn gây choáng đến “dải băng sấm sét” — rồi sau đó hội quân với chúng ở Yemen để nhận chiếc Hind, chiếc trực thăng còn lại và hai gói hàng. Hắn đã chi tiền lót tay cho đủ số quan chức ở cả hai quốc gia để đảm bảo không một ai thắc mắc lấy một lời.

Thành viên kém tin cậy nhất trong đội chính là Salim Khan, phi công trong chuyến bay tối nay. Ramirez quan sát hắn vỗ nhẹ băng đạn hai mươi hai viên vào khẩu Uzi và kéo ngược núm lên đạn bằng gỗ óc chó sần sùi ở phía trên khi bước qua cánh cổng. Trông hắn có vẻ đáng tin, nhưng thực ra hoàn toàn không phải vậy. Ramirez nghi ngờ Salim quá cay đắng, quá ôm đồm suy nghĩ rằng cuộc đời đã chơi xỏ hắn một vố đau đớn — điều đó đồng nghĩa với việc giờ đây hắn chỉ chực chờ cơ hội để thanh toán sòng phẳng nợ nần. Hắn thích sống trên lằn ranh mạo hiểm, thích phá vỡ mọi quy tắc. Mặt khác, sứ mệnh này chính là hiện thân của điều đó, và cho đến nay Ramirez đã vắt kiệt tối đa giá trị của gã người Iran này. Tuy nhiên, điều đó cũng đồng nghĩa với việc hắn phải được giám sát chặt chẽ: hắn là một kẻ thực dụng cynical chẳng coi trọng bất kỳ thứ gì ngoài sự khinh bỉ dành cho đám thanh niên cuồng tín diễu hành qua các đường phố Tehran với những bức ảnh giáo chủ đính ngạo nghễ trước ngực, hô vang các khẩu hiệu chống Đại Satan... trong khi mặc những chiếc quần jeans có dòng chữ “Made in U.S.A” in ở túi sau. Bởi vì Salim chẳng còn tin vào bất cứ thứ gì trên đời nữa, hắn trở nên cực kỳ khó kiểm soát. Luôn luôn rủi ro.

Theo sát ngay phía sau hắn, cũng mang theo một khẩu Uzi đen, là Jamal, cậu em trai. Jamal, với đôi mắt cuồng loạn và bộ râu đen như than, lại là thái cực hoàn toàn đối lập — hắn chỉ chiến đấu vì một lý do duy nhất.

Jamal đã đến Lebanon nhiều năm trước để gia nhập Hezbollah, một tổ chức cực đoan có trụ sở chính ở Tây Beirut và thung lũng Bekaa. Kể từ khi hắn gia nhập, có tới năm trăm thành viên Hezbollah từng trực tiếp tham gia vào các hành vi khủng bố ở Trung Đông và châu Âu. Hắn tin rằng Chúa muốn hắn thực hiện một cuộc thánh chiến, một cuộc viễn chinh thánh thiện, chống lại những kẻ Mỹ và Phục quốc Do thái đang bao vây và bóp nghẹt các dân tộc theo đạo Hồi. Để chứng minh đức tin của mình, hắn từng là thành viên của nhóm cướp chiếc Boeing 727 của hãng hàng không Libyan Arab Airlines trong chuyến bay giữa Zurich và Tripoli, dẫn đến vụ cướp máy bay kéo dài nhất lịch sử. Chiếc máy bay đã di chuyển sáu ngàn dặm, bay vòng vèo từ Beirut đến Athens, rồi Rome, lại Beirut, và thậm chí cả Tehran trước khi kết thúc ở chặng dừng chân thứ ba tại Lebanon ba ngày sau đó.

Kỳ diệu thay, Jamal đã bước ra ngoài hoàn toàn bình an vô sự. Hắn là một kẻ nóng tính, nhưng đồng thời cũng là một kẻ sống dai như đỉa. Jamal cầu nguyện năm lần một ngày, không uống rượu cũng chẳng hút thuốc, và từng là một trong những chuyên gia chế tạo thuốc nổ trong vụ đánh bom Đại sứ quán Mỹ ở Beirut khiến 218 lính thủy đánh bộ thiệt mạng. Hắn thực sự là một mâu thuẫn sống động bằng da bằng thịt.

Điều đó hoàn toàn ổn với Ramirez. Hắn chẳng thèm quan tâm đến nền chính trị cực đoan của Hezbollah. Mặt khác, hắn luôn biết cách tận dụng bọn chúng hiệu quả. Sau vụ cướp máy bay đình đám của Jamal, Ramirez đã tìm đến thung lũng Bekaa để tìm hắn, và thông qua hắn để tiếp cận Salim — người mà nhờ việc đánh cắp chiếc trực thăng Hind, hóa ra lại có giá trị cao hơn nhiều so với gã em trai cuồng tín của mình. Dẫu vậy, hắn vẫn gặp rắc rối với hai kẻ này. Người Iran đôi khi gặp khó khăn trong việc phân biệt rạch ròi giữa thực tế và ảo tưởng: giống như đa phần những người theo đạo Hồi, họ nghĩ rằng cứ mở miệng nói một điều gì đó là nó sẽ xảy ra.

Gã cao gẫu bước theo sau Jamal, đang ôm theo một cái chân hơi khập khiễng, chính là Stelios Tritsis, người Hy Lạp duy nhất của bọn chúng. Năm 1975, khi còn là một thanh niên nhiệt huyết bốc đồng, hắn từng là thành viên sáng lập của tổ chức khủng bố khét tiếng Epanastaiki Organosi 17 Noemvri. Sâu thẳm trong tim, hắn vẫn là một kẻ cực đoan, tận tụy với mục tiêu ép Hy Lạp rời khỏi NATO và chấm dứt ách thống trị quân sự của Mỹ tại đất nước mình. Chủ nghĩa đế quốc mới của người Mỹ ở Vùng Vịnh Ba Tư chỉ càng chứng minh rằng hắn đã đúng suốt từ đầu đến giờ.

Vì một biến cố xa xôi từ thời trẻ — một vụ tra tấn dưới bàn tay của đám Đại tá độc tài khét tiếng — ánh mắt của Stelios dường như chẳng bao giờ hoàn toàn tập trung nổi. Hắn đã nghiện thứ thuốc phiện được cấp để giảm đau và chưa bao giờ cai được. Dù vậy, hắn vẫn là thiện xạ chết người nhất của đội, và hắn coi chiến dịch này là màn báo thù cuối cùng của mình chống lại nước Mỹ cùng đám tay sai của chúng. Gã đàn ông này hoàn toàn không màng, thực sự không màng chút nào đến phần tiền thưởng của mình. Ngay cả Ramirez cũng phải thầm ngưỡng mộ điều đó.

Đi theo sau hắn là Jean-Paul Moreau, thủ lĩnh của tổ chức Action Directe khét tiếng, có chi nhánh quốc tế đặt trụ sở chính tại Paris. Jean-Paul cao lớn, sở hữu mái tóc vàng óng bồng bềnh và ánh mắt quyết đoán. Hắn cũng nổi tiếng với một vết sẹo do đạn bắn vắt ngang qua má từ một vụ mưu sát bất thành vào đầu thập niên 80 nhắm vào cựu Bộ trưởng Tư pháp Alain Peyrefitte bằng một quả bom gắn trên xe hơi. Hắn chỉ tiêu diệt được người tài xế và bị thương bởi đội ngũ vệ binh an ninh. Nhưng đến tháng 11 năm 1986, hắn đã rửa được hận, khi đứng sau giật dây vụ ám sát Georges Besse, chủ tịch hãng Renault. Hắn chẳng mong ước gì hơn ngoài việc châu Âu tự gột rửa sạch bóng người Mỹ và những kẻ Phục quốc Do thái — hướng tới mục tiêu đó, Action Directe đã hợp tác với Phái Cách mạng Vũ trang Lebanon trong một số cuộc tấn công thực hiện trên đất Pháp, đó cũng là cơ hội đầu tiên Ramirez gặp gỡ hắn. Trước đây, Action Directe tài trợ cho các hoạt động của mình chủ yếu thông qua các vụ cướp ngân hàng. Sau vụ này, Moreau được hứa hẹn rằng những rắc rối về tiền bạc của họ sẽ chính thức chấm dứt.

Gã tiếp theo là Wolf Helling, thủ lĩnh cao gầy và hói đầu của nhóm Revolutionare Zellen tại Đức. Ramirez nghi ngờ mục tiêu thực sự trong đời của hắn là làm sao trông giống người Aryan nhất có thể. Về mặt chính trị, hắn là một kẻ vô chính phủ — kẻ từng cho nổ tung một đường ống dẫn nhiên liệu của NATO gần Lorch thuộc Baden-Wurttemberg vào năm 1984. Mục đích chính thức của RZ là gây áp lực buộc Mỹ phải rút quân khỏi Đức thông qua các cuộc tấn công khủng bố và phá hủy “hệ thống” Tây Đức bằng cách tiến hành khủng bố du kích chống lại những kẻ theo chủ nghĩa Phục quốc Do thái và quân phiệt. RZ có mối quan hệ lâu năm với các tổ chức khủng bố Palestine, đó lại là cơ hội để Ramirez làm quen với hắn. Thật trớ trêu cho Helling, đúng vào thời điểm hắn sống sót chứng kiến quân đội Phục quốc Do thái Mỹ bắt đầu rút khỏi châu Âu, thì khu vực này lại biến thành kẻ thống trị thực tế của Trung Đông. Hắn muốn dạy cho nước Mỹ một bài học cuối cùng: các giai cấp tư sản sở hữu tài sản trên thế giới sẽ chẳng bao giờ có được sự bình yên an toàn.

Theo sau hắn là ba gã cựu thành viên vạm vỡ của lực lượng mật vụ Stasi Đông Đức — nay đang bị chính quyền nước Đức thống nhất truy nã vì tội tra tấn và những tội ác trong quá khứ. Chẳng còn lấy mấy bạn bè trên đời, bọn chúng đành dồn hết phần đời còn lại bấu víu vào RZ. Bọn chúng luôn gợi cho Ramirez nhớ đến ba chú khỉ trong câu chuyện dân gian: Rudolph Schindler, với cặp kính râm đen ngòm, không nhìn thấy điều ác; Peter Maier vẫn là một gã cuồng tín đến mức chẳng nghe thấy điều ác nào (về chủ nghĩa Cộng sản); còn Henes Sommer chẳng mở miệng nói gì ngoài những lời độc ác chống lại tất cả mọi người. Bọn chúng ủ rột và cay đắng, nhưng lại là những tên côn đồ hoàn hảo để làm hỏa lực hỗ trợ phụ trợ, hoặc ít nhất nên là như vậy. Bọn chúng là những kẻ vô gia cư, những tay súng đánh thuê đã mất sạch mọi thứ từ lâu.

Dore Peretz, tên người Israel phản bội của đội, bước đi cuối cùng, khép lại cánh cổng lưới thép phía sau. Hắn ghim chặt ánh mắt đen láy kiên định của mình vào duy nhất một kết quả: hắn đến vì tiền, chỉ vì tiền mà thôi. Chẳng có chính trị hay trò hùng biện giả tạo nào ở đây đối với hắn. Hắn đã chấm sẵn một biệt thự ven biển ở Hadera. Mặc dù có cái thói quen cực kỳ khó chịu là hay ba hoa chích choè, thích đùa cợt sai thời điểm, nhưng đóng góp của hắn sẽ mang tính quyết định sống còn. Ramirez không hoàn toàn tin tưởng hắn, nhưng hắn cần chuyên môn về máy tính và vũ khí của gã này. Hắn tự hỏi không biết Peretz sẽ hành xử ra sao nếu tình thế thực sự ngặt nghèo. Tuy nhiên, mong là với chút vận may, câu hỏi đó sẽ chẳng bao giờ cần phải giải đáp. Ramirez gần như có thiện cảm với hắn — hắn cũng chẳng hiểu vì sao — và sẽ rất tiếc nuối nếu phải tự tay kết liễu đời gã khôn lỏi khốn kiếp này...

Bọn chúng đã lọt vào trong. Phòng Chỉ huy nằm ở một đầu của tổ hợp SatCom, hai phương tiện nằm ở đầu kia, và nằm ở giữa chính là khu nhà ở — được mệnh danh là “Nhà nghỉ Bates” — cũng như các dãy nhà kho nhỏ chứa vật tư phục vụ nhân sự và bảo trì thiết bị, vốn dùng làm kho chứa nhưng giờ đây đã tối thum thủm và khóa chặt. Khi di chuyển dọc theo lối đi, cẩn thận né tránh những vòng tròn ánh sáng chiếu rọi các ô cửa nhà kho, những bộ đồ trùm đầu màu đen của bọn chúng hòa quyện hoàn toàn vào màn đêm biển Aegean. Hệ thống chiếu sáng tối thiểu ở khu vực này chẳng khiến hắn mảy may do dự: hắn đã ghi nhớ kỹ lưỡng từng ngõ ngách của hiện trường. Hắn biết họ sẽ tìm thấy trung tâm điều khiển với các cỗ máy tính nằm ngay phía dưới vị trí hiện tại của họ.

Giờ đây bọn chúng đang tiếp cận lối vào Phòng Chỉ huy, khu vực “sảnh chờ” có độ an ninh cao. Ngay phía sau không gian cửa kính, một gã bảo vệ người Hy Lạp mặc đồng hồ đang ngồi bên chiếc bàn gỗ tếch, chăm chú nghiên cứu mục thể thao của một tờ báo Athens.

Bọn chúng dừng lại ở vùng bóng tối cuối cùng trước khoảng không gian mở trước lối vào, nhường thời gian cho Stelios Tritsis cởi bỏ chiếc áo trùm đen của hắn. Bên trong, hắn đang mặc bộ đồng hồ màu nâu của nhân viên bảo vệ SatCom, hoàn chỉnh với cầu vai và khẩu .38 theo quy định. Hắn cũng mang theo một thứ, thoạt nhìn qua loa, trông hệt như thẻ nhận dạng nhân viên gắn ảnh của SatCom.

Trong lúc những kẻ khác nín thở chờ đợi, hắn bước qua những cánh cửa kính, giả vờ bước đi với vẻ phơi phới ung dung và búng cạch chiếc thẻ thông hành một cách thiếu kiên nhẫn vào ống quần đồng hồ.

Khi gã bảo vệ SatCom ngước lên với vẻ khó hiểu và chớm định lên tiếng chặn hắn lại, Stelios chỉ còn cách đúng năm thước. Hắn cất giọng chào bằng tiếng Hy Lạp, rồi đưa tay gãi ngứa ở phần thắt lưng phía sau. Khi rút tay ra, hắn đang cầm một khẩu súng ngắn tự động Glock-17 nhỏ gọn. Phát đạn găm thẳng vào giữa trán, một tiếng thình đục ngầu vang lên, và gã bảo vệ ngã ngửa ra sau ghế, đôi mắt trợn trừng vì kinh hoàng không tin nổi, khẩu .38 vẫn nằm nguyên trong bao. Mọi chuyện diễn ra chỉ trong vài giây ngắn ngủi.

Không một lời thừa thãi, những kẻ còn lại ùa vào trong.

“Bước tiếp theo là gì?” Ramirez điềm đạm cất tiếng hỏi Peretz.

“Mật mã mở cửa phải được nhập vào đó—” hắn chỉ tay. Phía sau chiếc bàn là một thiết bị đầu cuối máy tính báo cáo tình trạng an ninh của tất cả các khu vực. Màn hình màu xanh lá cây của nó vẫn trống trơn, không hề chớp nhấp nháy bất kỳ cảnh báo nào.

“Vô hiệu hóa chúng đi,” Ramirez ra lệnh, bài kiểm tra đầu tiên về kỹ năng kỹ thuật của gã người Israel. Trong những giờ khắc sắp tới, hắn sẽ phải chứng minh bản thân là nhân tố không thể thay thế. Hoặc ít ra gã đã khăng khăng tự nhận như vậy. “Rồi gỡ bỏ mã truy cập đi và chúng ta có thể đường hoàng bước vào trong.”

Trong lúc Jamal đang thu xếp thi thể gã bảo vệ, để gã gục đầu xuống bàn trông như thể đang ngủ say, Ramirez khóa sập các cửa ra vào ở phía sau lưng bọn chúng, rồi bước ra phía sau bàn và vặn giảm độ sáng đèn khu sảnh chờ. Cuối cùng, hắn cởi bộ đồ bay trên người ra và ném gọn gàng ra phía sau bàn làm việc.

Chuẩn xác từng giây theo kế hoạch.

Bọn chúng tiến thẳng về phía Phòng Chỉ huy. Hắn thừa biết rằng nếu bạn kiểm soát được bộ não, bạn sẽ là bá chủ của thể xác, và giờ thì bọn chúng phải tóm cho bằng được bộ não đó. Cho đến nay, tiến độ thuận lợi của họ đã vượt quá cả những kỳ vọng cao nhất của hắn. Nhưng giai đoạn tiếp theo mới là tối quan trọng, không cho phép bất kỳ sai sót nào xảy ra. Hắn vẫn còn lo sợ đám lính đánh thuê tự phát của mình có thể nổi cơn cuồng sát súng ống rồi phá hủy một số thiết bị tối quan trọng; hắn thậm chí từng cân nhắc việc bắt chúng dùng đạn giả, nhưng làm vậy thì rủi ro quá lớn.

“Những cánh cổng Thiên đường chuẩn bị được mở ra,” Jamal lẩm bẩm qua bộ râu đen, đôi mắt cuồng loạn phản chiếu ánh đèn trên cánh cửa an ninh khi chúng chuyển từ đỏ sang xanh lá và một tiếng còi chói tai vang lên dịu lại. “Allah đã ban ơn điều này cho chúng ta.”

Ramirez chẳng thèm đáp lời, chỉ chỉnh lại phần cổ tay áo may đo thủ công của bộ vest Brioni màu than chì. Rồi hắn lùi lại phía sau để quan sát cánh cửa dẫn vào Trung tâm Chỉ huy từ từ trượt sang bên trái.

8 giờ 39 tối.

Cally đang mải nghĩ về việc cô thèm một chiếc bánh pizza đến nhường nào, thật nhiều phô mai và xúc xích kiểu Ý. Không, chỉ cần ngập tràn cholesterol là được. Tại sao cứ hễ món nào ngon miệng thì thể nào cũng bị coi là có hại cho sức khỏe nhỉ? Cô đã sớm hạ quyết tâm không bao giờ để điều đó làm mình bận tâm nữa. Hệt như nhân vật Scarlett, cô sẽ tính tiếp chuyện đó vào ngày mai. Kệ thây nó chứ. Ai chẳng cần có một tội lỗi thầm kín cho riêng mình. Và đó chính là điều tồi tệ nhất khi phải sống ở Andikythera này. Bạn chẳng đời nào nhấc điện thoại lên gọi đồ được...

Cô trân trân nhìn bao quát căn phòng rộng thênh thang, cái bụng réoùng ục, rồi ngước lên nhìn màn hình lớn treo phía trên dùng để theo dõi phương tiện không gian sau khi phóng. Sau đó, cô liếc một vòng quanh các dãy bàn làm việc đặt màn hình máy tính trải dài khắp sàn nhà. Cảm giác hệt như cô đang nắm trong tay một đội quân thu nhỏ vậy. Sở hữu ngần ấy quyền lực trong tay mà cô vẫn chẳng thể gọi nổi một chiếc bánh pizza. Có cái gì đó sai sai trong bức tranh này chăng? Cô quá đỗi chìm đắm trong dòng suy nghĩ của bản thân đến mức hoàn toàn bỏ lỡ sự xuất hiện của những vị khách mới.

8 giờ 40 tối.

Khi bước vào vị trí, Ramirez nhanh chóng thu thu mọi chi tiết vào tầm ngắm. Ở tận phía cuối phòng, nằm bên dưới những màn hình chủ khổng lồ, một chiếc bàn rộng kiểm soát toàn bộ không gian. Và ngồi phía sau nó là một người phụ nữ tóc sẫm màu có lý lịch đã được hắn nhét sạch vào bộ nhớ. Cô ta mới là nhân vật cốt lõi cần chú ý.

Thật kỳ lạ khi một người phụ nữ lại nắm giữ quyền lực tối cao... nhưng rồi suy cho cùng, một người phụ nữ thậm chí từng được bầu làm tổng thống của một quốc gia Hồi giáo lớn cơ mà. Đã từng có lúc như thế. Mọi chuyện đều có thể xảy ra, hết lần này đến lần khác.

Điều đó chẳng mảy may quan trọng đối với hắn, không theo cách mà hắn thừa biết nó quan trọng đối với hai gã người Iran kia. Hắn sống trong thế giới thực; còn bọn chúng sống trong một thế giới không hề tồn tại. Bọn chúng, hắn biết thừa, sẽ cãi rằng nó chưa tồn tại mà thôi. Chà, đó là vấn đề của bọn chúng, chứ không phải của hắn...

Dần dần, khi từng kỹ thuật viên một nhận thức được sự hiện diện của đám người đang đứng lù lù ở khung cửa, mọi hoạt động đều khựng lại hoàn toàn. Mười gã đàn ông mặc đồ đen, tất cả đều lăm lăm khẩu Uzi trên tay. Hình ảnh đó kích hoạt phản xạ sợ hãi bản năng khắp căn phòng, được nuôi dưỡng bởi nhiều thập kỷ tin tức khủng bố trên mặt báo.

Ramirez đảo mắt quan sát căn phòng. Không một kỹ thuật viên người Mỹ nào mang theo vũ khí. Đúng như dự đoán, hắn đã tóm gọn con mồi trong tình trạng không kịp phòng bị. Quả thực, hắn từ đầu đã hy vọng có thể tránh được cảnh đổ máu đấu súng. Hãy giữ cho nhân viên bình tĩnh. Bọn họ sẽ còn cần việc dùng tới.

“Xin mời các vị cứ tiếp tục công việc như bình thường.” Giọng nói của hắn vang vọng khắp căn phòng, tiếng Anh với chút ít ngữ điệu pha trộn. Nhưng chút ngữ điệu pha trộn đó lại lạnh lùng vô cảm. Uy quyền phát ra từ giọng nói của hắn làm cho tất cả mọi người đều hiểu rằng trật tự chỉ huy vừa mới thay đổi.

Cally quay phắt lại trân trân nhìn những kẻ đột nhập với vẻ đầy khó hiểu. Bọn chúng là người lạ... rồi cảnh tượng những khẩu súng tự động đập vào mắt cô... và bọn chúng mang theo vũ khí. Bọn chúng chắc chắn không phải nhân viên của SatCom. Làm cái quái gì mà bọn chúng đột nhập qua được hệ thống an ninh cơ sở chứ?

Tên cầm đầu của bọn chúng — cô nhận thấy hắn mặc một bộ vest Ý lịch lãm chứ không phải quân phục dã chiến biệt kích, và hắn là kẻ đang cất tiếng nói — đang rảo mắt quan sát khắp phòng hệt như thể hắn đã là chủ nhân ở đây rồi. Và nói cho đúng ra, thì hắn đúng là chủ nhân thật rồi. Giống như đại sứ quán Mỹ ở Tehran, SatCom đã bị tóm gọn khi đang ngủ mơ màng. Nhưng không có hành động khua khoắng đe dọa vũ khí nào cả. Hắn dường như muốn duy trì trạng thái bình thường.

Bọn chúng là khủng bố, trực giác trong cô đang gào thét. Nhưng không, lý trí của cô lập tức phản bác lại. Chuyện đó không thể là sự thật được. Khủng bố vốn hoạt động ở một vũ trụ cách xa Andikythera hàng vạn dặm; chúng đâu có bén mảng chạm đến cuộc sống của bất kỳ ai nằm ngoài các điểm nóng.

Lúc này, kẻ phát ngôn của bọn chúng đang thong thả bước đi dọc lối đi giữa các dãy máy tính, hướng thẳng về phía cô. Cô đoán hắn ta trạc tuổi cuối bốn mươi, có học thức, là kẻ có thể nói chuyện bằng lý lẽ. Hắn trông có vẻ lý trí, hoặc ít nhất là ra dáng một thương gia. Hắn hoàn toàn có thể là một phó chủ tịch SatCom nào đó bay từ Arlington ghé qua để kiểm tra bất chợt. Mấy kẻ còn lại, ngoại trừ một vài gã Ả Rập để râu, trông chẳng khác nào đám du côn cặn bã châu Âu.

“Tôi đoán cô là Tiến sĩ Andros,” người đàn ông cất lời, rồi bật cười. “Thật là một vinh hạnh khi được gặp cô. Cuối cùng thì.”

“Các người đang làm cái quái gì ở đây thế?” Cảm giác hoang mang ban đầu nhanh chóng bị thay thế bởi ngọn lửa giận dữ. “Đây là khu vực cấm người ngoài.”

Người đàn ông mỉm cười... gần như rất lịch sự... và dường như phớt lờ luôn câu hỏi. “Cô hoàn toàn chính xác. Rất hợp lý và đúng mực. Nhưng xin cô và các nhân viên của mình cứ tiếp tục công việc và đừng bận tâm gì đến chúng tôi. Lịch kiểm tra định kỳ với trụ sở chính của cô được lên lịch vào lúc 22 giờ. Tất nhiên là cô sẽ không báo cáo bất kỳ điều gì bất thường cả. Vấn đề là điều đó sẽ đúng sự thật.” Hắn khẽ cúi đầu chào nhẹ. “Tôi chắc chắn họ sẽ rất muốn biết buổi khởi động Cyclops diễn ra thế nào. Trên thực tế, tất cả chúng ta đều đang sốt sắng chờ đợi câu trả lời cho việc đó đấy.”

Những lời nói của hắn vọng lại trên những bề mặt cứng ngắc rực sáng ánh đèn neon. Trung tâm Chỉ huy, bất chấp những bức tường màu xanh nhạt của nó, chưa bao giờ mang lại cảm giác lạnh lẽo và trơ trọi đến thế.

“Tôi sẽ rất biết ơn nếu các người rời khỏi đây ngay,” cô nói, cố gắng giữ giọng bình tĩnh. “Đây là tài sản tư nhân. Các người đang xâm phạm gia cư bất hợp pháp.”

Người đàn ông chỉ mỉm cười lần nữa và bước tới quan sát các màn hình lớn. “Những thứ này từ trước đến nay vẫn luôn khơi gợi sự tò mò trong tôi. Cứ như thể thứ gì đó trong phim ảnh ấy. Kiểu như Buck Rogers vậy.” Hắn quay đầu lại. “Làm ơn, đừng để sự tò mò của một kẻ ngoại đạo như tôi làm gián đoạn công việc của cô.”

Bill, Bill ơi. Cô nghĩ đến vị CEO của SatCom đang ngồi trong phòng làm việc, nằm ngay phía bên kia cánh cửa ở tận cuối phòng. Cậu có một chiếc máy bộ đàm cơ mà. Và cậu có thể nhìn thấy căn phòng này qua màn hình giám sát an ninh cơ mà. Sao cậu không—

Cánh cửa ở cuối phòng bật mở, và William Bates xuất hiện lừng lững ở đó.

“Chúng mày là thằng quái nào thế hả?” giọng ông ta vang dội khắp căn phòng.

“Tên tuổi của tôi chẳng có gì đáng để ông phải bận tâm đâu,” tên khủng bố mặc vest đáp lời. “Cứ gọi tôi là Số Một đi. Nhưng tôi sẽ ban ơn cho ông bằng cách trả lời lại câu hỏi đó.”

“Và tôi cũng sẽ trả lời y hệt như vậy với mày, Số Một, hoặc bất kỳ thằng quái quỷ nào mày là,” Bates đáp lại, không hề chùn bước. “Cho dù tụi mày đang mưu tính trò gì đi nữa, chẳng có thứ quái gì ở đây để mà trộm cắp đâu. Tụi mày đang uổng phí thời gian thôi. Hơn thế nữa, tụi mày đang xâm phạm tài sản đất đai của Mỹ đấy. Thế nên hãy dẫn ngay đám côn đồ đó cút khỏi đây bằng đúng con đường tụi mày đã mò vào đi.”

“Tài sản của nước Mỹ ư? Người Mỹ lúc nào cũng tưởng cả thế giới này là tài sản của bọn họ vậy.” Hắn mỉm cười lần nữa. “Nhưng để tôi trấn an tinh thần của ông nhé. Chúng tôi đến đây không phải để trộm cắp. Và nếu ông hợp tác, sẽ chẳng có ai trong căn phòng này phải tổn hại dù chỉ một sợi tóc.”

Cally đưa mắt đánh giá hắn, tự hỏi liệu mình có nên tin hắn ta hay không. Không đời nào có chuyện đó. Cô chợt nhận ra gã đàn ông này sẵn sàng tước đoạt mạng sống của bất kỳ kẻ nào dám ngáng đường hắn; điều đó đã hằn sâu trong ánh mắt lạnh băng của hắn.

“Giờ thì, Tiến sĩ Andros... cô nên ra lệnh cho người của mình tiếp tục tiến trình đếm ngược đi thôi. Theo tôi được biết thì phương tiện đầu tiên được lên lịch phóng trong vòng chưa đầy sáu mươi lăm tiếng nữa đâu đấy. Chắc chắn chúng ta không muốn bất kỳ điều gì làm gián đoạn thời gian biểu của cô đâu nhỉ.”

Cô trân trân nhìn hắn kỹ hơn với vẻ khó hiểu. Nếu hắn và lũ khốn này không đến đây để tống tiền, đe dọa phá hủy cơ sở này nhằm đòi tiền chuộc, thì rốt cuộc bọn chúng có thể mưu cầu thứ quái quỷ gì cơ chứ?

“Mày không có quyền ra lệnh ở đây đâu.” Bates sải bước tiến về phía gã đàn ông. “Tao mới là người có quyền.” Ông hạ thấp giọng khi lướt qua người Cally. “Đừng làm bất kỳ điều quái quỷ nào cả.” Rồi ông ngước mắt lên. “Mày cút ngay ra khỏi đây, bằng không tao sẽ gọi lực lượng an ninh tới đấy.”

“Làm thế thì cực kỳ thiếu khôn ngoan đấy. Ít nhất thì hai người trong số họ lúc này không còn khả năng phản ứng lại đâu.” Hắn hất cằm về phía cánh cửa. “Ông hoàn toàn có thể ra ngoài kiểm tra tùy ý. Nhưng thôi nào, tất cả chúng ta đều đang lãng phí thời gian quý báu đấy.”

“Đồ chó đẻ. Tao không đời nào—”

“Thôi nào, thôi nào,” gã đàn ông ngắt lời, “chẳng lẽ tôi lại gặp may mắn vượt ngoài cả những giấc mơ hoang đường nhất của mình hay sao? Chẳng lẽ tôi lại có vinh dự được trò chuyện với không ai khác ngoài William Bates đó sao? Phải chăng chúng ta đã tóm được cả vị CEO rồi ư? Không, thế thì lại may mắn quá mức rồi.”

Tiêu đời chúng ta rồi, Cally thầm nghĩ. Hắn biết thừa rồi kìa. Giờ thì bọn chúng sẽ bắt Bill làm con tin cho xem. Ông ấy đích thực là một món hời bằng vàng khối. Vừa giàu có lại vừa nổi tiếng.

“Xin vui lòng ngồi xuống ghế đi nào, ngài Bates,” gã đàn ông tiếp lời.

“Còn lâu tao mới—”

Một trong những gã đàn ông để râu mang súng tự động bước xống phía trước và bồi thẳng phần báng súng bằng kim loại vào bụng Bates, khiến ông lảo đảo ngã khuỵu về phía sau. Ông cố với tay chới với giữ thăng bằng nhưng bất thành và ngã nhào một cách ê chM lên lớp sàn lót nhựa linoleum màu xám.

“Lại một lần nữa, chúng ta đang phung phí thời gian,” tên phát ngôn viên, kẻ đứng đầu, bình thản nói tiếp. “Chúng ta vừa nói đến đâu rồi nhỉ? Ồ phải rồi, vụ khởi động tăng áp.” Hắn quay người lại. “Giờ thì, Tiến sĩ Andros... chẳng ai trong số chúng ta muốn bản báo cáo đó bị nộp muộn đâu nhỉ? Trông thế sẽ mất mặt cho tất cả mọi người đấy.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Thomas Hoover

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.