“Sâu làm rầu nồi canh.”
Một hôm, nhà phê bình cất lời: “Elfride, chúng ta hãy lại ra vách đá nhé;” và chẳng màng hỏi xem cô có muốn đi hay không, ông bước đi như thể muốn khởi hành ngay lập tức.
“Cái vách đá của tai nạn hãi hùng lần trước ư?” cô run rẩy hỏi. “Thần Chết đang trừng trừng nhìn tôi qua hình hài của vách đá đó.”
Thế nhưng, vì đã hoàn toàn hòa tan bản ngã của mình vào con người ông, lời trách móc ấy không hề được thốt lên như một sự phản kháng, và cô lập tức sửa soạn để đi cùng ông.
“Không, không phải chỗ đó,” Knight nói. “Tôi cũng thấy ám ảnh ghê sợ nơi ấy. Ý tôi là vách đá kia; tên nó là gì nhỉ?—Mỏ Gió.”
Mỏ Gió là vách đá cao thứ nhì dọc theo dải bờ biển ấy, và như thường thấy ở các tạo vật tự nhiên trên trái đất cũng như ở trí tuệ con người, nó lại mang tiếng là cao nhất. Hơn thế nữa, đó chính là vách đá mà Elfride từng cùng Stephen Smith cưỡi ngựa đến vào một buổi sáng mùa hè đầy kỷ niệm.
Cho nên, dẫu ký ức về vách đá đầu tiên từng khiến cô run rẩy trước những hiểm nguy mà cô và người yêu cũ từng phải đối mặt ở đó, nhưng vì nơi này chỉ gắn liền với Knight, nó lại không đáng ngại bằng Mỏ Gió. Chỗ ấy còn tồi tệ hơn cả sự ảm đạm; nó là một sự chì chiết vĩnh viễn đối với cô.
Nhưng vì không muốn từ chối, cô nói: “Nó ở xa hơn vách đá kia cơ.”
“Đúng vậy; nhưng em có thể cưỡi ngựa mà.”
“Còn anh thì sao?”
“Không, anh sẽ đi bộ.”
Y hệt như sự sắp xếp ban đầu giữa cô với Stephen. Chắc hẳn có một điềm rủi nào đó đang lơ lửng trên đầu cô. Nhưng cô thôi không phản đối nữa.
“Thôi được, Harry, em sẽ cưỡi ngựa,” cô ngoan ngoãn đáp.
Mười lăm phút sau, cô đã ở trên yên ngựa. Nhưng tâm trạng lúc này thật khác biệt làm sao so với lần trước. Quả thực, cô đã từ bỏ vị thế nữ vương của kẻ kém cỏi hơn để làm kẻ thần phục trước người vĩ đại hơn. Giờ đây nào có màn khoe mẽ nào; nào có chuyện phi nước đại khuất tầm mắt cùng chú ngựa Pansy để làm bạn đồng hành bối rối và mệt mỏi; chẳng có lời lẽ hỗn xược nào về LA BELLE DAME SANS MERCI. Elfride đang oằn mình gánh chịu sự mãnh liệt đến cùng cực của tình yêu.
Knight hầu như đảm nhận việc trò chuyện suốt dọc đường. Elfride lặng lẽ lắng nghe, phó mặc hoàn toàn bản thân theo nhịp chuyển động của con ngựa đi thong thả đang chở cô, lúc nhô lên lúc hạ xuống nhịp nhàng như một con chim hải âu trên sóng biển.
Khi họ đã đi đến giới hạn tối đa mà một sinh vật bốn chân có thể bước đi, Knight dịu dàng đỡ cô xuống ngựa, buộc nó lại, rồi cùng cô rảo bước đến chỗ chiếc ghế đá. Knight ngồi xuống, khéo léo kéo Elfride ngồi sát bên mình, và họ cùng hướng tầm mắt ra biển.
Lơ lửng cách cái đường chân trời đại dương u buồn và phẳng lặng vĩnh cửu ấy chừng hai, ba độ là một vầng thái dương bằng đồng, không có tia nắng nào hiện hữu, giữa một bầu bầu trời xám xịt như tro tàn. Đó là một thứ bầu trời mà mặt trời không thể soi rọi hay bừng sáng lên như thường lệ trong những buổi hoàng hôn. Tấm màn trời ấy giao thoa với khối nước mặn mòi màu xám, lốm đốm những vệt trắng đây đó. Một làn hơi ẩm thỉnh thoảng phả vào mặt họ, có lẽ là những hạt bọt nước li ti bay lên từ những con sóng đập vào chân vách đá.
Elfride ước gì khoảng thời gian cô từng ngồi nơi đây với Stephen với tư cách người yêu, và đã đồng ý làm vợ anh, lùi xa hơn trong quá khứ. Sự gần gũi đáng ngại của khoảng thời gian ấy với hiện tại lại là một chi tiết nữa cộng thêm vào danh sách những nỗi sợ hãi đầy dằn vặt vốn đã trở thành kinh niên đối với cô lúc này.
Thế nhưng chiều nay Knight rất đỗi dịu dàng, và anh ôm siết lấy cô khi họ ngồi bên nhau.
Cả hai không thốt lên lấy một lời kể từ lúc ngồi xuống, cho đến khi Knight trầm ngâm lên tiếng, mắt vẫn đăm đăm nhìn ra xa—
“Anh tự hỏi liệu trong những năm tháng qua có đôi tình nhân nào từng ngồi đây với vòng tay ôm siết lấy nhau như chúng ta lúc này không. Chắc là có rồi, vì nơi này trông như được sinh ra để làm ghế ngồi vậy.”
Hồi ức của cô về một cặp đôi quen thuộc từng ngồi đó, về hậu quả tai hại được bàn tán xôn xao phát sinh từ buổi hôm ấy, và cách mà người thanh niên nọ đã bị sai quay lại tìm kiếm món đồ thất lạc, đã khiến Elfride cúi nhìn xuống bên sườn mình và sau lưng. Rất nhiều người khi đánh rơi một món đồ trang sức thường vô thức liếc nhìn tìm kiếm nó trong giây lát khi đi ngang qua chỗ cũ dẫu thời gian đã trôi qua rất lâu. Họ đâu có dễ gì tìm lại được. Elfride, khi quay đầu lại, bỗng nhìn thấy một vật gì đó lấp lánh yếu ớt phát ra từ một khe nứt trên chiếc ghế đá tự nhiên. Chỉ trong vài phút ngắn ngủi ban ngày, ánh mặt trời mới chiếu rọi vào tận cùng những khe hở và kẽ nứt sâu kín nhất của hốc đá này, nhưng hóa ra đây chính là những khoảnh khắc ấy, và những tia nắng nằm ngang của nó đã mang lại cho Elfride một điềm lành hoặc điềm gở khi phơi bày món đồ trang sức đã mất.
Tâm trí Elfride ngay lập tức quay quắt trở lại với những lời cô từng vô tình thốt lên liên quan đến sự việc diễn ra lúc chiếc hoa tai bị đánh rơi. Và cô ngay lập tức bị ám ảnh bởi mối lo sợ rằng Knight, khi nhìn thấy vật ấy, sẽ liên tưởng đến lời nói của cô. Do đó, phản ứng bản năng của cô là tìm cách giấu nó đi một cách kín đáo.
Chiếc hoa tai nằm sâu trong kẽ nứt đến mức Elfride không thể dùng tay kéo nó ra được, dẫu cô đã thử lén lút làm vài lần.
“Em đang làm gì thế, Elfie?” Knight lên tiếng, nhận ra những nỗ lực của cô và cũng quay đầu nhìn ra phía sau.
Cô đã buông tay, nhưng đã quá muộn.
Knight dòm vào khe nứt nơi tay cô vừa rút ra, và nhìn thấy thứ mà cô vừa trông thấy. Anh lập tức rút cây bút máy trong túi ra, và nhờ kiên trì thọc lẩy cùng cạo bới, anh đã đưa được chiếc hoa tai ra ngoài khoảng đất trống.
“Chắc không phải của em chứ?” anh hỏi.
“Vâng, đúng là của em,” cô khẽ đáp.
“Chà, thật là một chuyện kỳ lạ hết sức, khi chúng ta lại tìm thấy nó theo cách thế này!” Knight lúc này chợt nhớ thêm nhiều tình tiết; “Sao cơ, đây có phải là chiếc mà em từng kể với anh không?”
“Vâng.”
Câu nói bất hạnh của cô vào khoảnh khắc trao nụ hôn lại hiện về trong tâm trí anh, nếu như ánh mắt quả thực là thứ có thể tin tưởng được. Dù đang cố nén lại nhưng anh vẫn thốt lên về vấn đề này, một phần để muốn có được sự đảm bảo rằng những gì sự việc từng ngụ ý hóa ra không phải sự thật, phần khác vì sự tò mò muốn bới móc chuyện quá khứ.
“Em thực sự từng đính hôn để kết hôn với người tình đó sao?” anh nói, lại nhìn thẳng ra biển.
“Vâng—nhưng không hẳn thế. Dù sao em cũng nghĩ là mình từng như vậy.”
“Ôi Elfride, đính hôn để kết hôn cơ đấy!” anh thì thầm.
“Chắc người ta sẽ gọi đó là một—cuộc đính ước bí mật, em đoán thế. Nhưng đừng có ra vẻ thất vọng như vậy; đừng trách em.”
“Không, không.”
“Sao anh lại nói ‘Không, không’ theo cái giọng điệu ấy? Nghe thì có vẻ dịu dàng đấy, nhưng sao mà nhạt thế?”
Knight không trả lời thẳng câu hỏi này. “Elfride, anh từng nói với em rồi,” anh nói, tiếp tục mạch suy nghĩ của mình, “rằng anh chưa từng hôn bất kỳ người phụ nữ nào với tư cách người yêu cho đến khi anh hôn em. Một nụ hôn thì có đáng là bao, anh đoán vậy, và hiếm có người trẻ tuổi nào lại có thể tránh được mọi lời tán tỉnh và sự săn đón ngoại trừ người mà sau này họ kết hôn. Nhưng anh mang những nỗi yếu mềm kỳ quặc, Elfride ạ; và vì anh đã sống một cuộc đời kỳ quặc, anh phải chịu đựng điều đó thôi, anh đoán thế. Anh từng hy vọng—chà, điều mà anh không có quyền hy vọng khi gắn liền với em. Tự nhiên là em đã ban cho người tình cũ những đặc quyền mà em đang dành cho anh.”
Một tiếng “vâng” phát ra từ cô giống như tiếng thì thầm cuối cùng và buồn bã của một ngọn gió.
“Và hắn ta từng hôn em—đương nhiên là thế rồi.”
“Vâng.”
“Và có lẽ em đã cho phép hắn ta tỏ tình một cách sỗ sàng hơn những gì anh từng thể hiện trong cách của anh.”
“Không, em không có.” Câu này được thốt lên có phần lanh lẹ hơn.
“Nhưng hắn ta cứ tự ý làm thế mà không cần được cho phép?”
“Vâng.”
“Anh đã nâng niu em biết bao, Elfride, và anh đã giữ khoảng cách biết bao!” Knight cất lời bằng giọng điệu sâu lắng và run rẩy. “Biết bao nhiêu ngày tháng anh đã đặt niềm tin nơi em—anh đã sợ hãi không dám hôn em nhiều hơn hai lần ấy. Thế mà hắn ta lại chẳng mảy may do dự để…”
Cô rúc sát vào người anh và run lên bần bật như thể đang lạnh lẽo. Nỗi sợ hãi của cô rằng toàn bộ câu chuyện, cùng với những lời thêu dệt ngẫu nhiên, sẽ bị anh phanh phui ra, khiến thái độ của cô trở nên hoảng loạn đến mức Knight vừa hoang mang vừa bối rối đến lặng người. Sự ngây thơ thực sự khiến cô cảm thấy sợ hãi tột cùng trước một việc mà đối với thói đời chẳng phải chuyện lớn lao gì, lại càng làm trầm trọng thêm tội lỗi bề ngoài của cô. Điều đó có lẽ đã nói với Knight rằng một người phụ nữ quá bấn loạn trong những khúc dạo đầu hẳn phải có một kết cục khủng khiếp cho câu chuyện của mình.
“Anh biết,” Knight tiếp tục, với một vẻ ỉu xìu và cung giọng khó tả,—“anh biết là mình quá mức câu nệ một cách ng ốc nghếch về em—rằng anh muốn em thuộc về riêng một mình anh quá mức. Trong quá khứ của em trước khi biết anh—từ thuở lọt lòng—anh đã muốn nghĩ rằng em vốn dĩ là của anh. Anh muốn dùng vũ lực để biến em thành của anh. Elfride,” anh tuôn ra đầy phẫn uất, “anh không tài nào kìm nén được cơn ghen tuông này đối với em! Đó là bản chất của anh, và buộc phải thế, và anh GHÉT cái sự thật rằng em từng được vuốt ve trước đây: vâng, ghét nó!”
Cô hít một hơi thật dài và sâu, nghe nửa như tiếng nấc. Gương mặt Knight cứng đờ, và anh hoàn toàn không thèm nhìn cô lấy một cái, vẫn dán mắt ra xa khơi tơi tận ngoài khơi—nơi ánh mặt trời giờ đây đã nhường chỗ cho bóng râm. Ở những nơi cao ráo, khoảng cách từ hoàng hôn đến đêm tối chẳng bao lâu, chạng vạng gần như bị xóa bỏ, và dẫu nơi họ ngồi mới chỉ là buổi chiều, thì ở các thung lũng trời đã tối sẩm được nửa tiếng nay rồi. Trên mặt biển mờ đục, ánh sáng của một con tàu hải đăng ở đằng xa dần dần rực lên hiện hữu.
“Khi người tình đó hôn em lần đầu tiên, Elfride, có phải ở một nơi thế này không?”
“Vâng, đúng vậy.”
“Em chẳng chịu kể cho anh điều gì trừ khi anh phải gặng hỏi mới moi ra được. Tại sao lại thế? Tại sao em lại giấu giếm mọi lời nhắc đến chuyện này khi những tâm sự bâng quơ của anh đáng lẽ phải gợi mở sự tin tưởng từ phía em chứ? Trên tàu Juliet, tại sao em lại giữ kín đến thế? Cảm giác giống như bị biến thành kẻ ngốc vậy, Elfride ạ, khi nghĩ rằng trong lúc anh đang dạy em về sự cần thiết phải sống không có điều gì phải giấu giếm nhau, thì miệng em thì đồng ý, nhưng hành động lại mâu thuẫn với anh. Sự tin tưởng đáng lẽ đã hứa hẹn nhiều hơn cho hạnh phúc của chúng ta. Nếu em tin tưởng anh, và sẵn lòng kể cho anh nghe, thì anh đã—khác đi rồi. Nhưng em giấu giếm mọi thứ, và anh sẽ gặng hỏi em. Thời gian đó em có sống ở Endelstow không?”
“Vâng,” cô đáp yếu ớt.
“Lúc hắn hôn em lần đầu tiên, em đang ở đâu?”
“Ngồi trên chiếc ghế này.”
“À, anh biết ngay mà!” Knight nói, đứng dậy và đối diện với cô.
“Và điều đó giải thích cho tất cả—cái tiếng kêu mà em đã ngụy biện một cách gian dối, và mọi thứ! Hãy tha thứ cho từ ngữ cay nghiệt ấy, Elfride—xin hãy tha thứ cho nó.” Anh nở một nụ cười gượng gạo trên môi khi tiếp tục: “Anh mới thật thảm hại làm sao khi cứ phải đóng vai kép phụ trong mọi chuyện và để bị lừa phỉnh bởi những lời dối trá!”
“Ồ, đừng nói thế; đừng, Harry!”
“Ngoài đây ra hắn còn hôn em ở đâu nữa?”
“Ngồi trên—một ngôi mộ ở—nghĩa trang—và vài nơi khác nữa,” cô đáp với vẻ buông xuôi chậm rãi.
“Thôi đi, thôi đi,” anh thốt lên, khi thấy nước mắt và vẻ bấn loạn của cô. “Anh không muốn làm em buồn. Anh không thèm quan tâm.”
Nhưng Knight có quan tâm.
“Nó chẳng có gì khác biệt cả, em biết đấy,” anh tiếp tục, khi thấy cô không đáp lời.
“Em thấy lạnh,” Elfride nói. “Chúng ta về nhé?”
“Ừ; đã muộn rồi để ngồi ngoài trời lâu thế này: chúng ta nên rời khỏi mỏm đá này trước khi trời quá tối khiến chúng ta không thấy đường đi lối bước. Anh dám cá là con ngựa đang sốt ruột lắm rồi.”
Lúc này Knight chỉ nói với cô những câu chuyện xã giao tầm phào nhất. Anh đã hy vọng cho đến phút chót rằng cô sẽ tự nguyện kể toàn bộ câu chuyện về mối tình đầu của mình. Việc cô mang một bí mật mang tính chất thế này khiến anh ngày càng khó chịu. Sự tin tưởng tuyệt đối như anh từng hình dung sẽ tồn tại giữa anh và người vợ trẻ ngây thơ chưa từng biết đến âm điệu tình yêu nào ngoài anh—đây chính là sự khởi đầu của nó sao? Anh bỡ cô lên yên ngựa, và họ lầm lũi đi bên nhau đầy gượng gạo. Nọc độc của sự nghi kỵ đang phát huy tác dụng rất tốt.
Một sự việc đã xảy ra trên đường về nhà khiến cả hai ghi nhớ mãi như một bóng tối chồng chất thêm bóng tối. Knight không tài nào gạt khỏi tâm trí những lời trách móc của Adam dành cho Eve trong THIÊN ĐƯỜNG ĐÃ MẤT, và cuối cùng anh thì thầm với chính mình—
“Bị lừa phỉnh và phỉnh gạt: bởi hắn nàng, anh bởi nàng!”
“Anh vừa nói gì thế?” Elfride rụt rè hỏi.
“Chỉ là một câu trích dẫn thôi.”
Lúc này họ đã đi xuống một vùng trũng, và ngọn tháp nhà thờ hiện lên nổi bật trên nền trời chiều nhạt nhòa, phần chân tháp bị che khuất bởi vài tán cây chắn ngang. Elfride, vì không nhận được câu trả lời, đang ngước nhìn ngọn tháp và cố nghĩ ra một câu trích dẫn tương phản nào đó có thể dùng để lấy lại sự dịu dàng của anh. Sau một lát suy nghĩ, cô cất giọng đầy quyến rũ—
‘Chúa là nơi dung thân của con, là tháp kiên cố che chở con trước kẻ thù.’”
Họ tiếp tục đi. Vài phút sau, ba bốn con chim bay vụt ra từ ngọn tháp.
“Ngọn tháp kiên cố đang chuyển động kìa,” Knight kinh ngạc nói.
Một góc của khối vuông vức ngả về phía trước, sụt xuống và biến mất. Một tiếng ầm vang theo sau, và một đám mây bụi trùm lên nơi mà ban nãy mọi thứ vẫn còn vô cùng quang đãng.
“Những người trùng tu nhà thờ đã làm việc đó!” Elfride nói.
Đúng lúc này, người ta thấy ông Swancourt đang tiến lại gần họ. Ông bước tới với tác phong tất bật, có vẻ như đang bận bịu lắm với công việc dang dở trên tay.
“Chúng tôi đã hạ được ngọn tháp xuống rồi!” ông hào hứng kêu lên. “Nó sập xuống nhanh hơn chúng tôi dự tính một chút. Ý định ban đầu là tháo dỡ nó từng hòn đá một cơ. Trong lúc làm việc đó, vết nứt ngày càng loang rộng ra và người ta cho rằng công nhân đứng trên tường không còn an toàn nữa. Thế là chúng tôi quyết định khoét chân tường, và ba người thợ đã bắt tay vào làm ở góc yếu nhất chiều nay. Họ vừa nghỉ tay để chuẩn bị cho cú đánh chí mạng vào sáng mai, và đã về nhà được chừng nửa tiếng thì nó đổ sập xuống. Quả là một công việc thành công mĩ mãn—một công việc thực sự tuyệt vời. Dù sao thì nó cũng là một lão già cứng đầu bất chấp vết nứt.” Đến đây, ông Swancourt lau mồ hôi trên mặt do sự phấn khích gây ra.
“Tội nghiệp ngọn tháp cũ kỹ!” Elfride nói.
“Vâng, tôi cũng thấy tiếc,” Knight nói. “Đó là một di tích cổ thú vị—một biên niên sử địa phương về nghệ thuật địa phương.”
“Ồ, nhưng anh thân mến ạ, chúng ta sẽ có một cái mới mà,” ông Swancourt phản bác; “một ngọn tháp lộng lẫy—do một kiến trúc sư hàng đầu Luân Đôn thiết kế—theo phong cách nghệ thuật Gothic tân thời nhất, và đong đầy tinh thần Ki-tô giáo.”
“Thật thế sao?” Knight nói.
“Ồ vâng chứ. Không phải kiểu kiến trúc thô kệch vụng về của vùng này đâu; các anh chẳng thể tìm thấy nơi nào khác ở nước Anh có vẻ thô ráp và ngoại giáo đến thế. Khi công nhân đi hết rồi, tôi khuyên anh nên ghé qua xem nhà thờ trước khi có thêm bất kỳ hành động nào khác được thực hiện với nó. Giờ đây anh có thể ngồi trong cung thánh, nhìn thẳng xuống gian giữa qua vòm cửa phía tây, và qua khung cửa đó nhìn ra tận ngoài khơi xa. Thực ra,” ông Swancourt ám chỉ nói, “nếu một đám cưới được cử hành ở bàn thờ vào sáng mai, người ta có thể chứng kiến nó từ boong của một con tàu đang trên hải trình đến Nam Hải, nếu dùng một ống nhòm tốt. Dù sao thì, sau bữa tối, khi trăng đã lên, hãy cứ lên đó mà tự mình mục sở thị.”
Knight sốt sắng đồng ý một cách đầy phấn khích. Chỉ trong vài phút vừa qua, anh đã quyết định rằng mình không thể chịu đựng thêm một đêm trăn trở nào nữa mà không nói chuyện thêm với Elfride về vấn đề đang chia rẽ họ lúc này: anh hạ quyết tâm phải biết tất cả mọi chuyện, và giải tỏa nỗi bất an của mình bằng cách nào đó. Elfride hẳn đã rất vui mừng nếu được tránh khỏi việc tiếp tục trò chuyện riêng với anh tối hôm đó, nhưng xem ra điều đó là không thể tránh khỏi.
Ngay sau khi trăng lên, họ rời khỏi nhà. Hy vọng về khung cảnh ánh trăng—lý do công khai cho cuộc hành hương của họ—thực ra chẳng dính dáng mấy đến động cơ thực sự của Knight trong việc lại kéo cô gái dịu dàng ấy tì vào cánh tay mình, điều đó thì Elfride cũng như chính bản thân anh đều thừa hiểu.