Bác Sĩ Fu Manchu Nham Hiểm

Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 29

❊ ❊ ❊

Trời đang sẩm tối khi chúng tôi rảo bước hướng về Maple Cottage. Nayland Smith tỏ ra vô cùng tò mò về đặc điểm của khu vực này. Dọc theo con đường chúng tôi đi một đoạn khá dài là bức tường cao cổ kính. Về sau, nó nhường chỗ cho một hàng rào xiêu vẹo.

Bạn tôi liền dòm qua một khe hở trên hàng rào ấy.

"Nơi đây có một khuôn viên khá rộng lớn," anh nói, "vẫn chưa bị phân lô để xây nhà. Một bên rợp bóng cây, và phía dưới hình như có một cái ao."

Con đường khá yên tĩnh, và chúng tôi nghe rõ mồn một tiếng bước chân – hoàn toàn không thể nhầm lẫn – của một viên cảnh sát đang đến gần. Smith tiếp tục dòm qua khe hở trên hàng rào cho đến khi viên sĩ quan đi ngang tầm với chúng tôi.

Rồi anh hỏi:

"Miếng đất này có kéo dài đến tận ngôi làng không hả anh cảnh sát?"

Sẵn lòng trò chuyện, viên cảnh sát dừng lại, đứng chống nải hai tay vào thắt lưng.

"Thưa vâng, ông. Người ta bảo sẽ có ba con đường mới mở xuyên qua đây từ đoạn này cho đến ngọn đồi."

"Chắc đây là chốn tụ tập ưa thích của đám lang thang lắm nhỉ?"

"Đôi khi tôi cũng thấy dăm ba gã có vẻ khả nghi lảng vảng quanh đây. Nhưng sau khi trời tối thì dù cả một đội quân ẩn náu bên trong cũng chẳng ai mảy may hay biết."

"Các vụ trộm cắp có thường xảy ra ở những ngôi nhà có mặt lưng giáp với khu này không?"

"Ồ, không. Trò tiêu khiển khoái khẩu ở vùng này là hớt tay trên mấy ổ bánh mì và chai sữa đặt trước cửa nhà ngay từ sáng sớm lúc chúng vừa được giao tới. Dạo này tình trạng đó xảy ra nhiều hơn hẳn. Đồng nghiệp thay ca cho tôi đã được giao nhiệm vụ đặc biệt là phải canh chừng vào các buổi sáng!" Viên cảnh sát toét miệng cười. "Có bắt được ai thì cũng chẳng phải vụ án gì lớn lao!"

"Không," Smith đáp vẻ đẫn trí; "có lẽ vậy. Thời tiết ấm áp thế này chắc công việc của các anh khô khan lắm. Chúc anh ngủ ngon."

"Chúc ông ngủ ngon," viên cảnh sát đáp, trong túi đã bỏ thêm một đồng nửa vương miện – "và cảm ơn ông."

Smith đứng nhìn theo anh ta một lát, tay đăm chiêu giật giật dái tai.

"Tôi không chắc rốt cuộc đây lại không phải là một vụ án lớn đâu," anh thì thầm. "Đi thôi, Petrie."

Anh không thốt thêm lời nào nữa cho đến khi chúng tôi đứng trước cổng Maple Cottage. Tại đó, một cảnh sát mặc thường phục đang đứng, rõ ràng là để chờ Smith. Anh ta giơ tay chào kính.

"Anh đã tìm được chỗ ẩn nấp thích hợp chưa?" người bạn đồng hành của tôi hỏi dồn.

"Thưa rồi ạ," câu trả lời vang lên. "Kent – đồng nghiệp của tôi – đang ở đó. Ông sẽ thấy là từ đây không thể nhìn thấy anh ấy."

"Tốt," Smith vừa đáp vừa đảo mắt nhìn quanh. "Không thấy được thật. Cậu ấy đâu?"

"Sau bức tường đổ," người cảnh sát giải thích, vừa đưa tay chỉ. "Xuyên qua đám lá thường xuân đó có thể nhìn rõ cửa ngôi nhà."

"Được. Hãy canh chừng cẩn thận. Nếu có người đến đưa tin cho tôi, anh phải chặn lại, hiểu chứ. Tuyệt đối không để ai làm phiền chúng ta. Anh sẽ nhận ra người đưa tin đó. Anh ta là một trong số các đồng nghiệp của anh. Nếu hắn đến – hãy hú ba lần, giống tiếng cú kêu nhất có thể."

Chúng tôi bước lên hiên nhà. Đáp lại tiếng chuông của Smith là James Weymouth, gương mặt tỏ rõ vẻ nhẹ nhõm khi thấy chúng tôi đến.

"Trước hết," bạn tôi nói nhanh, "anh nên lên lầu thăm bệnh nhân đi."

Theo lời, tôi bước theo Weymouth lên lầu và được vợ anh ta dẫn vào một phòng ngủ ngăn nắp, nơi người phụ nữ đau khổ đang nằm, trông thật tiều tụy đáng thương.

"Chị đã cho bệnh nhân uống thuốc theo đúng chỉ dẫn chưa?" tôi hỏi.

Bà James Weymouth gật đầu. Bà là một phụ nữ có khuôn mặt phúc hậu, ẩn chứa trong đôi mắt màu nâu hạt dẻ cùng một nỗi sợ hãi ám ảnh giống hệt nỗi sợ đang thấp thoáng trong đôi mắt xanh của chồng.

Bệnh nhân đang ngủ say. Tôi dặn dò y tá trung thực vài điều bằng giọng thì thầm rồi đi xuống phòng khách. Đêm nay trời ấm, Weymouth đang ngồi bên khung cửa sổ mở toang để hút thuốc. Ánh đèn mờ ảo từ chiếc bàn học hắt lên khiến anh trông có nét giống người anh trai đến mức giật mình; và trong chốc lát, tôi đứng sững ở chân cầu thang, gần như không dám tin vào phán đoán của mình. Rồi anh quay hẳn mặt về phía tôi, và ảo ảnh ấy vụt tan.

"Bác sĩ nghĩ cô ấy có khả năng tỉnh dậy không?" anh hỏi.

"Tôi nghĩ là không," tôi đáp.

Nayland Smith đang đứng trên tấm thảm trước lò sưởi, nhún nhảy từ chân này sang chân kia theo điệu bộ bồn chồn lo lắng quen thuộc. Căn phòng đặc quánh khói thuốc, vì anh cũng đang hút thuốc.

Cứ khoảng năm đến mười phút, chiếc tẩu brier nhọ nhem của anh (mà tôi chưa từng thấy anh làm sạch hay cạo muội bao giờ) lại tắt ngúm. Tôi nghĩ Smith dùng nhiều diêm hơn bất cứ người hút thuốc nào tôi từng gặp, và anh luôn mang theo ba hộp diêm ở các túi khác nhau trên trang phục.

Thói quen hút thuốc có tính lây lan, và khi ngồi xuống chiếc ghế bành, tôi liền châm một điếu thuốc lá. Để chuẩn bị cho buổi canh gác ảm đạm này, tôi đã mang theo một tập ghi chú nháp, một cuốn sổ tay và một cây bút máy. Tôi ổn định chỗ ngồi để tiếp tục công việc ghi chép lại vụ án Fu-Manchu.

Sự tĩnh mịch bao trùm Maple Cottage. Ngoại trừ tiếng thở dài rợn ngợp lướt qua những tán cây tuyết tùng rủ xuống và tiếng quẹt diêm đều đặn của Smith, không có gì làm xáo trộn công việc của tôi. Thế nhưng tôi chẳng thể tiến triển được bao nhiêu. Giữa tâm trí tôi và chương sách đang viết cứ vương vất mãi một câu văn. Tựa như có một bàn tay vô hình đang giữ chặt trang giấy viết trước mắt tôi vậy. Đó là câu này:

"Hãy tưởng tượng một con người cao gầy, dáng đi uyển chuyển như loài mèo, vai gầy nhô cao, với vầng trán như Shakespeare và khuôn mặt như Satan, cái đầu cạo trọc, và đôi mắt dài mang từ tính với sắc xanh lá cây đặc trưng của loài mèo; hãy phú cho hắn toàn bộ sự xảo quyệt tàn độc của cả một chủng tộc phương Đông, dồn tụ lại trong một trí tuệ khổng lồ..."

Bác sĩ Fu-Manchu! Fu-Manchu đúng như lời Smith đã miêu tả cho tôi vào đêm tối mà giờ đây tưởng chừng như đã trôi qua từ rất lâu – đêm mà tôi biết đến sự tồn tại của sinh thể kỳ diệu và tà ác được sinh ra từ mầm mống bí ẩn đang cựa quậy trong lòng dạ các dân tộc da vàng.

Khi Smith gõ gõ chiếc tẩu vào thanh chắn lò sưởi lần thứ chín hoặc thứ mười, chiếc đồng hồ quả lắc hình con cu cừu trong bếp vang lên báo giờ.

"Hai giờ," James Weymouth nói.

Tôi gác lại công việc, cất tập ghi chú và sổ tay vào chiếc túi mang theo. Weymouth chỉnh lại ngọn đèn đang bắt đầu bốc khói.

Tôi nhón chân bước về phía cầu thang và nhẹ nhàng lên lầu thăm phòng bệnh. Mọi thứ vẫn yên tĩnh, và bà Weymouth thì thầm với tôi rằng bệnh nhân vẫn đang ngủ rất say. Tôi quay lại và thấy Nayland Smith đang đi qua đi lại trong phòng với vẻ căng thẳng bị nén giọt thường trực ở anh mỗi khi có biến cố cận kề. Đến hai giờ mười lăm phút, cơn gió lặng hẳn, và một sự tĩnh mịch bao trùm xung quanh đến mức tôi không thể ngờ lại có thể tĩnh lặng đến thế ở một nơi gần sát với trái tim đập không ngừng nghỉ của đại đô thị lớn. Tôi có thể nghe rõ tiếng thở dốc của Weymouth. Anh ngồi bên cửa sổ, phóng tầm mắt vào những bóng râm đen đặc dưới tán cây tuyết tùng. Smith dừng bước, đứng lặng yên trên tấm thảm. Anh đang lắng nghe! Tôi chắc rằng tất cả chúng tôi đều đang lắng nghe.

Một thứ âm thanh mờ ảo phá vỡ sự tĩnh lặng ấn tượng, phát ra từ phía con đường làng. Đó là một thứ tiếng động mơ hồ, không rõ ràng, ngắn ngủi, và theo sau nó là một sự im lặng còn nặng nề hơn trước. Vài phút trước, Smith đã tắt đèn. Trong bóng tối, tôi nghe thấy tiếng răng anh nghiến chặt vào nhau.

Tiếng cú kêu vang lên vô cùng rõ ràng ba lần.

Tôi hiểu điều đó có nghĩa là người đưa tin đã đến; nhưng từ đâu tới hay mang theo tin tức gì thì tôi không biết. Kế hoạch của bạn tôi vượt quá tầm hiểu biết của tôi, và tôi cũng không gặng hỏi anh bất kỳ lời giải thích nào về bản chất của chúng, bởi tôi biết anh đang rơi vào tâm trạng căng thẳng và có phần cáu kỉnh thường thấy ở những thời điểm bất định – khi anh hoài nghi sự khôn ngoan trong hành động của mình, hay sự chính xác trong phỏng đoán của bản thân. Anh không hề đưa ra dấu hiệu nào.

Tôi nghe rất mơ hồ tiếng chuông đồng hồ điểm rưỡi. Một cơn gió nhẹ lại lướt qua những cành cây phía trên. Tôi thầm nghĩ có lẽ gió đã đổi chiều vì trước đó tôi không hề nghe tiếng chuông đồng hồ. Ở một nơi hẻo lánh thế này, thật khó tin rằng đó lại là tiếng chuông của nhà thờ St. Paul. Thế nhưng sự thật đúng là như vậy.

Và ngay tiếp sau tiếng chuông ấy là một âm thanh khác – âm thanh mà tất cả chúng tôi đều đã dự liệu, đã ngóng chờ; nhưng khi nó thực sự vang lên, tôi nghĩ chẳng ai trong chúng tôi còn giữ được hoàn toàn sự bình tĩnh.

Xé toang sự tĩnh lặng bằng một cách khiến tim tôi đập loạn xạ, nó đến rồi – tiếng gõ cửa dồn dập đầy tính mệnh lệnh!

"Chúa tôi ơi!" Weymouth rên rỉ – nhưng anh không hề rời khỏi vị trí bên cửa sổ.

"Chuẩn bị sẵn sàng, Petrie!" Smith nói.

"Sải bước tới cửa – và tung hoang cửa ra."

Tôi biết mặt mình cắt không còn giọt máu. Tôi nghĩ mình đã thét lên khi lùi lại phía sau – lùi bước với hai nắm tay siết chặt trước THỨ đang đứng ngay ngưỡng cửa.

Đó là một sinh dạng hoang dã, xơ xác với bộ râu bờm xờm và đôi mắt trợn ngược gớm ghiếc. Hai tay hắn bứt tóc – cào cấu cằm mình; cấu xé miệng hắn. Không có ánh trăng nào chiếu vào các đường nét của vị khách kỳ quái cõi âm này, nhưng dẫu ánh sáng có phần hắt hiu, chúng tôi vẫn thấy rõ hàm răng trắng loé – và đôi mắt trợn trừng hoang dại.

Hắn bắt đầu cười – tràng này tiếp tràng khác – ghê rợn và chói tai.

Chưa từng có điều gì kinh hoàng đến thế dội vào tai tôi. Tôi tê liệt trước nỗi kinh hoàng của âm thanh ấy.

Rồi Nayland Smith bấm nút chiếc đèn pin cầm tay. Anh chiếu thẳng luồng sáng trắng vào khuôn mặt đang hiện diện ở khung cửa.

"Ôi Chúa ơi!" Weymouth gào lên. "Là John!" – và lặp đi lặp lại: "Ôi Chúa ơi! Ôi Chúa ơi!"

Có lẽ lần đầu tiên trong đời, tôi thực sự tin tưởng (phải, tôi không thể nghi ngờ gì nữa) rằng một thứ đến từ thế giới khác đang đứng trước mặt mình. Tôi hổ thẹn khi phải thú nhận mức độ kinh hoàng đã tràn ngập lấy tôi. James Weymouth giơ cao hai tay, như thể muốn đẩy lùi thứ khủng khiếp đó ra khỏi cửa. Hắn lắp bắp lầm bầm – những lời cầu nguyện, tôi nghĩ vậy, nhưng hoàn toàn đứt quãng vô nghĩa.

"Giữ hắn lại, Petrie!"

Giọng Smith trầm đạm. (Khi chúng tôi đã vượt quá khả năng suy nghĩ hay hành động minh mẫn, anh – người giữ thế chủ động và bình tĩnh với sự điềm tĩnh gượng gạo mà khi cơn bão qua đi, anh luôn phải trả giá đắt – vẫn đang nghĩ về người phụ nữ đang ngủ ở tầng trên.)

Anh lao về phía trước; và ngay khoảnh khắc anh vật lộn với kẻ vừa gõ cửa, tôi nhận ra vị khách ấy thực chất là một con người bằng xương bằng thịt – một kẻ đang gào thét và chiến đấu như một con thú hoang, sùi bọt mép và nghiến răng trong cơn cuồng nộ đáng sợ; nhận ra hắn là một kẻ mất trí – nhận ra hắn là nạn nhân của Fu-Manchu – không hề chết, mà vẫn đang sống – chính là Thanh tra Weymouth – một kẻ điên!

Trong chớp mắt, tôi nhận thức được toàn bộ sự việc và lao đến tiếp ứng cho Smith. Tiếng bước chân rầm rập vang lên và những người nãy giờ canh gác bên ngoài liền chạy xộc vào hiên nhà. Một người thứ ba đi cùng họ; và cả năm chúng tôi (vì anh trai của Weymouth vẫn chưa hoàn toàn nhận thức được rằng một con người bằng xương bằng thịt chứ không phải ma quỷ đang gào thét hú hét giữa chúng ta) cùng bám chặt lấy gã điên cuồng bạo, nhưng cũng chật vật lắm mới kìm chế nổi hắn.

"Cái ống tiêm, Petrie!" Smith thở dốc. "Nhanh lên! Anh phải tìm cách tiêm cho hắn!"

Tôi gỡ tay ra và lao vào nhà lấy túi thuốc. Tôi đã mang theo một ống tiêm dưới da đã được hút thuốc sẵn theo yêu cầu của Smith. Ngay cả trong khoảnh khắc nghẹt thở ấy, tôi vẫn kịp thán phục sự trù liệu tuyệt vời của bạn tôi – người đã đoán trước được chuyện gì sẽ xảy ra – tách bạch sự thật kỳ lạ và đáng thương khỏi mớ hoàn cảnh hỗn độn chứng kiến chúng tôi có mặt tại Maple Cottage đêm đó.

"Xin phép tôi không đi sâu vào đoạn kết của cuộc vật lộn khủng khiếp ấy. Đã có lúc tôi tuyệt vọng (tất cả chúng tôi đều tuyệt vọng) về việc làm dịu đi sinh linh khốn khổ mất trí ấy. Nhưng cuối cùng mọi chuyện cũng xong; và gã đàn ông gầy guộc, đẫm máu mà chúng tôi từng biết đến với tư cách Thám tử Thanh tra Weymouth nay nằm bất động trên chiếc ghế dài ngay tại phòng khách nhà hắn. Trong tâm trí tôi trào lên một sự kinh ngạc khôn cùng trước thiên tài của sinh thể quái đản kia, kẻ chỉ với một mũi kim cào nhẹ đã biến một người đàn ông dũng cảm, nhân hậu thành một sinh vật nhơ nhớp, thú tính này."

Nayland Smith, gầy guộc, mắt quầng hoang dại và vẫn đang run rẩy sau những nỗ lực tột độ, quay sang người mà tôi biết là sứ giả từ Scotland Yard.

"Sao rồi?" anh cất giọng sắc lạnh.

"Hắn đã bị bắt, thưa ngài," thám tử báo cáo. "Họ đã giữ hắn tại phòng làm việc theo đúng lệnh của ngài."

"Cô ấy có ngủ xuyên suốt qua chuyện này không?" Smith hỏi tôi. (Tôi vừa từ phòng trên bước xuống.) Tôi gác đầu xác nhận.

"HẮN có an toàn trong một hai tiếng nữa không?" – anh ra hiệu về phía bóng người nằm trên ghế dài.

"Đủ cho tám hay mười tiếng," tôi đáp giọng lạnh tanh.

"Vậy thì đi thôi. Công việc của đêm nay vẫn chưa hoàn thành đâu."

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.