Tuyển tập truyện ngắn hài hước xuất sắc nhất nước Mỹ

Lượt đọc: 74 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NHỮNG CON NGƯỜI TỬ TẾ

❊ ❊ ❊

“Họ quả thực là những con người tử tế,” tôi tán đồng nhận xét của vợ, dùng cái cụm từ bình dân đó với ý thức rõ ràng rằng đó chẳng phải là thứ tiếng Anh “tử tế” gì cho cam, “và anh cá rằng ba đứa con của họ được giáo dục tử tế hơn hẳn hầu hết những...”

“Hai đứa con,” vợ tôi sửa lưng.

“Ba, anh ấy bảo với anh thế.”

“Anh thân mến, cô ấy bảo là có hai đứa.”

“Anh ta nói ba.”

“Anh chỉ đơn giản là đã quên thôi. Em chắc chắn cô ấy đã nói với em là họ chỉ có hai đứa – một trai một gái.”

“Chà, anh đâu có đi sâu vào chi tiết.”

“Không, anh yêu, và anh chắc là đã hiểu sai ý anh ta rồi. Hai đứa trẻ.”

“Được rồi,” tôi đáp; nhưng trong lòng tôi thấy chẳng ổn chút nào. Như một người bị cận thị nhờ rèn luyện khả năng quan sát mà học được cách nhận diện người khác ở xa ngay cả khi không nhìn rõ mặt, thì kẻ có trí nhớ tồi cũng học được, gần như vô thức, cách lắng nghe cẩn thận và tường thuật chính xác. Trí nhớ của tôi rất tệ; nhưng tôi chưa đến nỗi quên mất việc ông Brewster Brede đã nói với tôi vào buổi chiều hôm đó rằng ông có ba đứa con, hiện đang được gửi cho bà ngoại trông nom trong khi vợ chồng ông đi nghỉ hè.

“Hai đứa trẻ,” vợ tôi lặp lại; “và chúng đang ở cùng dì Jenny của anh ta.”

“Anh ta nói với anh là ở cùng bà ngoại,” tôi góp ý. Vợ tôi nhìn tôi với vẻ mặt nghiêm trọng. Đàn ông có thể không nhớ nhiều những gì họ được kể về lũ trẻ; nhưng bất cứ người đàn ông nào cũng biết sự khác biệt giữa một người dì và một người mẹ vợ.

“Nhưng anh không nghĩ họ là những con người tử tế sao?” vợ tôi hỏi.

“Ồ, tất nhiên rồi,” tôi đáp. “Chỉ là họ có vẻ hơi lẫn lộn về lũ trẻ của mình.”

“Nói vậy không tử tế chút nào đâu,” vợ tôi vặn lại. Tôi không thể chối cãi được.

Vậy mà, sáng hôm sau, khi vợ chồng nhà Brede bước xuống và ngồi đối diện với chúng tôi tại bàn ăn, rạng rỡ và mỉm cười theo phong cách tự nhiên, dễ chịu, lịch thiệp, tôi biết chắc chắn, theo các tiêu chuẩn xã giao, rằng họ đúng là những con người “tử tế”. Người chồng là một gã có ngoại hình đẹp trong bộ đồ tennis bằng vải flannel gọn gàng, vóc dáng mảnh khảnh, duyên dáng, tầm hai mươi tám hay ba mươi tuổi, với chỏm râu nhọn kiểu Pháp. Người vợ “tử tế” trong tất cả những bộ cánh xinh xắn của mình, và bản thân cô cũng xinh xắn theo cái kiểu nhan sắc bền bỉ hơn hầu hết những kiểu khác – vẻ xinh xắn nằm ở dáng người tròn trịa, nước da ngăm, đôi má hồng hào, bụ bẫm, hàm răng trắng và đôi mắt đen láy. Cô có thể đã hai mươi lăm tuổi; bạn đoán chừng cô còn xinh đẹp hơn lúc hai mươi, và sẽ càng xinh đẹp hơn nữa khi bốn mươi.

Và những con người tử tế là tất cả những gì chúng tôi cần để cảm thấy hạnh phúc tại nhà trọ mùa hè của ông Jacobus trên đỉnh núi Orange. Suốt cả tuần, sáng nào chúng tôi cũng xuống dùng bữa sáng, tự hỏi tại sao mình lại lãng phí những ngày nhàn rỗi quý báu với đám người tụ tập quanh cái bàn ăn của nhà Jacobus. Niềm vui giao lưu con người nào có thể tìm thấy ở bà Tabb và cô Hoogencamp, hai bà cô ngồi lê đôi mách trung niên đến từ Scranton, tiểu bang Pennsylvania – ở ông bà Biggle, một gã kế toán trưởng cứng nhắc và người vợ nghiêm nghị, hay soi mói của ông ta – ở lão thiếu tá Halkit, một doanh nhân đã nghỉ hưu, kẻ từng bán vài cổ phiếu hoa hồng nên giờ cứ viết thư xin tờ rơi quảng cáo cho mọi công ty cổ phần vừa thành lập, rồi cố gắng thuyết phục bất cứ ai chịu nghe mình đầu tư? Chúng tôi nhìn quanh những gương mặt tẻ nhạt đó, những chỉ dấu chân thực cho một tâm trí bần tiện và cằn cỗi, và quyết định rằng chúng tôi sẽ rời đi vào sáng hôm đó. Rồi chúng tôi ăn bánh quy của bà Jacobus, nhẹ tựa những đám mây của nàng Aurora, uống thứ cà phê chân chất của bà, hít hà mùi hương của những khóm đỗ quyên muộn mà bà trang trí trên bàn ăn, và quyết định trì hoãn việc rời đi thêm một ngày nữa. Sau đó, chúng tôi tản bộ ra ngoài để ngắm nhìn buổi sáng cái mà chúng tôi gọi là “tầm nhìn của chúng tôi”; và dường như với chúng tôi, lũ Tabb, Hoogencamp, Halkit và nhà Biggles chẳng thể đuổi nổi chúng tôi đi trong vòng một năm nữa.

Tôi không lấy làm ngạc nhiên khi, sau bữa sáng, vợ tôi mời vợ chồng nhà Brede cùng đi bộ đến “tầm nhìn của chúng tôi”. Phe Hoogencamp-Biggle-Tabb-Halkit chẳng bao giờ rời khỏi hiên nhà ông Jacobus; nhưng cả hai chúng tôi đều cảm thấy vợ chồng nhà Brede sẽ không làm hoen ố khung cảnh thiêng liêng ấy. Chúng tôi thong thả băng qua những cánh đồng, đi xuyên qua dải rừng nhỏ, và khi nghe thấy tiếng kêu đầy ngạc nhiên thích thú của bà Brede, tôi ra hiệu cho Brede nhìn lên.

“Chà chà!” anh ta kêu lên, “thật thiên đường!”

Chúng tôi nhìn từ sườn núi ra xa, qua mười lăm dặm cây xanh nhấp nhô, đến tận nơi mà phía bên kia dải đất trải dài màu xanh nhạt là một vệt tím mờ mà chúng tôi biết là đảo Staten. Những thị trấn và làng mạc nằm trước mắt và dưới chân chúng tôi; có những dãy núi và đồi, những vùng cao và vùng thấp, những cánh rừng và đồng bằng, tất cả hòa quyện và đan xen trong cái biển xanh tắm mình dưới nắng ấy. Vì nó thật im lặng đối với chúng tôi, những kẻ đang đứng trong sự tĩnh lặng của một nơi cao – tĩnh lặng với vẻ yên bình của ngày Chủ nhật khiến chúng tôi lắng tai nghe, mà chẳng cần suy nghĩ, tiếng chuông ngân vọng lên từ những ngọn tháp nhô lên trên những tán cây – những tán cây nằm xa dưới chân chúng tôi như những đám mây nhạt ở trên đầu, thả những cái bóng lớn xuống đầu chúng tôi và những đốm râm mát mờ nhạt trên dải đất rộng lớn dưới chân núi.

“Và đó là tầm nhìn của anh chị sao?” bà Brede hỏi, sau một lúc; “anh chị thật hào phóng khi chia sẻ nó với chúng tôi.”

Sau đó, chúng tôi nằm xuống thảm cỏ, và Brede bắt đầu trò chuyện, giọng nhẹ nhàng như thể cảm nhận được ảnh hưởng từ nơi này. Anh kể, những ngày còn trẻ anh từng chèo thuyền canoe, và anh biết mọi con sông, con lạch trong dải phong cảnh rộng lớn đó. Anh tìm ra những cột mốc của mình, chỉ cho chúng tôi nơi dòng Passaic và Hackensack chảy qua, dù chẳng thể thấy được, ẩn sau những sườn núi mà trong tầm mắt chúng tôi chỉ là những gợn sóng xanh mà chúng tôi đang nhìn xuống. Vậy mà, phía bên kia những sườn núi và ngọn đồi rộng lớn đó là hàng chục ngôi làng – một thế giới nhỏ của cuộc sống thôn dã, nằm khuất tầm mắt chúng tôi.

“Cũng giống như việc nhìn vào nhân loại vậy,” anh nói; “có một điều là khi đứng quá cao so với đồng loại, chúng ta chỉ nhìn thấy một mặt của họ thôi.”

À, những lời này mới đáng nghe làm sao, hơn hẳn mấy chuyện tán gẫu của bà Tabb và cô Hoogencamp – hơn hẳn những bài diễn thuyết của lão thiếu tá về mấy tờ rơi vĩnh cửu của lão! Vợ tôi và tôi nhìn nhau.

“Khi tôi leo lên đỉnh Matterhorn ấy...” ông Brede bắt đầu.

“Ôi, anh yêu,” vợ anh ngắt lời, “em không biết là anh từng leo Matterhorn đấy.”

“Nó... nó cách đây năm năm rồi,” ông Brede vội vã nói. “Anh... anh không kể với em – khi anh ở bên kia, em biết đấy – nó khá là nguy hiểm – chà, như anh vừa nói – trông nó – ồ, nó chẳng giống nơi này chút nào.”

Một đám mây trôi qua trên đầu, đổ cái bóng lớn xuống cánh đồng nơi chúng tôi nằm. Cái bóng lướt qua sườn núi và xuất hiện lại xa xa bên dưới, một đốm đen nhỏ dần, bay về phía đông trên nền xanh vàng óng. Vợ tôi và tôi lại nhìn nhau.

Bằng cách nào đó, cái bóng ấy vẫn lởn vởn quanh chúng tôi. Khi chúng tôi trở về nhà, vợ chồng nhà Brede đi song song dọc theo con đường nhỏ, còn vợ tôi và tôi thì đi cùng nhau.

“Anh có nghĩ,” cô hỏi tôi, “rằng một người đàn ông lại đi leo Matterhorn ngay trong năm đầu tiên mới cưới không?”

“Anh không biết, em yêu,” tôi trả lời, né tránh; “anh không còn ở năm đầu tiên kết hôn nữa, mà đã nhiều năm rồi, và anh cũng chẳng đời nào leo nó đâu – kể cả có cho anh cả một trang trại.”

“Anh biết em muốn nói gì mà,” cô nói.

Tôi biết.

Khi về đến nhà trọ, ông Jacobus kéo riêng tôi ra.

“Anh biết đấy,” ông bắt đầu bài diễn thuyết, “vợ tôi bà ấy từng sống ở N’ York!”

Tôi không biết, nhưng tôi vẫn đáp “Vâng.”

“Bà ấy bảo số nhà trên mấy con phố chạy kiểu chéo nhau. Ba mươi tư ở một bên đường còn ba mươi lăm ở bên kia. Thế nghĩa là sao hả?”

“Tôi tin đó là quy tắc bất biến.”

“Thế thì – tôi nói này – mấy người mới tới mà anh và vợ có vẻ mê mẩn ấy – anh có biết gì về họ không?”

“Tôi không biết gì về nhân cách của những người khách trọ nhà ông cả, ông Jacobus ạ,” tôi đáp, cảm thấy hơi bực bội. “Nếu tôi chọn giao du với bất kỳ ai trong số họ...”

“Thì cứ đúng là thế! Nhưng tôi có nói gì chống lại việc giao du của anh đâu. Nhưng anh có biết họ không?”

“Tại sao, tất nhiên là không,” tôi đáp.

“À – đó là tất cả những gì tôi muốn hỏi anh. Anh thấy đấy, khi anh ta đến đây để thuê phòng – lúc đó anh chưa ở đây – anh ta bảo với vợ tôi là anh ta sống ở số ba mươi tư trên phố của anh ta. Còn hôm qua cô ấy lại bảo vợ tôi là họ sống ở số ba mươi lăm. Anh ta nói anh ta sống trong một tòa chung cư. Mà đâu có tòa chung cư nào nằm ở hai bên của cùng một con phố, đúng không nhỉ?”

“Đó là phố nào vậy?” tôi mệt mỏi hỏi.

“Phố Một trăm hai mươi mốt.”

“Có thể lắm,” tôi đáp, càng mệt mỏi hơn. “Đó là Harlem. Chẳng ai biết được người ta sẽ làm gì ở Harlem đâu.”

Tôi lên phòng vợ.

“Anh không nghĩ là kỳ lạ sao?” cô hỏi tôi.

“Anh nghĩ tối nay anh sẽ nói chuyện với cậu thanh niên đó,” tôi bảo, “và xem cậu ta có thể giải trình gì về bản thân không.”

“Nhưng anh yêu,” vợ tôi nghiêm túc nói, “cô ấy còn không biết họ đã bị sởi hay chưa nữa kìa.”

“Trời đất ơi!” tôi thốt lên, “thì họ chắc chắn phải bị rồi khi còn là trẻ con chứ.”

“Xin anh đừng có ngốc nghếch thế,” vợ tôi nói. “Ý em là lũ trẻ của họ cơ.”

Sau bữa tối đêm đó – hay đúng hơn là bữa tối muộn, vì ở nhà Jacobus chúng tôi ăn bữa chính vào giữa ngày – tôi đi dọc theo hiên dài để rủ Brede, kẻ đang thong thả hút thuốc ở đầu bên kia, cùng đi dạo trong hoàng hôn. Đi được nửa đường, tôi gặp thiếu tá Halkit.

“Cái gã bạn của cậu đó,” lão nói, chỉ tay về phía bóng người đang thư thái ở cuối nhà, “có vẻ là một gã quái đản. Anh ta bảo với tôi là anh ta đang thất nghiệp, chỉ đang tìm cơ hội để đầu tư vốn. Thế mà tôi đã kể cho anh ta nghe về cơ hội ngàn vàng để mua cổ phiếu của Công ty Tín thác Capitoline – tháng tới là khởi công rồi – vốn bốn triệu – tôi đã kể cho cậu nghe tất cả rồi đấy. ‘Ồ, chà,’ anh ta bảo, ‘để chờ và suy nghĩ đã.’ ‘Chờ đợi à!’ tôi bảo, ‘Công ty Tín thác Capitoline sẽ không chờ cậu đâu, nhóc ạ. Đây là cơ hội để cậu tham gia ngay từ đầu đấy,’ tôi nói, ‘bây giờ hoặc không bao giờ.’ ‘Ồ, cứ để nó chờ đi,’ anh ta nói. Tôi không hiểu trong đầu gã đó có cái gì nữa.”

“Tôi cũng không biết anh ta có hiểu rõ việc của mình đến mức nào đâu, thưa thiếu tá,” tôi nói rồi tiếp tục đi về phía cuối hiên nơi Brede ngồi. Nhưng tôi vẫn thấy lo ngại. Thiếu tá có thể chẳng thuyết phục nổi ai mua dù chỉ một cổ phiếu của Công ty Capitoline. Nhưng số cổ phiếu đó là một khoản đầu tư lớn; một cơ hội hiếm có cho một người mua có vài nghìn đô la. Có lẽ việc Brede không đầu tư cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên hơn việc tôi không đầu tư – vậy mà, nó dường như lại thêm một tình tiết nữa vào những tình tiết đáng ngờ khác.

Khi tôi lên lầu tối đó, tôi thấy vợ mình đang chải tóc đi ngủ – tôi không biết làm sao để mô tả tốt hơn công việc quen thuộc với mọi người đàn ông đã có gia đình này. Tôi đợi cho đến khi lọn tóc cuối cùng được quấn gọn, rồi tôi lên tiếng:

“Anh đã nói chuyện với Brede,” tôi nói, “và anh chẳng cần phải tra khảo gì cả. Anh ấy có vẻ cảm thấy cần phải có một lời giải thích nào đó, và anh ấy rất thẳng thắn. Em đã đúng về lũ trẻ – nghĩa là, chắc anh đã hiểu sai ý anh ấy. Chỉ có hai đứa thôi. Còn vụ Matterhorn thì đơn giản lắm. Anh ấy không nhận ra nó nguy hiểm đến mức nào cho đến khi đã dấn sâu vào đến mức không thể rút lui; và anh ấy không kể cho vợ nghe, vì anh ấy đã để cô ấy lại đây, em thấy đấy, và trong hoàn cảnh đó...”

“Để cô ấy lại đây!” vợ tôi kêu lên. “Em đã ngồi với cô ấy suốt cả buổi chiều, thêu thùa, và cô ấy bảo em là anh ấy để cô ấy lại ở Geneva, rồi quay lại đón cô ấy tới Basle, và đứa bé được sinh ra ở đó – giờ thì em chắc chắn rồi, anh yêu ạ, vì em đã hỏi cô ấy kỹ lắm.”

“Có lẽ anh đã nhầm khi nghĩ anh ta nói cô ấy đang ở bên này bờ đại dương,” tôi gợi ý, với sự mỉa mai cay đắng.

“Anh tội nghiệp, em đã ngược đãi anh sao?” vợ tôi nói. “Nhưng, anh biết không, bà Tabb nói rằng bà ấy không biết anh ta dùng mấy thìa đường trong cà phê của mình. Giờ thì chuyện đó nghe có vẻ kỳ lạ, phải không?”

Quả thật là vậy. Đó chỉ là một chuyện nhỏ. Nhưng nó có vẻ kỳ lạ. Rất kỳ lạ.

Sáng hôm sau, rõ ràng là cuộc chiến đã tuyên bố chống lại vợ chồng nhà Brede. Họ xuống ăn sáng hơi muộn, và ngay khi họ đến, nhà Biggles vơ vét những mảnh vụn cuối cùng còn sót lại trên đĩa của họ, rồi diễu hành đầy oai vệ ra khỏi phòng ăn. Sau đó cô Hoogencamp đứng dậy và rời đi, để lại cả một viên chả cá trên đĩa. Như thể Atalanta có thể đã ném một quả táo ra sau lưng để dụ kẻ truy đuổi mình phải giảm tốc độ, cô Hoogencamp để lại viên chả cá đó phía sau, giữa bản thân trinh nguyên của mình và sự vấy bẩn.

Vợ tôi và tôi đã dùng xong bữa sáng trước khi vợ chồng nhà Brede xuất hiện. Chúng tôi bàn bạc và đồng ý rằng thật may khi chúng tôi chưa phải chọn phe dựa trên những bằng chứng thiếu thuyết phục như thế.

Sau bữa sáng, đám đàn ông trong nhà Jacobus thường có thói quen đi vòng qua góc tòa nhà để hút thuốc lào và xì gà ở nơi không làm phiền các quý bà. Chúng tôi ngồi dưới một giàn leo được phủ bởi một cây nho chưa từng ra quả trong ký ức của bất kỳ ai. Tuy nhiên, cây nho này lại có lá, và vào buổi sáng mùa hè dễ chịu đó, những chiếc lá đã che chắn cho chúng tôi khỏi hai người đang mải mê trò chuyện trong khu vườn hoa xác xơ, tàn tạ bên hông nhà.

“Tôi không muốn,” chúng tôi nghe ông Jacobus nói, “xen vào chuyện riêng tư của bất kỳ ai; nhưng tôi muốn biết mình đang chứa chấp ai trong nhà mình. Bây giờ điều tôi yêu cầu ở anh, và tôi không muốn anh coi đây là chuyện cá nhân, là – anh có mang theo giấy đăng ký kết hôn không?”

“Không,” chúng tôi nghe giọng ông Brede đáp lại. “Còn ông có mang của ông không?”

Tôi nghĩ đó chỉ là một cú đáp trả ngẫu nhiên; nhưng nó cũng hiệu quả không kém. Thiếu tá (ông ta là người góa vợ) và ông Biggle và tôi nhìn nhau; còn ông Jacobus, ở phía bên kia giàn nho, nhìn vào – tôi không biết là gì nữa – và im lặng như chúng tôi.

Giấy đăng ký kết hôn của anh đang ở đâu, hỡi người đọc đã kết hôn? Anh có biết không? Bốn người đàn ông, chưa kể ông Brede, đứng hoặc ngồi ở một trong hai phía của giàn nho đó, và không một ai trong số họ biết giấy đăng ký kết hôn của mình đang ở đâu. Mỗi người chúng tôi đều từng có một tờ – thiếu tá từng có ba. Nhưng chúng ở đâu? Của anh đâu? Nhét trong túi áo vest của người phù rể; để trong ngăn kéo của anh ta – hay đã bị giặt nát trong chiếc áo vest trắng của anh ta (nếu áo vest trắng là thời trang lúc bấy giờ), giặt sạch đến mức biến mất – anh có biết nó ở đâu không? Anh có biết không – trừ khi anh là một trong số những người đóng khung cái tài liệu thú vị đó và treo trên tường phòng khách của mình?

Giọng ông Brede cất lên, sau một sự im lặng đáng sợ kéo dài tưởng như năm phút, nhưng có lẽ chỉ là ba mươi giây:

“Ông Jacobus, ông làm hóa đơn ngay bây giờ đi, và để tôi thanh toán được không? Tôi sẽ đi chuyến tàu sáu giờ. Và ông cũng vui lòng gửi xe ngựa đến chở rương hành lý của tôi luôn nhé?”

“Tôi đâu có nói là tôi muốn ông rời đi...” ông Jacobus bắt đầu; nhưng Brede ngắt lời ông.

“Đưa hóa đơn cho tôi.”

“Nhưng,” Jacobus phản đối, “nếu ông không...”

“Đưa hóa đơn cho tôi!” ông Brede nói.

Vợ tôi và tôi ra ngoài cho buổi đi dạo buổi sáng. Nhưng dường như với chúng tôi, khi nhìn vào “tầm nhìn của chúng tôi”, chúng tôi chỉ có thể thấy những ngôi làng vô hình mà Brede đã kể – cái mặt kia của những sườn núi và ngọn đồi mà chúng ta chẳng thể thoáng thấy từ những ngọn đồi cao hay từ đỉnh cao của lòng tự tôn con người. Chúng tôi định ở ngoài cho đến khi vợ chồng nhà Brede rời đi; nhưng chúng tôi trở về vừa kịp lúc để nhìn thấy Pete, gã da đen nhà Jacobus, kẻ đánh giày, kẻ chải áo, gã làm mọi việc vặt trong nhà, đang chất những chiếc rương của nhà Brede lên xe ngựa của ông Jacobus.

Và, khi chúng tôi bước lên hiên nhà, bà Brede bước xuống, dựa vào cánh tay ông Brede như thể bà đang ốm; và rõ ràng là bà đã khóc. Có những quầng thâm nặng nề quanh đôi mắt đen xinh đẹp của bà.

Vợ tôi bước một bước về phía bà.

“Nhìn bộ váy đó kìa, anh yêu,” cô thì thầm; “cô ấy chưa bao giờ nghĩ chuyện thế này sẽ xảy ra khi cô ấy mặc nó đâu.”

Đó là một bộ váy xinh xắn, tinh tế, thanh nhã, một chiếc váy kẻ sọc duyên dáng. Mũ của cô được trang trí bằng một dải lụa kẻ sọc hẹp cùng màu – đỏ sẫm và trắng – và trong tay cô cầm một chiếc ô tiệp với màu váy.

“Cô ấy mặc váy mới hai lần một ngày,” vợ tôi nói, “nhưng đó là bộ xinh nhất. Ồ, chẳng hiểu sao – em thấy cực kỳ tiếc khi họ phải rời đi!”

Nhưng họ vẫn đi. Họ di chuyển về phía những bậc thang. Bà Brede nhìn về phía vợ tôi, và vợ tôi tiến về phía bà Brede. Nhưng người phụ nữ bị tẩy chay, như thể cảm nhận được nỗi nhục nhã sâu sắc trong vị thế của mình, quay ngoắt đi và mở chiếc ô ra để che mắt khỏi ánh mặt trời. Một cơn mưa gạo – nửa cân gạo – đổ xuống chiếc mũ xinh xắn và bộ váy xinh xắn của cô, rơi vãi thành một vòng tròn trên sàn nhà, bao quanh chân váy của cô – và nó nằm đó thành một dải rộng, không đều, sáng lấp lánh dưới nắng ban mai.

Bà Brede đã nằm trong vòng tay vợ tôi, nức nở như thể trái tim non trẻ của bà sắp tan vỡ.

“Ôi, những đứa trẻ ngốc nghếch đáng thương của chị!” vợ tôi kêu lên, khi bà Brede nức nở trên vai cô, “tại sao các em không nói với chúng chị?”

“Ch-Ch-Chúng em không muốn bị t-t-tưởng là một c-c-cặp đôi mới cưới,” bà Brede nức nở; “và chúng em đ-đ-đã không ngờ mình sẽ phải nói ra những lời nói dối khủng khiếp đến thế, và tất cả những r-r-rắc rối kinh khủng của nó. Ôi, trời ơi, trời ơi!”

“Pete!” ông Jacobus ra lệnh, “đưa mấy cái rương vào lại đi. Những người này ở lại đây bao lâu tùy thích. Ông Brede” – ông chìa ra một bàn tay to, chai sần – “lẽ ra tôi nên biết điều hơn,” ông nói. Và nghi ngờ cuối cùng của tôi về ông Brede tan biến khi anh bắt lấy bàn tay lấm lem đó một cách đầy nam tính.

Hai người phụ nữ đang đi về phía “tầm nhìn của chúng tôi”, mỗi người vòng một cánh tay quanh eo người kia – được chạm vào bởi một tình chị em bất ngờ của sự đồng cảm.

“Các quý ông,” ông Brede nói, hướng về phía Jacobus, Biggle, thiếu tá và tôi, “có một quán trọ cuối phố bán bia New Jersey ngon tuyệt. Tôi xin nhận trách nhiệm về tình huống này.”

Năm gã đàn ông chúng tôi lũ lượt kéo nhau xuống phố. Hai người phụ nữ đi về phía con dốc dễ chịu nơi ánh mặt trời dát vàng lên vầng trán của ngọn đồi lớn. Trên hiên nhà ông Jacobus, một vòng tròn rải rác những hạt gạo sáng lấp lánh vẫn còn đó. Hai chú chim bồ câu của ông Jacobus bay xuống và mổ những hạt gạo sáng lấp lánh, phát ra những tiếng kêu thỏa mãn tận sâu trong cổ họng.

✦ ✦ ✦

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.