Trong cuốn "A Man For the Ages" (Một người của muôn đời), Irving Bacheller kể lại cuộc đời và sự nghiệp của Abraham Lincoln dưới hình thức một cuốn tiểu thuyết. Ông cho rằng cuốn sách được viết bởi cháu nội của một nhân vật tên là Samson Traylor, người được giới thiệu là bạn của Lincoln. Câu chuyện tiếp theo là bản lược tóm hành trình năm 1831 của Samson Traylor cùng vợ, hai đứa con và chú chó Sambo, từ Vergennes, Vermont, đến vùng đất Illinois; cùng với phần "Abe" Lincoln, một nhân viên bán hàng trong cửa hiệu của Denton Offut tại New Salem, đã tham gia dựng một ngôi nhà gỗ cho họ khi họ đến nơi; và kết thúc bằng việc kể lại cách Lincoln đánh bại một kẻ côn đồ. — Người biên tập.
Vào đầu mùa hè năm 1831, Samson Traylor cùng vợ là Sarah và hai đứa con rời bỏ ngôi nhà cũ gần làng Vergennes, bang Vermont, bắt đầu cuộc hành trình hướng về phía mặt trời lặn trên chiếc xe ngựa đôi kéo bởi bò. Họ mang theo bốn chiếc ghế, một tấm ván nhào bột kèm cây cán bột, một đệm lông vũ và chăn, một chiếc gương nhỏ, một cái chảo rán, một cái rìu, một chiếc giỏ đeo lưng có đệm da ở đáy, một xô nước, một thùng đựng chén đĩa, một hũ thịt lợn ướp muối, một khẩu súng trường, một ấm trà, một bao bột ngô, một ít đồ dùng lặt vặt và một cây đàn vi-ô-lông... Một chú chó chăn cừu đen trẻ tuổi với những đốm vàng nâu tên là Sambo chạy theo xe ngựa hoặc khám phá những cánh đồng và khu rừng mà đoàn người đi qua.
Cậu con trai Josiah — thường được gọi thân mật là Joe — ngồi cạnh mẹ. Thằng bé mảnh khảnh, khuôn mặt dễ thương, đang ngước nhìn mẹ với ánh mắt đầy vẻ ao ước. Cô con gái nhỏ Betsey ngồi giữa cậu và bố.
Buổi tối hôm đó, họ dừng chân tại nhà một người bạn cũ cách đó vài dặm trên con đường bụi bặm hướng bắc.
"Chúng tôi đây — đang đi về miền Tây," Samson gọi lớn với người đàn ông đứng trước bậc cửa.
Anh xuống xe và đỡ vợ con xuống.
"Anh cứ vào nhà đi — để tôi lo mấy con bò," người đàn ông nói.
Samson bước vào nhà với cô con gái kẹp dưới nách trái và cậu con trai dưới nách phải. Một người phụ nữ gương mặt hiền hậu chào đón họ nồng nhiệt ngay cửa.
“Ôi tội nghiệp anh chị! Mời vào nhà,” bà nói.
“Tội nghiệp á! Tôi là người giàu có nhất trên đời,” anh đáp. “Hãy nhìn mái tóc của con bé kìa — vàng óng, xoăn tít, loại tuyệt vời nhất đấy. Nó là Betsey — búp bê nhỏ của tôi — bảy tuổi rưỡi — mắt xanh — ngày nào cũng giúp mẹ nó mệt nhoài. Còn đây là búp bê nam Josiah của tôi — vâng, tóc nâu và mắt nâu giống Sarah — trái tim vàng ngọc — cũng giúp mẹ nó luôn — sáu tuổi chẵn.”
“Khuôn mặt mới đáng yêu làm sao!” người phụ nữ nói khi cúi xuống hôn hai đứa trẻ.
"Vâng, thưa bà. Chúng tôi xin được từ mấy nàng tiên đấy," Samson nói tiếp. "Họ có đủ mọi kiểu đầu cho trẻ nhỏ, và tôi đoán họ tô điểm chúng bằng máu của hoa hồng, sắc vàng của hoa mao lương và sắc xanh của hoa violet. Còn đây là vợ tôi. Cô ấy còn giàu hơn tôi. Cô ấy sở hữu tất cả chúng tôi. Chúng tôi là nô lệ của cô ấy."
"Trông cô ấy vẫn trẻ như hồi mới cưới — chín năm trước," người phụ nữ nhận xét.
"Chính xác!" Samson thốt lên. "Thẳng như mũi tên và kiêu hãnh! Tôi không trách cô ấy. Cô ấy có đủ lý do để kiêu hãnh ấy chứ. Mỗi khi nhìn vào đôi mắt nâu to tròn của cô ấy, tôi lại thấy mình yêu từ đầu."
Tiếng nói cười đã thu hút chú chó vào nhà.
"Kia là Sambo, kẻ bám theo đoàn của chúng tôi," Samson nói. "Nó yêu quý tất cả chúng tôi, nhưng đôi khi nó thấy tội nghiệp cho chúng tôi vì không thể cảm nhận được niềm vui ẩn giấu trong những khúc xương chôn vùi hay mùi hương của cột tự do hoặc trụ cổng."
Họ đã có một buổi tối vui vẻ và một giấc ngủ ngon lành cùng những người bạn cũ này, rồi tiếp tục hành trình ngay sau bình minh. Họ đi phà qua hồ tại Burlington, vượt qua núi non và băng qua khu rừng rậm trên mòn đường mòn Chateaugay...
Họ đã đọc một cuốn sách nhỏ mang tên Vùng đất Sangamon. Từ này vốn là của người Pottawatomies có nghĩa là "vùng đất trù phú". Đó là tên một con sông ở Illinois chảy qua những "đồng cỏ bạt ngàn, rực rỡ hoa với vẻ đẹp và độ phì nhiêu hiếm có, được bao quanh bởi vành đai gỗ, ban phước bởi những lùm cây râm mát, tràn ngập thú rừng và hầu như bằng phẳng, không có một nhành cây hay hòn đá nào làm phiền người cày ruộng." Họ hướng đến đó để nhận một phần đất chính phủ.
Họ dừng chân ghé thăm Elisha Howard và vợ, những người bạn cũ sống ở làng Malone thuộc hạt Franklin, bang New York. Tại đây, họ đổi bò lấy một cỗ xe ngựa kéo bởi một cặp ngựa xám tên là Pete và Colonel. Con ngựa sau béo tốt và hiền lành; niềm vui lớn nhất trong đời nó là thức ăn. Còn Pete thì lúc nào cũng tìm kiếm thức ăn và hiểm nguy. Colonel là con ngựa đứng bên trái. Thỉnh thoảng Samson vắt tấm da cừu lên lưng nó, đặt cậu con trai lên trên và bước đi sát tầm với chân trái của Joe. Điều này mang lại niềm vui thích lớn lao cho cậu bé.
Họ tiếp tục tiến bước với tốc độ khá hơn đến vùng Black River. Tại làng Canton trên đường đi, họ lại dừng chân ghé thăm Đại úy Moody và Silas Wright, cả hai từng dạy học ở thị trấn Vergennes.
Họ đi qua DeKalb, Richville, Gouverneur, Antwerp rồi tiến tới Sand Plains. Họ đã đi vòng một đoạn đường khá xa chỉ để thăm những người bạn cũ ấy.
Suốt dọc đường đi, lũ trẻ liên tục đặt ra vô số câu hỏi, chủ yếu về các loài thú và chim chóc ẩn mình trong bóng râm mịt mùng của khu rừng mà họ đi qua. Bố mẹ chúng kiên nhẫn trả lời từng câu một, và mỗi câu trả lời lại khơi mào cho những thắc mắc mới.
"Các con đúng là một cặp ngộ nghĩnh," một hôm người bố nói. "Cứ phải lật tung mọi lời tụi ta nói lên xem bên dưới có gì. Bố ngày xưa cũng y hệt các con, hay ra bãi đất trống lật từng khúc gỗ, hòn đá có thể nhấc lên để xem lũ bọ và dế chạy trốn. Các con lúc nào cũng thấp thỏm mong thấy gấu, báo hay tiên nữ chạy vụt ra từ đằng sau lời nói của bố."
"Không biết sao tụi mình chẳng thấy con gấu nào nhỉ?" Joe hỏi.
"Vì chúng luôn thấy chúng ta trước hoặc nghe tiếng chúng ta tới," bố đáp. "Nếu con muốn diện kiến ngài Gấu, con phải trả tiền vé vào cửa chứ."
"Tiền vé là gì hả bố?" Joe hỏi.
"Phải đi thật khẽ và cẩn thận để con nhìn thấy nó trước. Giá mà chiếc xe ngựa già này đừng cồng kềnh ồn ào thế mà biết đión rén nhón chân thì may ra chúng ta đã thấy nó. Nó không thích bị nhìn thấy đâu. Trông nó cứ như đang xấu hổ về bản thân vậy, mà bố chẳng ngạc nhiên nếu đúng thế thật. Nó gây ra khối chuyện để mà phải xấu hổ rồi."
"Nó làm gì cơ ạ?" Joe hỏi.
"Bắt cừu, lợn, nai con rồi ẵm đi chứ sao."
"Nó làm gì với tụi nó ạ?"
"Ăn thịt chứ làm gì. Thôi dẹp đi mấy đứa. Kia là một đống đá với bùn, bố phải lo làm việc đây. Hai đứa ra quấn quýt lấy mẹ mà lôi cô ấy chạy lên chạy xuống đồi một lúc cho bố thở cái xem nào."
Vào ngày thứ hai phần chín kể từ khi khởi hành, họ lọt vào tầm mắt thung lũng xanh tươi tuyệt đẹp của sông Mohawk. Nhìn từ những ngọn đồi, họ thấy mái vòm của khu rừng là đà sà xuống sát mép sông, trải dài tít tắp về phía đông lẫn phía tây, thỉnh thoảng lại bị ngắt quãng bởi vài khoảng rừng phát quang nhỏ. Chẳng mấy chốc họ đã thấy làn khói và những ngọn tháp của ngôi làng trù phú Utica.
Tại đây, họ mua sắm nhu yếu phẩm, một chiếc kèn thiếc cho Joe, một con búp bê có khuôn mặt sứ thật cho Betsey, rồi rẽ vào trục đường chính huyết mạch phía bắc dẫn về phía đông đi Boston và phía tây tới bờ biển của vùng biển nội địa. Con đường này từng là con đường mòn lớn của người Iroquois, được họ gọi là Ngôi nhà Dài, bởi nó kéo dài từ sông Hudson đến hồ Erie, và vào thời của họ từng được che phủ bởi một tán lá xum xuếm. Tại đây, những vị lữ khách lần đầu tiên nhìn thấy một cỗ máy hơi nước. Nó đứng xì khói và phì phò hơi nước gần làng Utica, khiến bầy ngựa hoảng sợ ngỡ ngàng còn những người trên xe thì vô cùng phấn khích. Cậu bé bám chặt lấy bố vì sợ hãi.
Samson rất muốn xuống xe để ngắm kỹ con quái vật ầm ĩ ấy, nhưng những con ngựa đang lồng lộn vì sốn sang muốn chuồn thẳng, ngay cả việc dừng lại chốc lát cũng là điều bất khả thi. Sambo với cái đuôi kẹp giữa hai chân chạy vụt lên trước trong cơn hoảng loạn và rúc vào những bụi cây ven đường.
“Cái gì thế hả bố?” cậu bé hỏi khi ngựa đã bớt hoảng hốt trước hiểm nguy mới mẻ này.
“Một cỗ máy hơi nước,” anh đáp. “Sarah, em nhìn rõ nó chứ?”
“Vâng; nếu cái thứ này mà không đánh bại mọi ý tưởng kỳ quái nhất em từng nghe thì thôi,” cô thốt lên.
“Nó mới bắt đầu hoạt động thôi,” Samson nói.
“Nó làm gì hả bố?” Joe hỏi.
“Trên đường ray, nó có thể túm lấy cả một ngôi nhà đầy người rồi kéo đi mất. Chạy nhanh như gió ấy chứ.”
“Nó ăn thịt họ hả bố?” Joe hỏi.
“Không. Nó ăn củi và dầu rồi cứ gào thét đòi thêm. Bố đoán nó có thể nuốt chửng một khoảng củi và chiêu chiêu xuống bằng nửa xô dầu thầu dầu trong chừng năm phút. Nó quắp người ta đi đến nơi nào đó rồi thả xuống. Bố đoán chắc nó làm tóc họ dựng đứng lên và răngậpập cành.”
“Nó có làm ai bị thương không bố?” Joe hỏi với vẻ đầy hy vọng.
“À này, nếu ai đó muốn bị thương mà cứ lao vào đường đi của nó, bố dám cá là hắn sẽ thành công mỹ mãn đấy. Nó khỏe lắm. Chứ lính mà, nếu một người tóm lấy đuôi đầu máy rồi bám chặt vào, nó sẽ giật tung móng chân người ta ra luôn.”
Joe bắt đầu dành sự kính trọng lớn lao cho đầu máy xe lửa.
Chẳng mấy chốc họ đã nhìn thấy kênh đào Erie nổi tiếng nằm ngay sát bên đường. Dòng người vận chuyển ngũ cốc từ miền viễn Tây vừa bắt đầu đổ về phía đông qua ngả này với dòng chảy từ tháng Tư đến tháng Mười Hai. Những chiếc sà lan lớn được kéo bởi la và ngựa trên bờ đang lướt qua làn nước phẳng lặng của kênh đào. Họ dừng lại ngắm nhìn những chiếc sà lan, dây kéo dài dằng dặc và lũ vật nuôi đang rướn sức kéo.
“Kia là một con sông nhân tạo thực sự, dài hàng trăm dặm, làm bằng tay từ những vật liệu tốt nhất, kín nước, không có khúc gỗ kẹt hay đá ngầm hoặc khuyết tật nào khác, đảm bảo độ bền,” Samson nói. “Nó đã làm cho tên tuổi của DeWitt Clinton vang danh khắp nơi.”
“Không biết tiếp theo sẽ là gì đây!” Sarah thốt lên.
Họ gặp rất nhiều đoàn xe và vượt qua những người di cư khác đang đi về phía Tây, cùng những trang trại trù phú trên con đường rộng rãi và êm ái hơn bất kỳ con đường nào họ từng đi qua. Đêm đó, họ cắm trại sát bờ sông cùng một gia đình người Connecticut đang trên đường tới Ohio với một xe chở đầy đồ đạc gia đình và một xe chở bảy đứa trẻ. Bọn trẻ có những giờ phút vui chơi náo nhiệt, còn người lớn thì trò chuyện rôm rả bên đống lửa trại vào buổi tối hôm đó. Chủ đề bàn tán của người lớn xoay quanh con kênh đào Erie vĩ đại.
Cứ thế, họ xuôi theo Canandaigua, băng qua sông Genesee tới làng Rochester, tiếp tục qua Lewiston và ngược dòng sông Niagara tới ngọn thác, rồi cắm trại ở nơi họ có thể nhìn thấy dòng nước cuồn cuộn đổ xuống và nghe tiếng gầm rú trầm đục của nó...
"Các con," Samson nói, "bố muốn các con nhìn cho thật kỹ cảnh đó. Đó là điều kỳ diệu nhất trên đời và biết đâu các con sẽ chẳng bao giờ được thấy lại lần nữa."
"Người da đỏ từng nghĩ Thần Linh Tối Cao ngự trị trong dòng sông này," Sarah nói.
"Bố có cảm giác họ nói đúng," Samson trầm ngâm nhận xét. "Cảm giác như linh hồn vĩ đại của nước Mỹ đang hiện hữu trong dòng nước đó. Nó cứ cuồn cuộn chảy theo ý muốn của mình và không gì cản nổi. Mọi thứ trong dòng chảy ấy đều bị cuốn đi theo nó..."
Họ được ngắm nhìn khung cảnh hồ nước cùng làn gió mát rượi trên đường tới Silver Creek, Dunkirk và Erie, dẫu đó là một con đường gập ghềnh vào thời bấy giờ.
Họ tiếp tục xuôi qua Indiana, vượt qua những đồng cỏ rộng lớn ở Illinois, và vào ngày hành trình thứ chín mươi bảy, họ lái xe băng qua những thảo nguyên nhấp nhô, rợp bóng cỏ hoa rồi leo lên một ngọn đồi dài và dốc để đến khu định cư nhà gỗ nhỏ New Salem bang Illinois, nằm bên bờ sông Sangamon. Họ dừng chân vào khoảng giữa trưa ngay giữa ngôi làng thảo nguyên nhỏ bé này, đối diện một ngôi nhà lợp ván mỏng. Trên cửa treo tấm biển với dòng chữ viết nguệch ngoạc: "Quán trọ của Rutledge."
Một thanh niên gầy gò, cao ngồng, vai gù đang ngồi dưới bóng một cây sồi mọc gần góc quán trọ, xung quanh có đám trẻ đang đùa nghịch. Anh ta ngồi tựa lưng vào thân cây đọc sách. Khi họ đến gần, anh đứng dậy nhìn họ với cuốn sách kẹp dưới nách...
Anh mặc chiếc áo sơ mi vải thô không cổ, không khoác áo vest hay áo khoác ngoài. Một chiếc dây đeo quần giữ lấy chiếc quần vải thô xám xịt, ống quần bó sát và chỉ dài đến cạp vải len xanh phía trên đôi giày da bò nặng nề. Samson viết rằng anh ta "hắt xì một cái rồi lau chiếc mũi to bằng chiếc khăn tay đỏ" trong khi đứng lặng lẽ quan sát họ, còn bác sĩ John Allen — một người đàn ông trung niên có khuôn mặt hiền hậu với bộ râu ngắn màu trắng mọc dưới cằm đang ngồi đọc báo trên bậc cửa — thì cất tiếng chào hỏi niềm nở.
Ánh nắng chói chang của một ngày cuối tháng Tám phủ lên con đường bụi bặm giờ đây vắng ngắt. Những gương mặt từ các ô cửa và khung cửa sổ của những ngôi nhà nhỏ đang ngó ra ngoài. Hai cậu bé rách rưới cùng một con chó màu lông gừng chạy tới chiếc xe ngựa. Con chó lạ và Sambo dựng ngược lông gẫu nhiên ngửi ngửi nhau, bắt đầu cào đất bằng những chân thẳng đơ, vừa ư ử vừa bắt đầu nô đùa với nhau chỉ một thoáng sau. Một người đàn ông mặc quần vải bò xanh ngồi trên hiên cửa hàng đối diện, lưng tựa vào tường, ngừng vót gậy và bấm dao nhíp lại.
"Các bác từ đâu tới thế?" vị bác sĩ hỏi.
"Vermont," Samson đáp.
"Đi nguyên cả quãng đường bằng chiếc xe đó ư?"
"Vâng, thưa ông."
"Tôi đoán anh chị làm bằng chất liệu đặc biệt đấy," bác sĩ nói. "Định đi đâu thế?"
"Chưa biết chính xác. Định tìm một mảnh đất nào đó để cắm dùi."
"Chẳng có xứ nào tốt hơn ngay tại đây đâu. Đây chính là đất hứa Canaan của nước Mỹ. Chúng tôi cần những người như anh chị. Tháo ngựa ra rồi vào ăn chút cơm trưa, nghỉ ngơi xong xuôi rồi chúng ta tính chuyện lâu dài. Tôi là bác sĩ ở đây và tôi đi khắp vùng này. Tôi dám chắc mình nắm rõ nơi này lắm."
Một người phụ nữ mặc chiếc áo đầm vải chintz gọn gàng bước ra từ cửa — một phụ nữ vóc dáng khỏe mạnh, ưa nhìn với mái tóc vàng và đôi mắt tối màu.
"Bà Rutledge, đây là những vị lữ khách từ miền Đông tới," bác sĩ nói. "Bà cho họ ăn chút cơm, nếu họ không trả tiền thì tôi trả. Họ lặn lội tới đây tận từ Vermont cơ đấy."
"Trời đất ơi! Mời vào nhà nghỉ ngơi đi chứ. Abe, cậu ra chỉ chỗ cho người ta cột ngựa rồi phụ giúp một tay xem nào."
Abe chìa cánh tay dài ngoẵng về phía Samson và nói "Xin chào" khi hai người bắt tay nhau.
"Khi bàn tay to lớn của anh ấy nắm lấy tay tôi, tôi ngầm đánh giá được sức vóc của anh ấy," Samson viết. 'Tôi thầm nghĩ, 'Gặp gã này mà vật lộn thì khó mà quật ngã nổi đây.'"
"Tên bác là gì? Đi đường lâu chưa? Chúa tôi! Không mệt rã rời ra đấy chứ?" người phụ nữ hiếu khách bà Rutledge vừa hỏi vừa đi vào nhà cùng Sarah và lũ trẻ. "Các con ra chơi với mấy đứa nhỏ đi cho mẹ nghỉ ngơi một lát để tao đi nấu cơm," bà bảo Joe và Betsey, rồi vừa nhận lấy khăn choàng và mũ của Sarah vừa nói thêm: "Cậu cứ nằm xuống nghỉ ngơi đi để tôi loay hoay dưới bếp."
"Đi tuốt từ Vermont tới cơ à?" Abe hỏi khi cậu và Samson đang tháo ngựa.
"Vâng, thưa anh."
"Chà chà!" gã khổng lồ gầy gò thốt lên. "Chắc bác cảm thấy chỉ muốn cởi bỏ bộ đồ nghề này ra rồi lăn một vòng trên thảm cỏ quá nhỉ."
Quán trọ là ngôi nhà duy nhất ở New Salem có cầu thang. Chiếc cầu thang dốc đứng đến mức, theo Samson viết, "chúng là họ hàng gần với cái thang tre." Có bốn căn phòng nhỏ trên gác. Hai trong số đó ngăn cách nhau bằng tấm vải treo từ các thanh xà nhà. Trong mỗi phòng có một chiếc giường cùng khung giường và những chiếc giường nhỏ hơn trải dưới sàn. Trường hợp có đông khách trướng giả, khung giường sẽ được che chắn bằng những tấm ga treo trên dây.
Ở một trong những căn phòng đó, những vị khách đã có một giấc ngủ đêm sảng khoái lấy lại sức lực.
Sau khi đi cùng bác sĩ hai ngày, Samson mua lại quyền khai hoang một nửa phần đất của một người tên Isaac Gollaher, cách phía tây ngôi làng hơn một dặm. Anh chọn một vị trí dựng nhà bên rìa thảo nguyên lộng gió.
"Bây giờ chúng ta qua gặp Abe nhé," bác sĩ Allen nói sau khi giao dịch hoàn tất. "Cậu ấy là người giỏi việc rìu cưa nhất vùng này đấy. Cậu ấy làm công cho ông Offut. Abe Lincoln là một trong những chàng trai tuyệt vời nhất trần đời — một viên ngọc thô vừa được khai quật từ mỏ vàng lớn của miền Tây, chỉ cần được mài giũa lại là sáng ngời."
Cửa hàng của Denton Offut là một gian nhà gỗ nhỏ chừng hai mươi nhân hai mươi phút nằm gần mỏm đồi phía đông quán trọ Rutledge. Khi họ bước vào, Abe đang nằm duỗi thẳng cẳng trên quầy hàng, đầu gối lên một cuộn vải denim xanh trong khi tay vẫn miệt mài đọc sách. Cậu vẫn mặc chiếc áo sơ mi cũ, chiếc dây quần đơn và quần vải thô y như lúc ở sân quán trọ, nhưng đôi chân chỉ đi chiếc tất len màu xanh.
Abe gấp sách lại và ngồim dậy.
"Thưa bác Traylor," bác sĩ Allen nói, "vừa mới trở thành một thành viên trong mọi tổ chức của chúng ta. Bác ấy đã mua khu đất Gollaher và chuẩn bị dựng nhà cùng hàng rào. Này Abe, cậu có thể giúp đốn gỗ gấp để chúng ta kịp cất nóc trong vòng một tuần không? Cậu rành nghề búa rìu hơn bất cứ ai trong chúng tôi mà."
Abe nhìn Samson.
"Tôi nghĩ tôi và bác ấy sẽ thành một cặp cạ cứng với cây rìu đấy," cậu nói. "Trông bác ấy có vẻ đủ sức đẩy sập một ngôi nhà bằng một tay và dựng lại nó bằng tay kia. Cứ yên tâm là tôi rất sẵn lòng giúp bất cứ việc gì trong khả năng."
Sáng hôm sau lúc bình minh, hai nhóm người tiến vào rừng để đốn gỗ làm nhà cho những người mới đến. Một nhóm gồm Harry Needles mang theo hai chiếc rìu và một giỏ cơm trưa đầy ắp; Samson cầm cưa và cõng cậu con trai Joe trên lưng; Abe mang theo cưa, rìu, một bình nước sá sị nhỏ cùng một cuốn sách bọc trong chiếc khăn tay đỏ buộc thắt quanh cổ. Khi tới rừng, Abe chặt một khúc cây làm cậy cho cậu bé ngồi lên vai mang đến con lách rồi bảo:
"Nào, con ngồi đây giữ trật tự cho thành phố ếch nhỏ bé này nhé. Nghe thấy con ếch nào nói năng hỗn xược là quất cho nó một phát liền. Đừng để đứa nào láo nháo. Bố phong con làm Thị trưởng Thành phố ếch đấy."
Mấy người đàn ông lao vào dùng rìu và cưa trong khi Harry đốn cành và trông chừng ngài Thị trưởng. Cơ bắp cuồn cuộn vung những lưỡi rìu sắc bén bổ vào thân cây và ngoạm xuyên qua chúng bằng chiếc cưa. Nhiều cây lớn ngã rạp trước khi đến trưa, lúc họ dừng lại ăn trưa. Trong lúc ăn, Abe nói:
"Tôi nghĩ chiều nay chúng ta nên cưa sẵn vài tấm ván. Cần dùng cho mấy cánh cửa đấy. Chúng ta sẽ khiêng vài khúc gỗ lên sườn gò đất kia, đặt lên thanh trượt rồi xẻ chúng ra thành ván bằng cưa."
Samson chộp lấy giữa một khúc gỗ rồi nhấc bổng nó khỏi mặt đất.
"Chắc chúng ta khiêng được đấy," anh nói.
"Bác vác nổi lên vai không?" Abe hỏi.
"Dễ ợt," Samson đáp, rồi anh nhấc một đầu khúc gỗ lên, luồn người xuống dưới, tì trọng lượng nó lên lưng, đoạn đưa vai vào gần giữa thân gỗ, vung nó rời khỏi mặt đất rồi bước đi đến sườn gò, thả phịch nó xuống với tiếng thịch đinh tai nhức óc làm rung chuyển mặt đất. Abe ngừng ăn, theo dõi từng động tác trong màn trình diễn phi thường này. Sự dễ dàng mà người đàn ông to lớn xứ Vermont thách thức định luật vạn vật hấp dẫn với khúc gỗ cồng kềnh đó khiến cậu kinh ngạc.
"Cái thứ đó nặng phải bảy, tám trăm cân ấy chứ," cậu nói. "Tôi đoán bác là người khỏe nhất bang này rồi, mà bản thân tôi cũng chẳng vừa đâu. Tôi từng nhấc một thùng whisky và áp miệng vào lỗ vòi. Dù tôi chẳng bao giờ uống nó."
"Này," cậu nói thêm khi ngồi xuống và cắn một miếng bánh rán. "Nếu bác có tẩn ai thì nhớ dùng búa tạ hoặc xà beng nhé. Dùng tay không thì bất lịch sự lắm."
"Đừng có nói chuyện lúc mồm đầy đồ ăn," Joe nhắc nhở, cậu bé có vẻ đã thấm nhuần trách nhiệm quản lý tác phong của Abe.
"Bác nói phải đấy," Abe cười lớn. "Ý tưởng của một người không nên đem trộn lẫn với phô mai và bánh rán."
"Thỉnh thoảng tôi thích thử sức mình một chút," Samson nói. "Cảm giác tuyệt lắm. Tôi không làm thế để khoe khoang đâu. Tôi biết có khối người khỏe hơn tôi. Tôi đoán cậu là một trong số đó."
"Không, tôi dài ngoằng thế này — cổ thì ở quá xa mặt đất," Abe đáp. "Tôi giống hệt cái xà beng. Nếu tóm được ngón cái hoặc ngón tay dưới vật gì đó thì tôi cònạy vạy được chút đỉnh."
Sau bữa trưa, cậu cởi giày và tất ra.
"Làm việc vất vả lúc nào tôi cũng cố gắng cho đôi chân nghỉ ngơi và bộ não vận động chút xíu vào buổi trưa," cậu nhận xét. "Bộ não của tôi tụt lại phía sau đoàn người xa quá nên cứ phải quất roi bắt nó chạy theo. Cho tôi hai mươi phút đọc sách của Kirkham là tôi lại theo kịp các bác ngay."
Cậu nằm ngửa dưới gốc cây, tay cầm sách, đôi chân gác lên thân cây cao quá đầu. Chẳng mấy chốc cậu đã đứng dậy làm việc tiếp.
Chiều hôm đó, khi chuẩn bị ra về, Joe bỗng sốt sắng muốn gặp mẹ vô cùng. Cậu bé cảm thấy đã lâu lắc lâu lơ trôi qua kể từ lần cuối gặp mẹ — một sự xác tín dẫn đến tiếng khóc lóc ầm ĩ.
Abe quỳ xuống trước mặt dỗ dành cậu bé. Sau đó cậu quấn áo khoác bọc lấy cậu nhóc, xốc lên không trung rồi cõng Joe trên cổ rảo bước về nhà.
Samson viết trong nhật ký: "Trò đùa trìu mến của anh ấy với cậu bé lại cho tôi thấy một góc nhìn khác về con người Lincoln."
"Có kẻ từng đề xuất gọi con suối đó là Minnehaha," Abe vừa đi vừa nói. "Từ nay trở đi Joe và tôi sẽ gọi nó là Minneboohoo."
Mấy người phụ nữ trong làng đã tụ tập may chăn bông từ lúc mười giờ tại nhà bà Martin Waddell. Ở đó, Sarah có một chỗ ngồi bên khung thêu và nghe mọi câu chuyện phiếm của chòm xóm.
Cứ thế ngày trôi qua với họ và bị ngắt quãng bởi tiếng bước chân ầm ĩ của Joe lúc chập tối; cậu bé trèo lên lưng ghế của mẹ ôm hôn rồi bằng giọng thở hồng hộc háo hức kể lể về một ngày của chính mình.
Buổi chần bông kết thúc từ đó. Sarah, bà Rutledge cùng con gái Ann liền nhập bọn với Samson, Abe và Harry Needles đang đứng đợi bên ngoài để cùng đi bộ về quán trọ.
John McNeil — người mà nhà Traylor từng gặp trên đường gần thác Niagara và từng ở chung trại với họ — đã đến bằng xe ngựa vào tối hôm đó. Abe bước vào không lâu sau tám giờ và được giới thiệu với người lạ mặt. Ai nấy đều nhận ra sự đối lập giữa hai chàng trai trẻ khi họ chào nhau. Abe ngồi xuống một lúc lâu, buồn bã nhìn đống lửa mà không nói năng gì. Lát sau cậu đứng dậy, xin phép ra về.
Samson liền đi theo cậu. Tại cửa hàng của Offut, anh không tìm thấy Abe mà thấy Bill Berry đang xả rượu từ vòi của một chiếc thùng đặt trên bục gỗ ở cái nhà kho nối liền phía sau cửa hàng, phục vụ một đám thanh niên người Ireland đang cười nói huyên náo. Mấy gã thanh niên rủ Samson nhập cuộc.
"Không, cảm ơn các cậu. Tôi không bao giờ đụng đến thứ đó," anh nói.
"Rồi thể nào tụi tao cũng sang đây dạy cho mày cách hưởng thụ cuộc đời cho mà xem," một tên nói.
"Tôi rành mấy vụ đó lắm rồi," Samson đáp.
Dự là tụi chúng sẽ bắt đầu bài học ngay lúc đó, nhưng khi bước ra cửa hàng và nhìn thấy gã to con người Vermont đứng dưới ánh nến, tiếng cười của chúng chợt bặt đi một thoáng. Bill đứng giữa đám đông với chai rượu đầy ắp trên tay.
Hắn cùng mấy tên kia leo lên chiếc xe ngựa đang đợi sẵn ngoài cửa rồi phóng vụt đi kèm theo tiếng hú hoang dại hệt như da đỏ cất lên từ miệng một tên trong bọn.
Samson ngồi xuống dưới ánh nến và một lát sau Abe quay lại.
“Tôi chán ngấy cái trò này lắm rồi đấy,” Abe nói.
“Tôi đoán là cậu không thích cái khoản whisky trong đó nhỉ,” Samson vừa nói vừa sờ nắn một tấm vải.
“Tôi ghét nó,” Abe tiếp lời. “Trông nó chẳng còn ra thể thống gì nữa.”
“Mạn Vermont tụi tôi cũng chẳng ưa gì cái vụ whisky đó đâu.”
“Bác nói phải đấy, nó đẻ ra đủ thứ tệ nạn và hỗn loạn. Hồi trẻ tôi lớn lên giữa rượu chè. Ai ai cũng uống. Một chai hay một bình rượu được coi là mặt hàng hợp pháp hệt như một cân trà hay một thước vải chintz. Từ trước tới nay tôi vẫn nghĩ thế. Nhưng dạo gần đây tôi bắt đầu ngấm cái tư tưởng kiểu Yankee về rượu chè rồi. Cứ hễ dính vào đám giao du tầm phơi là nó sinh chuyện quỷ quái ngay.”
Hơi chín giờ tối một chút, Abe kéo chiếc nệm nhồi vỏ ngô từ dưới quầy ra, dọn dẹp các cuộn vải sang một bên rồi trải chiếc nệm vào chỗ đó, phủ lên trên một tấm chăn.
"Đây là giường của tôi," cậu nói. "Năm giờ sáng mai tôi sẽ dậy. Rồi tôi sẽ đun trà ở lò sưởi đây để nuốt trôi ít thịt khô với mẩu bánh mì. Tầm sáu giờ hoặc hơn kém chút là tôi sẵn sàng đi cùng bác rồi. Jack Kelso sẽ trông cửa hàng giúp tôi ngày mai."
Cậu bắt đầu cười khúc khích.
"Bác biết không, lúc tôi bước ra khỏi quán trọ, con ranh con ấy cứ ngó ngoáy vào cửa sổ — Bim, con gái của Jack ấy," Abe nói. "Tôi hỏi sao nó không vào trong, nó bảo nó sợ. 'Sợ đứa nào?' tôi hỏi. 'Ối, con tưởng cái cậu kia,' nó đáp. Mà thề có Chúa là tay nó run bắn lên khi tóm lấy tay áo tôi đi về nhà bố nó đấy."
Abe khúc khích cười khi trải thêm tấm chăn khác. "Đúng là con ranh nghịch ngợm! Này, thể nào chúng ta cũng có màn hay ho để xem cặp đôi đó cho mà xem," cậu nói.
Số gỗ đã sẵn sàng hai ngày sau khi bắt đầu đốn. Martin Waddell và Samuel Hill cử người lái xe đến chở về. John Cameron và Peter Lukins đã chở khung cửa sổ và vài tấm ván mỏng từ Beardstown bằng một chiếc xuồng phẳng nhỏ. Thế rồi ngày cất nóc cũng tới — một ngày đầu tháng Chín trời quang mây tạnh, ấm áp. Tất cả đàn ông trong làng và các nông trại lân cận tụu lại giúp xây tổ ấm cho những người mới đến. Samson và Jack Kelso đi săn sau khi đốn gỗ xong, mang về một con hươu đực béo múp và rất nhiều gà gô cho bữa tiệc thịt nai, nơi mọi phụ nữ trong vùng đều đóng góp bánh ngọt, bánh nướng hoặc bánh rán.
"Phần việc của tôi là gì nhỉ?" Samson hỏi Kelso.
"Chẳng có gì ngoài một bình whisky, một lời nói ngọt ngào và tiệc tân gia thôi," Kelso đáp.
Họ đục đẽo, khoan lỗ trên các khúc thân cây rồi làm chốt để ghép chúng lại, đồng thời cắt những thanh gỗ chèn quanh vị trí lò sưởi và cửa sổ. Những bàn tay khỏe mạnh, nhiệt tình và thạo việc đã đẽo gọt, lắp ráp các khúc gỗ khít rịt vào nhau. Alexander Ferguson trát lò sưởi bằng một loại vữa kỳ lạ làm từ đất sét trộn với cỏ để làm chất kết dính. Loại vữa này được cuộn thành từng lớp gọi là "mèo", mỗi lớp dài tám inch, dày ba inch. Sau đó ông áp chúng vào các thân cây và cố định bằng một mạng lưới các thanh củi đan xen. Ngọn lửa đầu tiên — cháy âm ỉ — nung lớp đất sét thành một lớp vỏ cứng như đá bên trong các thân cây và chẳng mấy chốc các thanh củi bị đốt cháy rụi. Phụ nữ đã nấu nướng thịt thà bên ngọn lửa lộ thiên và bày biện bữa tiệc trên chiếc bàn làm từ ván thô gác trên mấy cây sào cài vàoạc chạc cây. Giữa trưa, một người thổi chiếc tù và bằng ốc xà cừ. Thế là với những tiếng hò reo vui sướng, đàn ông ùn ùn kéo đến đống lửa và có một phút giây huyên náo bận rộn bên những chậu rửa mặt. Trước khi ăn, mọi người đàn ông ngoại trừ Abe và Samson đều "làm một ngụm bình rượu — dài hay ngắn" — theo cách nói thời bấy giờ.
Đó là một tụ điểm vui vẻ quây quần trên bãi cỏ xung quanh chiếc bàn với những đĩa thức ăn đầy ắp. Món ăn của họ được gia vị thêm bằng những trò đùa vui nhộn và tiếng cười vang dội. Sarah hơi sốc trước cách ăn uống thô mộc, chẳng cần dao nĩa hay khăn ăn gì trong quá trình đó. Ăn uống xong xuôi, dọn dẹp và cất đĩa xong, đám phụ nữ rủ nhau về nhà lúc hai giờ. Trước khi họ đi, tai Samson chợt bắt được tiếng rầm rập của hàng loạt tiếng móng ngựa vang lên từ đằng xa. Nhìn về hướng đó, anh thấy một đám mây bụi trên đường và một nhúm kỵ mã đang phi nước đại hướng về phía họ. Abe tiến lại gần anh và bảo:
"Tôi thấy tụi trai làng Clary's Grove đang tới kìa. Nếu chúng giở chứng, cứ để tôi xử lý. Đó là trách nhiệm của tôi. Biết đâu tụi nó lại mang theo ít rượu whisky của Offut thì khổ."
Đám trẻ kéo đến trong làn bụi mịt mùng cùng dàn hợp xướng tiếng hú da đỏ, rồi chúng xuống ngựa và cột chân ngựa lại. Chúng tiến về phía những người thợ, dẫn đầu là Jack Armstrong vạm vỡ, một thợ rèn lực lưỡng mặt mày dữ dằn chừng hai mươi hai tuổi, vai u thịt bắp, cái tên đã ghi dấu vào lịch sử. Chúng đã uống chút rượu nhưng không đứa nào bị mất kiểm soát. Chúng vật lộn tranh giành chiếc bình rượu chốc lát trong bầu không khí vô cùng vui vẻ, rồi sau đó Abe và bà Waddell đem phần thức ăn ngon nhất còn sót lại ra đãi chúng. Chúng khá ồn ào. Chẳng mấy chốc chúng trèo lên mái nhà phụ giúp việc lắp xà gác và ván lợp. Chúng làm việc rất hăng hái được vài phút rồi đột nhiên nháo nhác trèo tuột xuống để làm thêm ngụm rượu nữa. Chúng đang định quậy phá một trận tưng bừng và Abe thừa biết điều đó, hơn thế nữa cậu biết chúng đã chạm tới giới hạn của sự chừng mực.
"Này các cậu, ở đây có phụ nữ nên chúng ta phải cẩn thận chứ," cậu nói. "Tôi đã từng kể cho các cậu nghe chuyện bác Jerry Holman nói về con bê đực của bác ấy chưa? Bác ấy bảo con bê bú giỏi đến mức chẳng để lại giọt sữa nào cho gia đình, và trong lúc con bê lớn phổng lên thì lũ trẻ lại còi cọc đi. Theo ý tôi thì các cậu bây giờ béo tốt đủ rồi đấy. Cứ tập trung làm việc đến bốn giờ đi. Lúc đó chúng ta sẽ nghỉ giải lao ăn uống."
Đám trẻ hư hỏng túmụ lại với nhau bắt đầu thì thầm to nhỏ. Samson viết rằng lúc đó rõ ràng chúng đang định gây sự và kể lại:
"Chúng tôi đã để lũ trẻ ở chỗ Rutledge nhờ Ann trông nom. Tôi đến bảo Sarah rằng tốt hơn là cô ấy nên đi xem bọn trẻ thế nào rồi."
'Anh đừng có gây sự đấy nhé,' cô ấy nói, điều đó chứng tỏ phụ nữ đã đánh hơi thấy chuyện chẳng lành rồi."
"Sarah đi đầu và mọi người theo sau."
Mấy gã to con vạm vỡ ở khu lùm cây ấy mỗi khi cao hứng là lại tìm cơ hội gây sự với ai đó để biến người ta thành trò tiêu khiển. Một nạn nhân là phần không thể thiếu trong những cuộc quậy phá của chúng. Khối kẻ tội nghiệp từng bị nhốt vào thùng phuy lăn từ đỉnh đồi xuống hoặc suýt chết đuối vì bị nhấn nước để mua vui cho chúng. Cơ hội gây sự đã tới và chúng quyết tận dụng triệt để. Chúng bắt đầu gầm gừ bất mãn. Vài tên đang xúi giục thủ lĩnh Jack Armstrong khiêu chiến với Abe. Một tên chạy ra chỗ con ngựa tháo chai rượu trong túi yên ra. Chai rượu chuyền tay từ miệng này sang miệng khác. Jack Armstrong chộp lấy chai khi nó chưa với nổi nửa bình, tu cạn sạch rồi vung tay ném vút lên không trung. Tên khác gọi hắn là đồ lợn và chồm tới tóm lấy eo hắn, thế là một cuộc đấu vật tuyệt vọng nổ ra rồi kết thúc nhanh chóng. Armstrong siết được cổ kẻ tấn công và bóp nghẹt khiến hắn phải buông tay. Thế vẫn chưa đủ với gã côn đồ lực lưỡng của Clary's Grove. Hắn túm lấy tên đàn em rồi quăng quật mạnh bạo xuống đất đến mức gã kia nằm đờ đẫn mất một lúc. Máu trong người Armstrong đã nổi lên và giờ hắn sẵn sàng ra tay. Với một tiếng hú hoang dại, hắn cởi áo khoác, bật cúc tay áo sơ mi phải rồi xắn lên tận vai, lớn tiếng hô hoán trong khi vung tay lên không trung rằng hắn có thể "nhảy xa, nhảy lò cò, chạy đua, quật ngã, kéo lê và tẩn bơ bất cứ gã nào ở New Salem."
Trong lá thư gửi bố, Samson viết:
"Abe đang làm việc ngay cạnh tôi. Tôi thấy cậu ấy đặt búa xuống, đứng dậy rồi tiến thẳng về phía chiếc thang. Tôi biết sắp có chuyện chẳng lành nên đi theo sau. Chỉ một thoáng sau, tất cả mọi người đều rời khỏi mái nhà và bước xuống đất. Chắc bọn họ biết điều gì sắp xảy ra. Gã to con đứng đó vừa vung tay vừa gào thét hệt như người da đỏ. Hắn có một cánh tay to lớn, cơ bắp cuồn cuộn gân guốc, nhưng tôi đoán nếu tôi xắn tay áo khoác ra khoe thì hắn sẽ phải kéo tay áo xuống thôi. Tôi đoán cánh tay của gã đó cũng có cú đá hậu nặng ký kiểu la, nhưng lạy Chúa! Nếu hắn từng nhìn thấy nhiều cánh tay mọc ra từ cán rìu hickory như bố với tôi thì hắn sẽ biết tay mình chẳng có gì đáng tự hào. Tôi không rõ tài nghệ của Abe tới đâu nên hơi lo lắng trong phút chốc. Tôi chưa bao giờ thấy việc đứng im không làm gì khó khăn như lúc đó. Thật lòng đôi bàn tay tôi ngứa ngáy chịu không nổi. Tôi chỉ muốn chạy lại cốc tai gã đó vài cái, chộp lấy hắn rồi ném qua chóp mái.
Abe tiến thẳng đến chỗ hắn và nói:
'Jack, anh chẳng dữ dằn hay gân guốc bằng một nửa những gì anh tưởng đâu. Anh bảo anh có thể quật ngã bất kỳ ai ở đây ư. Chắc tôi phải chứng minh cho anh thấy anh nhầm to rồi. Chúng ta vật nhau đi. Cả hai là bạn bè nên đừng bàn chuyện tẩn nhau làm gì. Cứ đấu vật hữu nghị một trận xem sao.'
Chỉ trong tích tắc, hai người đàn ông đã lao vào ôm siết lấy nhau. Armstrong l lao vào Abe với tiếng gầm gú. Chẳng có chút tình bạn nào trong cách hắn ra đòn cả. Hắn định giở mọi thủ đoạn có thể để gây tổn thương tối đa cho đối thủ. Hắn cố dùng đầu húc và tống đầu gối vào bụng Abe ngay khi vừa sáp lá cà. Jack lúc nửa say là kẻ sẵn sàng cắn đứt tai người khác. Đó đâu phải đấu vật; đó là một trận hỗn chiến. Abe di chuyển nhanh như chớp. Cậu uyển chuyển và nhanh nhẹn hệt như được thoa mỡ. Chỉ trong chớp mắt, cậu đã tóm được cổ gã kia bằng bàn tay phải to lớn và ngoắc tay trái vào vạt quần trên hông hắn. Bằng cách đó, cậu giữ hắn ở khoảng cách xa rồi lắc bần bật như cách con chó nhà ta lắc con chồn đất vậy. Máu trong người Abe đang sục sôi. Nếu cả đám lao vào hùa với nhau chắc cậu vẫn xử lý gọn, bởi vì khi nổi giận, bên trong Abe ẩn chứa điều gì đó vượt qua cả xương thịt. Tôi đoán đó là thứ cảm giác tôi thấy khi cậu ấy đọc diễn văn. Nó tựa như những tia chớp vậy. Tôi đoán đó là điều mà vị mục sư của chúng ta gọi là sức mạnh tinh thần. Sau đó Abe nói với tôi rằng lúc đó cậu ấy có cảm giác như mình đang chiến đấu vì sự bình yên và danh dự của New Salem.
Một tên đàn em của gã côn đồ lao vào định ngáng chân Abe. Harry Needles đứng ngay cạnh tôi. Chưa kịp phản ứng thì cậu ta đã lao vút lên đấm thẳng vào trán tên đó khiến hắn ngã ngửa còng queo. Harry đã nện cho Bap McNoll — kẻ chuyên chọi gà — một cú nhớ đời. Lúc đó tôi chen sát lại gần chiếc nồi lớn và hớt bọt. Tôi giáng cho một trong lũ quỷ sứ đó cái bạt tai bằng lòng bàn tay bay sạch lớp da mặt lăn lộn nhiều vòng. Khi quay nhìn lại, Armstrong đã mềm nhũn ra rồi. Miệng hắn há hốc và lè lưỡi. Với một tay túm chân phải và tay kia túm gáy, Abe nhấc bổng hắn lên ở khoảng cách một tay rồi tung bổng lên không trung. Armstrong rơi xuống cách chỗ Abe đứng chừng mười phút và nằm bất động ở đó một lúc. Hơi tàn lực kiệt, hắn hoàn toàn đờ đẫn và mệt lả. Abe đứng sừng sững như một người khổng lồ, khuôn mặt vô cùng nghiêm nghị.
'Này các cậu, đứa nào còn muốn gây sự thì cứ bước lên nhận phần y chang nhé,' cậu nói.
Tụi chúng cúp đuôi cúi đầu chẳng đứa nào dám nhúc nhích hay hó hé nửa lời. Abe tiến đến đỡ Armstrong dậy.
'Jack, tôi rất tiếc vì phải ra tay mạnh với anh,' cậu nói. 'Anh lên ngựa về nhà đi thôi.'
'Abe, anh giỏi hơn tôi,' gã côn đồ vừa nói vừa đưa tay ra bắt tay Abe. 'Anh bảo gì tôi cũng nghe hết.'
Thế là băng đảng Clary's Grove đã bị khuất phục. Dẫu chúng còn gây ra rắc rối sau đó, nhưng từ nay về sau chúng không bao giờ dám đe dọa đến nền móng luật pháp và trật tự của cộng đồng nhỏ bé New Salem nữa.
