Người bạn bất hạnh P. của tôi đã đánh mất mạch đời của mình bởi sự chen ngang của những khoảng thời gian dài bị rối loạn trí tuệ một phần. Quá khứ và hiện tại lẫn lộn trong tâm trí anh ấy theo một cách thường mang lại những kết quả kỳ lạ, và điều đó sẽ được hiểu rõ hơn sau khi đọc bức thư sau đây hơn là từ bất kỳ mô tả nào mà tôi có thể đưa ra. Tội nghiệp anh ấy, dù chưa từng bước chân ra khỏi căn phòng nhỏ quét vôi trắng, có song sắt cửa sổ mà anh ấy nhắc đến trong đoạn đầu tiên, lại là một người đi rất nhiều, và trong những cuộc phiêu lưu của mình, anh ấy gặp gỡ đủ loại nhân vật từ lâu đã biến mất khỏi tầm mắt của bất kỳ ai ngoại trừ chính anh ấy. Theo quan điểm của tôi, tất cả những điều này không hẳn là một sự hoang tưởng mà giống một trò đùa của trí tưởng tượng — một phần do ý muốn và một phần ngoài ý muốn — thứ mà bệnh tật đã truyền cho một năng lượng bệnh hoạn đến mức anh ấy nhìn thấy những cảnh tượng và nhân vật ma quái này rõ nét không kém gì một vở kịch trên sân khấu, và với niềm tin huyễn hoặc còn có phần hơn thế. Rất nhiều bức thư của anh ấy đang nằm trong tay tôi, một số dựa trên cùng một sự mộng tưởng như bức thư này, và những số khác dựa trên những giả thuyết kỳ quặc không kém. Tất cả tạo thành một chuỗi thư từ mà, nếu số phận sớm mang người bạn tội nghiệp của tôi rời khỏi thế giới vốn đối với anh ấy chỉ toàn là ảo ảnh này, tôi tự hứa sẽ có một niềm vui đạo đức là biên tập nó cho công chúng thưởng thức.
P. luôn có niềm khao khát danh tiếng văn học, và đã thực hiện nhiều hơn một nỗ lực không thành công để đạt được điều đó. Sẽ thật kỳ lạ làm sao nếu như, sau khi bỏ lỡ mục tiêu của mình trong lúc tìm kiếm nó dưới ánh sáng của lý trí, anh ấy lại vô tình vớ được nó trong những chuyến thám hiểm mờ sương vượt ra ngoài ranh giới của sự tỉnh táo.
LONDON, ngày 29 tháng 2 năm 1845.
BẠN YÊU DẤU CỦA TÔI: Những liên tưởng cũ bám rễ vào tâm trí với sức dai dẳng đến ngạc nhiên. Thói quen hàng ngày mọc lên xung quanh chúng ta như một bức tường đá, và củng cố chính nó thành một thực thể vật chất gần như kiến trúc vững chãi nhất của nhân loại. Đôi khi, một câu hỏi nghiêm túc đặt ra trong tôi là liệu các ý tưởng có thực sự hữu hình và có thể chạm vào được, và được phú cho tất cả các phẩm chất khác của vật chất hay không. Ngồi ở thời điểm này trong căn phòng thuê của mình, viết bên lò sưởi, nơi treo bức tranh chân dung Nữ hoàng Victoria, lắng nghe tiếng gầm âm ỉ của đô thị lớn nhất thế giới, và với một cửa sổ chỉ cách năm bước chân, qua đó, bất cứ khi nào tôi muốn, tôi có thể phóng tầm mắt ra London thực tế — với tất cả sự chắc chắn tích cực này về nơi tôi đang ở, anh nghĩ rằng loại ý niệm nào đang làm rộn ràng bộ óc của tôi lúc này? Chà — anh có tin không? — rằng suốt thời gian qua tôi vẫn là cư dân của căn phòng nhỏ bé tẻ nhạt đó — căn phòng nhỏ quét vôi trắng đó — căn phòng nhỏ với một ô cửa sổ duy nhất mà vì một lý do vô hình nào đó về gu thẩm mỹ hay sự tiện lợi, chủ nhà của tôi đã lắp một hàng song sắt — tóm lại là chính căn phòng nhỏ ấy, nơi lòng tốt của anh đã bao lần đưa anh đến thăm tôi! Liệu có khoảng thời gian nào hay không gian rộng lớn nào có thể giải thoát tôi khỏi chốn ở kém xinh xắn ấy không? Tôi đi du lịch; nhưng có vẻ như tôi giống con ốc sên, mang theo ngôi nhà trên đầu mình. À, thôi nào! Tôi đoán là mình đang bước vào giai đoạn của cuộc đời mà những cảnh tượng và sự kiện hiện tại chỉ để lại những ấn tượng mờ nhạt so với những kỷ niệm ngày xưa; sao cho tôi phải tự hòa giải để ngày càng trở thành tù nhân của Ký ức, kẻ chỉ thả cho tôi nhảy nhót loanh quanh một chút với sợi xích vướng vào chân.
Những bức thư giới thiệu của tôi đã vô cùng hữu ích, giúp tôi làm quen với một số nhân vật kiệt xuất — những người cho đến nay vẫn tưởng như xa vời khỏi phạm trù giao du cá nhân của tôi chẳng kém gì các bậc văn nhân thời Nữ hoàng Anne hay những bạn nhậu của Ben Jenson tại quán Người cá (Mermaid). Một trong những bức thư đầu tiên tôi sử dụng là thư gửi Nam tước Byron. Tôi thấy lãnh chúa trông già hơn nhiều so với dự tưởng của tôi, mặc dù, nếu xét đến lối sống bất thường trước đây và sự hao mòn khác nhau của thể chất, thì trông ông cũng không quá già so với một người đang ở độ tuổi sát sạt sáu mươi. Nhưng trong trí tưởng tượng của mình, tôi đã gắn cho thể xác trần tục của ông sự bất tử mang tính tinh thần của một nhà thơ. Ông đội một bộ tóc giả màu nâu, uốn xoăn rất rậm rạp, kéo sà xuống tận trán. Biểu cảm đôi mắt ông được che khuất bởi cặp kính. Xu hướng béo phì từ thời trẻ đã tăng lên, Nam tước Byron giờ đây béo một cách khủng khiếp — béo đến mức tạo ấn tượng của một người hoàn toàn bị quá tải bởi chính da thịt mình, và không có đủ sinh lực để phân tán sức sống cá nhân vào khối lượng thể chất khổng lồ đang đè nặng lên ông một cách tàn nhẫn. Anh ngắm nhìn đống phàm trược ấy; và trong khi nó lấp đầy tầm mắt anh với cái vẻ bề ngoài là Byron, anh lại thầm thì trong lòng: “Vì Chúa, ông ấy đang ở đâu chứ?” Nếu có lòng dạ cay nghiệt, tôi có thể coi khối vật chất trần thế này như một biểu tượng, dưới hình hài vật chất, của những thói quen xấu và tật xấu xác thịt vốn làm mất đi bản chất tâm linh của con người và chặn đứng các ngả đường giao tiếp của anh ta với cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng như thế thì quá cay nghiệt; và hơn nữa, đạo đức của Nam tước Byron đã cải thiện trong khi thể xác bên ngoài của ông phình ra đến mức vô độ ấy. Phải chi ông gầy bớt đi; bởi vì, mặc dù ông đã ban cho tôi vinh dự đưa tay ra bắt, nhưng bàn tay ấy lại sưng phồng lên bởi một thứ chất lạ đến mức tôi không thể cảm thấy như mình đang chạm vào bàn tay từng viết tác phẩm Childe Harold.
Khi tôi bước vào, lãnh chúa đã xin lỗi vì không đứng lên tiếp đón, với lời biện minh đầy sức nặng rằng chứng gút trong suốt mấy năm qua đã chọn định cư vĩnh viễn ở bàn chân phải của ông, do đó bàn chân ấy đã được quấn trong nhiều lớp nỉ và đặt lên một chiếc đệm. Bàn chân kia được giấu trong lớp rèm của chiếc ghế. Anh có nhớ bàn chân trái hay chân phải của Byron là bàn chân bị dị tật không.
Như anh đã biết, việc nhà thơ quý tộc hòa giải với phu nhân Byron nay đã kéo dài mười năm; và tôi được đảm bảo rằng nó không hề biểu lộ bất kỳ triệu chứng rạn nứt hay gãy đổ nào. Họ được cho là, nếu không phải một cặp đôi hạnh phúc, thì ít ra cũng là mãn nguyện, hoặc dẫu sao cũng là một cặp đôi yên bình, đang đi xuống sườn dốc cuộc đời với mức độ hỗ trợ lẫn nhau vừa phải để có thể bước đến chân dốc một cách dễ dàng và thoải mái. Thật thú vị khi ngẫm nghĩ xem nhà thơ đã chuộc lại những lỗi lầm thời trẻ của mình triệt để đến nhường nào trong khía cạnh này. Tôi vui mừng khi được bổ sung thêm rằng, ảnh hưởng của phu nhân đã mang lại những kết quả hạnh phúc nhất cho Nam tước Byron dưới góc độ tôn giáo. Giờ đây, ông kết hợp những tín điều nghiêm ngặt nhất của đạo Giám lý với các giáo lý cực đoan của phái Pusey; điều trước có lẽ là do những niềm tin được khắc tạc vào tâm trí ông bởi người vợ quý tộc của mình, trong khi điều sau lại là những nét thêu thùa và tô điểm sinh động mà tính cách giàu trí tưởng tượng của ông đòi hỏi. Phần lớn khoản chi tiêu mà thói quen tiết kiệm ngày càng tăng của ông tiếp tục cho phép đều được dùng để trùng tu hoặc làm đẹp cho các nơi thờ tự; và vị quý tộc này, người mà cái tên từng được coi là đồng nghĩa với ác quỷ, nay gần như đã được phong thánh ở nhiều bục giảng đạo tại thủ đô và những nơi khác. Về chính trị, Nam tước Byron là một người bảo thủ không khoan nhượng, và không bỏ lỡ bất kỳ cơ hội nào, dù là tại Thượng viện hay trong các vòng tròn riêng tư, để lên án và bác bỏ những quan niệm tai hại và vô chính phủ thời trẻ của ông. Ông cũng không quên trừng phạt những tội lỗi tương tự ở người khác bằng sự trả thù chân thành nhất mà ngòi bút có phần cùnụt của ông có thể giáng xuống. Southey và ông đang có mối quan hệ vô cùng thân thiết. Chắc anh biết rằng, một thời gian ngắn trước khi Moore qua đời, Byron đã khiến cho người đàn ông tài hoa nhưng đáng trách đó phải dọn khỏi nhà mình. Moore đã mang sự sỉ nhục ấy nặng lòng đến mức người ta nói rằng đó là một trong những nguyên nhân lớn dẫn đến cơn bệnh đưa ông xuống mồ. Những người khác lại phỏng đoán rằng nhà thơ trữ tình đã ra đi trong một trạng thái tâm trí rất hạnh phúc, cất tiếng hát một trong những khúc thánh ca của chính mình, và bày tỏ niềm tin rằng nó sẽ được lắng nghe bên trong cánh cổng thiên đường, đồng thời mang lại cho ông sự dung thứ ngay lập tức và đầy danh dự. Tôi ước gì ông ấy thực sự tìm thấy điều đó.
Như anh có thể đoán trước, trong cuộc trò chuyện với Nam tước Byron, tôi đã không quên dâng nén hương lòng tôn kính dành cho một nhà thơ vĩ đại, bằng cách nhắc đến những đoạn thơ trong Childe Harold, Manfred, và Don Juan — những tác phẩm đã chiếm một phần lớn âm nhạc trong cuộc đời tôi. Lời nói của tôi, dù thích hợp hay không, ít ra cũng đượm nhiệt huyết của một kẻ xứng đáng bàn về thi ca bất tử. Tuy nhiên, hiển nhiên là chúng đã không chạm chính xác vào đúng chỗ. Tôi có thể nhận ra rằng đã có sự nhầm lẫn nào đó, và cảm thấy vô cùng tức giận với bản thân, đồng thời hổ thẹn về nỗ lực thất bại của mình trong việc hắt ngược từ trái tim tôi vào tai người tác giả tài hoa tiếng vang của những khúc ca từng vang dội khắp thế giới. Nhưng rồi chẳng mấy chốc, bí mật cũng lặng lẽ lộ diện. Byron — tôi có được thông tin này từ chính miệng ông, nên anh không cần phải ngần ngại khi nhắc lại nó trong giới văn nhân — Byron đang chuẩn bị một ấn bản mới cho toàn tập tác phẩm của mình, đã được chỉnh sửa cẩn thận, cắt bỏ và sửa đổi, phù hợp với tín điều hiện tại của ông về gu thẩm mỹ, đạo đức, chính trị và tôn giáo. Tình cờ là chính những đoạn thơ có cảm hứng cao trào nhất mà tôi vừa nhắc đến lại nằm trong số rác rưởi bị kết án và loại bỏ mà ông dự định ném xuống vực thẳm của sự lãng quên. Thật lòng mà nói với anh, dường như khi những đam mê của ông đã lụi tàn, sự dập tắt của ngọn lửa dữ dội và cuồng nhiệt ấy đã tước đi của Nam tước Byron thứ ánh sáng không chỉ giúp ông viết mà còn giúp ông cảm nhận và thấu hiểu những gì mình đã viết. Thật sự là ông không còn hiểu nổi thơ của chính mình nữa.
Điều này trở nên vô cùng rõ ràng khi ông ban ân huệ cho tôi bằng cách đọc một vài đoạn trích trong Don Juan phiên bản đã được đạo đức hóa. Bất cứ điều gì phóng túng, bất cứ điều gì thiếu tôn trọng các bí ẩn linh thiêng của đức tin chúng ta, bất cứ điều gì u sầu bệnh hoạn hay đùa cợt cay độc, bất cứ điều gì công kích các thể chế chính phủ hoặc hệ thống xã hội đã được thiết lập, bất cứ điều gì có thể làm tổn thương sự nhạy cảm của bất kỳ người phàm nào, ngoại trừ một kẻ ngoại đạo, một tên cộng hòa hoặc một kẻ ly giáo, đều đã bị xóa sạch không thương tiếc, và vị trí của chúng được thay thế bằng những vần thơ vô hại theo phong cách hậu kỳ của lãnh chúa. Anh có thể đoán xem còn lại bao nhiêu phần của bài thơ như đã từng được xuất bản trước đây. Kết quả không được tốt như mong muốn; nói thẳng ra, đó thực sự là một điều rất đáng buồn; bởi vì, mặc dù những ngọn đuốc thắp lên ở Địa đã được dập tắt, chúng vẫn để lại một thứ mùi hôi thối vô cùng khó chịu, và chẳng có lấy một tia lửa thánh thiện nào thay thế. Dù vậy, vẫn có thể hy vọng rằng nỗ lực này của Nam tước Byron nhằm chuộc lại những lầm lỗi thời trẻ cuối cùng sẽ thuyết phục được Đạo diện Westminster, hay bất kỳ vị giáo sĩ nào có thẩm quyền, cho phép bức tượng nhà thơ của Thorwaldsen có được vị trí thích hợp trong Tu viện cổ kính vĩ đại. Anh biết đấy, khi hài cốt của ông được đưa về từ Hy Lạp, nó đã bị từ chối chôn cất giữa những người anh em thi sĩ ở đó.
Thật là một lỗi lặt vặt tồi tệ của ngòi bút! Thật ngớ ngẩn làm sao khi tôi lại đi bàn về việc chôn cất hài cốt của Byron — người mà tôi vừa mới nhìn thấy đang sống bằng xương bằng thịt, và được bọc trong một khối thịt to tròn! Nhưng nói thật, một người béo đến mức phi thường luôn mang lại cho tôi ấn tượng của một dạng yêu tinh; trong chính sự quá trớn của hệ thống thể xác ấy, tôi tìm thấy thứ gì đó giống với bản chất phi vật chất của một hồn ma. Và rồi câu chuyện cũ ngớ ngẩn ấy bỗng xẹt qua tâm trí tôi, rằng Byron đã chết vì sốt ở Missolonghi, cách đây hơn hai mươi năm. Tôi càng lúc càng nhận ra rằng chúng ta đang sống trong một thế giới của những bóng ma; và đối với tôi, tôi thấy chẳng đáng bận tâm để cố gắng phân biệt giữa những bóng ma trong tâm trí và bóng ma ngoài đời thực. Nếu có bất kỳ sự khác biệt nào, thì những cái trước có phần thực chất hơn nhiều.
Hãy nghĩ đến vận may của tôi mà xem! Cụ Robert Burns đáng kính — nay, nếu tôi không nhầm, đã bước sang tuổi tám mươi bảy — tình cờ đang có chuyến ghé thăm London, như thể cố ý tạo cho tôi cơ hội được siết chặt tay ông. Hơn hai mươi năm qua, ông hầu như chưa từng rời khỏi ngôi nhà tranh yên tĩnh của mình ở Ayrshire dù chỉ một đêm, và nay chỉ bị thu hút đến đây bởi những lời nài nỉ không thể chối từ của tất cả các nhân vật kiệt xuất nước Anh. Họ muốn tổ chức một lễ hội kỷ niệm sinh nhật của vị bậc thầy này. Đó sẽ là chiến thắng văn học vĩ đại nhất từng được ghi nhận. Cầu xin trời phật cho ngọn lửa nhỏ nhoi của sự sống trong lồng ngực nhà thơ già không bị dập tắt giữa ánh hào quang của giờ phút đó! Tôi đã có vinh dự được diện kiến ông tại Bảo tàng Anh, nơi ông đang xem xét một bộ sưu tập những bức thư chưa từng công bố của chính mình, xen lẫn với những bài hát đã thoát khỏi sự chú ý của tất cả các nhà tiểu sử học.
Phóc! Xàm xí! Tôi đang nghĩ cái quái gì thế này? Làm sao Burns lại được ướp xác trong tiểu sử khi ông vẫn là một ông lão tráng kiện chứ?
Dáng dấp của nhà thơ cao ráo và vô cùng đáng kính, càng thêm phần trang nghiêm bởi tấm lưng đã còng rạp vì gánh nặng của thời gian. Mái tóc bạc phơ của ông trôi bồng bềnh như một đống tuyết quanh khuôn mặt, nơi hằn sâu những nếp nhăn của trí tuệ và niềm đam mê, giống như lòng suối của những trận thác lũ ào ạt đã gầm thét cho cạn kiệt. Cụ ông vẫn được bảo quản xuất sắc, xét theo độ tuổi của mình. Ông có thứ sự sống động kiểu dế mồi — ý tôi là cái tính hay hót líu lo vô cớ hoặc nhân danh bất cứ lý do gì của loài dế — thứ tâm trạng có lẽ là thuận lợi nhất có thể giáng xuống tuổi già chập chờn. Niềm kiêu hãnh cấm chúng ta mong muốn điều đó cho chính mình, mặc dù chúng ta nhận ra đó là một ân huệ của tạo hóa đối với người khác. Tôi ngạc nhiên khi tìm thấy điều đó ở Burns. Dường như trái tim nhiệt huyết và trí tưởng tượng rực rỡ của ông đều đã lụi tàn đến những tàn than cuối cùng, chỉ để lại một ngọn lửa nhỏ đang leo lét ở một góc, cứ tự nhảy múa ngược lên và cười một mình. Ông không còn khả năng cảm thụ sự bi ai. Theo yêu cầu của Allan Cunningham, ông đã thử hát bài hát của chính mình dâng lên Mary ở thiên đường; nhưng hiển nhiên là cảm xúc của những vần thơ ấy, quá đỗi chân thực và được diễn đạt vô cùng giản dị, đã hoàn toàn vượt quá tầm với của những giác quan hiện tại của ông; và khi một chút dư vị ấy vô tình đánh thức ông, những giọt nước mắt lập tức tuôn trào trong mắt ông và giọng ông vỡ òa thành một tiếng kêu cục cục run rẩy. Thế nhưng ông cũng chẳng hiểu rõ vì sao mình đang khóc. À, ông không được phép nghĩ lại về Mary ở thiên đường cho đến khi rũ bỏ được gánh nặng buồn tẻ của thời gian và thăng hoa để gặp nàng ở đó.
Burns sau đó bắt đầu ngâm bài Tam O’Shanter; nhưng vì quá buồn cười trước sự hóm hỉnh và hài hước của nó — mà tôi nghi ngờ rằng ông chỉ còn giữ lại cảm nhận qua truyền khẩu — nên ông nhanh chóng bật cười léc chéc, tiếp theo là một cơn ho, đặt dấu chấm hết cho màn trình diễn không mấy dễ chịu này. Nói chung, thà tôi không chứng kiến nó thì hơn. Tuy nhiên, có một ý nghĩ an ủi là bốn mươi năm cuối đời của nhà thơ nông dân đã trôi qua trong sự sung túc và hoàn toàn thoải mái. Đã được chữa khỏi chứng cẩu thả thi ca từ lâu lắm rồi, và trở nên chú trọng đến miếng cơm manh áo như một người Scotland lọc lõi đích thực, giờ đây ông được coi là khá khấm khá về mặt tài chính. Tôi cho rằng điều này cũng đáng để sống thọ đến thế.
Tôi nhân cơ hội này hỏi thăm một số người đồng hương của Burns về tình hình sức khỏe của Ngài Walter Scott. Thật tiếc khi phải nói rằng tình trạng của ông vẫn y nguyên như mười năm qua; đó là tình trạng của một người bị liệt vô vọng, bị tê liệt không chỉ ở thể xác mà còn ở cả những thuộc tính cao quý hơn mà thể xác vốn là công cụ. Và cứ thế ông sống thực vật từ ngày này qua ngày khác, từ năm này qua năm khác tại cái ảo ảnh tráng lệ Abbotsford — nơi nảy mầm từ bộ óc của ông, và trở thành biểu tượng cho thị hiếu, cảm xúc, học vấn, định kiến và các phương thức tư duy của nhà tiểu thuyết vĩ đại. Dù là thơ ca, văn xuôi hay kiến trúc, ông chỉ có thể hoàn thành một thứ duy nhất, mặc dù thứ duy nhất ấy mang muôn hình vạn trạng. Ở đó, ông nằm dài trên chiếc ghế bành trong thư viện của mình, và được cho là dành trọn nhiều giờ mỗi ngày để đọc cho thư ký chép lại những câu chuyện — cho một người thư ký tưởng tượng; bởi vì chẳng ai còn bận tâm ghi lại những gì tuôn ra từ trí tưởng tượng từng rực rỡ một thời ấy nữa, nơi mà từng hình ảnh trước đây đều đáng giá ngàn vàng và có thể đúc thành tiền. Thế nhưng Cunningham, người gần đây đã đến thăm ông, đảm bảo với tôi rằng thỉnh thoảng vẫn có những tia chớp thiên tài — một sự kết hợp ấn tượng của các tình huống, hoặc một nét tính cách đẹp như tranh vẽ mà không một người sống nào khác có thể tóm bắt được — một ánh lóe lên từ tâm trí đã tàn lụi ấy, tựa như mặt trời bỗng rọi chiếu lên một chiếc mũ giáp nửa rỉ sét trong bóng tối của một đại sảnh cổ kính. Nhưng cốt truyện của những cuốn tiểu thuyết này lại rối tung lên một cách không sao gỡ nổi; các nhân vật hòa quyện vào nhau; và câu chuyện tự lạc lối giống như dòng chảy của một con sông xuyên qua vùng đất sình lầy bùn lở.
Về phần mình, tôi khó lòng tiếc nuối việc Ngài Walter Scott đã mất đi ý thức về thế giới bên ngoài trước khi các tác phẩm của ông lỗi mốt. Thật tốt khi ông quên đi danh tiếng của mình còn hơn là để danh tiếng quên đi ông trước. Nếu ông vẫn là một nhà văn, và vẫn rực rỡ như xưa, thì ông không thể nào duy trì nổi vị thế tương tự trong văn học nữa. Thế giới ngày nay đòi hỏi một mục đích nghiêm túc hơn, một bài học đạo đức sâu sắc hơn và một chân lý gần gũi, đời thường hơn những gì ông có đủ phẩm chất để cung cấp. Thế nhưng ai có thể đối với thế hệ hiện tại trở thành điều mà Scott từng là đối với quá khứ chứ? Tôi từng đặt kỳ vọng vào một thanh niên — một người tên Dickens — từng xuất bản một vài bài báo trên tạp chí, rất giàu sự hài hước và không thiếu những biểu hiện của sự bi ai chân thực; nhưng anh chàng tội nghiệp ấy đã qua đời chẳng bao lâu sau khi bắt đầu một loạt bài phác thảo kỳ lạ, hình như có tựa đề là Những trang giấy của Câu lạc bộ Pickwick (The Pickwick Papers). Không loại trừ khả năng thế giới đã mất đi nhiều hơn những gì nó tưởng tượng bởi cái chết yểu của ông Dickens này.
Anh đoán xem tôi đã gặp ai ở phố Pall Mall hôm nọ? Anh có đoán mười lần cũng không trúng nổi. Chà, không ai khác chính là Napoleon Bonaparte, hay tất cả những gì còn sót lại của ông ấy — nghĩa là lớp da, bộ xương và khối thể xác, chiếc mũ sừng cừu nhỏ, chiếc áo khoác xanh, chiếc quần dài trắng và thanh kiếm ngắn, những thứ vẫn được biết đến bằng cái tên lừng lẫy của ông. Ông chỉ đi cùng hai cảnh sát viên, những người đi lặng lẽ phía sau bóng ma của vị cựu hoàng đế già, dường như chẳng có nhiệm vụ gì liên quan đến ông ngoài việc đảm bảo không có tên trộm vặt nào tước đoạt mất ngôi sao của Bắc Đẩu Bội Tinh. Không một ai ngoài tôi thèm quay lại nhìn ông; và, tôi đau lòng khi phải thú nhận rằng, ngay cả tôi cũng không thể tài nào nhen nhóm lên nổi bất kỳ sự quan tâm nào cho ra hồn, dẫu là trước tất cả những gì tinh thần hiếu chiến từng biểu hiện bên trong thể xác nay đã tàn tạ đó đã làm được trên địa cầu của chúng ta. Không có phương pháp nào chắc chắn hơn để tiêu diệt sức ảnh hưởng ma thuật của một tên tuổi lớn bằng cách trưng bày kẻ sở hữu nó trong sự suy tàn, lật đổ, sự thoái hóa tột cùng của năng lực — bị chôn vùi bên dưới chính cơ thể phàm trúng của mình — và thậm chí thiếu cả những phẩm chất giác quan giúp những người bình thường nhất có thể tự cư xử tươm tất trước mắt thế giới. Đây là trạng thái mà bệnh tật, trầm trọng hơn bởi sự đày đọa lâu ngày trong khí hậu nhiệt đới, và được tiếp tay bởi tuổi già — vì nay ông đã hơn bảy mươi tuổi — đã đẩy Bonaparte vào. Chính phủ Anh đã hành động khôn ngoan khi đưa ông tái định cư từ St. Helena trở lại nước Anh. Giờ đây họ nên trả ông về Paris, và ở đó để ông một lần nữa duyệt binh những tàn tích của các đạo quân mình. Đôi mắt ông đục ngầu và rỉ nước; đôi môi dưới trĩu xuống tận cằm. Trong lúc tôi đang quan sát ông thì tình cờ có một chút náo nhiệt ngoài đường phố; và ông — người anh em của Caesar và Hannibal, vị đại tướng từng phủ kín thế giới trong khói lửa chiến tranh và hằn in những bước chân đẫm máu khắp hoàn cầu — bỗng lên cơn run rẩy thần kinh, và cầu cứu sự bảo vệ của hai cảnh sát viên bằng một tiếng kêu khàn đày đau khổ. Hai gã kia nháy mắt với nhau, cười thầm, rồi vỗ vỗ lưng Napoleon, mỗi người nắm một cánh tay dắt ông đi.
Chúa ơi và giận dữ! À, đồ đạc, sao mày lại bén mảng tới đây? Cút đi! Không thì tao ném lọ mực vào đầu mày đấy. Thôi nào, thôi nào; tất cả chỉ là sự nhầm lẫn. Xin bạn yêu dấu của tôi hãy lượng thứ cho cơn bùng nổ nhỏ này. Thực ra là, việc nhắc đến hai cảnh sát viên kia và việc họ giam giữ Bonaparte đã khơi gợi lại ý tưởng về cái tên khốn đỉa đó — anh nhớ rõ hắn ta chứ — kẻ đã hào phóng và hỗn xược chăm sóc thân thể tôi một cách vô cớ trước khi tôi rời New England. Ngay lập tức, trước mắt tâm trí tôi hiện lên căn phòng quét vôi trắng cũ kỹ với ô cửa sổ có song sắt ấy — thật kỳ lạ khi nó lại có song sắt! — nơi mà vì quá dễ dãi chiều theo những mong ước ngớ ngẩn của họ hàng, tôi đã lãng phí mấy năm thanh xuân cuộc đời mình. Quả thực tôi có cảm giác như mình vẫn đang ngồi ở đó, và người quản giáo — không phải lúc nào hắn cũng là quản giáo của tôi, mà chỉ giống như một tên quỷ đầy tớ phiền phức — vừa mới ló đầu vào cửa. Tên khốn! Tôi còn một mối thù cũ với hắn, và sẽ tìm cơ hội để thanh toán nó. Thật xấu hổ! Thật xấu hổ! Chỉ nghĩ đến hắn thôi cũng khiến tôi vô cùng bấn loạn. Ngay cả bây giờ, căn phòng đáng ghét đó — ô cửa sổ có song sắt từng phá hủy ánh sáng mặt trời phúc đức khi nó rọi qua những tấm kính bụi bặm và biến nó thành chất độc cho tâm hồn tôi — lại hiện lên rõ mồn một trong tầm nhìn của tôi hơn là căn phòng thoải mái này nằm giữa lòng London. Thực tại — cái mà tôi biết là thực tại ấy — treo lơ lửng như những mảnh phông màn tả tơi trùm lên ảo ảnh nổi cộm đến khó chịu. Chúng ta đừng nghĩ về nó nữa.
Anh sẽ rất sốt ruột muốn nghe tin về Shelley. Tôi không cần phải nhắc lại điều mà cả thế giới đều biết, rằng vị nhà thơ nổi tiếng này trong nhiều năm qua đã hòa giải với Giáo hội Anh giáo. Trong những tác phẩm gần đây của mình, ông đã dùng tài năng xuất chúng của mình để biện minh cho đức tin Cơ Đốc, với một cái nhìn đặc biệt hướng tới sự phát triển cụ thể đó. Gần đây, có lẽ anh chưa nghe tin, ông đã thụ phong giáo sĩ, và được bổ nhiệm vào một giáo xứ nông thôn nhỏ do Lãnh chúa Chưởng ấn ban tặng. Lúc này đây, thật may mắn cho tôi, ông đã đến thủ đô để giám sát việc xuất bản một tập diễn văn bàn về những bằng chứng triết thi học của đạo Cơ Đốc dựa trên nền tảng của Ba mươi chín Tín điều. Trong buổi gặp mặt đầu tiên, tôi không khỏi lúng túng về cách kết hợp những gì mình phải nói với tác giả của Queen Mab, The Revolt of Islam và Prometheus Unbound với những lời thừa nhận sao cho có thể chấp nhận được đối với một vị mục sư Cơ Đốc và là người kiên quyết bảo vệ Giáo hội Nhà nước. Nhưng Shelley đã sớm làm cho tôi cảm thấy thoải mái. Đứng ở vị trí hiện tại, và nhìn lại tất cả các tác phẩm nối tiếp của mình từ một điểm cao hơn, ông đảm bảo với tôi rằng có một sự hài hòa, một trật tự, một tiến trình nhịp nhàng giúp ông có thể đặt tay lên bất kỳ bài thơ thời kỳ đầu nào và nói rằng: “Đây là tác phẩm của tôi,” với đúng ngần ấy sự tự mãn trong lương tâm khi ông ngắm nhìn tập bài diễn văn đã đề cập ở trên. Chúng giống như những bậc thang tiếp nối nhau, mà bậc thấp nhất trong vực sâu hỗn mang cũng quan trọng đối với việc chống đỡ toàn bộ cấu trúc chẳng kém gì bậc cao nhất và cuối cùng đang nằm trên ngưỡng cửa thiên đường. Tôi suýt chút nữa muốn hỏi ông rằng số phận của ông sẽ ra sao nếu ông ngã quỵ trên những bậc thang thấp hơn thay vì tự xây đường vươn lên độ cao ngời ngời của cõi trời.
Mọi chuyện ra sao tôi không màng thấu hiểu cũng chẳng mấy bận tâm, miễn là Shelley thực sự đã leo lên, như có vẻ ông đã làm, từ một vùng đất thấp lên một chốn cao hơn. Không đụng chạm đến giá trị tôn giáo của chúng, tôi cho rằng các tác phẩm thời kỳ chín muồi của ông, dưới tư cách là những bài thơ, còn xuất sắc hơn thời trẻ. Chúng nồng đượm tình yêu nhân thế hơn, thứ đã đóng vai trò như một thông dịch viên giữa tâm trí ông và quần chúng. Tác giả đã học được cách nhúng ngòi bút vào trái tim mình thường xuyên hơn, và nhờ đó tránh được những lỗi lầm mà việc lạm dụng trí tưởng tượng và trí tuệ đơn thuần thường xúi giục ông mắc phải. Trước đây, trang viết của ông thường chẳng khác nào một sự sắp xếp hữu hình của những khối kết tinh, hoặc thậm chí là những cột băng, lạnh lùng dường bao thì rực rỡ bấy nhiêu. Giờ đây, anh ôm nó vào tim, và nhận thức được một sự ấm áp từ trái tim vang hồi tương ứng với chính anh. Trong đời sống cá nhân, Shelley khó lòng có thể trở nên dịu dàng, tử tế và trìu mến hơn những gì bạn bè ông vẫn luôn miêu tả cho đến đêm thảm khốc ấy khi ông chết đuối ở Địa Trung Hải. Lại là xàm xí — hoàn toàn xàm xí! Tôi đang lảm nhảm cái gì thế này? Tôi lại đang nghĩ đến cái chuyện hoang đường cũ rích rằng ông bị mất tích ở vịnh Spezzia, rồi trôi dạt vào bờ gần Via Reggio, và bị thiêu ra tro trên một giàn hỏa táng với rượu, gia vị và nhũ hương; trong khi Byron đứng trên bờ biển và chứng kiến một ngọn lửa đẹp đến kỳ diệu bốc vút lên trời từ trái tim của vị nhà thơ đã khuất, và rằng hài cốt đã được tinh luyện qua lửa của ông cuối cùng được chôn cất gần đứa con của mình trên mảnh đất La Mã. Nếu tất cả những chuyện đó đã xảy ra từ hai mươi ba năm trước, thì làm sao tôi có thể gặp được người đàn ông chết đuối, bị thiêu và chôn cất ấy ngay tại London này chỉ vào ngày hôm qua?
Trước khi gác lại chủ đề này, tôi có thể nhắc đến việc Tiến sĩ Reginald Heber, trước đây là Giám mục Calcutta, nhưng gần đây được thuyên chuyển đến một giáo phận ở Anh, đã đến thăm Shelley trong lúc tôi đang ở cùng ông. Họ có vẻ rất thân thiết và được cho là đang ấp ủ một bài thơ chung. Cuộc đời con người thật là một giấc mơ kỳ lạ và bất hợp lý làm sao!
Coleridge cuối cùng cũng hoàn thành bài thơ Christabel của ông. Nó sẽ được xuất bản trọn vẹn bởi cụ John Murray trong mùa phát hành sách hiện tại. Tôi nghe nói nhà thơ đang mắc phải một chứng bệnh phiền toái ở lưỡi, thứ đã đặt dấu chấm hết, hoặc ít ra là một dấu ngắt nhỏ hơn, cho dòng trò chuyện suốt đời bấy lâu nay vẫn tuôn trào từ đôi môi ông. Ông sẽ không sống thọ hơn một tháng nữa, trừ khi lượng ý tưởng tích tụ của ông được tháo cống bằng một con đường khác. Wordsworth chỉ mới qua đời cách đây một hoặc hai tuần. Chúa hãy rủ lòng thương xót linh hồn ông, và ban cho ông đừng kịp hoàn thành tác phẩm Khúc du ngoạn (The Excursion)! Thiết nghĩ tôi đã phát ngấy mọi thứ ông ấy viết, ngoại trừ bài Laodamia. Thật là đáng buồn, sự bội bạc của tâm trí đối với những nhà thơ mà nó từng sùng bái. Southey vẫn tráng kiện như xưa, và viết lách với sự chăm chỉ quen thuộc. Cụ Gifford vẫn còn sống, ở tuổi xế chiều tột cùng, với sự suy tàn đáng thương hại nhất của cái trí tuệ sắc sảo và hạn hẹp ít ỏi mà Ác quỷ đã ban cho ông ta. Người ta ghét phải cho phép một kẻ như thế cái đặc quyền được già đi và ốm yếu. Nó tước đi của chúng ta giấy phép suy đoán được đá hắn một cú.
Keats ư? Không; tôi chưa từng gặp ông ấy ngoại trừ qua một con đường đông nghịt người, với những cỗ xe ngựa, xe tải, người cưỡi ngựa, xe hơi, xe buýt, người đi bộ và đủ loại vật cản trần tục khác chắn ngang giữa dáng người nhỏ nhắn, mảnh khảnh của ông và cái nhìn đầy khao khát của tôi. Tôi rất muốn được gặp ông ấy trên bờ biển, hoặc bên dưới một vòm cây tự nhiên trong rừng, hay vòm cổng Gothic của một nhà thờ cổ, hoặc giữa những tàn tích Hy Lạp, hay bên ánh lửa lập lòe bên thềm hoàng hôn, hoặc ở cửa ngõ chạng vạng của một hang động, nơi mà vào những chiều sâu mơ mộng của nó ông sẽ dắt tay tôi bước vào; tóm lại là ở bất cứ đâu, ngoại trừ tại Cổng Temple (Temple Bar), nơi sự hiện diện của ông bị lu mờ bởi những khối người Anh thô tục và sưng phồng như những gã khuân vác. Tôi đứng nhìn ông phai mờ dần, phai mờ dần dọc theo vỉa hè, và khó lòng phân biệt được ông ấy là một con người thực sự hay chỉ là một ý nghĩ vô tình tuột khỏi tâm trí tôi rồi tự khoác lên mình hình hài và y phục con người đơn thuần để đánh lừa tôi. Có lúc ông đưa khăn tay lên môi, và rút ra, tôi gần như chắc chắn, vấy đốm máu. Bạn chưa bao giờ thấy ai có thân hình mỏng manh đến thế. Sự thật là, suốt cuộc đời mình Keats đã phải chịu đựng những di chứng của trận hộc máu phổi khủng khiếp do bài phê bình về tác phẩm Endymion của ông trên tờ Tạp chí Quarterly đăng tải, và điều đó suýt đưa ông xuống mồ. Kể từ đó, ông cứ lướt đi khắp thế giới như một bóng ma, thở những lời u sầu vào tai người này hay người nọ trong đám bạn bè, nhưng chẳng bao giờ cất cao tiếng nói để chào đón quần chúng. Tôi khó lòng coi ông là một nhà thơ vĩ đại. Gánh nặng của một thiên tài vĩ đại chưa bao giờ nên đặt lên những đôi vai mong manh về thể xác và một tâm hồn nhạy cảm yếu đuối đến thế. Những nhà thơ vĩ đại phải có gân cốt bằng sắt.
Thế nhưng Keats, dù trong suốt bao nhiêu năm qua không cống hiến gì cho thế giới, được hiểu là đã cống hiến hết mình cho việc sáng tác một sử thi. Một số đoạn trong đó đã được hé lộ cho vòng tròn thân cận gồm những người ngưỡng mộ ông, và gây ấn tượng mạnh với họ như những giai điệu cao cả nhất có thể nghe thấy trên mặt đất kể từ thời của Milton. Nếu có thể thu thập được các bản sao của những đoạn mẫu này, tôi sẽ nhờ anh trao lại chúng cho James Russell Lowell, người dường như là một trong những tín đồ nhiệt thành và xứng đáng nhất của nhà thơ. Thông tin này khiến tôi ngạc nhiên. Tôi cứ tưởng rằng toàn bộ hương trầm thi ca của Keats, mà không cần phải hiện thực hóa thành ngôn ngữ loài người, đã bay vút lên thiên đường và hòa quyện với những khúc ca của các thiên thần hợp xướng bất tử, những vị có lẽ đã nhận thức được một giọng ca lạ lẫm giữa họ, và nghĩ rằng giai điệu của họ nhờ thế mà ngọt ngào hơn. Nhưng không phải vậy; ông ấy thực sự đã viết một bài thơ về chủ đề Thiên đường lấy lại (Paradise Regained), mặc dù theo một nghĩa khác với những gì hiện lên trong tâm trí Milton. Có thể hình dung rằng, để tuân theo giáo lý của những kẻ cho rằng mọi khả năng sử thi trong lịch sử quá khứ của thế giới đã cạn kiệt, Keats đã ném bài thơ của mình vươn tới một tương lai vô định xa xôi. Ông phác họa nhân loại giữa bối cảnh khép lại của cuộc chiến tranh kéo dài qua thời gian giữa thiện và ác. Chủng tộc của chúng ta đang đứng trước thềm chiến thắng cuối cùng. Con người đang bước những bước cuối cùng đến sự hoàn hảo; Người Phụ nữ, được giải cứu khỏi ách nô dịch mà nữ tiên tri của chúng ta cất lên lời phản kháng mạnh mẽ và đầy đau thương ấy, đứng bình đẳng bên cạnh người đàn ông hoặc tự mình đối thoại với các thiên thần; Trái Đất, đồng cảm với trạng thái hạnh phúc hơn của những đứa con mình, đã tự khoác lên mình một vẻ đẹp trù phú và đầy trìu mến mà không đôi mắt nào từng chứng kiến kể từ khi tổ tiên đầu tiên của chúng ta nhìn thấy mặt trời mọc trên Vườn Địa Đàng đẫm sương mai. Hoặc thậm chí không phải lúc đó; bởi vì đây là sự hiện thực hóa của những gì thuở ấy mới chỉ là một lời hứa hẹn bằng vàng. Nhưng bức tranh nào cũng có những khoảng tối. Nhân loại vẫn còn phải đối mặt với một mối hiểm nguy nữa — một cuộc đụng độ cuối cùng với thế lực hắc ám. Nếu trận chiến ngả ngũ về phe chúng ta, chúng ta sẽ chìm ngược lại vào bùn nhơ và khốn khổ của muôn đời. Nếu chúng ta chiến thắng — Nhưng cần phải có con mắt của một nhà thơ mới có thể chiêm ngưỡng sự huy hoàng của một kết cục như thế mà không bị lóa mắt.
Được biết, Keats đã mang vào tác phẩm vĩ đại này một tinh thần nhân văn sâu sắc và dịu dàng đến mức bài thơ mang tất cả sự ngọt ngào và ấm áp của một câu chuyện làng quê chẳng kém gì sự vĩ đại vốn có của một chủ đề cao cả như thế. Ít nhất, đó là cách miêu tả có phần thiên vị của bạn bè ông; bởi vì tôi chưa từng đọc hay thậm chí nghe qua dù chỉ một dòng của tác phẩm nói trên. Người ta bảo tôi rằng Keats giữ lại không chịu đem in, với ý niệm rằng thời đại này không có đủ sự thấu thị tâm linh để tiếp nhận nó một cách xứng đáng. Tôi không thích sự hoài nghi này; nó khiến tôi hoài nghi chính nhà thơ. Vũ trụ đang chờ đợi để hưởng ứng lời kêu gọi cao cả nhất mà đứa con ưu tú nhất của thời gian và sự bất tử có thể cất lên. Nếu nó từ chối lắng nghe, thì đó là vì ông ta lẩm bẩm và lắp bắp, hoặc bàn luận những chuyện bất hợp thời và lạc lõi.
Hôm nọ tôi đã đến Thượng viện để nghe Canning phát biểu — người mà anh biết đấy, nay đã là một quý tộc, với một tước hiệu nào đó mà tôi quên mất rồi. Ông ấy làm tôi thất vọng. Thời gian làm cùn mụt cả mũi nhọn lẫn lưỡi bén, và gây tổn hại lớn cho những người có tầm vóc trí tuệ như ông. Sau đó tôi ghé qua Hạ viện và lắng nghe vài lời từ Cobbett — người trông thô mộc như một gã nhà quê đích thực, hoặc đúng hơn là như thể ông ta đã nằm dưới lớp đất đá chục năm trời. Những người tôi gặp dạo gần đây thường mang lại cho tôi ấn tượng ấy; có lẽ vì tâm trạng tôi không được tốt lắm, và khiến tôi nghĩ nhiều về những ngôi mộ với lớp cỏ mọc dài trên đó, những tấm bia khắc chữ sạm gió, và những bộ xương khô của những kẻ từng làm rùm beng một thời nay chỉ có thể lách cách, lách cách, lách cách khi chiếc xẻng của người đào huyệt làm họ xáo động. Phải chi có thể tìm ra ai còn sống và ai đã chết, điều đó sẽ đóng góp vô vàn cho sự bình yên trong tâm trí tôi. Cứ mỗi ngày trôi qua lại có ai đó bước đến nhìn thẳng vào mặt tôi — một kẻ mà tôi đã âm thầm xóa tên khỏi bảng vàng của những người đang sống, và đinh ninh sẽ không bao giờ bị làm phiền bởi hình bóng hay tiếng động của hắn nữa. Chẳng hạn, khi đến Nhà hát Drury Lane vài tối trước, hiện ra trước mắt tôi trong hình bóng hồn ma người cha của Hamlet là sự hiện diện bằng xương bằng thịt của lão Kean — kẻ thực ra đã chết, hoặc đáng lẽ phải chết trong một cơn say túy lúy nào đó, từ lâu lắm rồi đến mức danh tiếng của ông ta nay hầu như chỉ còn là chuyện truyền khẩu. Năng lực của ông ta đã hoàn toàn biến mất; ông ta giống bóng ma của chính mình hơn là bóng ma của vị vua Đan Mạch.
Ngồi trong lô ghế trên sân khấu là một số người già cả và tàn tạ, và trong số đó có một bóng hồng hoang tàn đường bệ ở tầm vóc rất lớn, với phần hồ sơ — vì tôi không thấy mặt trước của bà — khắc sâu vào bộ óc tôi như một con dấu ép lên sáp nóng. Bằng cử chỉ bi tráng khi bà nhón một nhúm thuốc lá hít, tôi chắc chắn đó phải là bà Siddons. Anh trai bà, John Kemble, ngồi phía sau — một thân hình rệu rã, nhưng vẫn phảng phất một sự uy nghi vương giả. Thay vì mọi thành tựu trước đây, Tạo hóa cho phép ông diễn tròn vai Lear tốt hơn nhiều so với thời kỳ đỉnh cao thiên tài. Charles Matthews cũng có mặt ở đó; nhưng chứng liệt đã làm biến dạng khuôn mặt từng vô cùng linh hoạt của ông thành một vẻ lệch một bên vô cùng khó chịu, khiến ông không tài nào vặn nó lại hình dạng tử tế nổi giống như việc sắp xếp lại khuôn mặt của cả quả địa cầu to lớn này. Trông cứ như thể, vì muốn đùa cợt, tội nghiệp người đàn ông đã vặn vẹo các nét mặt của mình thành một biểu cảm vừa buồn cười vừa kinh khủng nhất mà ông có thể tạo ra, và ngay lúc đó, như một sự trừng phạt vì đã tự làm mình trở nên gớm ghiếc như vậy, một sự quan phòng báo thù đã thấy phù hợp để biến ông thành đá. Vì việc đó nằm ngoài tầm kiểm soát của bản thân, tôi sẵn sàng hỗ trợ ông thay đổi sắc mặt, bởi vì gương mặt xấu xí của ông cứ ám ảnh tôi cả giữa ban ngày lẫn ban đêm. Một số diễn viên khác của thế hệ trước cũng có mặt, nhưng không có ai khiến tôi thực sự hứng thú. Các diễn viên, hơn bất kỳ người của công chúng nào khác, cần phải biến mất khỏi sân khấu đúng lúc. Vốn dĩ rốt cuộc chỉ là những chiếc bóng được tô vẽ nhấp nháy trên tường và những âm thanh trống rỗng vang vọng suy nghĩ của kẻ khác, thật là một sự vỡ mộng đau đớn khi màu sắc bắt đầu phai nhạt và giọng nói trở nên khàn đợt vì tuổi già.
Có gì mới mẻ về đường văn chương ở bên phía nước anh thế hả? Chẳng có thứ gì loại đó lọt vào tầm kiểm soát của tôi, ngoại trừ một tập thơ do Tiến sĩ Channing xuất bản cách đây hơn một năm. Trước đây tôi không biết nhà văn lỗi lạc này là một nhà thơ; tập thơ được nhắc đến cũng không hề trưng bày bất kỳ đặc điểm nào trong tâm trí tác giả như đã hiển hiện trong các tác phẩm văn xuôi của ông; mặc dù một số bài thơ có sự phong phú không chỉ nằm trên bề mặt mà còn rực rỡ hơn khi bạn nhìn vào chúng sâu sắc và trung thực hơn. Tuy nhiên, chúng có vẻ được chế tác một cách cẩu thả, giống như những chiếc nhẫn và đồ trang sức bằng vàng ròng nguyên chất, nhưng thô sơ, được tìm thấy lẫn trong bụi vàng từ châu Phi. Tôi hoài nghi việc liệu công chúng Mỹ có chấp nhận chúng hay không; họ ít nhìn vào độ ròng của kim loại hơn là nhìn vào sự chế tác gọn gàng, khéo léo. Văn học của chúng ta lớn lên chậm biết bao! Hầu hết các nhà văn có triển vọng của chúng ta đều kết thúc yểu mệnh. Có kẻ hoang dã John Neal đó — người từng suýt làm đảo lộn bộ óc thiếu niên của tôi bằng những tiểu thuyết của ông; chắc chắn hắn ta đã chết từ lâu rồi, nếu không thì hắn chẳng bao giờ giữ mình yên lặng lâu đến thế. Bryant đã chìm vào giấc ngủ ngàn thu, với bài Thanatopsis lấp lánh bên trên như một ngôi mộ cẩm thạch được chạm khắc dưới ánh trăng. Halleck — người từng viết những vần thơ kỳ quặc trên báo và xuất bản một tập thơ nhại Don Juan mang tên Fanny — đã tịt ngòi dưới tư cách là nhà thơ, mặc dù được khẳng định là đang minh họa cho học thuyết luân hồi dưới lốt một doanh nhân. Muộn hơn chút ít là Whittier — một thanh niên theo phái Quaker đầy nhiệt huyết, kẻ mà nàng thơ một cách ương ngạnh đã trao cho một chiếc kèn xung trận, và từng bị lynk [hành hình hội đồng] vào mười năm trước ở Nam Carolina. Tôi cũng nhớ một cậu thanh niên vừa rời ghế nhà trường, tên là Longfellow — người đã tung những vần thơ tinh tế vào gió, rồi sang Đức, và thiệt mạng, tôi nghĩ vậy, vì sự chăm chỉ miệt mài tại Đại học Gottingen. Willis — thật đáng tiếc — đã bỏ mạng, nếu tôi nhớ không lầm, vào năm 1833 trong chuyến hải trình đến châu Âu, nơi anh ta định đến để mang lại cho chúng ta những bức phác thảo về gương mặt ngập tràn ánh nắng của thế giới. Giá như những người này còn sống, họ có thể, một hoặc tất cả bọn họ, đã trưởng thành thành những nhân vật nổi danh.
Thế mà cũng chẳng biết đâu được: biết đâu họ chết đi lại hay hơn. Bản thân tôi cũng từng là một thanh niên có triển vọng. Ôi bộ óc tan vỡ, ôi tâm hồn rách nát, sự thực hiện của triển vọng đó đang ở đâu? Sự thật phũ phàng là, khi số phận muốn nhẹ nhàng làm thất vọng thế giới, nó cướp đi những người phàm đầy hy vọng nhất khi họ còn trẻ; khi nó muốn cười trừ những hy vọng của thế giới, nó lại để cho họ sống. Hãy để tôi chết trên châm ngôn này, vì tôi sẽ chẳng bao giờ thốt ra được một câu nào chân thực hơn thế.
Bộ não con người quả là một thứ kỳ lạ! Hoặc đúng hơn — vì chẳng cần phải khái quát hóa nhận xét ấy — bộ não của tôi mới quái đản làm sao! Anh có tin không? Ngày đêm đều có những mảnh thơ vang lên vo ve trong tai trí tuệ của tôi — vài câu bay bổng như tiếng chim hót, vài câu tinh tế gọn gàng như âm nhạc phòng khách, và một vài câu hoành tráng như tiếng đại phong cầm — trông giống hệt những vần thơ mà những nhà thơ đã khuất ấy sẽ viết nếu định mệnh tàn nhẫn không cướp họ khỏi những lọ mực của họ. Họ đến thăm tôi trong tâm thức, có lẽ mong muốn thuê mướn dịch vụ của tôi làm thư ký cho các tác phẩm hậu, và nhờ đó đảm bảo danh tiếng muôn đời mà họ đã đánh mất vì ra đi quá sớm. Nhưng tôi còn có công việc của riêng mình phải lo; hơn nữa, một bác sĩ — người quan tâm đến một số căn bệnh nhỏ của tôi — khuyên tôi không nên lạm dụng bút mực quá mức. Ngoài kia có đủ các thư ký đang thất nghiệp sẽ rất mừng rỡ với một công việc như thế.
Tạm biệt! Anh còn sống hay đã chết? Và anh đang bận bịu gì thế? Vẫn viết lách cho tờ Dân chủ (The Democratic) chứ? Và những tên thợ sắp chữ cùng kẻ dò lỗi khốn kiếp đó có còn in sai những tác phẩm bất hạnh của anh tệ hại như trước không? Thật là quá đáng. Theo tôi, cứ để mỗi người tự sản xuất ra sự xàm xí của chính mình. Hãy mong đợi tôi về nhà sớm, và — xin thì thầm với anh một bí mật — đi cùng với nhà thơ Campbell, người có dự định ghé thăm Wyoming và tận hưởng bóng mát của những vòng nguyệt quế mà ông từng trồng ở đó. Campbell nay đã là một ông lão. Ông tự gọi mình là khỏe mạnh, tốt hơn bao giờ hết trong đời, nhưng trông lại nhợt nhạt một cách kỳ lạ và giống bóng ma đến mức người ta có thể thọc ngón tay xuyên qua phần đặc nhất của ông. Tôi bảo ông, như một lời đùa cợt, rằng ông mờ nhạt và thảm hại chẳng kém gì Ký ức, dẫu vô hình chẳng khác nào Hy Vọng.
Người bạn chân thành của anh, P.
P. S. — Xin hãy gửi những lời thăm hỏi trân trọng nhất của tôi đến người bạn đáng kính và tôn kính của chúng ta, ông Brockden Brown.
Tôi rất đỗi vui mừng khi biết tin một ấn bản toàn tập các tác phẩm của ông, trong một tập sách khổ octavo hai cột, sắp sửa xuất bản từ nhà in ở Philadelphia. Hãy nói với ông rằng không có nhà văn Mỹ nào tận hưởng một danh tiếng cổ điển ở bờ bên này hơn thế. Cụ Joel Barlow còn sống không? Con người quá đáng! Chàng ơi, ông ấy chắc đã gần tròn một thế kỷ. Và ông ấy có đang ngâm cứu một sử thi về cuộc chiến giữa Mexico và Texas với cơ cấu được phát chế dựa trên nguyên lý của động cơ hơi nước, như là thứ gần gũi nhất với tác động thiên giới mà thời đại chúng ta có thể khoe khoang không? Làm thế nào ông có thể hy vọng trỗi dậy lần nữa, nếu trong lúc đang chìm dần xuống mồ, ông vẫn kiên trì đè nặng bản thân với một đống thơ ca nặng như chì đó?