Vào một buổi sáng đầy nắng trong những ngày tháng tốt đẹp thuở ban đầu của thị trấn Boston, một thợ chạm gỗ trẻ tuổi, được đông đảo người dân biết đến với cái tên Drowne, đang đứng ngắm nghía một khúc gỗ sồi lớn với dụng tâm đẽo gọt nó thành tượng trang trí mũi tàu. Trong lúc anh đang thầm suy tính xem nên tạo cho khúc gỗ tuyệt hảo này một hình dáng hay vóc cộng hưởng nào cho phải phép, thì có một vị thuyền trưởng tên là Hunnewell bước vào xưởng của Drowne. Ông chính là chủ nhân kiêm thuyền trưởng của con tàu buồm kiều diễm mang tên Cynosure, vừa mới trở về sau chuyến hải hành đầu tiên tới Fayal.
“Chà! Thế thì tuyệt, Drowne, tuyệt quá chứ lị!” vị thuyền trưởng hào sảng kêu lên, dùng chiếc gậy mây gõ gõ vào khúc gỗ. “Ta đặt trước khúc gỗ sồi này để làm tượng mũi tàu cho chiếc Cynosure. Con tàu ấy đã chứng tỏ mình là cỗ chiến thuyền ngọt ngào nhất từng lướt sóng, và ta định sẽ trang hoàng mũi tàu của nó bằng bức tượng đẹp nhất mà tài nghệ con người có thể đẽo gọt từ gỗ. Mà Drowne này, anh chính là người thích hợp nhất để thực hiện công việc đó.”
“Ngài đã quá khen so với những gì tôi xứng đáng, thưa thuyền trưởng Hunnewell,” người thợ chạm mỉm cười khiêm nhường, nhưng cũng ra vẻ của một kẻ thấu rõ tài năng nghệ thuật của chính mình. “Tuy nhiên, vì nghĩa tình với con tàu quý, tôi xin sẵn sàng dốc hết sức mình. Vậy ngài ưa chuộng mẫu thiết kế nào trong số này? Đây,” anh chỉ vào một bức tượng bán thân đờ đẫn đội tóc giả màu trắng và mặc áo khoác đỏ, “đây là một mẫu tuyệt đẹp, dung mạo của vị vua đáng kính chúng ta. Còn đây là Đô đốc Vernon dũng cảm. Hoặc nếu ngài thích một bức tượng nữ nhân, ngài nghĩ sao về nữ thần Britannia cầm đinh ba?”
“Tất cả đều rất ổn, Drowne; rất ổn cả,” viên thuyền trưởng đáp. “Nhưng hệt như việc chẳng có con tàu nào trên đại dương sánh được với Cynosure, ta quyết định cô ấy phải có một bức tượng mũi tàu mà thần Neptune vĩ đại chưa từng thấy bao giờ. Hơn thế nữa, vì chuyện này có ẩn chứa một bí mật, anh phải lấy danh dự ra thề là sẽ không hé lộ với bất kỳ ai.”
“Chắc chắn rồi,” Drowne đáp lời, lòng không khỏi kinh ngạc tự hỏi rốt cuộc có điều gì kỳ bí liên quan đến một việc vốn dĩ hiển nhiên phải phơi bày cho thiên hạ ngắm nhìn, chẳng hạn như tượng mũi tàu. “Ngài có thể tin tưởng rằng tôi sẽ giữ kín chuyện này ở mức độ tối đa mà hoàn cảnh cho phép, thưa thuyền trưởng.”
Thuyền trưởng Hunnewell bèn kéo vạt áo của Drowne lại và thì thầm bày tỏ nguyện vọng với giọng nhỏ đến mức thật khiếm nhã nếu dám lặp lại điều vốn chỉ dành riêng cho đôi tai của người thợ chạm. Do đó, chúng ta sẽ nhân cơ hội này để cung cấp cho độc giả một vài chi tiết đáng chú ý về bản thân Drowne.
Anh là người Mỹ đầu tiên được biết đến là kẻ dám thử sức — dẫu chỉ ở một lĩnh vực rất đỗi khiêm nhường — trong bộ môn nghệ thuật mà ngày nay chúng ta có thể kể tên biết bao bậc tài danh đã thành danh hoặc đang trên đà tỏa sáng. Kể từ thuở thiếu thời, anh đã sớm bộc lộ một cái cái duyên thầm — gọi là thiên tài thì có phần quá lớn lao — vâng, một năng khiếu bẩm sinh trong việc mô phỏng hình dáng con người bằng bất kỳ chất liệu nào vớ được ngay trước tay. Tuyết mùa đông xứ New England thường cung cấp cho anh một thứ đá cẩm thạch rực rỡ chẳng kém gì đá Parian hay Carrara, và dẫu kém bền bỉ hơn, nó vẫn đủ sức chịu đựng ngang ngửa với bất kỳ tham vọng tồn tại vĩnh cửu nào của những bức tượng băng do cậu bé tạo ra. Dẫu vậy, chúng vẫn giành được sự tán thưởng từ những vị giám khảo từng trải hơn cả bạn bè cùng trang lứa, và quả thực rất đáng kinh ngạc, dù thiếu đi thứ hơi ấm tự nhiên có thể khiến tuyết tan chảy dưới lòng bàn tay. Khi trưởng thành hơn, người thanh niên ấy đã chọn gỗ thông và gỗ sồi làm chất liệu thích hợp để bày tỏ tay nghề của mình, thứ bắt đầu mang lại cho anh cả những đồng bạc trắng thật sự lẫn những lời tán tụng phù phiếm vốn đã đủ làm phần thưởng cho các tác phẩm tuyết mau tàn thuở trước. Anh trở nên nổi tiếng với việc đẽo gọt các đầu trụ nước trang trí, những chiếc bình bằng gỗ cho cột cổng, và những vật trang trí mang tính quái đản nhiều hơn là kỳ ảo cho các bệ lò sưởi. Chẳng có tay dược sĩ nào lại tự cho rằng mình có thể thu hút khách khứa nếu không dựng lên một chiếc cối giã thuốc mạ vàng, chí ít cũng là đầu của Galen hay Hippocrates, do chính đôi bàn tay khéo léo của Drowne tạo ra.
Nhưng phạm vi hoạt động lớn nhất trong sự nghiệp của anh lại nằm ở việc chế tạo tượng mũi tàu. Dù là hình ảnh của chính quốc vương, hay một vị đô đốc hoặc tướng lĩnh lừng danh người Anh, hoặc vị thống đốc xứ sở, hay có lẽ là ái nữ yêu kiều của chủ tàu, bức tượng vẫn sừng sững ngự trị trên phần mũi tàu, khoác lên mình những xiêm y rực rỡ, được dát vàng lộng lẫy, và nhìn thẳng vào cả thế giới với vẻ thách thức, tựa như thể nó mang trong mình ý thức bẩm sinh về sự vượt trội của bản thân. Những mẫu điêu khắc mang đậm bản sắc quê hương ấy đã vượt đại dương đi muôn ngả, và được ghi nhận một cách trân trọng giữa chốn tàu thuyền tấp nập bên bờ sông Thames cùng bất cứ nơi nào mà những hải thủ gan góc xứ New England đặt chân tới. Phải thú nhận rằng phảng phất qua những hậu duệ đáng kính này từ tay nghề của Drowne là một nét gia phong chung; rằng nét mặt từ bi của nhà vua trông náo ná thần dân của ông, rằng tiểu thư Peggy Hobart — ái nữ của nhà buôn — mang gương mặt vô cùng giống với Britannia, Nữ thần Chiến thắng, cùng các nữ thần trong cõi ngụ ngôn; và cuối cùng, tất cả chúng đều mang một vẻ gỗ cằn cỗi, minh chứng cho mối thâm tình mật thiết với những khúc gỗ vô định hình trong xưởng của người thợ chạm. Nhưng chí ít thì tay nghề của anh cũng không hề tồi, và các tác phẩm ấy chẳng thiếu thốn bất kỳ phẩm chất nào để trở thành những tác phẩm nghệ thuật thực thụ, ngoại trừ cái chiều sâu thăm thẳm ấy — dẫu là của linh hồn hay trí tuệ — thứ thổi sự sống vào vật vô tri và truyền hơi ấm vào giá lạnh, và nếu có mặt, nó đáng lẽ đã khiến bức tượng gỗ của Drowne tràn trề sinh khí.
Vị thuyền trưởng của tàu Cynosure lúc này đã trao đổi xong xuôi mọi chỉ thị.
“Và Drowne này,” ông nói với giọng đầy vẻ ấn tượng, “anh phải gác lại mọi công việc khác và bắt tay ngay vào việc này lập tức. Còn về giá cả, cứ làm cho thật xuất sắc đi, rồi chính anh sẽ là người định đoạt khoản đó.”
“Vâng thưa thuyền trưởng,” người thợ chạm đáp, nét mặt đăm chiêu và có phần bối rối, nhưng trên môi lại thoáng nở một nụ cười; “xin ngài cứ tin tưởng, tôi sẽ dốc hết sức để làm ngài hài lòng.”
Kể từ phút ấy, những kẻ sành nghệ thuật quanh khu Long Wharf và Town Dock — những người vẫn thường bày tỏ tình yêu với nghệ thuật bằng cách thường xuyên ghé thăm xưởng của Drowne và tán thưởng các bức tượng gỗ của anh — bắt đầu nhận ra một sự kỳ bí trong cách hành xử của người thợ chạm. Thỉnh thoảng anh vắng mặt vào ban ngày. Đôi khi, qua những tia sáng hắt ra từ cửa sổ xưởng, người ta thấy anh làm việc đến tận khuya khoắt; dẫu cho vào những lúc ấy, dẫu có gõ cửa hay cất tiếng gọi thế nào đi nữa cũng chẳng tài nào bước vào được, hay moi được một lời đáp từ vị chủ nhân. Tuy nhiên, chẳng có điều gì bất thường được phát hiện bên trong xưởng vào những khung giờ muộn màng khi nó hé mở. Quả thật, một khúc gỗ tuyệt mỹ mà người ta biết Drowne đã cất giữ dành riêng cho một công trình mang tính trọng đại nào đó, đang dần dần hình thành vóc dáng. Nó được định mệnh an bài sẽ mang hình thù gì rốt cuộc lại là một bài toán hóc búa đối với bạn bè anh, và là điểm mà chính người thợ chạm vẫn giữ một thái độ kín như bưng. Nhưng hết ngày này sang ngày khác, dẫu người ta hiếm khi bắt gặp Drowne đang trực tiếp đẽo gọt nó, cái hình hài thô mộc ấy vẫn dần dà phát triển cho đến khi trở nên hiển hiện rõ mười mươi trước mắt mọi người rằng một nữ nhân đang lớn dần lên trong hình hài sự sống nhân tạo. Mỗi lần ghé thăm, họ lại thấy một đống phoi bào lớn hơn và một sự tiệm cận gần hơn đến một điều gì đó kiều diễm. Tựa hồ như nữ thần mộc linh của cây sồi đã ẩn náu trốn tránh thế giới khô khan trí tưởng tượng bên trong tâm can của cội nguồn cô, và việc cần làm chỉ là gỡ bỏ lớp vỏ xù xì kỳ lạ đã bao bọc lấy cô, để hé lộ vẻ uy nghi và kiều diễm của một vị thần linh. Dẫu cho thiết kế, tư thế, trang phục, và đặc biệt là gương mặt của bức tượng vẫn còn đôi chỗ bất toàn, thì ở đó đã sớm tỏa ra một sức hút khiến ánh mắt người ta rời khỏi vẻ khéo léo mang tính chất gỗ của những tác phẩm thời đầu do Drowne tạo ra, để dán chặt vào sự huyền bí đầy khiêu khích của dự án mới này.
Copley, vị họa sĩ lừng danh lúc bấy giờ hãy còn là một thanh niên trẻ tuổi và đang sinh sống tại Boston, một hôm đã đến thăm Drowne; bởi ông từng nhận ra tài năng có mực ở người thợ chạm để rồi trong cơn khát thèm sự đồng điệu nghề nghiệp, ông muốn vun đắp mối giao tình này. Khi bước vào xưởng, người nghệ sĩ lướt nhìn những bức tượng bất động mô tả nhà vua, vị tướng quân, các quý bà và những nhân vật ngụ ngôn đang đứng xung quanh; dẫu cho bức tượng xuất sắc nhất trong số đó cũng chỉ nhận được một lời ca tụng đầy ngờ vực rằng trông nó cứ như một người sống vừa bị biến thành gỗ, và không chỉ phần thể xác mà ngay cả phần trí tuệ cùng tâm hồn cũng chịu chung một sự biến hóa đờ đẫn ấy. Thế nhưng chẳng có lấy một trường hợp nào cho thấy thớ gỗ đang thấm đượm bản chất thần thánh của loài người. Thật là một khoảng cách mênh mông biết bao! Và dù chỉ một chút xíu của phẩm chất sau cũng có thể giá trị hơn vạn lần so với mức độ tối đa của phẩm chất trước!
“Bạn hiền Drowne của tôi ơi,” Copley vừa cất lời vừa mỉm cười một mình, ngầm ám chỉ sự khéo léo mang tính cơ học và chất gỗ vẫn luôn hằn in trên các bức tượng, “anh quả thực là một con người kỳ lạ! Tôi hiếm khi gặp ai trong ngành của anh mà lại có thể làm được ngần ấy việc; bởi chỉ cần thêm một nhát chạm nữa thôi là bức tượng Tướng quân Wolfe này đây, chẳng hạn, sẽ biến thành một sinh linh có tri giác và biết thở rồi đấy.”
“Ngài muốn tôi nghĩ rằng ngài đang hết lời khen ngợi mình đấy chứ, thưa ông Copley,” Drowne đáp, quay lưng về phía bức tượng Wolfe với vẻ rõ là chán chường. “Nhưng trong tâm trí tôi đã bừng lên một thứ ánh sáng. Tôi thừa biết điều mà ngài cũng rõ, rằng cái nhát chạm duy nhất mà ngài vừa nhắc đến như một thiếu sót chính là điều duy nhất thực sự có giá trị, và rằng nếu thiếu nó, những tác phẩm của tôi chẳng khác nào những đứa trẻ dị hình vô giá trị. Giữa chúng và tác phẩm của một nghệ sĩ được ơn trên soi sáng có một khoảng cách hệt như giữa một tấm biển hiệu vẽ ẩu với một bức tranh tuyệt hảo nhất của ngài vậy.”
“Thật là kỳ lạ,” Copley kêu lên, nhìn thẳng vào mặt anh — kẻ mà lúc này, theo trí tưởng tượng của vị họa sĩ, đang sở hữu một chiều sâu trí tuệ kỳ lạ, dẫu trước đó nó chẳng mang lại cho anh ta mấy lợi thế so với gia tộc tượng gỗ của mình. “Chuyện gì đã xảy ra với anh thế? Làm sao mà dẫu mang trong đầu thứ nhận thức vừa thốt ra ấy, anh vẫn chỉ cho ra lò những tác phẩm thế này?”
Người thợ chạm mỉm cười nhưng không đáp lời. Copley quay lại ngắm nhìn những bức tượng, thầm nghĩ rằng cái cảm giác thiếu hụt mà Drowne vừa bày tỏ — vốn là điều cực kỳ hiếm hoi ở một kẻ chỉ có kỹ năng cơ học thuần túy — chắc chắn phải ẩn chứa một thiên tài mà lâu nay người ta đã bỏ quên các dấu hiệu của nó. Nhưng không; chẳng có chút dấu vết nào ở đó cả. Ông đang định bỏ đi thì ánh mắt tình cờ chạm phải một bức tượng chưa nên hình vẹn toàn đang nằm xó xỉnh trong xưởng, xung quanh vương vãi những mảnh phoi gỗ sồi. Nó lập tức giữ chân ông lại.
“Cái gì thế này? Ai đã làm ra thế này?” ông thốt lên sau một thoáng sững sờ không thốt nên lời khi ngắm nghía nó. “Đây rồi, nhát chạm thần thánh mang lại sự sống. Bàn tay được ơn trên nào đang vẫy gọi khối gỗ này đứng dậy và sinh tồn? Đây là tác phẩm của ai?”
“Chẳng phải tác phẩm của ai cả,” Drowne đáp. “Bức tượng vốn nằm sẵn bên trong khúc gỗ sồi đó, và nhiệm vụ của tôi là tìm ra nó.”
“Drowne,” vị nghệ sĩ chân chính nói, siết chặt bàn tay người thợ chạm đầy nhiệt thành, “anh là một thiên tài!”
Khi Copley bước ra về, lúc tình cờ ngoái đầu nhìn lại từ ngưỡng cửa, ông thấy Drowne đang cúi người bên hình hài hãy còn dang dở, dang rộng hai cánh tay như muốn ôm chầm lấy nó và kéo vào ngực mình; trong khi đó, dẫu một phép màu như thế có bất khả thi đi chăng nữa, nét mặt anh vẫn bộc lộ niềm đam mê đủ để truyền hơi ấm và sự nhạy cảm vào khối gỗ vô tri.
“Thật là kỳ lạ hết chỗ nói!” vị họa sĩ tự lẩm bẩm. “Ai mà ngờ lại tìm thấy một Pygmalion thời hiện đại ở một gã thợ cơ khí xứ Yankee chứ!”
Đến thời điểm này, bức tượng vẫn hãy còn mơ hồ về mặt hình khối bên ngoài; thế nên, hệt như những đám mây vần vũ quanh vầng thái dương lặn phía Tây, người ta có khuynh hướng cảm nhận hoặc tự tưởng tượng ra nhiều hơn là nhìn thấy rõ ràng dụng ý của nó. Dẫu vậy, qua từng ngày, tác phẩm càng trở nên chuẩn xác hơn, gọt giũa những đường nét lu mờ và bất định thành một vẻ kiều diễm cùng sự duyên dáng rõ nét hơn. Thiết kế tổng thể giờ đây đã hiển hiện rành rành trước mắt người đời. Đó là hình bóng một nữ nhân khoác thứ trang phục trông có vẻ ngoại lai; chiếc áo choàng được thắt dây đai trước ngực và hé mở ở phía trước để lộ ra phần váy lót bên trong, với những nếp gấp cùng độ lồi lõm được tái hiện vô cùng tuyệt vời trên chất liệu gỗ sồi. Cô đội một chiếc mũ có vẻ đẹp lạ lùng, trĩu nặng những đóa hoa chưa từng đơm bông trên mảnh đất cằn cỗi xứ New England, nhưng bất chấp sự phong phú đầy tính tưởng tượng ấy, chúng lại mang một vẻ chân thực tự nhiên tưởng chừng như không một trí tưởng tượng phong phú nào có thể đạt được nếu không sao chép từ nguyên mẫu thực tế. Xung quanh bộ trang phục này còn có một vài món phụ kiện nhỏ xinh, chẳng hạn như một chiếc quạt, một đôi bông tai, chiếc dây chuyền đeo cổ, chiếc đồng hồ giắt trước ngực và chiếc nhẫn trên ngón tay — tất cả đều có lẽ bị xem là hạ thấp phẩm giá của bộ môn điêu khắc. Dẫu vậy, chúng được trau chuốt với gu thẩm mỹ tinh tế chẳng kém gì một mỹ nhân chưng diện cho xiêm y của mình, và do đó sẽ chẳng thể làm bất cứ ai gai mắt ngoại trừ những kẻ có năng lực thẩm mỹ đã bị hủy hoại bởi các quy tắc nghệ thuật.
Khuôn mặt vẫn còn đôi nét bất toàn; nhưng dần dà, qua một nhát chạm mang tính phép màu, trí tuệ và sự nhạy cảm đã bừng sáng qua từng đường nét, mang trọn hiệu ứng của thứ ánh sáng rọi chiếu từ tận sâu bên trong khối gỗ đặc. Gương mặt bỗng trở nên có hồn. Đó là một diện mạo kiều diễm, dẫu không hẳn là cân đối hoàn hảo và có đôi chút kiêu kỳ, nhưng lại ẩn chứa một nét quyến rũ đầy tinh nghịch ở khóe mắt cùng đôi môi — thứ biểu cảm mà trong mọi biểu cảm, thoạt nhìn có lẽ bất khả thi nhất khi áp dụng lên một gương mặt bằng gỗ. Và giờ đây, xét trên phương diện chạm trổ, tác phẩm kỳ diệu này đã hoàn mỹ.
“Drowne,” Copley — người hiếm khi bỏ lỡ một ngày nào ghé thăm xưởng của người thợ chạm — lên tiếng, “nếu tác phẩm này làm bằng cẩm thạch thì nó sẽ khiến anh nổi danh một bước thành sao; thậm chí ta dám khẳng định nó sẽ tạo ra cả một kỷ nguyên cho nghệ thuật điêu khắc. Nó mang tính lý tưởng hệt như một bức tượng cổ đại, nhưng đồng thời cũng sống động như bất kỳ mỹ nhân nào ta gặp bên lò sưởi hay ngoài phố. Nhưng ta hy vọng anh không có ý định bôi phẩm màu làm ô uế tạo vật tuyệt mỹ này giống như những gã vua chúa và đô đốc trố mắt đằng kia chứ?”
“Không sơn cô ấy sao!” Thuyền trưởng Hunnewell đứng bên cạnh bèn thốt lên; “không sơn tượng mũi tàu của Cynosure sao! Rồi ta sẽ ra sao khi cập cảng nước ngoài với một khúc gỗ sồi mộc mạc chưa sơn phết thế này ở trước mũi tàu đây! Cô ấy phải được, và nhất định phải được sơn phết sống động như người thật, từ đóa hoa cao nhất trên vành mũ cho tới những hạt kim sa lấp lánh trên đôi giày lười.”
“Thưa ông Copley,” Drowne điềm tĩnh đáp, “tôi chẳng biết gì về tượng cẩm thạch, cũng chẳng thông tường các quy tắc nghệ thuật điêu khắc; nhưng về bức tượng gỗ này, tác phẩm từ đôi bàn tay tôi, tạo vật từ cõi lòng tôi,” — đến đây giọng anh chợt chùng xuống và nghẹn ngào một cách kỳ lạ — “về thứ này... về nàng... tôi dám nói rằng mình tường tận đôi chút. Một mạch nguồn trí tuệ thầm kín đã phun trào trong tôi khi tôi dốc toàn lực, toàn tâm và trọn vẹn đức tin để đẽo gọt khúc gỗ sồi. Mặc kệ kẻ khác muốn làm gì với cẩm thạch hay tuân theo bất kỳ quy tắc nào họ chọn. Nếu tôi có thể tạo ra hiệu ứng mong muốn bằng gỗ sơn màu, thì những quy tắc ấy không dành cho tôi, và tôi có quyền phớt lờ chúng.”
“Đích thị là tinh thần của thiên tài,” Copley thầm lẩm bẩm. “Nếu không thì sao người thợ chạm này lại cảm thấy bản thân có quyền vượt lên trên mọi quy tắc và khiến ta phải hổ thẹn vì đã trích dẫn chúng chứ?”
Ông đăm đăm nhìn Drowne, và một lần nữa lại bắt gặp cái biểu cảm ái tình nhân thế ấy — theo một khía cạnh tâm linh mà người nghệ sĩ không tài nào ngăn mình mường tượng ra — chính là bí mật của sự sống đã được thổi vào bên trong khối gỗ này.
Vẫn giữ nguyên sự kín đáo từng bao trùm mọi thao tác trên bức tượng huyền bí ấy, người thợ chạm tiến hành sơn xiêm y bằng những sắc màu chuẩn mực, và tô điểm cho gương mặt bằng sắc đỏ lẫn trắng của Tự nhiên. Khi mọi công đoạn đã hoàn tất, anh rộng mở cánh cửa xưởng và cho phép dân chúng trong thị trấn bước vào chiêm ngưỡng thành quả của mình. Hầu hết mọi người, ngay khi vừa đặt chân qua cửa, đều có cảm giác muốn cất mũ kính cẩn và bày tỏ sự tôn kính như thể đang đứng trước một tiểu thư quyền quý xiêm y lừng lẫy đang đứng ở góc phòng, dưới chân vương vãi đầy dăm bào gỗ sồi. Kế đó là một cảm giác sợ hãi len lỏi; tựa hồ như vì không phải là con người thật bằng xương bằng thịt, nhưng lại quá đỗi giống người, nên cô ấy ắt phải là một sinh thể siêu nhiên nào đó. Quả thực, có một bầu không khí và biểu cảm bất định đến mức có thể khơi gợi một cách hợp lý câu hỏi rằng: Rằng người con gái của cội sồi này là ai và đến từ chốn thiên hà nào? Những đóa hoa kỳ lạ, giàu có hương sắc của vườn địa đàng trên đầu cô; làn da ngăm rực rỡ và đượm đà hơn hẳn những thiếu nữ bản xứ; bộ trang phục thoạt trông có vẻ ngoại lai, kỳ quái nhưng lại không đến mức quá lố bịch để có thể diện đường hoàng trên phố; những đường thêu tinh xảo trên vạt váy; chiếc dây chuyền vàng bản lớn vắt ngang cổ; chiếc nhẫn kỳ lạ trên ngón tay; chiếc quạt được điêu khắc trổ thủng vô cùng tinh xảo và được sơn màu phỏng theo ngọc trai cùng gỗ mun — nơi nào trong cõi đời bình lặng của mình mà Drowne có thể chiêm ngưỡng được viễn cảnh được hiện thực hóa một cách vô song đến thế này! Và rồi gương mặt ấy nữa chứ! Trong đôi mắt thẳm sâu và quanh khóe môi gợi cảm ẩn hiện một biểu cảm pha trộn giữa niềm kiêu hãnh, sự đong đưa tình tứ cùng một tia hóm hỉnh, khiến Copley mang ấn tượng rằng bức tượng đang thầm thưởng thức sự kinh ngạc đầy bối rối của chính ông cùng những kẻ hiếu kỳ khác.
“Và anh,” ông quay sang hỏi người thợ chạm, “lại nỡ để kiệt tác này làm tượng mũi tàu cho một chiếc thuyền sao? Hãy giao bức tượng Britannia đằng kia cho viên thuyền trưởng chất phác nọ — nó sẽ phục vụ mục đích của ông ta tốt hơn nhiều — và hãy gửi nữ hoàng tiên tử này sang Anh quốc, nơi mà biết đâu đấy, nó có thể mang về cho anh cả ngàn bảng Anh.”
“Tôi không đẽo gọt nó vì tiền,” Drowne đáp.
“Gã này rốt cuộc là hạng người gì thế!” Copley thầm nghĩ. “Là một gã Yankee mà lại ném đi cơ hội làm giàu! Hắn ta phát điên rồi; và chính từ đó đã sinh ra tia chớp thiên tài này.”
Bằng chứng cho sự điên rồ của Drowne lại càng được củng cố thêm nếu tin vào lời đồn đại rằng người ta từng bắt gặp anh quỳ gối dưới chân vị tiểu thư bằng gỗ, đắm đuối ngắm nhìn gương mặt do chính đôi tay mình tạo ra với niềm khát khao rực lửa của một kẻ si tình. Những kẻ cuồng tín thời bấy giờ bóng gió rằng sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu một linh hồn ma quỷ được phép nhập vào hình hài tuyệt mỹ này và dụ dỗ người thợ chạm đến bờ vực diệt vong.
Tiếng tăm về bức tượng lan xa khắp chốn. Dân làng đổ xô đến chiêm ngưỡng đông đến mức chỉ sau vài ngày trưng bày, hầu như chẳng còn một ông lão hay đứa trẻ nào là không nắm rõ từng chi tiết trên diện mạo ấy. Dẫu cho câu chuyện về bức tượng gỗ của Drowne có dừng lại ở đây đi chăng nữa, danh tiếng của nó có lẽ vẫn được duy trì trong nhiều năm dài nhờ vào ký ức của những ai từng ngắm nhìn nó thuở ấu thơ, để rồi chẳng thấy thứ gì đẹp đẽ hơn thế trong suốt phần đời còn lại. Thế nhưng thị trấn lúc bấy giờ lại chấn động bởi một sự kiện mà câu chuyện về nó đã trở thành một trong những truyền thuyết kỳ lạ nhất còn lưu truyền nơi xó bếp của giới bô lão tại kinh đô xứ New England — nơi những cụ ông cụ bà ngồi mơ màng về quá khứ và lắc đầu ngán ngẩm trước những kẻ mộng mơ của hiện tại và tương lai.
Vào một buổi đẹp trời, ngay trước thời điểm chiếc Cynosure khởi hành trong chuyến hải hành thứ hai tới Fayal, người ta thấy vị chỉ huy của con tàu hào hoa ấy bước ra khỏi tư dinh trên phố Hanover. Ông ăn vận vô cùng lịch lãm trong chiếc áo khoác vải dạ xanh thẫm có viền ren vàng ở các đường chỉ và khuyết áo, chiếc áo ghi-lê đỏ thêu hoa văn, chiếc mũ ba góc có đính quai và viền vàng bản lớn, bên hông dắt theo một thanh gươm ngắn chuôi bạc. Nhưng vị thuyền trưởng đáng kính ấy dẫu có khoác lên mình hoàng bào hay giẻ rách của một kẻ ăn xin đi chăng nữa thì cũng chẳng thu hút được chút chú ý nào, bởi ông đang bị lu mờ hoàn toàn khi sánh bước bên người bạn đồng hành đang tì tay lên cánh tay mình. Những kẻ đi đường giật mình ném ánh mắt kinh ngạc, dụi dụi mắt, rồi hoặc nhảy vọt sang một bên nhường lối, hoặc đứng trân trân tựa như những pho tượng gỗ hay cẩm thạch vì quá đỗi sửng sốt.
“Các người thấy chưa?—thấy chưa kìa?” một kẻ thốt lên với nỗi sốt sệt run rẩy. “Chính là cô ta chứ chẳng sai đi đâu được!”
“Chính là ai cơ?” một kẻ khác vừa mới đến thị trấn từ tối hôm trước lên tiếng hỏi. “Ý anh là gì? Tôi chỉ thấy một lão thuyền trưởng mặc đồ đi biển và một thiếu nữ ngoại quốc mặc trang phục lạ lẫm, trên mũ cài một chùm hoa rực rỡ. Mà thề có Chúa, cô ấy đúng là một tiểu thư xinh đẹp và rạng rỡ nhất mà mắt tôi từng được thấy trong suốt nhiều ngày qua đấy!”
“Đúng thế; chính là cô ta!—không lẫn vào đâu được!” kẻ kia lặp lại. “Tượng gỗ của Drowne đã sống lại rồi!”
Đúng là một phép màu hiển hiện! Thế nhưng, được chiếu rọi bởi ánh mặt trời hay bị bao phủ bởi bóng râm luân phiên của những ngôi nhà, với xiêm y phấp phới nhẹ nhàng trong gió sớm, bức tượng vẫn bước đi dọc con phố. Đó chính xác và tỉ mỉ từng đường nét hình dáng, bộ y phục và gương mặt mà dân chúng trong thị trấn vừa mới ùn ùn kéo đến chiêm ngưỡng và tán thưởng. Chẳng có lấy một đóa hoa lộng lẫy nào trên đầu cô, chẳng một chiếc lá đơn độc nào mà lại không có nguyên mẫu từ tác phẩm điêu khắc bằng gỗ của Drowne, dẫu cho giờ đây vẻ duyên dáng mỏng manh ấy đã trở nên linh hoạt và đung đưa theo từng bước chân của người mặc. Chiếc dây chuyền vàng bản lớn quấn quanh cổ hoàn toàn trùng khớp với hiện vật được thể hiện trên bức tượng, lấp lánh theo nhịp chuyển động phập phồng của bầu ngực mà nó ôm ấp. Một viên kim cương thật sự đang lấp lánh trên ngón tay cô. Tay phải cô cầm một chiếc quạt bằng ngọc trai và gỗ mun, phe phẩy với một vẻ đong đưa kỳ quái và mê hoặc, cũng hệt như phong thái hiện diện trong mọi cử động của cô, cùng phong cách nhan sắc và trang phục hòa hợp đến hoàn hảo. Gương mặt với sắc da rực rỡ và sâu thẳm ấy mang theo nét ranh mãnh tinh nghịch hệt như biểu cảm được tạc trên bức diện của bức tượng, nhưng nay lại được biến hóa và liên tục dịch chuyển, dẫu vậy vẫn giữ nguyên bản chất cốt lõi, tựa như ánh nắng lấp lánh trên một dòng suối sủi tăm bọt. Nhìn chung, ở người thiếu nữ này có một điều gì đó vừa phiêu diêu thoát tục lại vừa chân thực đến lạ lùng, và hơn thế nữa, cô thể hiện bức tượng của Drowne một cách hoàn mỹ đến nỗi người ta chẳng biết nên đinh ninh rằng khối gỗ ma thuật ấy đã hóa thân thành một linh hồn hay được truyền hơi ấm và sự mềm mại để trở thành một phụ nữ bằng xương bằng thịt.
“Có một điều chắc chắn,” một tín đồ Thanh giáo kỳ cựu lẩm bẩm, “Drowne đã bán linh hồn cho quỷ dữ; và không còn nghi ngờ gì nữa, gã thuyền trưởng hào hoa Hunnewell kia chính là kẻ đồng lõa trong giao ước ấy.”
“Và tôi,” một thanh niên vô tình nghe được câu nói ấy tiếp lời, “cũng sẵn sàng làm nạn nhân thứ ba, đổi lại cái quyền được hôn lên đôi môi kiều diễm kia.”
“Tôi cũng vậy,” họa sĩ Copley hưởng ứng, “đổi lấy đặc ân được họa lại chân dung nàng.”
Bức tượng, hay bóng ma thị hiện, dẫu là gì đi nữa, vẫn được vị thuyền trưởng gan dạ hộ tống, đi từ phố Hanover xuyên qua những con hẻm chéo đan xen chằng chịt tạo nên nét phức hợp của khu phố này để hướng đến phố Ann, từ đó rẽ vào quảng trường Dock, rồi xuôi thẳng xuống xưởng của Drowne nằm sát mép nước. Đám đông vẫn tiếp tục bám theo, cuồn cuộn phình to dần trên mỗi bước chân. Chưa từng có một phép màu thời hiện đại nào lại diễn ra giữa ban ngày ban mặt và trước sự chứng kiến của đông đảo nhân chứng đến thế. Bức tượng thoắt ẩn thoắt hiện, như thể nhận thức được rằng mình chính là tâm điểm của những tiếng xầm xì và náo động dâng trào phía sau, tỏ ra hơi khó chịu và bối rối, nhưng vẫn giữ được nét nhí nhảnh nhẹ nhàng và sự nghịch ngợm vui tươi hiện rõ trên nét mặt. Người ta quan sát thấy cô phe phẩy chiếc quạt với tốc độ nhanh đến mức cấu trúc thủ công tinh vi của nó đã gãy vụn, để lại chiếc quạt tả tơi trong tay nàng.
Khi đến trước ngưỡng cửa nhà Drowne trong lúc vị thuyền trưởng đang rộng mở cánh cửa, hiện thân kỳ diệu ấy khựng lại một khoảnh khắc ngay thềm cửa, tái hiện đúng tư thế của bức tượng và ném về phía đám đông ánh nhìn đong đầy nét kiêu kỳ ngập tràn ánh nắng — thứ mà tất cả mọi người đều ghi nhớ trên gương mặt của nữ nhân gỗ sồi. Ngay sau đó, cô và vị hiệp sĩ của mình biến mất vào trong.
“Chà!” đám đông đồng loạt thở dài một tiếng thật sâu, tựa như phát ra từ một cõi lồng ngực khổng lồ duy nhất.
“Thế giới bỗng trở nên u ám hơn kể từ khi nàng biến mất,” một vài chàng trai trẻ cất lời.
Thế nhưng những bậc cao niên, với ký ức xa xôi kéo dài tận thời kỳ săn lùng phù thủy, lại lắc đầu ngao ngán và bóng gió rằng tổ tiên chúng ta hẳn sẽ xem việc thiêu rụi người con gái của cội sồi ấy bằng lửa là một việc làm phước đức.
“Nếu cô ta không phải là một thứ bọt bèo sinh ra từ cõi vô định,” Copley thốt lên, “ta nhất định phải được ngắm nhìn gương mặt ấy một lần nữa.”
Ông bèn bước vào trong xưởng; và kìa, ở góc phòng quen thuộc, bức tượng vẫn đứng đó, ngắm nhìn ông hệt như với chính biểu cảm ranh mãnh tinh nghịch từng là ánh mắt chào tạm biệt của bóng ma chỉ một thoáng trước khi cô ngoảnh mặt về phía đám đông. Người thợ chạm đang đứng cạnh tạo tác của mình, cặm cụi sửa chữa chiếc quạt xinh đẹp vô tình bị gãy nát trong tay nàng. Thế nhưng, chẳng còn chút chuyển động nào vương vấn trên bức tượng sống động ấy nữa, chẳng có người phụ nữ bằng xương bằng thịt nào trong xưởng, thậm chí chẳng còn cả thứ ma thuật của một bóng nắng có thể đánh lừa thị giác người đời khi nó lướt qua đường phố. Thuyền trưởng Hunnewell cũng đã biến mất. Tuy nhiên, giọng nói khàn đợt đậm chất gió biển của ông vẫn văng vẳng vọng lại từ phía bên kia cánh cửa mở ra sát mặt nước.
“Ngồi xuống khoang lái đi thưa tiểu thư,” vị thuyền trưởng hào hoa cất giọng. “Nào, mau một tay kéo mái chèo đưa chúng ta lên tàu chỉ trong tích tắc đi mấy gã thủy thủ đoảng này.”
Và ngay sau đó là tiếng mái chèo khua nước nhịp nhàng.
“Drowne,” Copley lên tiếng với một nụ cười đầy ẩn ý, “anh quả là một con người vô cùng may mắn. Nào có họa sĩ hay nhà điêu khắc nào từng sở hữu một nguyên mẫu tuyệt diệu đến thế! Thảo nào nàng đã thổi bùng ngọn lửa thiên tài trong anh, để rồi trước hết tạo ra người nghệ sĩ, kẻ sau đó đã nhào nặn nên hình hài nàng.”
Drowne nhìn ông với gương mặt còn vương vác những giọt nước mắt, nhưng ánh sáng của trí tưởng tượng và sự nhạy cảm vừa mới thắp sáng nó ban nãy nay đã vụt tắt hoàn toàn. Anh lại trở về làm một gã thợ chạm cơ học quen thuộc suốt cả cuộc đời mình.
“Tôi hầu như chẳng hiểu ngài đang nói gì, thưa ông Copley,” anh vừa nói vừa đưa tay lên trán gãi gãi. “Bức tượng này ư? Nó thực sự là tác phẩm của tôi sao? Chà, tôi đã đẽo gọt nó trong một giấc mơ tựa hồ như thế; và giờ đây khi đã tỉnh giấc hẳn, tôi phải quay lại hoàn thiện nốt bức tượng Đô đốc Vernon đằng kia thôi.”
Và đoạn, anh cặm cụi chú tâm vào khuôn mặt đờ đẫn của một trong những hậu duệ bằng gỗ của mình, hoàn thiện nó theo phong cách cơ học đặc trưng — phong cách mà sau này chẳng bao giờ người ta thấy anh thay đổi. Anh tiếp tục miệt mài theo đuổi nghề nghiệp trong nhiều năm ròng rã, tích lũy được một số vốn liếng kha khá, và đến quãng cuối đời đã đạt được một địa vị đáng kính trong giáo hội, được ghi nhớ qua các sử liệu và truyền thuyết với danh xưng Phó tế Drowne, người thợ chạm gỗ. Một trong những tác phẩm của ông, tượng một vị tù trưởng da đỏ được mạ vàng toàn thân, đã đứng sừng sững trên đỉnh mái vòm Tòa thị chính (Province House) suốt phần lớn thế kỷ, làm lóa mắt những ai ngước nhìn lên hệt như một vị thiên sứ của mặt trời. Một tác phẩm khác từ đôi bàn tay vị phó tế đáng kính — phiên bản thu nhỏ của người bạn thân – thuyền trưởng Hunnewell, đang cầm trên tay một chiếc kính thiên văn và trắc tinh — vẫn còn có thể được chiêm ngưỡng cho đến tận ngày nay ở góc phố Broad và State, đảm nhiệm vai trò hữu ích làm biển hiệu cho cửa hàng của một thợ chế tạo dụng cụ hàng hải. Chúng ta không sao lý giải nổi sự kém cỏi của bức tượng cổ kỳ quái này khi so sánh với vẻ hoàn mỹ từng được ghi nhận của Nữ nhân Gỗ sồi, ngoại trừ giả thuyết cho rằng trong mỗi linh hồn con người đều ẩn chứa trí tưởng tượng, sự nhạy cảm, quyền năng sáng tạo và thiên tài; những thứ tùy thuộc vào hoàn cảnh mà có thể được khai mở trong cõi đời này, hoặc bị che khuất dưới lớp mặt nạ đần độn cho đến khi bước sang một trạng thái tồn tại khác. Đối với người bạn Drowne của chúng ta, đã có một khoảng thời gian ngắn ngủi bùng nổ cảm xúc, được thắp lên bởi tình yêu. Nó biến anh thành một thiên tài chỉ trong khoảnh khắc ấy, nhưng rồi bị dập tắt trong nỗi thất vọng, để lại anh bơ vơ trong thân phận gã thợ chạm gỗ cơ học, thậm chí không còn khả năng tự đánh giá tác phẩm do chính đôi tay mình tạo ra. Thế nhưng, ai có thể nghi ngờ rằng trạng thái tối cao nhất mà một linh hồn con người có thể vươn tới trong những khát vọng cao cả nhất chính là trạng thái chân thực và tự nhiên nhất của nó, và rằng Drowne đã sống đúng với bản ngã của mình hơn khi ông tạc nên bức tượng tuyệt mỹ về vị tiểu thư bí ẩn, thay vì khi ông cho ra lò cả một dòng dõi những gã đầu gỗ đần độn?
Vào khoảng thời gian này, ở Boston râm ran lời đồn đại rằng một vị tiểu thư quý tộc trẻ tuổi người Bồ Đào Nha, do một biến cố chính trị hoặc gia đình nào đó, đã trốn khỏi quê nhà ở Fayal và đặt mình dưới sự bảo vệ của thuyền trưởng Hunnewell, nương náu trên con tàu và tại tư dinh của ông cho đến khi tình hình đổi thay. Vị tiểu thư xa lạ kiều diễm ấy chắc chắn chính là nguyên mẫu của bức Tượng Gỗ do Drowne tạo tác.