Rêu Phong Từ Dinh Thự Cổ

Lượt đọc: 76 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Feathertop: Một Truyền Thuyết Ngụ Ngôn

❊ ❊ ❊

“Dickon,” mụ Rigby thét lên, “lấy cho ta một hòn than để châm tẩu!”

Chiếu tẩu vẫn đang ngậm trong miệng bà lão khi mụ thốt ra những lời ấy. Mụ vừa nhét đầy thuốc vào tẩu, nhưng chẳng buồn cúi xuống châm lửa ở lò sưởi, nơi quả nhiên trông chẳng có vẻ gì là đã nhóm lửa từ sáng sớm. Thế nhưng, ngay khi mệnh lệnh vừa dứt, từ trong nong tẩu liền bừng lên một tia lửa đỏ rực, và một làn khói nhẹ phả ra từ môi mụ Rigby. Hòn than ấy từ đâu tới, và được bàn tay vô hình nào mang đến, ta chưa từng tài nào dò ra được.

“Được đấy!” mụ Rigby gật đầu lẩm bẩm. “Cảm ơn ngươi nhé, Dickon! Giờ thì ta phải đi làm con bù nhìn này đây. Hãy cứ ở quanh đây, lỡ ta cần gì ngươi còn gọi.”

Bà lão dậy từ sớm tinh mơ (bởi lúc đó trời còn chưa ló rạng) để bắt tay vào làm một con bù nhìn, định bụng đem cắm giữa mảnh ruộng ngô của mình. Đã là những tuần cuối tháng Năm, và lũ quạ cùng chim sáo đen đã bắt đầu nhòm ngó những chiếc lá ngô non xanh cuộn tròn vừa nhú lên khỏi mặt đất. Do đó, mụ quyết tâm tạo ra một con bù nhìn trông giống người thật nhất từ trước tới nay, và phải hoàn thành nó ngay lập tức từ đầu đến chân, để nó có thể bắt đầu làm nhiệm vụ canh gác ngay trong buổi sáng hôm ấy. Số là mụ Rigby (như ai nấy đều phải nghe đồn) là một trong những mụ phù thủy xảo quyệt và quyền năng nhất xứ New England, và chỉ với chút ít công sức, mụ hoàn toàn có thể làm ra một con bù nhìn đủ gớm ghiếc để hù dọa cả vị mục sư. Nhưng nhân dịp này, vì thức dậy với một tâm trạng thoải mái lạ thường, lại thêm phần khoan khoái nhờ làn khói tẩu, mụ quyết định tạo ra một tác phẩm thật tinh tế, đẹp đẽ và lộng lẫy, thay vì một thứ gớm ghiếc hãi hùng.

“Ta chẳng muốn dựng một con yêu tinh ngay trên mảnh ruộng ngô nhà mình, lại gần sát bậc cửa thế này,” mụ Rigby tự nhủ, phả ra một làn khói trắng; “nếu thích thì ta làm được ngay thôi, nhưng ta chán ngấy những trò kỳ phép rồi, thế nên ta cứ tuân theo lề lối thường ngày cho có chút đổi gió vậy. Vả lại, dọa mấy đứa trẻ con trong bán kính cả dặm cũng chẳng ích gì, dẫu rằng ta đúng là phù thủy.”

Thế là mụ thầm định đoạt rằng con bù nhìn sẽ đại diện cho một quý ông lịch lãm thời thượng, trong phạm vi những vật liệu sẵn có. Có lẽ cũng nên điểm qua những món chính cấu thành nên nhân vật này.

Quan trọng nhất có lẽ, dẫu trông chẳng bắt mắt cho lắm, chính là cái cán chổi mà mụ Rigby từng dùng để cưỡi bay lượn giữa không trung vào những đêm gối hạc, giờ đây đóng vai trò như cột sống của con bù nhìn, hay theo cách nói của kẻ thất học thì chính là xương sống. Một bên tay của nó là chiếc cùi giần đã hỏng từng được cụ ông Rigby sử dụng trước khi bị người vợ hiền hành cho đến chết yểu; tay kia, nếu ta không nhầm, gồm có chiếc gậy quấy cháo và một khúc nan ghế gãy, được buộc lỏng lẻo với nhau ở khuỷu. Về phần đôi chân, bên phải là một chiếc cán cuốc, còn bên bên trái là một khúc củi tạp lỉnh kỉnh nhặt từ đống củi. Buồng phổi, dạ dày và những bộ phận tương tự chẳng qua chỉ là một chiếc túi đựng bột nhồi rơm. Thế là ta đã dựng nên bộ xương và toàn bộ thân hình của con bù nhìn, ngoại trừ chiếc đầu; và phần này được thay thế vô cùng xuất sắc bằng một quả bí ngô đã hơi khô quắt, trên đó mụ Rigby khoét hai lỗ làm mắt và một đường rạch làm miệng, để chừa lại một bướu nhỏ ngả màu xanh ở chính giữa làm mũi. Trông nó thực sự ra dáng một khuôn mặt đàng hoàng.

“Ít ra thì ta cũng từng thấy những cái đầu tệ hại hơn thế này mọc trên vai người,” mụ Rigby lẩm bimbang. “Và khối gã quý ông lịch lãm cũng mang cái đầu bí ngô chẳng khác gì con bù nhìn của ta.”

Nhưng y phục mới là thứ làm nên con người trong trường hợp này. Thế là bà lão tốt bụng với xuống lấy một chiếc áo khoác cổ bằng vải lông cừu màu mận chín kiểu London, với những dấu tích thêu thùa trên đường viền, cổ tay, nắp túi và khuyết áo, nhưng nay đã sờn rách thảm hại, vá víu ở khuỷu tay, tua tủa ở vạt áo và rách mướp khắp nơi. Trên ngực trái có một lỗ thủng tròn, nơi hoặc là một ngôi sao quý tộc đã bị giật phăng đi, hoặc trái tim hừng hực của người mặc trước kia đã thiêu đốt nó thủng lỗ chỗ. Xóm giang hồ đồn rằng cỗ y phục đắt giá này thuộc về tủ quần áo của Ác Ma, và hắn gởi nó lại tiviết nhà mụ Rigby để tiện bề khoác lên mỗi khi muốn xuất hiện thật hoành tráng bên bàn tiệc của ngài thống đốc. Sánh đôi với chiếc áo khoác là một chiếc áo lê bằng nhung rộng thùng thình, xưa kia từng được thêu họa tiết lá cây vàng óng ánh như lá phong mùa thu, nhưng nay thì đã phai mờ hoàn toàn trên bề mặt nhung. Tiếp đến là chiếc quần dài màu đỏ thắm từng được vị thống đốc người Pháp ở Louisbourg mặc, với phần đầu gối từng chạm đến bậc thềm dưới cùng của ngai vàng vua Louis Đại đế. Người Pháp đã đem chiếc quần nhỏ này ban cho một tay phù thủy da đỏ, kẻ đã đổi nó cho mụ phù thủy già lấy một vưng rượu mạnh trong một buổi múa hát ở trong rừng. Hơn thế nữa, mụ Rigby còn mang ra một đôi bít tất lụa và tròng vào chân con bù nhìn, khiến chúng trông ảo ảnh chẳng khác gì một giấc mơ, để lộ rõ cái thực tế bằng gỗ của hai khúc gậy đâm thủng qua những lỗ rách trông đến là thảm hại. Cuối cùng, mụ đội chiếc mũ của người chồng quá cố lên cái đầu trọc lóc của quả bí ngô, và chễm chệ trùm lên trên hết là một chiếc mũ tam sorne bám đầy bụi, trên đó cắm chiếc lông đuôi dài nhất của một con gà trống.

Bà lão đoạn dựng con bù nhìn đứng vào một góc nhà và khúc khích cười khi ngắm nhìn bộ mặt ngả vàng của nó với chiếc mũi củ gỏng chõ ngược lên trời. Nó mang một vẻ tự mãn kỳ lạ, như thể đang muốn nói: “Lại đây mà ngắm ta xem nào!”

“Và ngươi quả thực rất đáng ngắm đấy chứ lị!” mụ Rigby cất tiếng trầm trồ trước tác phẩm của chính mình. “Ta đã làm ra biết bao con rối từ khi thành phù thủy, nhưng ngẫm lại thì đây là đứa đẹp nhất. Trông nó gần như quá tốt để làm bù nhìn. Mà nhân tiện, ta sẽ châm một tẩu thuốc mới rồi đem nó ra mảnh ruộng ngô thôi.”

Vừa nhồi thuốc mụ vừa đắm đuối ngắm nghía hình nộm ở góc nhà bằng ánh mắt chan chứa tình mẫu tử. Thật lòng mà nói, dẫu là do tình cờ, tài nghệ hay phép thuật chính hiệu, vẫn có một nét gì đó kỳ diệu rất đỗi con người ở cái hình thù lố bịch này, được diêm dúa trong bộ cánh rách rưới; còn về phần nét mặt, nó dường như co rút bề mặt ngả vàng thành một điệu cười nhếch mép – một vẻ biểu cảm kỳ quặc nửa khinh mạn nửa giễu cợt, như thể nó ngầm hiểu rằng chính nó là một trò đùa giáng lên loài người. Mụ Rigby ngắm càng lâu lại càng thấy ưng ý.

“Dickon,” mụ cất giọng gay gắt gọi, “lại một hòn than nữa cho tẩu của ta!”

Mụ vừa dứt lời thì cũng y như trước, một hòn than đỏ hồng lại hiện lên trên đỉnh đống thuốc. Mụ hít một hơi dài rồi phả ra làn khói ấy vào vạt nắng sớm đang len lỏi qua ô cửa kính đục ngầu của căn nhà tranh. Mụ Rigby luôn thích ướp hương cho tẩu thuốc của mình bằng hòn than hồng lấy từ đúng xó bếp đã đưa hòn than này đến. Nhưng cái xó bếp ấy rốt cuộc nằm ở đâu, hay ai đã mang hòn than từ đó tới — ngoài việc sứ giả vô hình dường như đáp lời cái tên Dickon — thì mụ chịu chết không tài nào biết được.

“Con rối kia kìa,” mụ Rigby thầm nghĩ, đôi mắt vẫn đăm đăm dán vào con bù nhìn, “thật là một tác phẩm quá xuất sắc để cứ đứng suốt cả mùa hè trên ruộng ngô, xua đuổi quạ với chim sáo đen. Nó đủ tài làm những chuyện lớn lao hơn. Chà, ta từng khiêu vũ với những kẻ còn tệ hơn thế, những bận thiếu bạn nhảy tại các buổi hội họp phù thủy trong rừng cơ mà! Hay là ta cứ để mặc nó dấn thân vào chốn giang hồ cùng với đám người rơm và những kẻ rỗng tuếch đang xô bồ ngoài kia nhỉ?”

Mụ phù thủy già rít thêm ba bốn hơi tẩu nữa rồi mỉm cười.

“Nó sẽ gặp khối kẻ đồng loại ở mọi góc phố cho mà xem!” mụ tiếp lời. “Thôi nào; hôm nay ta vốn chẳng định dây dưa gì đến phép thuật ngoài việc châm tẩu, nhưng ta là phù thủy, và đời này kiếp này vẫn cứ là phù thủy, có trốn chạy cũng bằng thừa. Ta sẽ phù phép con bù nhìn này thành một con người đích thực, cứ cho là làm trò vui đi!”

Vừa lầm bầm những lời đó, mụ Rigby vừa rút tẩu ra khỏi miệng mình rồi nhét thẳng vào khe hở đóng vai trò làm cái miệng trên gương mặt bí ngô của con bù nhìn.

“Phả đi, cục cưng, phả mạnh vào!” mụ bảo. “Hút thuốc cho ngoan nào, anh bạn quý! Sinh mạng của ngươi đặt cả vào đấy đấy!”

Đây quả là một lời khích lệ kỳ lạ khi thốt ra với một đống bấc rơm và quần áo cũ, chẳng có lấy cái đầu nào ra hồn ngoài một quả bí ngô quắt queo — như ta đã biết về hoàn cảnh của con bù nhìn. Tuy nhiên, như chúng ta phải luôn ghi nhớ cẩn thận, mụ Rigby là một phù thủy có quyền năng và sự khéo léo kỳ lạ; và khi giữ vững sự thực ấy trong đầu, ta sẽ thấy những biến cố kỳ diệu trong câu chuyện này hoàn toàn hợp lý. Quả thực, khó khăn lớn nhất sẽ được giải quyết ngay tắp lự, nếu ta chịu tin rằng, ngay khi bà lão ra lệnh phả khói, một làn khói đã tuôn ra từ miệng con bù nhìn. Dẫu đó chỉ là làn khói yếu ớt nhất, quả thực là thế; nhưng ngay sau đó lại có thêm làn thứ hai, thứ ba, làn sau mạnh mẽ và dứt khoát hơn làn trước.

“Hút mạnh vào nào cục cưng! Phả khói đi nào đứa đẹp của ta!” mụ Rigby liên tục lặp lại với nụ cười tươi tắn nhất. “Đó chính là hơi thở sự sống đối với ngươi đấy; cứ tin lời ta đi không thiệt đâu.”

Không còn nghi ngờ gì nữa, chiếc tẩu đã bị yểm bùa. Ắt hẳn phải có một phép thuật nào đó ẩn giấu trong lá thuốc, hoặc trong hòn than đang cháy rực một cách đầy kỳ bí trên đỉnh tẩu, hay trong làn khói nồng nàn thơm ngát tỏa ra từ thứ cỏ cây được đốt lên. Sau vài lần cố gắng đầy do dự, bức tượng cuối cùng cũng thổi ra một loạt làn khói trải dài từ góc tối tăm ra tận vạt nắng rọi. Tại đó, khói xoáy vòng rồi tan biến giữa những hạt bụi bay lơ lửng. Đó dường như là một nỗ lực co giật; bởi hai hay ba hơi tiếp theo lại yếu hơn, dẫu hòn than vẫn rực sáng và hắt ánh hào quang lên gương mặt con bù nhìn. Mụ phù thủy già vỗ hai bàn tay khô khốc vào nhau, mỉm cười đầy khích lệ nhìn tác phẩm của mình. Mụ thấy bùa phép đang phát huy tác dụng rất tốt. Gương mặt vàng úa, quắt queo vốn trước đó chẳng khác gì một thứ vô tri, nay đã phảng phất một lớp sương mù mỏng manh, ảo diệu mang dáng dấp con người, lượn lờ qua lại trên đó; đôi khi biến mất hoàn toàn, nhưng rồi lại hiện rõ mồn một sau làn khói tiếp theo từ chiếc tẩu. Toàn bộ nhân ảnh cũng theo đó mà mang một vẻ sống động, hệt như cách ta gán cho những hình thù mờ ảo giữa những tầng mây, rồi tự huyễn hoặc bản thân bằng trò vui của chính trí tưởng tượng.

Nếu ta cứ phải soi mói vào ngõ ngách của sự việc, người ta có lẽ sẽ hoài nghi liệu có thực sự xảy ra sự biến đổi nào trong cái chất liệu tầm thường, rách rưới, vô dụng và lỏng lẻo của con bù nhìn hay không; hay đó chỉ là một ảo ảnh ma quái, một ngón đòn xảo quyệt về ánh sáng và bóng tối được tô vẽ và dàn dựng để đánh lừa thị giác của đa số thiên hạ. Những phép màu của phù thủy dường như lúc nào cũng nông cạn và tinh vi ở mức độ thấp; và ít nhất, nếu lời giải thích trên không trúng vào bản chất của quá trình ấy, ta cũng chẳng thể gợi ý được cách nào hay hơn.

“Phả tốt lắm, anh bạn nhỏ xinh!” mụ già Rigby vẫn reo lên. “Nào, làm thêm một hơi thật sâu nữa đi, dùng hết sức lực vào. Phả vì sinh mạng của ngươi đấy, ta bảo thật! Hút từ tận đáy lòng ngươi ra xem nào, nếu ngươi thực sự có lòng, hoặc nếu cái đáy của nó tồn tại! Làm tốt lắm! Ngươi vừa hớp ngụm khói ấy vào cứ như thể vì tình yêu thuần khiết với nó vậy.”

Rồi mụ phù thủy vẫy tay gọi con bù nhìn, truyền vào cử chỉ ấy một sức mạnh huyền từ mãnh liệt đến mức tưởng chừng nó bắt buộc phải tuân theo, tựa như tiếng gọi kỳ bí của nam châm khi hút lấy sắt.

“Sao còn rúc ở góc xó thế kia, quân lười biếng?” mụ nói. “Bước ra đi! Cả thế giới đang mở ra trước mắt ngươi kìa!”

Ấy chết, nếu đây không phải là truyền thuyết ta từng nghe bên gối bà ngoại, và đã kịp cắm rễ vào cõi lòng tin trước khi lý trí trẻ thơ của ta kịp mổ xẻ tính xác thực của nó, thì ngẫm lại, thú thật là ta chẳng dám cả gan kể lại câu chuyện này ngay lúc này đâu.

Vâng lời mụ Rigby, và giơ tay ra như để với lấy bàn tay đang chìa sẵn của mụ, bức tượng bước lên một bước — dẫu đó là một bước đi giật cục và lảo đảo nhiều hơn — rồi lảo đảo suýt mất thăng bằng. Mụ phù thủy còn mong đợi gì hơn thế chứ? Suy cho cùng thì nó cũng chỉ là một con bù nhìn dựng trên hai chiếc gậy. Nhưng mụ phù thủy già ương ngạnh cau mày, vẫy tay, và dồn hết năng lượng ý chí vào đống gỗ mục, rơm mốc và quần áo rách rưới tội nghiệp này đến mức nó buộc phải ra dáng một con người, dẫu thực tế phũ phàng thế nào đi nữa. Thế là nó bước hẳn vào vạt nắng. Nó đứng đó, hỡi ôi cái thân phận khốn khổ của một cỗ máy ngụy tạo! — với lớp vỏ bọc nhân dạng mỏng manh nhất khoác bên ngoài, để lộ rõ cái bộ khung chắp vá cứng nhắc, xập xẹ, lủng củng, phai màu, rách rưới và vô tích sự ẩn bên trong, chực chờ sụp xuống thành một đống đổ nát trên sàn nhà, tựa hồ như ý thức được sự bất xứng của chính mình khi đứng thẳng. Ta có nên thú nhận sự thật này không? Ở giai đoạn thổi hồn này, con bù nhìn gợi cho ta nhớ đến một số nhân vật ba phải và chết yểu, được ghép nối từ muôn vàn tạp chất, bị lặp đi lặp lại đến cả ngàn lần mà chẳng bao giờ đáng dùng, thứ mà các nhà văn viết tiểu thuyết (và chắc chắn có cả ta trong số đó) đã dùng để nhồi nhét cõi văn chương đến chật ních.

Nhưng mụ phù thủy dữ tợn bỗng nổi giận và để lộ một góc bản chất quỷ quyệt (tựa như chiếc đầu rắn lú ra khỏi ngực kèm theo tiếng xì xì) trước thái độ hèn nhát của cái vật mà mụ đã mất công chắp vá nên.

“Phả đi, đồ tồi!” mụ giận dữ quát lên. “Phả, phả, phả, hỡi cái đống rơm rạ rỗng tuếch kia! Hỡi cái giẻ rách kia! Hỡi cái túi đựng bột kia! Hỡi cái đầu bí ngô kia! Hỡi đồ vô tích sự! Ta phải tìm cái tên nào bỉ ổi đến mức nào để gọi ngươi đây? Phả mau, ta bảo, và hút lấy sự sống ảo ảnh của ngươi qua làn khói! Bằng không ta sẽ giật phăng cái tẩu khỏi miệng ngươi và ném ngươi về nơi hòn than đỏ kia đã sinh ra.”

Bị đe dọa như vậy, con bù nhìn khốn khổ chẳng còn cách nào khác là phải rít thuốc lấy được để cứu lấy mạng sống. Do đó, theo đúng yêu cầu, nó hùng hục bập vào tẩu và nhả ra những làn khói thuốc dày đặc đến nỗi căn bếp nhỏ ngập chìm trong hơi khói. Tia nắng duy nhất len lỏi qua một cách mờ ảo, chỉ vẽ lại được một cách lờ mờ hình ảnh của ô cửa kính nứt nẻ bám đầy bụi lên bức tường đối diện. Trong khi ấy, mụ Rigby tay chống nạnh, tay kia chỉ thẳng về phía bức tượng, sừng sững hiện lên giữa chốn mờ ảo với tư thế và biểu cảm hệt như lúc mụ đè nặng những cơn ác mộng lên nạn nhân và đứng bên giường ngậm ngùi tận hưởng nỗi thống khổ của họ. Trong nỗi sợ hãi và run rẩy, con bù nhìn khốn khổ ấy rít từng hơi tẩu. Nhưng phải thừa nhận rằng những nỗ lực của nó đã đem lại kết quả tuyệt vời; bởi qua mỗi hơi hít vào, bức tượng lại trút bỏ bớt sự mỏng manh lảo đảo, kỳ cục để mang một thể chất đặc sắn hơn. Hơn thế nữa, ngay cả y phục của nó cũng hòa vào sự biến đổi kỳ diệu ấy, tỏa sáng với lớp óng ả của sự mới mẻ và lấp lánh thứ kim tuyến được thêu tinh xảo vốn đã bị xé rách từ lâu. Và, ẩn hiện qua làn khói, một gương mặt vàng úa đăm đăm nhìn mụ Rigby bằng đôi mắt vô hồn.

Cuối cùng mụ phù thủy già nắm chặt tay lại và giơ lên đe dọa bức tượng. Không phải mụ thực sự tức giận, mà chỉ hành động theo nguyên tắc — có lẽ sai lầm, hoặc chẳng phải là chân lý duy nhất, dẫu đó là mức cao nhất mà người ta có thể trông đợi ở mụ Rigby — rằng những bản tính yếu hớt và rệu rã, vì không có khả năng vươn tới nguồn cảm hứng cao cả hơn, nên buộc phải được khuấy động bằng nỗi sợ. Nhưng đây mới là thời điểm quyết định. Nếu mụ thất bại trong việc muốn đạt được lúc này, ý định tàn nhẫn của mụ là sẽ xé nát cái thể giả hình thảm hại ấy về lại với nguyên tố ban đầu của nó.

“Ngươi mang diện mạo của một người đàn ông,” mụ nghiêm nghị nói. “Hãy có cả tiếng vang và sự nhại lại của một giọng nói nữa chứ! Ta ra lệnh cho ngươi phải cất lời!”

Con bù nhìn há hốc, oằn mình, và cuối cùng phát ra một tiếng rên rỉ hòa quyện sâu đến mức trong làn khói thở của nó khiến người ta khó lòng phân biệt nổi đó thực sự là giọng nói hay chỉ là một làn khói thuốc. Một số kẻ kể chuyện truyền thuyết này cho rằng các phép thuật triệu hồi của mụ Rigby cùng sự quyết liệt trong ý chí của mụ đã ép một linh hồn quen thuộc nhập vào bức tượng, và giọng nói đó chính là của hắn.

“Bẩm... bẩm mụ,” giọng nói nghẹn ngào khốn khổ thốt lên, “xin đừng quá nghiêm khắc với con! Con rất muốn nói; nhưng vốn chẳng có chút trí khôn nào, con biết ăn nói sao đây?”

“Ngươi biết nói đấy chứ, cục cưng, đúng không nào?” mụ Rigby buông lỏng gương mặt dữ dằn thành một nụ cười. “Và ngươi sẽ nói gì nào, hừm! Nói cái gì chứ! Ngươi thuộc hội đồng những cái đầu rỗng tuếch mà lại đi hỏi ta xem mình phải nói gì ư? Ngươi sẽ nói tới hàng ngàn điều, và dẫu nói đi nói lại hàng ngàn lần ấy, ngươi vẫn chẳng nói lên được điều gì cả! Đừng sợ, ta bảo này! Khi ngươi bước ra cõi đời (nơi ta định tống cổ ngươi tới ngay lập tức), ngươi sẽ chẳng thiếu thứ để mà ba hoa đâu. Ba hoa á! Chà, ngươi sẽ lải nhải như cái cối xay nước nếu ngươi thích. Ngươi có đủ trí khôn cho việc ấy đấy, ta dám cá!”

“Xin vâng lệnh mụ,” bức tượng đáp.

“Và câu đó nói hay lắm, đứa đẹp của ta,” mụ Rigby đáp lời. “Thế mới đúng là phong cách của ngươi chứ, nói mà chẳng có ý nghĩa gì sất. Ngươi sẽ có hàng trăm câu cửa miệng sáo rỗng như thế, và kèm theo năm trăm câu nữa là khác. Và giờ đây, cục cưng ơi, ta đã nhọc công vì ngươi biết bao và ngươi lại đẹp đẽ nhường này, quả thực danh dự của ta đây, ta yêu ngươi hơn bất kỳ con rối phù thủy nào trên thế giới; mà ta thì từng làm chúng đủ loại — bằng đất sét, sáp, rơm, gậy, sương mù đêm, sương mù sớm, bọt biển và khói ống khói. Nhưng ngươi là đứa xuất sắc nhất. Cho nên hãy lắng tai nghe cho kỹ những gì ta dặn đây.”

“Vâng, thưa mụ nhân hậu,” bức tượng thưa, “con xin vâng lời bằng cả trái tim!”

“Bằng cả trái tim cơ đấy!” mụ phù thủy già chống tay vào hông cười lớn. “Ngươi khéo ăn khéo nói ghê cơ. Bằng cả trái tim! Lại còn đặt tay lên ngực trái áo lê cứ như thể ngươi thực sự có một trái tim ấy!”

Thế là giờ đây, trong tâm trạng vô cùng phấn chấn trước tác phẩm kỳ quái của mình, mụ Rigby bảo con bù nhìn rằng nó phải đi và đóng vai trò của mình trong thế giới rộng lớn ngoài kia, nơi mà mụ khẳng định rằng cứ một trăm người thì chẳng có nổi một kẻ sở hữu phần hồn thực sự nhiều hơn nó. Và để nó có thể ngẩng cao đầu sánh vai với những kẻ hào kiệt nhất, mụ ban ngay cho nó một khối tài sản khổng lồ không sao đếm xuể. Nó bao gồm một mỏ vàng ở Eldorado, mười ngàn cổ phần trong một dự án bong bóng xà phòng đã vỡ, nửa triệu mẫu đất vườn nho ở Bắc Cực, một lâu đài trên không trung, một trang viên ở Tây Ban Nha, cùng toàn bộ hoa lợi và thu nhập phát sinh từ đó. Mụ còn chuyển nhượng cho nó cả hàng hóa trên một con tàu chở muối Cadiz, thứ mà chính mụ bằng các thuật tà thuật của mình đã đánh chìm mười năm trước ở vùng sâu nhất giữa đại dương. Nếu số muối ấy chưa tan và có thể đem bán ra thị trường, nó sẽ kiếm được một số tiền kha khá từ bọn ngư dân. Để nó không thiếu tiền lẻ dằn túi, mụ cho nó một đồng xu đồng điếu đúc tại Birmingham, đó là tất cả số tiền mụ có trong người, đồng thời ban cho rất nhiều đồng thau, mụ áp chúng lên trán nó, khiến trán nó càng thêm vàng vợt.

“Chỉ với đống đồng thau đó thôi,” mụ Rigby bảo, “ngươi cũng có thể tung hoành khắp thiên hạ rồi. Hôn ta một cái nào cục cưng! Ta đã làm những gì tốt nhất cho ngươi rồi đấy.”

Hơn thế nữa, để kẻ phiêu lưu không bị thiếu hụt bất kỳ lợi thế nào khi bước chân vào đời, bà lão tuyệt vời này còn ban cho nó một tín vật để dùng làm lá bài giới thiệu bản thân với một vị thẩm phán, nghị viên hội đồng, thương gia kiêm trưởng lão nhà thờ nọ (cả bốn chức vụ ấy tụ hội trong cùng một con người), kẻ đứng đầu xã hội tại đô thị lân cận. Tín vật ấy chẳng hơn không kém một từ duy nhất, được mụ Rigby thì thầm vào tai con bù nhìn, và con bù nhìn sẽ thì thầm lại từ ấy với người thương gia.

“Dù lão ta có bị gút nặng đến đâu đi nữa, lão cũng sẽ sai vặt ngươi như chong chóng một khi ngươi thì thầm từ đó vào tai lão,” mụ phù thủy nói. “Mụ Rigby thừa sức biết ngài Quan tòa Gookin tôn kính, và ngài Quan tòa cũng thừa sức biết mụ Rigby!”

Đến đây mụ phù thủy ghé sát gương mặt nhăn nheo của mình vào mặt con rối, cười khúc khích không kìm được và mừng quýnh lên vì ý đồ mà mụ sắp truyền đạt.

“Ngài Quan tòa Gookin đáng kính,” mụ thì thầm, “có một cô con gái xinh xắn nõn nà. Và nghe đây, cục cưng của ta! Ngươi có vẻ ngoài bảnh bao, lại đủ chút trí khôn vặt của riêng mình. Phải, đủ một chút trí khôn! Ngươi sẽ thấy nó còn có ích hơn khi tiếp xúc nhiều hơn với trí khôn của kẻ khác. Nào, với vẻ ngoài và cả nội tâm ấy, ngươi chính là mẫu đàn ông đích thực để chinh phục trái tim một thiếu nữ. Đừng có hoài nghi gì sệt! Ta bảo đảm sẽ thành công mỹ mãn. Cứ dạn dĩ lên, hãy thở dài, mỉm cười, vung mũ, đá chân một cách điệu nghệ như thầy dạy nhảy, đặt tay phải lên ngực áo lê, và cô tiểu thư Polly Gookin xinh đẹp sẽ là của ngươi!”

Suốt quãng thời gian đó, sinh linh mới chào đời vẫn liên tục hút và nhả hương thơm ngào ngạt từ tẩu thuốc, và giờ đây dường như tiếp tục công việc ấy vừa để tận hưởng cảm giác thú vị nó mang lại vừa vì đó là điều kiện sinh tồn thiết yếu. Thật đáng kinh ngạc khi thấy nó hành xử giống hệt một con người đến thế nào. Đôi mắt của nó (bởi nó dường như sở hữu một đôi mắt) dán chặt vào mụ Rigby, và vào những lúc thích hợp, nó lại gật đầu hoặc lắc đầu. Nó cũng chẳng thiếu những từ ngữ phù hợp cho từng hoàn cảnh: “Thật ư! Quả thế sao! Xin hãy nói cho tôi biết! Có thể như thế được ư! Danh dự tôi đấy chứ! Không đời nào! Ồ! À! Hừm!” cùng những câu cửa miệng mang trọng lượng ngụ ý sự chú ý, dò hỏi, đồng tình hoặc phản đối từ phía người nghe. Dù bạn có đứng cạnh và tận mắt chứng kiến quá trình tạo ra con bù nhìn đi chăng nữa, bạn cũng khó lòng cưỡng lại được niềm tin rằng nó hoàn toàn thấu hiểu những lời khuyên xảo quyệt mà mụ phù thủy rót vào cái tai giả dối của nó. Nó càng đưa môi rít tẩu hăng hái bao nhiêu, thì dáng dấp con người của nó lại càng được khắc họa rõ nét bấy nhiêu giữa cõi thực tại hữu hình, biểu cảm của nó càng trở nên sắc sảo hơn, cử chỉ và hành động càng sống động hơn, và giọng nói của nó càng phát ra rành mạch, rõ ràng hơn. Y phục của nó, ngạc nhiên thay, cũng lấp lánh rực rỡ hơn bội phần với vẻ hào nhoáng ảo ảnh. Ngay cả chiếc tẩu, nơi ẩn chứa bùa phép của toàn bộ kỳ tích này, cũng chẳng còn trông giống một mẩu gốm đen sì vì khói thuốc nữa, mà đã biến thành một chiếc tẩu bọt biển với nõ tẩu được vẽ tranh tinh xảo cùng chiếc ống ngậm bằng hổ phách.

Tuy nhiên, người ta có thể lo ngại rằng, vì sự sống của ảo ảnh có vẻ gắn liền với làn khói tẩu, nó sẽ chấm dứt đồng thời với khoảnh khắc lá thuốc tàn lụi thành tro. Nhưng mụ phù thủy già đã lường trước được khó khăn ấy.

“Hãy giữ lấy tẩu đi, cục cưng,” mụ bảo, “trong lúc ta nhồi thêm mẻ mới cho ngươi.”

Thật đáng thương khi chứng kiến cảnh quý lịch lãm bắt đầu phai nhạt dần trở lại thành con bù nhìn trong lúc mụ Rigby rũ sạch tro trong tẩu và tiến hành nhồi thuốc mới từ hộp đựng thuốc lá.

“Dickon,” mụ cất cao giọng sắc lẹm thét lên, “lại một hòn than nữa cho chiếc tẩu này!”

Vừa dứt lời thì đốm lửa đỏ rực đã bừng sáng bên trong nõ tẩu; và con bù nhìn, chẳng cần đợi mụ phù thủy ra lệnh, liền đưa ống tẩu lên môi và hít vào vài hơi ngắn giật cục, dẫu vậy chẳng mấy chốc chúng đã trở nên đều đặn và nhịp nhàng.

“Nào, cục cưng của lòng ta,” mụ Rigby phán, “dù chuyện gì xảy ra với ngươi đi nữa, cũng phải bám lấy cái tẩu nhé. Sinh mạng của ngươi nằm ở đó; ít ra thì điều đó ngươi thừa biết, dẫu chẳng biết gì khác trên đời. Hãy giữ chặt lấy tẩu, ta bảo! Hút, phả, nhả khói ra; và nói với thiên hạ, nếu có ai thắc mắc, rằng đó là vì sức khỏe và y bác sĩ dặn ngươi phải làm thế. Và này cưng, khi thấy tẩu sắp cạn, hãy lui vào một góc nào đó rồi (trước tiên tự nhồi đầy khói vào người) cất giọng thé lên thật sắc: ‘Dickon, một tẩu thuốc mới!’, và ‘Dickon, thêm một hòn than cho tẩu của ta!’, rồi tống nó vào cái miệng xinh xắn của ngươi càng nhanh càng tốt. Bằng không, thay vì một vị hào kiệt mặc áo viền vàng, ngươi sẽ chỉ là một đống gậy gộc rách rưới, một cái túi rơm và một quả bí ngô quắt queo! Giờ thì đi đi, kho báu của ta, chúc may mắn theo bước chân ngươi!”

“Đừng sợ, thưa mụ!” bức tượng cất giọng dõng dạc đáp lời, đồng thời phả ra một làn khói đầy dũng khí, “con sẽ phất lên, nếu một con người lương thiện và một quý ông được phép làm thế!”

“Ôi, ngươi làm ta cười đến chết mất thôi!” mụ phù thủy già cười ngặt nghẽo đến mức co giật cả người. “Nói hay lắm. Nếu một con người lương thiện và một quý ông được phép làm thế! Ngươi diễn tròn vai lắm rồi đấy. Cứ đi đi, anh bạn ranh mãnh của ta; ta sẵn sàng cá cược cái đầu của ngươi — một con người có cốt cách và tâm huyết, có trí khôn cùng thứ gọi là trái tim, cùng mọi thứ mà một gã đàn ông nên có — với bất kỳ thứ gì đi bằng hai chân trên đời này. Ta tự thấy mình cao tay hơn ngày hôm qua cũng vì ngươi đấy. Chẳng phải ta đã tạo ra ngươi sao? Và ta thách đố bất kỳ mụ phù thủy nào ở New England làm ra được một đứa thứ hai đấy! Nào; hãy mang theo cây gậy của ta đi!”

Cây gậy, dẫu ban đầu chỉ là một khúc sồi mộc mạc, ngay lập tức biến thành một chiếc gậy ba tong đầu bọc vàng.

“Cái đầu vàng ấy khôn ngoan chẳng kém gì cái đầu của ngươi đâu,” mụ Rigby bảo, “và nó sẽ dẫn đường thẳng đến trước cửa nhà ngài Quan tòa Gookin tôn kính. Đi đi thôi đứa đẹp của ta, cục cưng của ta, bảo bối của ta, kho báu của ta; và nếu có ai hỏi tên ngươi, cứ gọi là Feathertop. Bởi trên mũ ngươi có một chiếc lông chim, và ta đã nhét một nhúm lông chim vào trong cái đầu rỗng của ngươi, còn bộ tóc giả của ngươi cũng theo mốt gọi là Feathertop — vậy tên ngươi hãy cứ là Feathertop!”

Rồi, bước ra khỏi căn nhà tranh, Feathertop hiên ngang sải bước hướng về phía thị trấn. Mụ Rigby đứng ở ngưỡng cửa, vô cùng mãn nguyện khi nhìn thấy những tia nắng rọi lấp lánh trên người hắn, tựa như toàn bộ sự lộng lẫy kia là có thật, và nhìn cách hắn chăm chú say sưa hút tẩu, cách hắn sải bước bảnh bao dẫu đôi chân hơi cứng đờ. Mụ dõi theo hắn cho đến khi khuất dạng, và ném theo một lời chúc phúc của phù thủy dành cho đứa con cưng của mình, trước khi khúc quanh của con đường che khuất bóng hắn khỏi tầm mắt.

Sớm hôm ấy, khi con đường chính của thị trấn lân cận đang nhộn nhịp và náo nhiệt nhất, người ta nhìn thấy trên vỉa hè một vị khách lạ có phong thái vô cùng cao quý. Tư thế cũng như y phục của hắn toát lên một đẳng cấp quyền quý đích thực. Hắn mặc chiếc áo khoác màu mận chín thêu thùa tinh xảo, một chiếc áo lê bằng nhung đắt tiền được trang trí lộng lẫy bằng những họa tiết lá vàng, một chiếc quần dài màu đỏ thắm tuyệt đẹp và đôi bít tất lụa trắng mịn màng bóng bẩy nhất. Đầu hắn đội một bộ tóc giả được chải bột và căn chỉnh khéo léo đến mức nếu đội mũ lên sẽ là một sự phạm thượng; do đó chiếc mũ của hắn (một chiếc mũ viền vàng gắn chiếc lông chim trắng như tuyết) được kẹp dưới nách. Trên ngực áo khoác lấp lánh một ngôi sao. Hắn xoay chiếc gậy đầu vàng với một vẻ hào hoa thanh thoát, nét đặc trưng của những quý ông lịch lãm thời bấy giờ; và để tô điểm hoàn hảo nhất cho diện mạo của mình, cổ tay hắn có những nếp ren mỏng manh như sương khói, đủ để minh chứng cho thấy đôi bàn tay mà chúng che khuất một nửa phải lười biếng và quý tộc đến nhường nào.

Một điểm đáng chú ý trong trang bị của nhân vật rực rỡ này là tay trái hắn cầm một chiếc tẩu kỳ lạ với nõ tẩu được vẽ tranh tinh xảo cùng ống ngậm bằng hổ phách. Hắn đưa tẩu lên môi cứ sau mỗi năm sáu bước chân, hít vào một hơi khói sâu, để rồi sau khi giữ lại trong lồng ngực một khoảnh khắc, làn khói ấy lại uyển chuyển tỏa ra từ miệng và mũi hắn một cách đẹp mắt.

Như có thể đoán trước, cả con đường xôn xao bàn tán để tìm hiểu danh tính của vị khách lạ.

“Chắc chắn hắn là một bậc quý tộc lớn nào đó rồi,” một người dân thị trấn nói. “Anh có thấy ngôi sao trên ngực hắn không?”

“Không; nó sáng chói quá nhìn chẳng rõ,” người khác đáp. “Ừ; hẳn hắn phải là quý tộc như anh nói rồi. Nhưng thử đoán xem, ngài bá tước này đã đi thuyền hay di chuyển bằng phương tiện gì tới đây nhỉ? Cả tháng nay làm gì có con tàu nào từ bên kia đại dương tới; và nếu hắn đi đường bộ từ phương nam lên, thế thì đoàn tùy tùng và xe ngựa của hắn đâu?”

“Hắn chẳng cần xe ngựa nào để tôn vinh địa đẳng cấp của mình đâu,” người thứ ba nhận xét. “Dù có đến với chúng ta trong bộ đồ rách rưới đi nữa, dòng dõi quý tộc vẫn sẽ ánh lên từ một chỗ rách ở khuỷu tay thôi. Tôi chưa từng thấy phong thái nào đường bệ đến thế. Tôi dám cá trong huyết quản hắn mang dòng máu Norman cổ đại đấy.”

“Tôi thì cho rằng hắn là người Hà Lan, hoặc một gã Đức cao cấp nào đó,” một công dân khác lên tiếng. “Đàn ông mấy xứ đó lúc nào chẳng ngậm tẩu trên miệng.”

“Thổ Nhĩ Kỳ cũng thế thôi,” người bạn đồng hành đáp lời. “Nhưng theo ý kiến của tôi, vị khách lạ này được nuôi dưỡng tại triều đình Pháp, và đã học được sự lịch thiệp cùng dáng điệu duyên dáng ở đó, điều mà không ai hiểu rõ bằng giới quý tộc Pháp. Kia kìa, dáng đi ấy kìa! Một kẻ phàm phu tục tử có thể cho là nó cứng nhắc — hắn có thể gọi đó là điệu đi giật cục — nhưng đối với mắt tôi, nó mang một vẻ uy nghi không sao tả xiết, và chắc chắn phải được tôi luyện qua việc quan sát liên tục phong thái của Bệ hạ Louis Đại đế. Thân phận và chức vụ của vị khách lạ này quá rõ ràng rồi. Hắn là một sứ thần Pháp, đến để thương lượng với các nhà cầm quyền của chúng ta về việc nhượng lại Canada.”

“Khả năng cao là người Tây Ban Nha hơn,” người khác phỏng đoán, “thế nên da hắn mới ngả màu vàng; hoặc rất có thể, hắn đến từ La Havana, hay một cảng nào đó ở vùng biển Tây Ban Nha, tới đây để điều tra về nạn cướp biển mà chính quyền chúng ta bị nghi ngờ ngầm dung túng. Mấy kẻ định cư ở Peru và Mexico có làn da vàng khè như vàng chúng đào lên từ các mỏ vậy.”

“Vàng hay không thì mặc kệ,” một phu nhân thốt lên, “hắn là một người đàn ông tuyệt mỹ! — cao ráo làm sao, mảnh khảnh làm sao! Lại có khuôn mặt quý phái đẹp đẽ thế chứ, với chiếc mũi dọc dừa cân đối, và bao nét biểu cảm tinh tế quanh khóe miệng! Và lạy Chúa, ngôi sao của hắn mới sáng làm sao! Nó thực sự phóng ra những ngọn lửa kìa!”

“Đôi mắt của tiểu thư cũng thế thôi,” vị khách lạ cất lời, cúi đầu chào lịch sự kèm theo một cử chỉ vung tẩu điệu nghệ; bởi hắn vừa đi ngang qua đúng lúc ấy. “Danh dự của tôi làm chứng, chúng đã làm tôi lóa cả mắt rồi.”

“Đã bao giờ có một lời khen ngợi độc đáo và tinh tế nhường ấy chưa?” vị phu nhân thì thầm trong sự ngất ngây hạnh phúc.

Giữa bầu không khí ngưỡng mộ chung mà vẻ bề ngoài của vị khách lạ khơi gợi, chỉ có đúng hai giọng điệu phản đối. Một là của một con chó con xấc láo, sau khi ngửi hít gót chân của hình bóng lấp lánh kia liền cúp đuôi chuồn thẳng vào sân sau của chủ nhà, tru lên những tiếng hú ghê rợn. Kẻ phản đối thứ hai là một đứa trẻ con, đang la hét hết cỡ và bập bẹ vài câu vô nghĩa không đầu không cuối về một quả bí ngô.

Trong khi đó, Feathertop vẫn tiếp tục sải bước dọc con đường. Ngoại trừ vài lời khen ngợi dành cho vị phu nhân và đôi khi là một cái gót đầu nhẹ nhàng để đáp lễ những cái cúi chào kính cẩn của đám đông xung quanh, hắn dường như hoàn toàn chìm đắm vào chiếc tẩu. Chẳng cần bằng chứng nào khác để chứng minh địa vị và tầm vóc của hắn ngoài sự bình thản hoàn hảo mà hắn thể hiện, trong khi sự tò mò và thán phục của thị trấn gần như dâng trào thành tiếng reo hò xung quanh. Với một đám đông bám gót phía sau, cuối cùng hắn cũng đến được dinh thự của ngài Quan tòa Gookin tôn kính, bước qua cổng, lên bậc thềm cửa chính và gõ cửa. Trong khoảng thời gian chờ đợi được đáp lời, người ta quan sát thấy vị khách lạ rũ tro tẩu ra.

“Hắn vừa lẩm bẩm cái gì bằng giọng sắc lạnh thế nhỉ?” một kẻ trong đám đông thắc mắc.

“Chịu, tôi nào biết,” bạn hắn đáp. “Nhưng ánh nắng làm mắt tôi lóa cả lên rồi kìa. Sao ngài bá tước bỗng nhiên trông mờ ảo và phai nhạt thế nhỉ? Lạy hồn, tôi bị sao thế này?”

“Điều kỳ lạ là,” kẻ kia nói, “chiếc tẩu mới vừa tắt lửa lúc nãy giờ lại bén lửa đỏ rực, với hòn than đỏ nhất mà tôi từng thấy. Có cái gì đó vô cùng bí ẩn ở vị khách lạ này. Làn khói gì mà kinh thế chứ! Anh bảo hắn mờ ảo và phai nhạt á? Nhìn kìa, khi hắn quay người lại, ngôi sao trên ngực hắn đang bừng sáng rực rỡ đấy thôi.”

“Đúng thế thật,” người đồng hành tiếp lời; “và nó sắp sửa làm lóa mắt tiểu thư Polly Gookin xinh đẹp mà tôi đang thấy thấp thoáng bên cửa sổ lầu trên rồi kìa.”

Cửa vừa mở, Feathertop liền quay lại phía đám đông, cúi gập người trang nghiêm hệt như một bậc quyền quý đang đáp lễ sự kính cẩn của kẻ dưới, rồi biến khuất vào trong nhà. Trải dài trên gương mặt hắn là một nụ cười đầy bí ẩn, nếu không muốn gọi chính xác hơn là một điệu nhếch mép hoặc nhăn nhó; thế nhưng, trong số đám đông nghìn nghịt chiêm ngưỡng hắn, dường như chẳng có lấy một cá nhân nào tinh tế đủ để phát hiện ra bản chất ảo ảnh của vị khách lạ, ngoại trừ một đứa trẻ nhỏ và một con chó con.

Đoạn truyện của chúng ta tới đây có phần đứt quãng, và gác lại phần giải thích sơ bộ giữa Feathertop với người thương gia để đi tìm tiểu thư Polly Gookin xinh đẹp. Nàng là một thiếu nữ có thân hình tròn trịa mềm mại, tóc vàng mắt xanh, với gương mặt trắng trẻo hồng hào trông chẳng có vẻ gì là quá khôn ngoan hay quá ngây ngô. Cô tiểu thư này đã bắt gặp thoáng qua hình bóng vị khách lạ lấp lánh khi đứng ở bậc cửa, và lập tức đội một chiếc mũ ren, đeo chuỗi hạt, khoác chiếc khăn đẹp nhất cùng chiếc váy gấm cứng cáp nhất để chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ. Hối hả chạy từ phòng ngủ ra phòng khách, từ nãy đến giờ nàng cứ đứng ngắm mình trong tấm gương lớn và tập tành những điệu bộ xinh xắn — khi thì mỉm cười, lúc lại giữ vẻ trang nghiêm nghi thức, rồi lại nở một nụ cười dịu dàng hơn lúc trước, đồng thời hôn gió vào tay, hất đầu và uốn éo chiếc quạt; trong khi ở sâu bên trong tấm gương, một cô hầu gái nhỏ vô hình lặp lại mọi cử chỉ và làm tất cả những trò ngớ ngẩn mà Polly làm, nhưng lại chẳng khiến nàng phải lấy làm xấu hổ vì chúng. Tóm lại, việc Polly không thể trở thành một cỗ máy ngụy tạo hoàn hảo chẳng kém gì bản thân vị công tử Feathertop hào hoa chính là do hạn chế về khả năng chứ không phải do thiếu ý chí; và khi nàng đùa giỡn với sự ngây thơ của chính mình như thế, bóng ma của mụ phù thủy hoàn toàn có cơ hội chiếm được trái tim nàng.

Ngay khi Polly nghe thấy tiếng bước chân nặng nề vì bệnh gút của cha mình đang tiến lại gần cửa phòng khách, đi kèm với tiếng lộc cộc cứng nhắc từ đôi giày cao gót của Feathertop, nàng liền ngồi thẳng lưng và ngây thơ cất tiếng ngâm nga một khúc hát.

“Polly! Con gái Polly!” lão thương gia cất tiếng gọi. “Lại đây con.”

Gương mặt của ngài Gookin khi mở cửa trông đầy vẻ hoài nghi và bận tâm.

“Vị quý ông này,” lão tiếp lời, giới thiệu vị khách lạ, “là Nam tước Feathertop — à không, ta xin lỗi, ngài Bá tước Feathertop — người đã mang cho ta một tín vật kỷ niệm từ một người bạn cố tri. Hãy bày tỏ lòng kính trọng với ngài bá tước đi con, và đối xử với ngài ấy xứng đáng với phẩm giá của ngài.”

Sau vài lời giới thiệu ngắn ngủi đó, vị quan tòa đáng kính lập tức lui khỏi phòng. Thế nhưng, ngay trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, giả sử tiểu thư Polly liếc sang nhìn cha mình thay vì dồn toàn tâm toàn ý cho vị khách rực rỡ, nàng có lẽ đã nhận được cảnh báo về một tai họa đang chập chờn kề cận. Ông cụ đang ở trong trạng thái lo lắng, bứt rứt và tái mét. Định bụng nặn ra một nụ cười xã giao, lão lại làm biến dạng gương mặt mình thành một điệu nhăn nhở như bị điện giật, và ngay khi Feathertop quay lưng đi, lão liền đổi sang vẻ mặt cau có, đồng thời giung tay đe dọa và giậm chân bị gút — một hành động bất lịch sự mang theo sự trừng phạt ngay sau đó. Sự thật hình như là lời giới thiệu của mụ Rigby, dù có là gì đi chăng nữa, đã tác động mạnh mẽ đến nỗi sợ hãi của lão thương gia hơn là thiện chí của lão. Hơn nữa, vì là một kẻ có khả năng quan sát nhạy bén đến kỳ lạ, lão đã nhận ra rằng những hình vẽ trên nõ tẩu của Feathertop đang chuyển động. Nhìn kỹ hơn, lão đinh ninh rằng đám hình vẽ đó thực chất là một lũ tiểu quỷ nhỏ xíu, đứa nào đứa nấy mọc sừng mọc đuôi đầy đủ, đang tay trong tay nhảy múa với những điệu bộ vui nhộn mang sắc thái ma quái xung quanh chu vi nõ tẩu. Như để củng cố thêm những hoài nghi của lão, trong lúc ngài Gookin dẫn vị khách đi qua một hành lang tối tăm từ phòng riêng ra phòng khách, ngôi sao trên ngực Feathertop bỗng lóe lên những ngọn lửa thật sự, hắt ánh sáng chập chờn lên bức tường, trần nhà và sàn nhà.

Với những điềm gở hiện diện khắp nơi như thế, chẳng có gì làm lạ khi người thương gia cảm thấy mình đang phó thác cô con gái cho một mối quan hệ đầy rẫy sự mờ ám. Lão nguyền rủa thầm trong cõi lòng cái vẻ hào hoa phô trương của Feathertop, khi vị nhân vật rực rỡ này cúi chào, mỉm cười, đặt tay lên ngực, hít một hơi dài từ chiếc tẩu và làm giàu thêm cho bầu không khí bằng làn khói mang hương thơm của một tiếng thở dài hữu hình. Giá như có thể, lão Gookin khốn khổ đã tống ngay vị khách nguy hiểm này ra đường cái; nhưng bên trong lão bị trói buộc bởi một thứ uy quyền và nỗi kinh hoàng. Vị quý ông lớn tuổi đáng kính này, ta e rằng, vào một thời điểm nào đó trước kia trong đời, đã trót đưa ra lời thề non hẹn biển nào đó với thế lực hắc ám, và có lẽ giờ đây phải chuộc lại nó bằng cách hiến dâng cô con gái rượu.

Tình cờ thay, cánh cửa phòng khách làm một nửa bằng kính, được che khuất bởi một tấm rèm lụa có nếp gấp hơi lệch lạc. Sự tò mò của ngài thương gia về những gì sắp diễn ra giữa tiểu thư Polly và chàng Feathertop hào hoa mạnh mẽ đến mức, sau khi rời khỏi phòng, lão không tài nào kìm chế được việc thò mắt qua khe rèm để ngó nghiêng.

Nhưng chẳng có gì quá kỳ diệu để mà xem; chẳng có gì — ngoại trừ những chi tiết lặt vặt đã được nhắc đến từ trước — để củng cố ý niệm về một mối hiểm họa siêu nhiên đang vây quanh nàng Polly xinh đẹp. Quả thực, vị khách lạ rõ ràng là một kẻ từng trải rành đời, có hệ thống và vô cùng điềm tĩnh, và do đó là tuýp người mà một bậc phụ huynh không nên phó thác một cô thiếu nữ ngây thơ nếu không theo dõi sát sao kết quả. Vị quan tòa đáng kính, người từng tiếp xúc với mọi tầng lớp và phẩm chất của nhân loại, không thể không nhận ra rằng mọi cử động và điệu bộ của vị quý tộc Feathertop đều diễn ra vô cùng đúng chỗ; không còn chút thô kệch hay tự nhiên nào sót lại trong con người hắn; một thứ lễ nghĩa quy củ đã hòa quyện hoàn toàn vào bản chất của hắn và biến hắn thành một tác phẩm nghệ thuật. Có lẽ chính đặc điểm kỳ lạ này đã khoác lên hắn một vẻ ghê rợn và kinh sợ nào đó. Ấy là hiệu ứng của bất kỳ thứ gì hoàn toàn và triệt để mang tính nhân tạo mang hình hài con người, khiến chúng ta có cảm giác kẻ đó không phải là thực thể và chẳng có nổi chút cốt cách để có thể casting một cái bóng xuống sàn nhà. Đối với Feathertop, tất cả những điều đó tạo nên một ấn tượng điên rồ, phóng túng và kỳ quái, hệt như thể sinh mạng và sự tồn tại của hắn đồng điệu với làn khói uốn lượn bay lên từ chiếc tẩu.

Nhưng tiểu thư Polly Gookin xinh đẹp lại chẳng cảm thấy thế. Cặp đôi lúc này đang dạo bước trong phòng: Feathertop với những bước chân điệu nghệ cùng điệu nhăn nhở chẳng kém phần điệu nghệ, còn cô gái với vẻ duyên dáng tự nhiên của một thiếu nữ, chỉ phảng phất chút điệu bộ hơi gượng gạo, không hề làm mất đi vẻ đẹp, như thể nàng học được từ sự ngụy tạo hoàn hảo của người bạn đồng hành. Cuộc trò chuyện kéo dài bao lâu, tiểu thư Polly lại càng mê mẩn bấy lâu, cho đến khi chỉ trong vòng mười lăm phút đầu tiên (như vị quan tòa già đã bấm giờ), nàng rõ ràng đã bắt đầu đem lòng yêu. Và cũng chẳng cần đến bùa phép nào mới khuất phục được nàng nhanh đến thế; trái tim của cô bé tội nghiệp có lẽ vốn dĩ đã vô cùng nồng nhiệt nên tự làm tan chảy bản thân bằng chính hơi ấm được phản chiếu từ cái vỏ bọc rỗng tuếch của một người tình. Chẳng bận tâm Feathertop nói gì, từng lời của hắn đều tìm thấy chiều sâu và sự vang vọng trong tai nàng; chẳng bận tâm hắn làm gì, mọi hành động của hắn đều hiện lên vô cùng hào hùng trong mắt nàng. Và đến lúc này thì ta có thể phỏng đoán trên má Polly đã ửng hồng, khóe miệng vương một nụ cười dịu dàng cùng ánh nhìn long lanh đắm đuối; trong khi ngôi sao vẫn lấp lánh chói chang trên ngực Feathertop, và lũ tiểu quỷ tung tăng nhảy múa cuồng nhiệt hơn bao giờ hết xung quanh chu vi nõ tẩu. Ôi tiểu thư Polly Gookin xinh đẹp, cớ sao những con quỷ lùn này lại mừng vui điên dại đến thế khi trái tim của một thiếu nữ ngốc nghếch sắp sửa trao cho một chiếc bóng! Đó há phải là một tai ương quá đỗi bất thường, hay một chiến tích quá đỗi hiếm hoi hay sao?

Được một lúc, Feathertop dừng chân, vươn người tạo một tư thế oai vệ, như thể muốn kêu gọi vị thiếu nữ hãy chiêm ngưỡng vóc dáng mình và thử kháng cự hắn lần nữa nếu có thể. Ngôi sao, hoa văn thêu thùa và những chiếc khuy áo của hắn bừng sáng rực rỡ đến khó tả ngay khoảnh khắc ấy; những sắc màu rực rỡ trên y phục mang một tầng sâu màu sắc phong phú hơn; toàn thân hắn tỏa ra thứ ánh sáng lấp lánh và bóng bẩy biểu thị ma lực hoàn hảo của cung cách xã giao chuẩn mực. Nàng thiếu nữ ngước mắt lên và thả cho ánh nhìn của mình lưu luyến trên người bạn đồng hành bằng một vẻ thẹn thùng đầy thán phục. Sau đó, như muốn đánh giá xem nhan sắc mộc mạc của chính mình có giá trị ra sao khi đặt cạnh vẻ rực rỡ ấy, nàng liếc sang chiếc gương soi toàn thân đặt ngay phía trước mà họ đang đứng gần đó. Đó là một trong những tấm kính chân thực nhất trên đời và hoàn toàn không biết nịnh hót. Ngay khi những hình ảnh phản chiếu trong gương đập vào mắt Polly, nàng thét lên, lùi phắt lại tránh xa người vị khách lạ, trân trân nhìn hắn trong nỗi hoảng sợ tột độ rồi ngã bất tỉnh xuống sàn nhà. Feathertop cũng nhìn vào gương, và ở đó hắn không nhìn thấy cái bóng lấp lánh hào nhoáng của vỏ bọc bên ngoài, mà là bức tranh về đống chắp vá bẩn thỉu của bản chất thực sự của mình đã bị lột sạch mọi bùa phép.

Cái sinh linh giả tạo khốn khổ! Ta suýt thương hại cho hắn. Hắn vung hai tay lên với một vẻ tuyệt vọng vượt xa mọi biểu hiện trước đó trong việc minh oan cho tuyên bố được tính là con người của mình, bởi có lẽ lần đầu tiên kể từ khi cõi đời phù phiếm và lừa dối của phàm nhân này khởi nguồn, một ảo ảnh đã nhìn thấy và nhận thức trọn vẹn chính bản thân nó.

Mụ Rigby đang ngồi bên lò sưởi nhà bếp trong buổi chiều chạng vạng của ngày đầy biến cố ấy, vừa rũ sạch đống tro tàn của một tẩu thuốc mới thì nghe thấy tiếng bước chân vội vã vang lên dọc con đường. Dẫu vậy, âm thanh ấy không giống tiếng bước chân người cho lắm mà tựa như tiếng lục cục của gậy gộc hoặc tiếng lách cách của những khúc xương khô.

“Hừ!” mụ phù thủy thầm nghĩ, “tiếng bước chân gì thế kia? Tự hỏi bộ xương nào lại vừa trốn khỏi nấm mồ thế không biết?”

Một bóng người lao sầm vào cửa căn nhà tranh. Chính là Feathertop! Chiếc tẩu của hắn vẫn còn bén lửa; ngôi sao vẫn rực sáng trên ngực; những đường thêu vẫn óng ánh trên y phục; và hắn cũng chẳng hề đánh mất, dù chỉ một chút hay theo cách nào có thể đong đếm được, vẻ ngoài gắn kết hắn với cõi nhân gian của chúng ta. Thế nhưng, bằng một cách thức khó tả nào đó (như thường lệ đối với mọi thứ từng lừa dối chúng ta một khi đã bị vạch trần), người ta vẫn cảm nhận được thực tại thảm hại ẩn bên dưới lớp ngụy trang xảo quyệt.

“Có chuyện gì sai sót thế?” mụ phù thủy chất vấn. “Tên đạo đức giả hèn nhát kia đã tống cổ đứa con cưng của ta ra cửa à? Tên khốn! Ta sẽ sai hai mươi con quỷ hành hạ hắn cho đến khi hắn quỳ gối dâng con gái cho ngươi mới thôi!”

“Không, thưa mụ,” Feathertop chán nản đáp; “chẳng phải chuyện đó.”

“Con nhỏ đó dám khinh miệt bảo bối của ta ư?” mụ Rigby hỏi, đôi mắt sắc lạnh bừng lên như hai hòn than ở hỏa ngục. “Ta sẽ làm mặt nó mọc đầy mụn nhọt! Mũi nó sẽ đỏ y như hòn than trong tẩu của ngươi! Răng cửa của nó sẽ rụng sạch! Chỉ một tuần nữa thôi là nó chẳng còn đáng để ngươi thèm muốn nữa!”

“Xin hãy mặc kệ nó đi, thưa mụ,” Feathertop tội nghiệp đáp lời; “cô bé suýt chút nữa đã bị chinh phục; và ngẫm lại, một nụ hôn từ đôi môi ngọt ngào ấy có lẽ đã biến con thành con người trọn vẹn. Nhưng,” hắn nói thêm sau một khoảng lặng ngắn ngủi rồi thốt lên một tiếng hú tự khinh miệt bản thân, “con đã tự nhìn thấy chính mình rồi, thưa mụ! Con đã thấy mình chỉ là một thứ khốn khổ, rách rưới và rỗng tuếch! Con sẽ không tồn tại nữa đâu!”

Giật phăng chiếc tẩu ra khỏi miệng, hắn vung hết sức ném thẳng nó vào lò sưởi, và ngay khoảnh khắc đó gục xuống sàn nhà, trở thành một đống rơm rạ cùng quần áo rách rưới, với vài khúc gậy đâm tua tủa ra từ đống hỗn độn và một quả bí ngô khô quắt nằm ở chính giữa. Các hốc mắt lúc này đã vô hồn; nhưng cái khe được khoét thô sơ vốn vừa nãy là cái miệng dường như vẫn còn co rút thành một nụ cười tuyệt vọng, và ở điểm đó trông vẫn còn chút gì giống con người.

“Đứa trẻ đáng thương!” mụ Rigby thốt lên, liếc nhìn đầy ngậm ngùi về phía những tàn tích của tác phẩm bạc mệnh. “Feathertop bé bỏng, đáng thương của ta! Có hàng vạn kẻ sĩ diện hão và bịp bợm trên thế giới này, được cấu thành từ chính mớ rác rưởi tơi tả, lãng quên và vô tích sự y hệt như nó! Thế nhưng chúng vẫn sống trong tiếng tăm lừng lẫy, và chẳng bao giờ nhận ra bản chất thực sự của mình. Vậy mà cớ sao con rối tội nghiệp của ta lại phải là kẻ duy nhất tự nhận thức về bản thân rồi diệt vong vì điều đó chứ?”

Trong lúc lẩm bẩm những điều ấy, mụ phù thủy đã nhồi đầy một tẩu thuốc mới, ngậm phần cán giữa những ngón tay, phân vân không biết nên nhét nó vào miệng mình hay miệng của Feathertop.

“Feathertop tội nghiệp!” mụ nói tiếp. “Ta hoàn toàn có thể cho nó thêm một cơ hội nữa và tống nó ra đường vào ngày mai. Nhưng thôi; tâm can nó quá mềm mỏng, sự nhạy cảm của nó quá sâu sắc. Nó có vẻ có quá nhiều trái tim để mà chen chúc mưu cầu lợi lộc trong một thế giới trống rỗng và vô cảm nhường này. Thôi được! Thôi được! Rốt cuộc ta vẫn sẽ làm nó thành một con bù nhìn. Đó là một nghề nghiệp trong sáng và hữu ích, và sẽ rất hợp với đứa con cưng của ta; và nếu mỗi người anh em loài người của nó cũng có một cái phù hợp như thế, thì nhân loại sẽ tốt đẹp hơn biết bao; còn về phần tẩu thuốc này, ta cần nó hơn là nó cần.”

Nói đoạn, mụ Rigby ngậm ống tẩu vào môi. “Dickon,” mụ cất cao giọng sắc lẹm thét lên, “thêm một hòn than nữa cho tẩu của ta!”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.