Cuộc đời trong tôi hiện lên như một đoàn diễu hành mừng lễ hay tang lễ. Tất cả chúng ta đều có chỗ đứng của mình, và phải tiến bước dưới sự chỉ huy của Tổng Quan giơ. Khó khăn lớn nhất bắt nguồn từ những nguyên tắc luôn sai lầm mà các phó quan giơ áp dụng để sắp xếp biển người mênh mông này—một đám đông còn đông đúc hơn nhiều so với những đoàn người kéo dài vô tận qua các con phố và xa lộ trong những thời điểm sục sôi chính trị. Kế hoạch của họ vốn đã có từ cổ xưa, vượt xa cả ký ức con người lẫn ghi chép của lịch sử, và cho đến nay vẫn rất ít khi được điều chỉnh bởi trực giác bẩm sinh về sự sai trái cùng nhận thức mơ hồ về những phương pháp tốt hơn—những điều đã làm thổn thức mọi thời đại mà đoàn diễu hành đã đi qua. Các thành viên trong đoàn được phân loại theo những biểu hiện bề ngoài nhất, nhờ đó họ càng dễ bị đặt nhầm chỗ hơn là khi người ta không thử áp dụng bất kỳ nguyên tắc sắp xếp nào. Ở một phần của đoàn diễu hành, chúng ta thấy những người có điền trang hoặc vốn liếng tiền tài đang nghiêm nghị bầu bạn với nhau, vì cái lý do ngớ ngẩn là họ tình cờ có cùng mức đóng thuế ghi trong sổ của quan thuế. Các ngành nghề và giới chuyên môn cũng sánh bước bên nhau mà hầu như chẳng có chút liên kết thực sự nào. Không thể phủ nhận rằng, bằng cách này, người ta đã tách con người ra khỏi đám đông và chia thành các tầng lớp khác nhau dựa trên một số mối quan hệ bề ngoài; tất cả đều đeo một thứ huy hiệu nhân tạo nào đó mà thế giới, và trước hết là chính họ, học cách xem như một đặc điểm đích thực. Khi dồn sự chú ý vào những vẻ bề ngoài giống nhau hay khác biệt ấy, chúng ta lại đánh mất những thực tại mà tự nhiên, vận mệnh, số phận, hay Thượng đế đã dùng để tạo nên sự gắn kết huynh đệ cho mọi con người—thứ mà một trong những nhiệm vụ lớn lao của sự khôn ngoan nhân thế là phải xếp loại họ vào đúng đó.
Một khi tâm trí đã quen với việc sắp xếp đúng đắn cho Đoàn diễu hành của Sự sống, hay một sự phân loại xã hội chân thực, dẫu chỉ mang tính suy đoán, thì từ đó về sau nó sẽ có được một sự thỏa mãn tự thân khá trọn vẹn mà không cần đến bất kỳ cuộc cải tổ thực tế nào trong trật tự hàng ngũ.
Chẳng hạn, khi tự cho mình quyền chỉ huy đoàn diễu hành nói trên, tôi ra lệnh cho một người thổi kèn cất lên một hồi thật lớn đủ để nghe thấu từ đây đến tận Trung Hoa; và một sứ giả với tiếng vang khắp hoàn cầu hãy rao truyền cho một nhóm người phàm nhất định bước vào vị trí của họ. Nguyên tắc liên kết của họ sẽ là gì? Xét cho cùng, đó vẫn chỉ là một liên kết bề ngoài so với nhiều mối liên kết khác có thể tìm thấy, nhưng lại chân thực hơn rất nhiều so với những gì thế giới từng chọn cho một mục đích tương tự. Hãy để tất cả những ai đang oằn mình vì những căn bệnh thể xác giống nhau tự tập hợp thành các hàng ngũ.
Nỗ lực phân loại đầu tiên của chúng ta không mấy thành công. Niềm kiêu hãnh của giới quý tộc có lẽ sẽ cảm thấy thỏa mãn khi ngẫm ra rằng bệnh tật, hơn bất kỳ hoàn cảnh nào khác của đời người, lại rất tuân thủ những ranh giới mà tước vị, sự giàu sang, nỗi cơ hàn và cảnh thấp hèn đã thiết lập giữa loài người. Có những căn bệnh thật giàu sang và quý giá, chỉ có thể có được qua quyền thừa kế hoặc mua bằng vàng. Bệnh gút chính là một loại như thế; nó đóng vai trò như sợi dây huynh chệ gắn kết những quý ông mặt đỏ tía tai, những kẻ tuân theo tiếng gọi của sứ giả và đang lê bước đau đớn từ mọi vùng đất văn minh trên địa cầu để chiếm lấy vị trí của mình trong đoàn diễu hành vĩ đại. Vì lòng thương xót với những ngón chân của họ, chúng ta hãy hy vọng rằng cuộc hành quân sẽ không quá dài. Những người mắc bệnh khó tiêu cũng là những thành phần có vị thế trong xã hội. Vì họ mà con cá hồi đầu tiên được bắt ở những con sông miền đông nước ta, con gà gỗ nhút nhát làm vấy đỏ những chiếc lá khô bằng máu của nó ở những chốn thâm sơn cùng cốc, và con rùa biển được đưa từ các hòn đảo xa xôi ở Thái Bình Dương về để nấu súp. Họ có dư điều kiện để pha trộn mọi món ăn của mình với sự thơi thới lười biếng—mặc cho thiên hạ nghĩ sao đi nữa, đó lại là một thứ nước sốt kích thích vị giác tinh tế hơn cả cảm giác thèm ăn có được nhờ tập luyện. Chứng đột quỵ lại là một căn bệnh đáng kính trọng khác. Chúng ta sẽ xếp chung tất cả những ai có triệu chứng chóng mặt trong não bộ, và hễ cứ có kẻ nào gục ngã dọc đường thì lại thay thế ngay bằng những thành viên mới trong hội đồng thành phố.
Mặt khác, kìa kéo đến từng đoàn người mà đời sống thể chất chỉ là một dạng tồn tại suy đồi, bản thân họ cũng là một nhánh loài người kém cỏi hơn; hơi thở ô uế của các đô thị, nguồn thực phẩm khan hiếm và độc hại, những phương thức lao động hủy hoại sức khỏe, cùng sự thiếu hụt những điểm tựa đạo đức vốn có thể phần nào làm dịu bớt những ảnh hưởng tồi tệ ấy đã tạo nên một hậu quả thật đáng buồn. Hãy nhìn kìa, một hàng thợ sơn nhà, ai nấy đều mắc một chứng đau quặn bụng đặc thù. Kế tiếp đó, chúng ta sẽ sắp xếp những thợ làm dao kéo, những kẻ đã hít phải thứ bụi thép vô hình để rồi rước lấy căn bệnh chết người vào phổi. Thợ may và thợ giày, vốn là những người ngồi làm việc tĩnh tại, chủ yếu sẽ tụ tập vào một phần của đoàn diễu hành và bước đi dưới những lá cờ bệnh tật tương tự; nhưng giữa họ, thỉnh thoảng chúng ta có thể nhận thấy một sinh viên ốm yếu nào đó đã đánh rơi sức khỏe của mình giữa những trang sách kinh điển; cả những nhân viên văn phòng đã bỏ mạng trên những chiếc ghế công sở cao ngất ngưởng; và cả những thiên tài đã viết hết trang này đến trang khác bằng ngòi bút nhúng trong máu trái tim mình. Họ là một đám đông khốn khổ, run rẩy và thở hổn hển. Thế nhưng, đám mây gồm những thiếu nữ gầy gò, má tái đang làm chói tai người nghe bởi những tiếng ho khan ngắn và khô khốc kia là ai? Họ là những nữ thợ may đã miệt mài khâu vá suốt ngày đêm để phục vụ cho những ông chủ tiệm may và những kẻ thầu khoán keo kiệt, cho đến tận lúc này, khi mỗi người hầu như đã có thể tự viền lấy tấm vải liệm cho chính mình. Bệnh lao phổi chỉ định vị trí của họ trong đoàn diễu hành. Hòa lẫn vào hội chị em đáng thương ấy là rất nhiều thiếu nữ trẻ trung từng đổ bệnh trong những dinh thự quý tộc, những người mà khoa học đã mòn mỏi lục tìm trong sách vở để cứu chữa nhưng vô vọng, và được canh chừng bởi tình yêu thương đến nghẹt thở. Trong hàng ngũ của chúng ta, cô tiểu thư giàu có và nữ thợ may nghèo khó có thể sánh vai bước đi. Chúng ta có thể tìm thấy vô số trường hợp khác, nơi mối liên kết của bệnh tật chung—chưa kể đến những trận dịch quét sạch cả quốc gia—đã ôm trùm cả người sang kẻ hèn, biến nhà vua thành huynh đệ của kẻ hề. Dù vậy, không khó để thừa nhận rằng bệnh tật mới chính là nhà quý tộc bẩm sinh. Hãy để hắn giữ lấy vị thế của mình, có những tầng phẩm trật đã được thiết lập sẵn, và khoác lên mình chiếc áo choàng hoàng gia có màu sắc của cơn sốt; hãy để những kẻ quý phái và giàu có khoe khoang những bệnh tật thể xác của chính họ, rồi trưng bày các triệu chứng ấy như những huy hiệu của địa vị cao sang. Suy cho cùng, đây cũng là những đối tượng thích hợp cho sự kiêu hãnh của con người chẳng kém gì bất kỳ mối quan hệ giai cấp nào mà con người có thể bấu víu vào.
Hãy thổi lên lần nữa, hỡi kẻ thổi kèn lồng lộng hơi thở! Và hỡi sứ giả với tiếng vang uy dũng, hãy thét lên một tiếng hiệu triệu khác có thể chạm đến những lâu đài nam tước cổ kính của châu Âu cùng túp lều thô sơ nhất nơi vùng hoang mạc miền tây chúng ta! Lớp người nào sẽ tiếp tục bước vào vị trí trong đoàn diễu hành của đời người? Hãy để đó là những ai được kết nối bởi những ân huệ trí tuệ trong một tình huynh đệ cao quý.
Phải, đây là một thực tại, trước nó, những ranh giới quy ước của xã hội tan chảy như làn sương mù khi ta cố vươn tay tóm lấy. Nếu Byron và Burns còn sống, người trước sẽ rời tu viện tổ tiên của mình, dẫu chẳng đành lòng, vẫn vứt bỏ những vinh quang thừa kế từ ngả nghiêng ngàn năm để nắm tay người lực điền vĩ đại từng trở thành bất tử trong lúc cúi mình sau luống cày. Họ đã qua đời; nhưng dinh thự, lò sưởi nhà nông, túp lều, có lẽ cả cung điện, phòng kế toán, xưởng thợ, ngôi làng, thành phố, những chốn cao sang lẫn thấp hèn của cuộc đời, nơi nào cũng có thể sinh ra những nhà thơ, những người mang trong mình một khí chất chung thấm đượm như sự đồng điệu của dòng điện. Dù là quý tộc hay kẻ cày đường, chúng ta sẽ tập hợp họ lại thành từng đôi một, vai kề vai. Ngay cả xã hội, trong trạng thái nhân tạo nhất của nó, cũng đồng thuận với sự sắp xếp này. Những nữ công nhân nhà máy từ Lowell này sẽ kết đôi với niềm tự hào của các phòng khách và giới văn uy, những đóa hoa chuông trong bó hoa thời trang, những nàng Sappho, Montague và Norton của thời đại. Những hình thái trí tuệ khác lại quy tụ những thành phần xa lạ không kém. Này vị giáo sư ngôn ngữ mặc áo lụa, hãy cho anh thợ rèn lực lưỡng này bám tay anh và coi đó là vinh dự khi được sánh đôi, dẫu anh thấy người hắn đầy nhọ than từ đe búa. Mọi biến thể của ngôn ngữ loài người đều tự nhiên như tiếng mẹ đẻ đối với con người hiếm hoi này. Không phân biệt sang hèn, hãy để những ai sở hữu món quà vương giả để lãnh đạo quân đội hay thống trị một dân tộc bước vào vị trí của họ—những vị tướng của Tự nhiên, những nhà lập pháp, những vị vua của ngài, và cùng với họ là cả những triết gia uyên bác, những kẻ ấp ủ trong thế hệ này một tư tưởng sẽ làm cách mạng hóa xã hội ở thế hệ tiếp theo. Sánh đôi với nhà lập pháp thế tập—người coi tài hùng biện là một thành tựu truyền đời, một tiếng vang phong phú được lặp lại bởi những giọng nói quyền uy từ thời Cicero trở xuống—chúng ta sẽ ghép vào đó một kẻ bạt sơn phi phàm nào đó, kẻ đã nắm bắt được sức mạnh hoang dã của ngôn ngữ từ làn gió lướt qua những cành cây trong khu rừng nguyên sinh quê hương mình. Nhưng chúng ta hoàn toàn có thể để mặc những người anh chị em ấy tự tìm ra tiếng nói tương đồng. Những ranh giới thông thường của chúng ta trở nên nhỏ bé đến mức tầm thường, vô hình, lố bịch và ảo tưởng biết bao khi đặt lên bàn cân so sánh với một sự phân loại được xây dựng trên nền tảng chân lý, khiến mọi lời bàn tán về vấn đề này lập tức trở thành một thứ sáo rỗng thông thường.
Thế nhưng, càng ngẫm nghĩ lâu, tôi lại càng cảm thấy ít hài lòng hơn với ý tưởng thành lập một tầng lớp loài người riêng biệt dựa trên nền tảng năng lực trí tuệ cao siêu. Suy cho cùng, đó cũng chỉ là một sự phát triển bậc cao hơn của những năng lực bẩm sinh vốn có ở tất cả mọi người. Hơn nữa, có lẽ kẻ nào có thiên tài thấu đáo và chân thực nhất thì cũng chẳng vượt trội hơn đồng loại ở điểm gì ngoài cái thủ pháp diễn đạt; thỉnh thoảng hắn vứt ra một gợi ý may mắn về những chân lý mà mọi tâm hồn con người đều nhận thức sâu sắc, dẫu không thể thốt thành lời. Do đó, dẫu chúng ta cho phép tình huynh đệ trí tuệ cùng tiến bước, người ta vẫn có thể hoài nghi liệu mối quan hệ đặc biệt của họ có bắt đầu phai nhạt ngay khi đoàn diễu hành vượt qua vòng tròn của thế giới hiện tại này hay không. Nhưng chúng ta đâu phân loại vì sự vĩnh hằng.
Và tiếp theo, hãy để tiếng kèn tuôn trào một khúc ai điệu, và tiếng của sứ giả cất lên thành một tiếng kêu lớn bao trùm mọi tiếng rên siết và than van có thể nghe thấy trên khắp mặt đất. Giờ đây, chúng ta kêu gọi đến mối liên kết thiêng liêng của nỗi buồn, và triệu tập đông đảo những con người đang oằn mình dưới những nỗi thống khổ tương tự để họ bước vào vị trí trong cuộc hành quân.
Biết bao trái tim vốn dĩ dửng dưng với bất kỳ tiếng gọi nào khác đã phải rung động trước âm điệu sầu thảm của tiếng kèn ấy! Nó đã vang đi khắp chốn, từ xa đến gần, từ cao xuống thấp, và hầu như không bỏ sót một mái nhà trần thế nào. Quả thực, nguyên lý này quá phổ quát đối với mục đích của chúng ta, và nếu không giới hạn nó lại, nó sẽ làm tan rã hoàn toàn việc phân loại nhân loại của chúng ta, biến toàn bộ đoàn diễu hành thành một đám tang. Do đó, chúng ta sẽ phải nhọc công chắt lọc đôi chút. Kìa một người giàu có cô độc bước đến: hắn đã dựng lên một công trình nguy nga làm dinh thự cho mình, với mặt tiền kiến trúc uy nghi, sàn lát cẩm thạch và những cánh cửa bằng gỗ quý; toàn bộ cấu trúc đẹp đẽ như một giấc mơ và vững chãi như đá nguyên khối. Thế nhưng, bóng dáng ảo ảnh của một dòng dõi hậu duệ dài lâu—những kẻ mà dinh thự này được dựng lên làm tổ ấm—đã phai mờ vào hư vô kể từ sau cái chết của người con trai duy nhất của vị sáng lập. Người giàu có liếc nhìn bộ y phục tang tóc của mình trong một tấm gương lộng lẫy nơi phòng khách, rồi bước xuống một dải bậc thềm cao ngất, bản năng thúc đẩy hắn đưa tay ra đỡ lấy người đàn bà góa bụa nghèo khổ đang đội chiếc mũ đen phai màu và mặc chiếc tạp dề sọc trên bộ váy đã vá chằng vá đụp đằng kia. Cậu con trai thủy thủ, chỗ dựa duy nhất ở cõi trần của bà, đã bị sóng cuốn khỏi boong tàu trong trận bão vừa qua. Cặp đôi đến từ cung điện và nhà tế thế này chỉ là hiện thân cho hàng ngàn người khác, những kẻ đang đại diện cho bi kịch đen tối của cuộc đời và hiếm khi tranh giành những vị trí cao sang. Nỗi buồn là một kẻ san bằng vĩ đại đến mức mang theo phẩm giá và sự khiêm nhường của riêng nó, khiến bậc vương giả và kẻ bần nông, gã hành khất và vị quốc vương phải từ bỏ những đòi hỏi về địa vị bề ngoài mà chẳng cần đến sự can thiệp tọc mạch nào từ phía chúng ta. Nếu sự kiêu mệnh—sức ảnh hưởng từ những ranh giới sai lầm của thế giới—vẫn ngự trị trong tim, thì nỗi buồn sẽ đánh mất sự chân thành vốn mang lại cho nó vẻ thiêng liêng và đáng kính. Nó đánh mất đi tính thực tại và biến thành một cái bóng thảm hại. Dựa trên nền tảng này, chúng ta có cơ hội giao phó vô số kẻ vốn sẵn sàng nhận chỗ ở đây sang các phần khác của đoàn diễu hành. Nếu người đau khổ còn vương vấn thứ gì đó quý giá hơn nỗi buồn của mình, hắn phải tìm kiếm vị trí thực sự ở nơi khác. Có rất nhiều nỗi buồn viển vông do hoàn cảnh trần thế sinh ra từ sự nhàn rỗi, khiến một nhà quan sát, khi gạt bỏ tình cảm sang một bên, đôi khi phải tự hỏi liệu có nỗi đau thực sự nào ngoài sự thống khổ thể xác tuyệt đối và sự mất mát những người thân yêu nhất hay không. Một đám đông đang trưng ra cái gọi là trái tim tan vỡ của họ—và trong số đó có rất nhiều thiếu nữ cô đơn vì tình, những chàng trai lỡ vận, những kẻ ôm mộng chính trị hay nghệ thuật dang dở, cùng những người nghèo từng giàu có hoặc từng mưu cầu giàu sang trong vô vọng—đại đa số những kẻ này có thể xin gia nhập một hội đoàn nào đó khác. Ở đây không có chỗ. Có lẽ chúng ta có thể thiết lập một tầng lớp riêng biệt, nơi những kẻ bất hạnh ấy sẽ tự nhiên rơi vào đoàn diễu hành. Trong lúc này, hãy để họ đứng sang một bên và kiên nhẫn chờ đợi thời của mình.
Nếu người thổi kèn của chúng ta có thể mượn một nốt từ tiếng kèn phán quyết ngày tận thế, hãy thổi nó lên ngay bây giờ. Tám âm kinh hoàng ấy phải làm rung chuyển trái đất đến tận tâm can, bởi vì sứ giả sắp sửa ngỏ lời với nhân loại bằng một tiếng triệu tập mà ngay cả kẻ phàm trần trong sạch nhất cũng có thể cảm nhận được một tiếng vang mờ nhạt đáp lại trong lồng ngực. Ở rất nhiều tâm hồn, nó sẽ đánh thức một tiếng nói thầm lặng còn khủng khiếp hơn cả âm thanh vang dội của chính nó.
Lời kêu gọi gớm ghiếc ấy đã quét qua khắp hoàn cầu. Hãy đến đây, hỡi tất cả những kẻ tội lỗi, và tự xếp hàng theo tình huynh đệ của tội ác. Quả thực, đây là một tiếng gọi kinh hoàng. Tôi gần như run rẩy khi ngắm nhìn những mối hợp tác kỳ lạ bắt đầu hình thành—dù miễn cưỡng, nhưng lại bị ràng buộc bởi sức mạnh tất yếu không thể chối cãi của thói nào cưu mang thói nấy trong phần này của đoàn diễu hành. Một kẻ làm giả giấy tờ từ nhà tù bang chộp lấy cánh tay của một nhà tài phiệt lừng lẫy. Người sau đây lại phẫn nộ làm sao khi biện hộ cho danh tiếng trong sạch của mình trên sàn giao dịch chứng khoán, và khăng khăng rằng các hoạt động của hắn, với quy mô tráng lệ, vốn thuộc về một phạm vi đạo đức hoàn toàn khác hẳn so với kẻ đồng hành thảm hại kia! Nhưng hắn cứ việc cắt đứt mối liên lạc ấy đi nếu làm được. Kìa một kẻ sát nhân với những xiềng xích leng keng đang bước đến, và ghép đôi hắn—thật kinh hoàng khi phải nói ra—với một con người trong sạch và chính trực chưa từng thấy trong mọi khía cạnh có thể quan sát được, một kẻ từng dự phần vào chén rượu và tấm bánh thánh. Hắn là một trong số những kẻ ấy, có lẽ là những tội nhân tuyệt vọng nhất, những kẻ thực hành một hệ thống bổn phận bề ngoài gương mẫu đến mức ngay cả một tội ác tày trời cũng có thể bị che giấu khỏi tầm mắt và ký ức của chính họ dưới lớp sương giá ảo tưởng này. Thế nhưng giờ đây hắn cũng tìm thấy vị trí của mình. Tại sao cặp đôi cô gái phô trương kia, với nụ cười xấc láo, điệu đà cùng ánh mắt liếc xéo kín đáo nhìn những kẻ đứng xem, lại xớ rớ chen chân vào cùng hàng ngũ với người phụ nữ đoan trang đằng kia và cô thiếu nữ có vẻ ra điều đạo mức ấy? Chắc chắn những sinh vật tội nghiệp này, sinh ra đã mang nọc độc của sự đồi bại như một di sản duy nhất và tự nhiên, không thể là bạn đồng hành thích hợp cho những người phụ nữ từng được che chở xung quanh bởi mọi chuẩn mực của đời sống gia đình, và những người chỉ có thể sa ngã nếu chính họ tạo ra cơ hội trước. Ồ không; đó chắc hẳn chỉ là sự trơ trẽn của những ả đàn bà mặt dày không biết xấu hổ ấy; và chúng ta chỉ có thể tự hỏi làm sao những quý cô đáng kính như vậy lại có thể hưởng ứng một tiếng gọi vốn không dành cho họ.
Chúng ta sẽ giải quyết nhanh gọn cái tầng lớp thảm hại này, nơi mỗi thành viên đều có quyền nắm lấy bàn tay của bất kỳ thành viên nào khác, bởi chính cái sự suy đồi đê hèn mà lỗi lầm tội lỗi đã chôn vùi tất cả bọn họ như nhau. Con quỷ dữ dằn nắm quyền kiểm soát nơi đây phải gánh vác giúp chúng ta nhiệm vụ ghê tởm này. Hãy để những kẻ tôi tớ của tội lỗi bước đi. Nhưng sẽ chẳng có người đàn ông hay người phụ nữ nào mà lòng tốt chiếm ưu thế lại mỉm cười, mỉa mai, hay ra lệnh tấu khúc Hành khúc của Kẻ gian để chế giễu đoàn người của họ. Cảm nhận sâu thẳm trong lồng ngực một sự đồng cảm run rẩy—ít nhất cũng là dấu hiệu của tội lỗi mà lẽ ra họ đã có thể vướng phải—họ sẽ tạ ơn Chúa vì bất kỳ vị trí nào trong đoàn diễu hành vĩ đại của sự tồn tại con người, miễn là không nằm giữa những kẻ khốn nạn nhất ấy. Tuy nhiên, rất nhiều người sẽ phải kinh ngạc trước xung lực tử thần lôi kéo họ về phía đó. Không có gì đáng chú ý hơn những sự đánh lừa muôn hình vạn trạng mà qua đó tội lỗi che giấu bản thân khỏi lương tâm của kẻ gây ra nó, và có lẽ thường xuyên nhất chính là nhờ vẻ lộng lẫy của những tấm áo khoác ngoài. Các chính khách, nhà cai trị, tướng lĩnh, và tất cả những ai hành động trên một phạm vi rộng lớn là những đối tượng dễ bị đánh lừa nhất theo cách này; họ phạm phải tội ác, sự tàn phá và giết chóc với một quy mô hoành tráng đến mức nó tạo cho họ ấn tượng rằng đó chỉ là mang tính suy đoán chứ không phải thực tế; thế nhưng trong đoàn diễu hành của chúng ta, ta lại thấy họ bị trói buộc trong một mối liên kết đáng ghớm ghiếc với những tên tội phạm thấp kém nhất mà hành vi mang sự tầm thường của những chi tiếtn nhỏ nhặt. Tại đây, tác động của hoàn cảnh và ngẫu nhiên bị gạt bỏ, và một con người tìm thấy thứ hạng của mình theo đúng bản chất tội ác của hắn, bất kể nó đã phát triển dưới hình hài nào.
Chúng ta đã gọi Điều ác; giờ hãy gọi Điều thiện. Cổ họng bằng đồng của tiếng kèn nên tuôn trào thứ âm nhạc thiên đường xuống mặt đất, và tiếng của sứ giả hãy cất lên với sự dịu ngọt trong giọng điệu của một thiên thần, như thể để triệu tập từng con người chính trực đến phần thưởng của họ. Nhưng thế này là sao? Không ai đáp lại tiếng gọi ư? Không một ai: bởi vì những kẻ công chính, trong sạch, chân thật, và tất cả những ai xứng đáng nhất để tuân theo nó lại lùi bước đầy buồn bã, vì họ là những kẻ nhận thức rõ nhất về lỗi lầm và sự bất toàn. Vậy thì hãy để tiếng triệu tập hướng về những ai có nguyên lý chi phối là Tình yêu. Sự phân loại này sẽ bao trùm tất cả những người thực sự lương thiện, và không bỏ sót một ai mà trong tâm hồn không tồn tại thứ gì đó có thể mở rộng thành một thiên đường, của cả việc thiện lẫn niềm hạnh phúc.
Người đầu tiên xuất hiện là một nhà phú hộ đã để lại phần lớn tài sản của mình cho một bệnh viện; tôi nghĩ linh hồn của ông ta có lẽ sẽ có quyền ở đây hơn là thể xác sống của ông ta. Nhưng kìa họ đang đến, những ân nhân đích thực của nhân loại. Một số người đã bôn ba khắp thế gian với những bức tranh về hạnh phúc trong trí tưởng tượng, và với những trái tim nhạy cảm co rúm lại trước ý niệm về nỗi đau và khốn khổ, thế nhưng họ đã nghiên cứu mọi biến thể của sự khốn cùng mà bản chất con người có thể gánh chịu. Nhà tù, trại tâm thần, căn phòng tồi tàn của nhà tế thế, nhà máy nơi con quỷ máy móc tiêu diệt tâm hồn con người, và cánh đồng bông nơi hình ảnh của Chúa trở thành một con thú mang vác nặng nhọc; đến những nơi này và mọi khung cảnh khác nơi con người ngược đãi hoặc bỏ mặc người anh em của mình, các tông đồ của nhân loại đã đặt chân tới. Vị nhà truyền giáo này, cháy xém dưới ánh nắng như thiêu đốt của Ấn Độ, sẽ trao cánh tay mình cho một người anh em mặt tái nhợt từng quen thuộc với những con hẻm nhiễm bệnh và những sào huyệt gớm ghiếc của tội lỗi tại một trong những thành phố của chúng ta. Vị sáng lập hào phóng của một trường đại học sẽ là bạn đồng hành của một nữ tu độc thân nghèo khó, người mà một trong những việc thiện của bà là gộp lại một lớp học nhỏ cho trẻ em mồ côi. Nếu thương gia quyền lực nào có những khoản thiện nguyện được tính bằng hàng ngàn đô la tự cho mình là xứng đáng, hãy để ông tham gia đoàn diễu hành cùng người phụ nữ từng chứng minh tình yêu của mình qua những đêm thức canh bên giường bệnh và tất cả những công việc thấp hèn đưa bà đến tiếp xúc thực tế với bệnh tật và sự khốn khổ. Và cùng với những ai có thúc đẩy hướng họ đến những hành động nhân ái, chúng ta sẽ xếp hạng những người khác mà Thượng đế đã ban cho một khuynh hướng khác và những năng lực khác. Những con người đã dành cả đời mình cho sự chiêm nghiệm cao cả và thánh thiện vì nhân loại; những ai, bằng một sự thanh tao nào đó của tâm linh, đã thanh lọc bầu không khí xung quanh họ, và nhờ đó cung cấp một môi trường trong lành để những điều tốt đẹp và cao cả có thể được nảy nở và thực hiện—hãy dành cho họ một vị trí cao cả giữa những ân nhân của nhân loại, dẫu rằng không có hành động nào, theo cách thế giới gọi là hành động, được ghi chép lại về họ. Có một số cá nhân mà chúng ta không thể tưởng tượng nổi việc họ sẽ nhúng tay vào bất kỳ công cụ trần thế nào hay tạo ra bất kỳ hành động cụ thể nào; và những người khác, có lẽ cũng chẳng kém phần cao cả, đối với họ, việc lao động bằng cả thể xác lẫn tinh thần vì phúc lợi của những người anh em là một thuộc tính thiết yếu. Do đó, nếu chúng ta tìm thấy một bậc hiền triết tâm linh có sức ảnh hưởng vô hình, vô giá đã nâng cao chuẩn mực đạo đức của nhân loại, chúng ta sẽ chọn làm bạn đồng hành cho ông ta một người lao động nghèo khó từng làm việc vì tình yêu trên thửa ruộng trồng khoai tây của một người hàng xóm còn nghèo hơn cả mình.
Chúng ta đã triệu tập đám đông đa dạng này—và vì danh dự của bản chất chúng ta, đó là một đám đông rất lớn—trên nguyên lý Tình yêu. Tuy nhiên, thật kỳ lạ khi nhận thấy sự e dè tồn tại giữa rất nhiều thành viên thuộc tầng lớp hiện tại này, tất cả những người mà chúng ta có thể hy vọng sẽ nhận ra nhau bằng thứ mật mã hội tam hứa của sự tốt đẹp tương hỗ, và ôm chầm lấy nhau như anh em, tạ ơn Chúa vì những mẫu mực phong phú và đa dạng như vậy về sự xuất chúng của con người. Nhưng thực tế lại hoàn toàn khác. Mỗi giáo đều vây quanh sự công chính của thật mình bằng một hàng rào gai góc. Thật khó để một Kitô hữu lương thiện thừa nhận một kẻ ngoại đạo lương thiện; gần như là bất khả thi đối với một tín đồ Chính thống giáo lương thiện để nắm lấy bàn tay của một tín đồ Nhất vị luận lương thiện, buông bỏ việc bắt Đấng Sáng Tạo của họ phải giải quyết những vấn đề còn tranh chấp, và dốc toàn lực cùng sự tin tưởng vào bất kỳ điều đúng đắn nào quá hiển nhiên để không thể nhầm lẫn. Hơn thế nữa, dẫu trái tim có bao dung đi chăng nữa, thì tâm trí đôi khi lại có kích thước khiêm tốn đến mức bị chiếm chỗ hoàn toàn bởi chỉ một ý tưởng duy nhất. Khi một người tốt đã cống hiến lâu dài cho một loại hình từ thiện đặc biệt nào đó—cho một dạng thức cải cách nào đó—anh ta rất dễ bị thu hẹp lại trong giới hạn con đường mình đang đi, và ảo tưởng rằng không còn việc thiện nào khác phải làm trên trái đất này ngoài chính cái việc thiện đó mà anh ta đã nhúng tay vào, và theo đúng cái phương thức phù hợp nhất với quan niệm của riêng anh ta. Mọi thứ khác đều vô giá trị. Kế hoạch của anh ta phải được thực hiện bằng sức mạnh đoàn kết của toàn bộ kho tàng tình yêu trên thế giới, nếu không thì thế giới chẳng còn xứng đáng có một vị trí trong vũ trụ nữa. Hơn nữa, Chân lý hùng mạnh, vốn là dòng nước nho ngọt ngào được chắt ép từ vườn nho của thời đại, lại có một phẩm chất say sưa khi được hấp thụ bởi bất kỳ ai ngoài một trí tuệ mạnh mẽ, và thường thì, như thế đấy, nó thúc đẩy kẻ uống phải gây sự trong cơn say chén chú chén anh. Vì những lý do như vậy, thật kỳ lạ làm sao, việc trù tính một sự sắp xếp thân thiện cho những người anh em của tình yêu và sự công chính này trong đoàn diễu hành của sự sống lại khó khăn hơn cả việc hợp nhất ngay cả những kẻ ác—những kẻ thực ra lại bị xiềng xích lại với nhau chính bởi những tội ác của chúng. Sự thật ấy ngớ ngẩn đến mức không thể khóc nổi, và lố bịch đến mức chẳng thể cười nổi.
Nhưng, dẫu những người tốt có chen chúc và huých vai nhau thế nào đi nữa trong cuộc hành quân trên trần thế của họ, tất cả sẽ trở nên bình yên giữa họ khi hàng ngũ vinh quang của đoàn diễu hành đặt chân lên mảnh đất thiên đàng. Ở đó, chắc chắn họ sẽ nhận ra rằng họ đã cùng nhau lao động vì chính lý do của người kia, và rằng mọi cú đánh được tung ra đúng lúc, với một mục đích trung thực mà bất kỳ người phàm nào đã đánh xuống, ngay cả vì một mục đích hạn hẹp, thực ra đều được đánh vì nghĩa cử chung của sự thiện. Góc nhìn của họ có thể bị giới hạn bởi quốc gia, tín điều, nghề nghiệp, hay những sự khác biệt về tính cách cá nhân—nhưng bao trùm lên tất cả bọn họ là sự bao la của Sự quan phòng. Biết bao kẻ từng tự coi mình là đối thủ sẽ phải mỉm cười về sau, khi họ nhìn lại cánh đồng lúa rộng lớn của thế giới và nhận ra rằng, trong tình huynh đệ vô thức, họ đã cùng nhau bó lại chính một thứ bông lúa ấy!
Nhưng, mau lên! Mặt trời đang vội vã ngả về tây, trong khi cuộc hành quân của đời người—vốn chưa từng dừng lại trước đó—lại đang bị trì hoãn bởi nỗ lực sắp xếp lại trật tự của chúng ta. Thật đáng khao khát biết bao nếu tìm ra được một nguyên lý toàn diện, có thể giúp nhiệm vụ của chúng ta trở nên dễ dàng hơn bằng cách đưa hàng ngàn người vào các hàng ngũ mà trước đây chúng ta chỉ đưa được có một. Do đó, hãy để tiếng kèn, nếu có thể, xé toạc cổ họng bằng đồng của mình với một nốt cao hơn bao giờ hết, và sứ giả hãy triệu tập tất cả những người phàm, vì bất kỳ nguyên nhân gì, đã đánh mất hoặc chưa từng tìm thấy vị trí đích thực của mình trên cõi đời.
Vâng lệnh tiếng gọi này, một đám đông lớn tụ tập lại, phần lớn với dáng đi dật dờ, phô bày sự mệt mỏi của tâm hồn, thế nhưng trên khuôn mặt họ lại ánh lên một tia thỏa mãn trước viễn cảnh cuối cùng cũng đạt được những vị trí mà bấy lâu nay họ tìm kiếm trong vô vọng. Nhưng ở đây sẽ lại là một sự thất vọng khác; bởi vì chúng ta không thể làm gì hơn ngoài việc gom chung vào một hội đoàn tất cả những ai đang oằn mình vì cùng một nỗi phiền muộn mơ hồ. Một sai lầm lớn trong đời chính là điều kiện tiên quyết để được gia nhập tầng lớp này. Ở đây có những thành viên thuộc các ngành nghề học thức, những người mà Sự quan phòng đã ban cho những năng lực đặc biệt để cầm cày, gõ búa bên lò rèn, đẩy xe cút kít, hay làm công việc rập khuôn vô tri tuệ. Chúng ta sẽ giao phó cho họ, với tư cách là bạn đồng hành trong cuộc hành quân, những người lao động thấp hèn và thợ thủ công từng khao khát, như thể đang chịu cơn khát đến chết, những nguồn tri thức không thể với tới. Những người sau có phần mất mát ít hơn so với các bạn đồng hành của họ; thế nhưng lại nhiều hơn, bởi vì họ coi nó là vô tận. Biết đâu hai loại người bất hạnh ấy có thể an ủi lẫn nhau. Ở đây có những tín đồ Quaker mang trong mình bản năng chiến đấu; và những kẻ chiến binh lẽ ra phải đội chiếc mũ vành rộng. Các tác giả sẽ được xếp vào đây—những người bị một trò đùa quái đản của Tự nhiên, khi giễu cợt những đứa con tội nghiệp của mình, tiêm nhiễm vào họ sự tự tin của thiên tài và khao khag tột bậc về danh vọng, nhưng lại không ban cho một năng lực tương ứng nào; và những người khác, những người có năng lực cao cả nhưng lại đi kèm với sự thiếu hụt về khả năng diễn đạt, hay bất kỳ thứ máy móc trần thế nào qua đó những thiên bẩm ethereal phải được biểu lộ ra cho nhân loại thấy. Do đó, tất cả những kẻ này đều là những trò hề đáng thương hại. Kế tiếp, ở đây có những con người chân thành và thiện chí, những người vì thiếu tinh tế—vì nhận thức thiếu chính xác—vì một trí tưởng tượng bóp méo—đã liên tục bị đẩy vào thế đối đầu ngược ngạo với thế giới và lạc lối trên con đường đời. Hãy xem liệu họ có thể khép mình vào trong ranh giới đoàn diễu hành của chúng ta hay không. Trong tầng lớp này, chúng ta cũng phải phân định vị trí cho những ai từng vấp phải thất bại tồi tệ nhất trong số các loại thất bại, đó là một vận may lớn hơn những gì năng lực của họ có thể gánh vác; những nhà văn, diễn viên, họa sĩ từng là cưng chiều của một thời, nhưng những vòng nguyệt quế của họ lại héo úa không được làm mới giữa mái tóc điểm bạc; những chính trị gia, bị một sự tình cờ ác ý của thời cuộc đẩy vào vị trí nổi bật, nơi mà trong lúc thế giới đứng ngắm nhìn họ, ý thức buồn tẻ về sự bất tài khiến họ nguyền rủa ngày mình chào đời. Đối với những con người như vậy, chúng ta ban cho một người bạn đồng hành là kẻ sở hữu những tài năng hiếm có—những thứ có lẽ đòi hỏi một cuộc Cách mạng mới có đất dụng võ—nhưng lại bị chôn vùi trong ngôi mộ của những hoàn cảnh trì trệ.
Không xa những người này, chúng ta phải tìm chỗ cho một kẻ có sự thành công đi sai hướng; người đàn ông lẽ ra nên nán lại trong những tu viện đại học, đào bới những kho báu mới từ đống tro tàn Herculaneum của kiến thức cổ đại, truyền bá chiều sâu và sự chính xác của văn học khắp đất nước mình, và nhờ đó tạo cho mình một danh tiếng vĩ đại nhưng tĩnh lặng. Thế nhưng những xu hướng bên ngoài xung quanh ông ta đã tỏ ra quá mạnh mẽ so với bản chất bên trong, kéo ông ta vào đấu trường hỗn loạn chính trị, để rồi ở đó phải tranh đấu trong thế bất lợi, dù là giáp mặt hay sánh vai, cùng những gã khổng lồ cơ bắp của đời sống thực tại. Ông ta có thể trở thành một cái tên để các đảng phái đấu đá tung hứng qua lại, một nhà lập pháp của Liên bang; một thống đốc bang nhà; một đại sứ tại các triều đình vua chúa; và thế giới có thể coi ông là một con người may mắn. Nhưng những bậc hiền triết thì không; và chính bản thân ông ta cũng vậy, khi nhìn xuyên qua những trải nghiệm của mình, và thở dài tiếc nuối vì bỏ lỡ sự phù hợp đó—cú chạm vô giá duy nhất làm cho mọi thứ trở nên chân thực và đích thực. Đã đạt được biết bao nhiêu, thế nhưng cuộc đời ông ta lại trở nên vô nghĩa làm sao! Chúng ta sẽ chọn ai làm bạn đồng hành cho ông ta? Có lẽ là một anh thợ rèn gầy gò nào đó, kẻ có cơ bắp mỏng manh thích hợp với cái bàn thợ may hơn là cái đe sắt.
Chúng ta có nên ra lệnh cho tiếng kèn cất lên lần nữa không? Hầu như chẳng đáng bận tâm. Vẫn còn lại một vài kẻ giàu có rảnh rỗi, những kẻ la cà hàng quán rượu chè, đám lười biếng lazzaroni, những gã trai ế vợ, những cô nàng lỡ thì, và những người có trí tuệ hoặc tính cách lệch lạc—tất cả bọn họ đều có thể tìm thấy những kẻ giống mình, hoặc một sự tương đương tạm chấp nhận được trong sự đa dạng phong phú của tầng lớp cuối cùng này. Ở đó cũng vậy, như một định mệnh cuối cùng, chúng ta phải xếp loại gã mộng mơ—kẻ suốt cả cuộc đời vẫn ấp ủ ý niệm rằng hắn vô cùng thích hợp cho một việc gì đó, nhưng chưa bao giờ có thể xác định đó là việc gì; và ở đó là kẻ bất hạnh nhất trong số những con người, kẻ có mục đích là tận hưởng những niềm vui của cuộc sống nhưng lại trốn tránh cuộc chiến đấu nam nhi với lao nhọc và đau khổ của nó. Phần còn lại, nếu có bất kỳ ai, có thể tự gắn kết mình với bất kỳ hàng ngũ nào trong đoàn diễu hành mà họ cảm thấy phù hợp nhất với sở thích và lương tâm của mình. Tệ hại nhất có thể là việc ở lại phía sau, run rẩy trong sự cô độc của thời gian, trong khi toàn bộ thế giới đang chuyển động hướng về cõi vĩnh hằng. Nỗ lực phân loại xã hội của chúng ta nay đã hoàn tất. Kết quả có thể chẳng phải là hoàn hảo; dẫu vậy—nói theo cách khiêm nhường nhất—nó vẫn tốt hơn quy tắc cổ xưa của văn phòng sứ giả, hay quy tắc hiện đại của quan thuế, theo đó những sự ngẫu nhiên và thuộc tính bề ngoài ít liên quan nhất đến bản chất thực sự của các cá nhân lại được đối xử như những đặc điểm sâu sắc nhất của nhân loại. Nhiệm vụ của chúng ta đã hoàn thành! Giờ đây, hãy để đoàn diễu hành vĩ đại chuyển động!
Thế nhưng hãy dừng lại một chút! Chúng ta đã quên mất Tổng Quan giơ.
Nghe kìa! Tiếng vang khắp hoàn cầu của âm nhạc trang nghiêm ấy, với tiếng chuông hùng vĩ vang lên xuyên qua sự hỗn loạn có trật tự của nó, đang báo hiệu sự xuất hiện của ngài. Ngài đang đến; một kỵ sĩ tàn nhẫn, trầm tĩnh, bất động và u ám, đang vẫy chiếc gậy quyền uy thống trị vạn vật khi lướt qua hàng ngũ kéo dài, trên con ngựa màu nhợt nhạt của Sách Khải Huyền. Đó chính là Thần Chết! Còn ai khác có thể đảm nhận vai trò dẫn dắt của một đoàn diễu hành bao trùm toàn bộ nhân loại chứ? Và nếu một số người, giữa hàng triệu con người này, cho rằng mình bị xếp nhầm chỗ, thì hãy ghi khắc vào tim sự thật an ủi rằng Thần Chết san bằng tất cả chúng ta thành một đại gia đình huynh đệ, và một trạng thái tồn tại khác chắc chắn sẽ sửa chữa lại những bất công ở cõi này. Vậy thì hãy thổi tiếng ai điệu của ngươi vào ngọn gió than van của trái đất, hỡi ban nhạc sầu thảm, được tạo nên từ mỗi tiếng thở dài mà trái tim con người, chưa bao giờ thỏa mãn, đã thốt ra! Vẫn còn đó sự khải hoàn trong âm điệu của ngươi. Và giờ đây chúng ta tiến bước! Những kẻ ăn mày trong bộ rách rưới, và các vị Vua kéo lê tấm áo choàng hoàng gia trong bụi đất; chiếc mũ chiến sáng ngời của người Chiến binh; vị Linh mục trong bộ y phục đen tuyền; vị Trưởng lão tóc bạc phơ, kẻ đã chạy hết vòng tròn cuộc đời và quay trở lại tuổi thơ; cậu Học trò má hồng với mái tóc vàng óng, đang tung tăng dọc theo đoàn hành quân; chiếc áo khoác vải thô của người Thợ thủ công; chiếc áo đính ngôi sao của nhà Quý tộc;—tất cả tạo nên một cảnh tượng pha tạp, thế nhưng lại mang theo một vẻ hùng vĩ u ám bao trùm lấy nó. Tiến lên, tiến lên, vào trong sự mờ mịt nơi những ngọn đèn của Thời gian từng bừng sáng dọc theo đoàn diễu hành đang lụi tàn trong chiếc đế cắm của chúng! Và đi về đâu? Chúng ta không biết; và Thần Chết, kẻ bấy lâu nay là người dẫn đường cho chúng ta, đã bỏ rơi chúng ta bên vệ đường, khi tiếng bước chân vô số của chúng ta vang vọng vượt qua khỏi phạm vi của ngài. Ngài cũng chẳng biết gì hơn chúng ta về cái đích đã được định sẵn của mình. Nhưng Thượng đế, Đấng đã tạo ra chúng ta, Người biết rõ, và sẽ không bỏ rơi chúng ta trong cuộc hành quân nhọc nhằn và đầy nghi ngờ này, dù là để lang thang trong sự bất định vô tận, hay để diệt vong dọc đường!