Một trong số ít những sự kiện trong cuộc chiến tranh với thổ dân tự nhiên mang đượm ánh bàng bạc của lãng mạn chính là cuộc viễn chinh nhằm bảo vệ vùng biên ải vào năm 1725, vốn dẫn đến trận giao tranh nổi tiếng mang tên “Trận đánh của Lovell”. Trí tưởng tượng, khi đặt một số hoàn cảnh nhất định vào vùng bóng râm của sự suy xét, có thể thấy rất nhiều điều đáng ngưỡng mộ ở sự anh hùng của một nhúm người dám đương đầu với số quân đông gấp đôi ngay giữa sào huyệt của kẻ thù. Sự dũng cảm công khai mà cả hai bên thể hiện hoàn toàn phù hợp với các quan niệm văn minh về lòng can đảm; và ngay cả tinh thần hiệp sĩ cũng không phải hổ thẹn khi ghi chép lại chiến tích của một hoặc hai cá nhân. Trận chiến ấy, dẫu vô cùng thảm khốc với những kẻ dấn thân, lại không hề mang lại kết quả bất hạnh cho đất nước; bởi nó đã bẻ gãy sức mạnh của một bộ tộc và dẫn dắt đến nền hòa bình kéo dài trong suốt mấy năm sau đó. Lịch sử và truyền thuyết tỏ ra vô cùng tỉ mỉ trong các ghi chép của họ về sự kiện này; và vị đội trưởng của một toán trinh sát miền biên ải đã giành được một tiếng tăm quân sự thực sự chẳng kém gì nhiều vị tướng lừng lẫy chỉ huy hàng vạn quân. Một số tình tiết nằm trong những trang sách sau đây sẽ được nhận ra, dẫu cho có sự thay thế các tên tuổi hư cấu, bởi những ai từng được nghe từ cửa miệng các bậc cao niên kể về số phận của vài chiến binh còn đủ sức rút lui sau “Trận đánh của Lovell”.
Những tia nắng ban mai sớm sủa lững lờ đậu trên ngọn cây, nơi có hai người đàn ông mệt mỏi và mang thương tích từng ngả lưng qua đêm hôm trước. Chiếc giường bằng lá sồi khô của họ được rải trên một khoảnh đất phẳng nhỏ, nằm dưới chân một mỏm đá tọa lạc gần đỉnh của một trong những ngọn đồi thoai thoải vốn làm cho phong cảnh xứ sở nơi đó thêm phần đa dạng. Khối đá hoa cương, dựng đứng mặt nhẵn th phẳng phiu cao mười lăm đến hai mươi thước trên đầu họ, trông chẳng khác nào một tấm bia mộ khổng lồ, nơi các mạch đá dường như tạo thành một dòng khắc bằng những ký tự đã lãng quên. Trên một khoảnh đất rộng vài mẫu quanh khối đá này, những cây sồi và các loại gỗ cứng khác đã thay thế cho loài thông, vốn là thứ cây mọc phổ biến ở vùng đất đó; và một thân cây non tơ, vạm vỡ mọc sát bên những vị lữ khách.
Vết thương nặng của người lớn tuổi có lẽ đã tước đi giấc ngủ của ông; bởi ngay khi tia nắng đầu tiên đậu trên ngọn cây cao nhất, ông đã đau đớn nhổm người dậy từ tư thế nằm và ngồi thẳng lên. Những nếp nhăn sâu trên nét mặt cùng mái tóc điểm bạc thưa thớt cho thấy ông đã qua tuổi trung niên; nhưng vóc dáng cơ bắp của ông, nếu không vì ảnh hưởng của vết thương, hẳn đã có sức chịu đựng gian khổ chẳng kém gì thời trai trẻ. Sự rũ rượi và kiệt quệ giờ đây ngự trị trên nét mặt hốc hác của ông; và cái nhìn tuyệt vọng mà ông phóng qua những tầng rừng sâu thẳm đã chứng thực niềm xác tín của chính cuộc đời rằng cuộc hành trình của ông đã đi đến hồi kết. Đoạn, ông quay sang nhìn người bạn đồng hành đang ngả người bên cạnh. Chàng thanh niên — vì anh ta hầu như chưa chạm ngưỡng tuổi trưởng thành — nằm với đầu gối lên cánh tay, chìm trong một giấc ngủ chập chờn mà một nhói đau từ những vết thương dường như chực chờ xé rách bất cứ khoảnh khắc nào. Bàn tay phải của anh nắm chặt lấy một khẩu súng hỏa mai; và, nếu xét qua cử động dữ dội trên nét mặt, giấc ngủ của anh đang gợi lại hình ảnh của cuộc giao tranh mà anh là một trong số ít những kẻ sống sót. Một tiếng hô vang dội và trầm đục trong ảo ảnh giấc mơ — đã lọt ra thành một tiếng rền rỉ ngậm ngùi nơi khóe môi; và, giật mình dẫu chỉ vì âm thanh rất khẽ của chính giọng mình, anh đột ngột bừng tỉnh. Hành động đầu tiên của trí nhớ khi vừa hồi tỉnh là cất lên những câu hỏi đầy âu lo về tình trạng của người bạn đồng hành bị thương. Người kia lắc đầu.
“Reuben, con trai ta,” ông nói, “tảng đá mà chúng ta đang ngồi đây sẽ đóng vai trò là tấm bia mộ của một thợ săn già. Phía trước chúng ta vẫn còn vô vàn dặm dài rừng thiêng nước độc; và sẽ chẳng ích gì nếu khói bếp nhà ta chỉ ở ngay bên kia sườn đồi ấy. Viên đạn của người da đỏ chí mạng hơn ta tưởng.”
“Người đã mệt mỏi vì ba ngày đường của chúng ta,” người thanh niên đáp, “và nghỉ ngơi thêm chút nữa sẽ giúp người hồi sức. Người cứ ngồi đây để con lùng sục trong rừng tìm thảo dược và rễ cây làm lương thực cho chúng ta; rồi sau khi ăn xong, người hãy tựa vào con, và chúng ta sẽ quay gót về nhà. Con tin chắc rằng, với sự giúp đỡ của con, người có thể đến được một trong những đồn lũy biên ải nào đó.”
“Ta không còn sống nổi hai ngày nữa đâu, Reuben,” người kia điềm tĩnh nói, “và ta sẽ không còn làm gánh nặng cho con bằng cái thân xác vô tích sự này nữa, khi mà chính con cũng chả còn sức mà gánh lấy thân mình. Vết thương của con sâu lắm và sức lực đang cạn kiệt nhanh chóng; thế nhưng, nếu con vội vã rảo bước một mình, con có thể được cứu. Còn ta thì chẳng còn hy vọng gì, và ta sẽ đợi cái chết ở đây.”
“Nếu buộc phải thế, con sẽ ở lại và canh chừng bên người,” Reuben kiên quyết nói.
“Không, con trai ta, không,” người bạn đồng hành đáp lời. “Hãy để mong ước của một kẻ sắp chết có trọng lượng đối với con; hãy cho ta cái bắt tay thật chặt, rồi cất bước rời khỏi nơi này. Con nghĩ rằng những phút cuối đời của ta sẽ được thảnh thơi nhờ ý nghĩ rằng ta để con lại đây để chịu một cái chết dằn vặt hơn sao? Ta đã yêu thương con như một người cha; và vào lúc thế này, ta phải có chút quyền hạn của một người cha. Ta ra lệnh cho con phải đi đi để ta có thể nhắm mắt xuôi tay trong bình yên.”
“Và bởi vì người từng là một người cha đối với con, chẳng lẽ vì thế mà con lại bỏ mặc người chết gục và nằm lại chốn hoang vu không mộ chí hay sao?” người thanh niên kêu lên. “Không; nếu quả thực tận cùng đang đến gần, con sẽ canh chừng bên người và lắng nghe những lời trăn trối. Con sẽ đào một nấm mồ ngay cạnh tảng đá này, nơi mà nếu sự yếu đuối quật ngã con, chúng ta sẽ cùng nhau nằm lại; hoặc nếu Trời ban cho con sức mạnh, con sẽ tìm đường về nhà.”
“Nơi thành thị và bất cứ chốn nào con người sinh sống,” người kia đáp, “họ chôn cất người chết vào lòng đất; họ che giấu thi hài khỏi tầm mắt của kẻ sống; nhưng ở đây, nơi mà có lẽ trăm năm chẳng có lấy một dấu chân qua, hà cớ gì ta không được nghỉ ngơi dưới vòm trời rộng mở, chỉ được đắp bằng lá sồi khi những cơn gió thu rải thảm chúng xuống? Còn về tượng đài, ở đây chính là tảng đá xám này, nơi bàn tay sắp chết của ta sẽ khắc tên Roger Malvin, và lữ khách những ngày tới sẽ biết rằng nơi đây có một thợ săn và một chiến binh đang say ngủ. Vậy nên đừng chần chừ vì một trò ngu ngốc thế này, hãy mau chóng rời đi, dẫu không vì bản thân con, thì cũng vì người ở nhà đang mỏi mòn ngóng trông.”
Malvin thốt những từ cuối bằng một giọng ngắt quãng, và tác động của chúng lên người bạn đồng hành bộc lộ vô cùng rõ rệt. Chúng nhắc nhở anh rằng còn có những bổn phận khác ít mơ hồ hơn là việc chia sẻ số phận với một người mà cái chết của ông chẳng thể mang lại lợi ích gì. Cũng không thể khẳng định rằng không có chút cảm giác ích kỷ nào len lỏi vào trái tim Reuben, dẫu cho sự tự giác ấy lại khiến anh càng thêm quyết tâm chống lại những lời nài nỉ của người bạn đồng hành.
“Thật khủng khiếp làm sao khi phải chờ đợi sự đến chậm chạp của cái chết giữa chốn thâm sơn cùng cốc này!” anh thốt lên. “Một kẻ dũng cảm chẳng hề nao núng trong trận mạc; và khi bạn bè túc trực quanh giường bệnh, ngay cả phụ nữ cũng có thể ra đi một cách điềm tĩnh; nhưng ở đây—”
“Ta sẽ chẳng nao núng ngay cả ở chốn này, Reuben Bourne,” Malvin ngắt lời. “Ta là kẻ có trái tim vững vàng, và giả sử ta không có đi chăng nữa, thì vẫn có một chỗ dựa vững chắc hơn nhiều so với bạn bè trần thế. Con còn trẻ, và sự sống rất đắt giá đối với con. Những phút cuối đời của con sẽ cần sự an ủi nhiều hơn ta rất nhiều; và khi con đã hạ huyệt chôn cất ta, khi chỉ còn một mình, và màn đêm buông xuống chốn rừng sâu, con sẽ cảm nhận được toàn bộ sự cay đắng của cái chết mà giờ đây con có thể tránh được. Nhưng ta sẽ chẳng mượn bất kỳ động cơ ích kỷ nào để lay chuyển bản tính hào hiệp của con. Hãy rời bỏ ta vì ta, để sau khi cất lên một lời cầu nguyện cho sự bình an của con, ta có thể có không gian sắp xếp lại cuộc đời mình mà không bị những nỗi buồn trần thế quấy rầy.”
“Còn con gái của người — làm sao con dám đối mặt với ánh mắt cô ấy?” Reuben kêu lên. “Cô ấy sẽ gặng hỏi số phận của người cha mà mạng sống đã được con thề bảo vệ bằng chính mạng sống của mình. Chẳng lẽ con phải nói với cô ấy rằng ông ấy đã cùng con lê bước ba ngày đường từ chiến trường rồi sau đó con bỏ mặc ông ấy chết rục giữa chốn hoang vu? Chẳng phải nằm xuống và chết bên cạnh người còn hơn là trở về bình an và thốt ra những lời này với Dorcas hay sao?”
“Hãy bảo con gái ta,” Roger Malvin nói, “rằng dẫu bản thân con mang đầy thương tích, yếu đuối và mệt mỏi, con vẫn dìu những bước chân lảo đảo của ta suốt nhiều dặm đường, và chỉ rời đi theo lời khẩn cầu thiết tha của ta, bởi ta không muốn linh hồn con vướng mắc tội lỗi vì máu của ta. Hãy nói với con ấy rằng qua bao đau đớn và hiểm nguy con vẫn một lòng trung thực, và nếu giọt máu của con có thể cứu được ta, nó đã tuôn chảy đến giọt cuối cùng; và hãy nói với con ấy rằng con sẽ trở thành một người còn thân thiết hơn cả người cha, và rằng chúc lành của ta ở bên cả hai con, và rằng đôi mắt đang lấp suối nguồn của ta có thể nhìn thấy một con đường dài và êm đềm nơi hai con sẽ cùng nhau bước đi.”
Khi Malvin nói, ông gần như nhổm hẳn người lên khỏi mặt đất, và sinh lực từ những lời cuối cùng của ông dường như lấp đầy khu rừng hoang vắng và quạnh hiu bằng một viễn cảnh hạnh phúc; thế nhưng, khi ông kiệt sức ngã gục xuống chiếc giường lá sồi, ánh sáng vừa thắp lên trong mắt Reuben chợt lịm tắt. Anh cảm thấy như thể thật là tội lỗi và ngu ngốc khi tơ tưởng đến hạnh phúc vào một khoảnh khắc như thế. Người bạn đồng hành dõi theo nét mặt đổi thay của anh, và dùng sự khôn ngoan đầy cao thượng để lôi kéo anh về hướng tốt đẹp cho chính mình.
“Có lẽ ta tự dối mình về khoảng thời gian ta còn sống,” ông nói tiếp. “Biết đâu với sự trợ giúp nhanh chóng, ta có thể hồi phục vết thương. Những kẻ trốn chạy tiên phong chắc giờ này đã mang tin tức về trận chiến định mệnh của chúng ta về đến biên ải, và các toán cứu viện sẽ xuất hiện để giải cứu những kẻ ở trong hoàn cảnh giống như chúng ta. Nếu con gặp một trong những toán người ấy và dẫn đường cho họ quay lại đây, ai mà biết được chứ, có lẽ ta lại được ngồi bên súp lơ nhà mình lần nữa?”
Một nụ cười buồn bã thoáng qua nét mặt của người sắp chết khi ông gieo vào lòng người hy vọng không có cơ sở ấy — dẫu vậy, nó vẫn tác động không nhỏ đến Reuben. Không có động cơ thuần túy ích kỷ nào, hay thậm chí hoàn cảnh bơ vơ của Dorcas, có thể xui khiến anh bỏ rơi người bạn đồng hành vào một thời khắc như thế — nhưng khát vọng của anh đã bám chặt lấy ý nghĩ rằng mạng sống của Malvin có thể được cứu vãn, và bản tính lạc quan của anh đã đẩy khả năng mong manh về việc tìm kiếm sự cứu trợ của con người lên gần như chắc chắn.
“Chắc chắn là có lý do, lý do rất nặng ký để hy vọng rằng bạn bè không ở quá xa,” anh nói nửa như lẩm bẩm. “Đã có một kẻ hèn nhát tháo chạy, không một vết xước, ngay từ đầu trận chiến, và rất có thể hắn đã rảo bước rất nhanh. Mọi người đàn ông chân chính nơi biên ải sẽ giương súng ngay khi nghe tin; và dù không có toán người nào thám hiểm sâu vào rừng như thế này, có lẽ ta sẽ bắt gặp họ chỉ sau một ngày đường. Hãy cho ta lời khuyên chân thành,” anh nói thêm, quay sang Malvin trong nỗi hoài nghi chính những động cơ của mình. “Nếu hoàn cảnh của người là của con, người có khi nào bỏ rơi con khi sự sống vẫn còn?”
“Đã hai mươi năm rồi,” Roger Malvin đáp — dẫu thở dài khi thầm thừa nhận sự khác biệt một trời một vực giữa hai hoàn cảnh — “đã hai mươi năm kể từ khi ta cùng một người bạn thân thiết trốn thoát khỏi cảnh tù đày của người da đỏ gần Montreal. Chúng ta đã trải qua nhiều ngày đường băng qua rừng thẳm, cho đến khi kiệt sức vì đói khát, bạn ta ngả lưng xuống và khẩn nài ta bỏ mặc anh ấy; bởi anh ấy thừa biết rằng nếu ta ở lại, cả hai chúng ta đều phải bỏ mạng; và với rất ít hy vọng tìm được cứu viện, ta đã vun một chiếc gối bằng lá khô dưới đầu anh ấy rồi vội vã lên đường.”
“Và người đã quay lại kịp lúc để cứu anh ấy chứ?” Reuben hỏi, bấu víu vào từng lời của Malvin như thể chúng mang tính tiên tri cho sự thành công của chính anh.
“Ta đã làm thế,” người kia đáp. “Ta tình cờ đến trại của một toán thợ săn trước khi mặt trời lặn vào chính ngày hôm đó. Ta dẫn họ đến nơi người đồng đội của ta đang chờ đợi cái chết; và giờ đây anh ấy là một người khỏe mạnh cường tráng trên chính nông trại của mình, nằm sâu trong vùng biên ải, trong khi ta lại nằm đây chịu thương tích giữa chốn hoang vu cùng tận.”
Tấm gương này, đầy sức nặng trong việc tác động đến quyết định của Reuben, lại được tiếp sức, một cách vô thức đối với anh, bởi sức mạnh ẩn giấu của vô số động cơ khác. Roger Malvin nhận ra rằng chiến thắng đã gần kề.
“Giờ thì đi đi, con trai ta, và xin Thượng đế phù hộ cho con! Đừng quay đầu lại cùng những người bạn của con khi con gặp họ, kẻo vết thương và sự mệt mỏi sẽ quật ngã con; nhưng hãy phái đến đây hai hoặc ba người có thể sắp xếp được để tìm kiếm ta; và hãy tin ta, Reuben, lòng ta sẽ nhẹ nhõm hơn sau mỗi bước chân con hướng về nhà.” Tuy vậy, có lẽ vẫn có sự thay đổi cả trong nét mặt lẫn giọng nói khi ông thốt lên những lời ấy; bởi xét cho cùng, thật là một số phận hãi hùng khi bị bỏ lại chờ chết giữa chốn thâm sơn cùng cốc.
Reuben Bourne, dẫu chỉ mới tin nửa vời rằng mình đang hành động đúng đắn, cuối cùng cũng nhổm người dậy khỏi mặt đất và chuẩn bị cho cuộc hành trình rời đi. Và trước hết, dẫu trái với mong muốn của Malvin, anh đã thu gom một ít rễ cây và thảo dược, thứ duy nhất làm thức ăn cho họ trong hai ngày qua. Số lương thực vô tích sự này được anh đặt trong tầm với của người sắp chết, và anh cũng vun quét cho ông một chiếc giường bằng lá sồi khô. Đoạn, trèo lên đỉnh tảng đá, nơi một bên gồ ghề và nứt vỡ, anh bẻ cong thân cây sồi non xuống rồi buộc chiếc khăn tay của mình vào cành cao nhất. Biện pháp phòng ngừa này không phải là thừa để định hướng cho bất cứ ai đến tìm Malvin; bởi mọi ngóc ngách của tảng đá, ngoại trừ mặt phẳng rộng và nhẵn nhụi của nó, đều bị che khuất ở khoảng cách gần bởi lớp cây bụi rậm rạp của khu rừng. Chiếc khăn tay từng là băng gạc quấn vết thương trên cánh tay Reuben; và khi buộc nó lên cây, anh đã thề trước vệt máu vấy trên đó rằng anh sẽ quay lại, hoặc để cứu lấy mạng sống của người bạn đồng hành, hoặc để chôn cất thi hài ông nơi mồ yên mả đẹp. Anh đoạn hạ mình xuống, đứng cúi đầu lắng nghe những lời trăng trối của Roger Malvin.
Kinh nghiệm của người đi trước đã gợi ý cho anh rất nhiều lời khuyên tỉ mỉ về hành trình của chàng thanh niên xuyên qua khu rừng vô định hướng. Về vấn đề này, ông nói với sự khẩn trương điềm tĩnh, như thể đang cử Reuben đi đánh trận hay săn bắn trong lúc bản thân ông vẫn an toàn ở nhà, chứ không phải như thể gương mặt con người sắp rời xa ông kia là hình bóng cuối cùng ông được nhìn thấy trong đời. Nhưng sự vững vàng của ông đã lung lay trước khi kết thúc.
“Hãy chuyển lời chúc phúc của ta đến Dorcas, và nói rằng lời cầu nguyện cuối cùng của ta sẽ dành cho con bé và con. Hãy bảo con bé đừng ôm nỗi hận thù vì con đã bỏ mặc ta ở đây,” — trái tim Reuben nhói đau — “bởi mạng sống của con sẽ chẳng mảy may nặng ký nếu sự hy sinh của nó có thể mang lại điều tốt đẹp cho ta. Con bé sẽ cưới con sau khi đã chịu tang cha một thời gian ngắn; và xin Thượng đế ban cho các con những ngày tháng dài lâu hạnh phúc, và mong rằng con cháu các con sẽ tề tựu quanh giường bệnh của con! Và Reuben,” ông nói thêm, khi sự yếu đuối của cõi trần cuối cùng cũng bộc lộ, “hãy quay lại, khi vết thương của con đã lành lặn và sự mệt mỏi đã được khỏa lấp — hãy quay trở lại tảng đá hoang vắng này, chôn cất những khúc xương của ta vào mộ phần, và đọc một lời cầu nguyện trên đó.”
Một sự tôn kính gần như mang màu sắc mê tín, có lẽ bắt nguồn từ phong tục của người da đỏ, những kẻ có mối thù với cả người chết lẫn người sống, vẫn được cư dân biên ải dành cho các nghi thức mai táng; và có rất nhiều trường hợp hy sinh cả mạng sống trong nỗ lực chôn cất những ai đã ngã xuống bởi “lưỡi gươm nơi chốn hoang vu”. Do đó, Reuben cảm nhận trọn vẹn tầm quan trọng của lời hứa mà anh đã long trọng thề thốt sẽ quay trở lại để làm lễ tang cho Roger Malvin. Thật đáng chú ý là người sau này, khi dốc trọn tâm can vào những lời trăn trối cuối cùng, đã không còn cố gắng thuyết phục chàng thanh niên rằng ngay cả sự cứu viện nhanh chóng nhất cũng có thể cứu vãn mạng sống của ông nữa. Reuben mang thâm tâm xác tín rằng anh sẽ không bao giờ được nhìn thấy gương mặt sống của Malvin thêm lần nào nữa. Bản tính hào hiệp của anh rất muốn chần chừ, bất chấp mọi rủi ro, cho đến khi cảnh tượng cận kề cái chết trôi qua; nhưng khát vọng sinh tồn và niềm hy vọng hạnh phúc đã trỗi dậy mạnh mẽ trong tim, khiến anh không tài nào kháng cự nổi.
“Thế là đủ,” Roger Malvin nói sau khi lắng nghe lời hứa của Reuben. “Đi đi, và chúc Chúa phù hộ cho con!”
Chàng thanh niên siết chặt tay ông trong thinh lặng, quay gót bước đi. Tuy nhiên, những bước chân chậm chạp và lảo đảo của anh chỉ đưa anh đi được một quãng ngắn thì tiếng gọi của Malvin đã níu chân anh lại.
“Reuben, Reuben,” ông gọi yếu ớt; và Reuben quay lại, quỳ xuống bên cạnh người sắp chết.
“Hãy đỡ ta dậy, để ta tựa vào tảng đá,” đó là thỉnh cầu cuối cùng của ông. “Khuôn mặt ta sẽ hướng về quê nhà, và ta sẽ được nhìn thấy con thêm một khoảnh khắc khi con bước qua những tán cây.”
Reuben, sau khi thực hiện sự thay đổi theo ý muốn về tư thế của người bạn đồng hành, lại bắt đầu cuộc hành trình đơn độc của mình. Ban đầu anh rảo bước vội vã hơn mức phù hợp với sức lực của bản thân; bởi một thứ cảm giác tội lỗi, đôi khi vẫn dằn vặt con người ngay cả trong những hành động chính đáng nhất, thúc đẩy anh tìm cách trốn tránh ánh mắt của Malvin; nhưng sau khi đã dấn thân qua lớp lá rừng xào xạc, anh lại lê bước quay lại, bị thôi thúc bởi một sự tò mò hoang dại và đau đớn, rồi nấp sau bộ rễ đất của một gốc cây bị bứng bật, đăm đăm nhìn về phía người đàn ông bơ vơ. Ánh nắng ban mai quang mây, cây cối và bụi rậm hít thở bầu không khí ngọt ngào của tháng Năm; thế nhưng dường như có một nỗi u buồn vương trên gương mặt tự nhiên, như thể thiên nhiên đang đồng cảm với nỗi đau và tang tóc của chốn trần gian. Đôi tay của Roger Malvin đang giơ lên trong một lời cầu nguyện thành kính, vài lời trong đó lọt qua sự tĩnh mịch của rừng sâu, len lỏi vào trái tim Reuben, giày vò nó bằng nỗi đau đớn khôn tả. Đó là những tiếng thở đứt quãng của một lời cầu xin cho hạnh phúc của chính ông và của Dorcas; và khi chàng thanh niên lắng nghe, lương tâm, hoặc một thứ gì đó tương tự, đã tha thiết khẩn cầu anh quay lại và nằm xuống bên tảng đá lần nữa. Anh thấu hiểu nỗi truân chuyên cay đắng của sinh linh nhân hậu và cao thượng mà anh đã bỏ rơi trong lúc cùng quẫn. Cái chết sẽ đến như bước đi chậm chạp của một thây ma, lầm lũi tiến về phía ông qua màn rừng, hé lộ những đường nét gớm ghiếc và bất động từ đằng sau một gốc cây gần hơn và lại gần hơn nữa. Nhưng đó hẳn cũng phải là số phận của chính Reuben nếu anh chần chừ thêm một buổi hoàng hôn nữa; và ai lại nỡ trách cứ anh nếu anh co mình trước một sự hy sinh vô nghĩa nhường ấy? Khi anh liếc nhìn lần cuối, một cơn gió nhẹ lá cờ bé nhỏ trên thân cây sồi non và gợi nhắc Reuben về lời thề.
Nhiều yếu tố kết hợp lại kìm chân người lữ khách bị thương trên đường hướng về biên ải. Vào ngày thứ hai, những đám mây tụ lại dày đặc trên bầu trời khiến anh không thể định hướng đường đi bằng vị trí của mặt trời; và anh chẳng thể biết rằng mọi nỗ lực từ sức lực gần như cạn kiệt của mình có đang kéo anh ra xa hơn mái nhà anh hằng tìm kiếm hay không. Lương thực ít ỏi của anh được cung cấp bởi các loại quả mọng và sản vật mọc hoang dã trong rừng. Đàn hươu, phải thừa nhận, đôi khi vụt qua trước mặt anh, và gà gô thường xuyên vỗ cánh bay vụt lên từ dưới chân; nhưng đạn dược của anh đã cạn sạch trong trận giao tranh, và anh chẳng có cách nào hạ gục chúng. Những vết thương, bị kích thích bởi sự vận động không ngừng vốn là hy vọng sống duy nhất, đã bào mòn sức lực và thỉnh thoảng làm lẫn lộn tâm trí anh. Thế nhưng, ngay cả trong những lúc trí tuệ hoang mang, trái tim non trẻ của Reuben vẫn bám chặt lấy sự sống; và chỉ đến khi hoàn toàn mất khả năng vận động, anh mới gục ngã dưới gốc cây, buộc phải đành chịu nằm chờ chết ở đó.
Ở hoàn cảnh đó, anh được phát hiện bởi một toán người ngay khi có tin tức đầu tiên về trận chiến, đã được phái đi cứu viện những người sống sót. Họ đưa anh đến khu định cư gần nhất, tình cờ lại chính là nơi sinh sống của anh.
Dorcas, với sự mộc mạc của thời xưa cũ, túc trực bên giường bệnh của người tình bị thương, chu toàn mọi sự chăm sóc mà chỉ trái tim và đôi tay phụ nữ mới có thể ban tặng. Suốt mấy ngày trời, ký ức của Reuben lửng lơ chìm nổi giữa những hiểm nguy và gian khổ mà anh từng trải qua, và anh không tài nào đưa ra được câu trả lời gãy gọn cho những thắc mắc khiến nhiều người chộn rộn quấy rầy. Vẫn chưa có chi tiết xác thực nào về trận chiến được lan truyền; và các bà mẹ, người vợ, những đứa con cũng chẳng thể biết rõ liệu người thân yêu của họ bị giữ chân bởi xiềng xích nô dịch hay bởi sợi xích kiên cố hơn là cái chết. Dorcas chôn giấu những nỗi âu lo trong lặng thầm cho đến một buổi chiều nọ khi Reuben bừng tỉnh khỏi giấc ngủ chập chờn, và dường như nhận ra cô rõ hơn bất kỳ lúc nào trước đó. Cô nhận thấy trí tuệ của anh đã trở lại bình lặng, và cô không thể kìm nén nỗi lòng của một người con gái thêm nữa.
“Cha em, Reuben?” cô mở lời; nhưng sự biến sắc trên gương mặt người tình khiến cô khựng lại.
Chàng thanh niên co rúm lại như thể chịu đựng một nỗi đau đớn cay đắng, và dòng máu bừng lên đỏ rực trên đôi gò má tái nhợt và hốc hác. Bản năng đầu tiên của anh là che mặt lại; nhưng dường như với một nỗ lực tuyệt vọng, anh nửa nhổm người lên và cất lời đầy phẫn nộ, tự biện hộ cho bản thân trước một lời buộc tội tưởng tượng.
“Cha em bị thương nặng trong trận chiến, Dorcas; và ông bảo anh đừng gánh lấy ông ấy, mà chỉ dìu ông đến bờ hồ để ông có thể giải khát và chết ở đó. Nhưng anh không nỡ bỏ rơi người già cả trong lúc cùng quẫn, và dẫu bản thân cũng đầm đìa máu tươi, anh đã dìu ông; anh đã nhường nửa phần sức lực của mình, và dìu ông rời đi cùng anh. Suốt ba ngày chúng ta cùng nhau lê bước, và cha em đã kiên cường vượt qua mọi kỳ vọng của anh, nhưng, khi tỉnh dậy lúc bình minh ngày thứ tư, anh thấy ông đã ngất lịm và kiệt quệ; ông không thể đi tiếp được nữa; sự sống trong ông đã cạn kiệt nhanh chóng, và—”
“Ông ấy đã mất!” Dorcas thốt lên yếu ớt.
Reuben cảm thấy thật bất khả thi khi phải thừa nhận rằng tình yêu sự sống ích kỷ đã giục giã anh tháo chạy trước khi số phận của cha cô được định đoạt. Anh im lặng; anh chỉ cúi đầu; và giữa sự hổ thẹn cùng cực và kiệt gầy, anh ngả người ngã quỵ xuống gối, giấu kín mặt. Dorcas khóc òa khi những nỗi sợ hãi được xác thực; nhưng cú sốc ấy, vì đã được dự liệu từ lâu, nên bớt đi phần nào sự bạo liệt.
“Anh đã đào một nấm mồ cho người cha tội nghiệp của em nơi hoang vu ấy chứ, Reuben?” đó là câu hỏi bộc lộ lòng hiếu thảo của cô.
“Đôi tay anh yếu ớt; nhưng anh đã làm tất cả những gì có thể,” chàng thanh niên đáp bằng giọng nghẹn ngào. “Có một tấm bia mộ trang nghiêm ngự trị trên đầu ông; và anh ước gì mình cũng được yên giấc ngàn thu như ông!”
Dorcas, nhận ra sự hoảng loạn trong những lời sau đó của anh, không gặng hỏi thêm vào lúc đó; nhưng trái tim cô tìm thấy sự an ủi trong ý nghĩ rằng Roger Malvin không hề thiếu các nghi thức tang ma trong khả năng có thể dành cho ông. Câu chuyện về lòng dũng cảm và sự trung thực của Reuben chẳng hề suy giảm khi cô kể lại cho những người bạn nghe; và chàng thanh niên tội nghiệp, lảo đảo bước ra từ căn phòng bệnh để hít thở bầu không khí ngập tràn ánh nắng, phải nếm trải từ mọi cửa miệng nỗi thống khổ khốn cùng và nhục nhã của những lời ca tụng không xứng đáng. Ai nấy đều thừa nhận rằng anh hoàn toàn xứng đáng đòi hỏi bàn tay của người thiếu nữ xinh đẹp mà người cha của cô đã được anh “trung kiên đến chết”; và, vì câu chuyện của tôi không xoay quanh tình yêu, thiết tưởng chỉ cần nói rằng trong vòng vài tháng, Reuben đã trở thành phu quân của Dorcas Malvin. Trong suốt lễ cưới, cô dâu ngập tràn trong sắc hồng e ấp, nhưng gương mặt chú rể lại tái nhợt.
Giờ đây trong lồng ngực của Reuben Bourne tồn tại một nỗi niềm không thể thổ lộ — thứ mà anh phải cẩn trọng che giấu khỏi người mà anh yêu thương và tin tưởng nhất. Anh hối hận, sâu sắc và cay đắng, vì sự hèn nhát về mặt đạo đức đã kìm giữ những lời lẽ của mình vào lúc anh định thổ lộ sự thật với Dorcas; nhưng lòng kiêu hãnh, nỗi sợ đánh mất tình cảm của cô, sự kinh hoàng trước ánh nhìn khinh bỉ của thiên hạ, đã cấm đoán anh đính chính lại lời nói dối này. Anh cảm thấy rằng việc rời bỏ Roger Malvin không có gì đáng trách. Sự hiện diện của anh, sự hy sinh vô ích của chính mạng sống bản thân, sẽ chỉ chuốc thêm một nỗi thống khổ thừa thãi vào những giây phút cuối đời của kẻ sắp chết; nhưng sự che giấu ấy đã tiêm nhiễm vào một hành động chính đáng phần lớn hiệu ứng bí mật của tội ác; và Reuben, trong khi lý trí bảo rằng anh đã hành động đúng đắn, lại phải trải qua mức độ không nhỏ những cơn ác mộng tinh thần trừng phạt kẻ thực hiện tội ác chưa bị phanh phui. Bằng một sự liên tưởng ý nghĩ nào đó, đôi khi anh tự tưởng tượng mình gần như một kẻ sát nhân. Trong nhiều năm liền, một ý nghĩ thỉnh thoảng vẫn quay trở lại, dẫu anh nhận thức rõ sự ngu ngốc và hoang đường của nó, nhưng anh không đủ sức xua đuổi nó khỏi tâm trí. Đó là một nỗi ám ảnh và giày vò rằng bố vợ anh vẫn đang ngồi dưới chân tảng đá trên lớp lá rừng khô cằn, vẫn sống, và đang ngóng chờ sự trợ giúp đã hứa hẹn. Tuy nhiên, những ảo tưởng tinh thần ấy cứ đến rồi đi, và anh chưa bao giờ nhầm lẫn chúng với thực tại: nhưng trong những trạng thái bình tĩnh và minh mẫn nhất của tâm trí, anh vẫn nhận thức rõ rằng mình đang đeo mang một lời thề chưa được thực hiện, và một cái xác chưa chôn cất đang gọi anh vọng ra từ chốn hoang vu. Thế nhưng hậu quả của sự lừa dối ấy khiến anh không thể tuân theo tiếng gọi. Giờ đây đã quá muộn để kêu gọi sự trợ giúp từ những người bạn của Roger Malvin trong việc cử hành tang lễ bị trì hoãn bấy lâu; và nỗi sợ hãi mang màu sắc mê tín, mà cư dân các khu định cư ngoại vi là những kẻ dễ mắc phải nhất, đã cấm đoán Reuben đi một mình. Anh cũng chẳng biết nơi nào giữa khu rừng bạt ngàn vô định để tìm kiếm tảng đá nhẵn nhụi có khắc chữ mà dưới chân nó thi thể đang nằm: ký ức của anh về mọi chặng đường từ đó về sau đều mờ mịt, và phần sau của chuyến đi chẳng để lại chút ấn tượng nào trong tâm trí. Dẫu vậy, vẫn có một thôi thúc liên tục, một âm thanh chỉ mình anh nghe thấy, ra lệnh cho anh hãy bước ra và chuộc lại lời thề; và anh mang một cảm giác kỳ lạ rằng, nếu anh thử làm điều đó, anh sẽ được dẫn đường thẳng đến những khúc xương của Malvin. Nhưng hết năm này qua năm khác, lời triệu tập không nghe thấy mà cảm nhận được ấy vẫn bị phớt lờ. Bí mật duy nhất trong tâm trí anh trở thành một sợi xích trói buộc tinh thần và như một con rắn độc gặm nhấm trái tim; và anh hóa thành một con người u sầu, cúi gằm nhưng đầy cáu kỉnh.
Trong vòng vài năm sau ngày kết hôn, những biến chuyển bắt đầu hiển hiện trong sự thịnh vượng bề ngoài của Reuben và Dorcas. Rủi thay, gia tài duy nhất của chàng trai chỉ là trái tim vững vàng và đôi tay lực lưỡng; nhưng cô gái, người thừa kế duy nhất của người cha, đã biến chồng mình thành chủ nhân của một trang trại được khai hoang từ lâu, rộng lớn và sung túc hơn hầu hết các cơ ngơi nơi biên ải. Tuy nhiên, Reuben Bourne lại là một chủ điền lười biếng; và trong khi đất đai của những người định cư khác ngày càng phì nhiêu qua từng năm, thì đất của anh lại suy kiệt theo tỷ lệ tương ứng. Những nản lòng trong nông nghiệp đã giảm đi đáng kể nhờ việc chấm dứt chiến tranh với thổ dân, thời kỳ mà người ta phải cầm cày một tay cầm súng tay kia, và thật may mắn nếu sản phẩm từ lao động hiểm nguy của họ không bị tàn phá ngay trên đồng hay trong chớp mắt bởi kẻ thù man rợ. Nhưng Reuben không hề tận dụng được hoàn cảnh đã đổi thay của đất nước; và cũng không thể phủ nhận rằng những khoảng thời gian chăm chỉ tập trung vào công việc của anh chỉ nhận lại những phần thưởng nghèo nàn. Sự cáu kỉnh vốn trở thành đặc điểm nổi bật của anh gần đây là một nguyên nhân khác khiến sự thịnh vượng suy tàn, bởi nó gây ra những cuộc cãi vã thường xuyên trong các mối quan hệ không thể tránh khỏi với những người hàng xóm xung quanh. Hệ quả của chúng là vô số các vụ kiện tụng; bởi người New England, trong những giai đoạn đầu sơ khai và hoang dã nhất của đất nước, luôn áp dụng phương thức pháp lý để giải quyết những bất đồng hễ khi nào có thể. Tóm lại, cuộc đời không mỉm cười với Reuben Bourne; và, dẫu không lâu sau ngày kết hôn, cuối cùng anh cũng trở thành một kẻ khánh kiệt, chỉ còn lại duy nhất một phương sách cuối cùng để chống lại số phận đen đủi đã bám đuổi anh. Anh phải rọi ánh nắng vào một góc khuất sâu thẳm nào đó của rừng già, và tìm kiếm kế sinh nhai từ bầu ngực trinh nguyên của chốn thâm sơn.
Đứa con duy nhất của Reuben và Dorcas là một cậu con trai, nay đã bước sang tuổi mười lăm, khôi ngô tuấn tú và hứa hẹn một tương lai rạng rỡ ở tuổi trưởng thành. Cậu bé đặc biệt có năng khiếu và bắt đầu xuất sắc trong những kỹ năng hoang dã của đời sống biên ải. Bước chân cậu lanh lẹ, tầm ngắm chuẩn xác, sự thấu triệt nhanh nhạy, trái tim hân hoan kiêu hãnh; và tất cả những ai dự đoán sự trở lại của chiến tranh với thổ dân đều nhắc đến Cyrus Bourne như một thủ lĩnh tương lai nơi vùng đất này. Cậu bé được người cha yêu thương bằng một thứ sức mạnh sâu kín và lặng lẽ, như thể mọi điều tốt đẹp và hạnh phúc trong bản tính của chính ông đã được truyền sang con trai, mang theo cả những tình cảm theo cùng. Thậm chí Dorcas, dù yêu thương và được yêu thương, lại ít được ông ưu ái hơn rất nhiều; bởi những suy nghĩ thầm kín và cảm xúc biệt lập đã dần biến Reuben thành một kẻ ích kỷ, và ông không còn đủ sức yêu thương sâu sắc ngoại trừ nơi nào ông nhìn thấy hoặc tưởng tượng ra sự phản chiếu hay bóng dáng của tâm trí chính mình. Ở Cyrus, ông nhận ra những gì bản thân từng có trong quá khứ; và thỉnh thoảng ông dường như hòa mình vào tinh thần của cậu bé, được hồi sinh bởi một cuộc sống mới mẻ và hạnh phúc. Reuben được con trai tháp tùng trong chuyến viễn chinh với mục đích chọn lựa khoảnh đất, đốn hạ và đốt dọn gỗ lій, những công việc tất yếu phải làm trước khi dời chuyển các vị thần hộ mệnh trong gia đình. Hai tháng mùa thu cứ thế trôi qua trong công việc, sau đó Reuben Bourne và chàng thợ săn trẻ tuổi quay trở về để trải qua mùa đông cuối cùng tại các khu định cư.
Đó là vào đầu tháng Năm khi gia đình nhỏ cắt đứt mọi sợi dây liên kết tình cảm từng bám víu vào những vật vô tri, và nói lời chia tay với ít ỏi những con người, trong cơn bĩ cực của vận mệnh, tự nhận là bạn bè của họ. Nỗi buồn trong khoảnh khắc chia ly mang lại cho mỗi người hành hương những sự xoa dịu riêng biệt. Reuben, một kẻ ủ dột và mang tư tưởng bất mãn vì bất hạnh, rảo bước với vầng trán nghiêm nghị quen thuộc và ánh mắt đăm đăm nhìn xuống, hiếm khi bày tỏ sự tiếc nuối và khinh bỉ việc phải thừa nhận điều đó. Dorcas, trong lúc khóc ngút ngàn trên những mối dây liên kết mộc mạc và trìu mến đã trói buộc trái tim cô vào vạn vật, vẫn cảm nhận rằng những con người ngự trị trong sâu thẳm trái tim cô vẫn đang bước đi cùng cô, và mọi thứ khác sẽ được bù đắp bất kể cô đặt chân đến đâu. Và cậu bé gạt đi một giọt nước mắt lăn trên khóe mi, tơ tưởng đến những niềm vui phiêu lưu nơi khu rừng chưa từng in dấu chân người.
Ồ, ai trong cơn say men của một giấc mộng giữa ban ngày lại chưa từng ao ước mình là một kẻ lữ hành lang thang giữa thế giới hoang sơ mùa hạ, với một bóng hồng xinh đẹp dịu dàng nhẹ nhàng tựa vào cánh tay? Thuở trẻ, bước chân tự do hân hoan ấy sẽ chẳng màng đến bất kỳ rào cản nào ngoài đại dương cuồn cuộn hay những ngọn núi tuyết phủ đầu non; tuổi trưởng thành điềm đạm hơn sẽ chọn một chốn dung thân nơi thiên nhiên bày biện thứ tài sản kép trong thung lũng của một dòng suối trong vắt; và khi tuổi già bạc mái đầu, sau chuỗi ngày dài đằng đẵng của đời sống thuần khiết ấy, lén lút bước đến và tìm thấy ông ở đó, nó sẽ tìm thấy ông trong bóng hình của một tộc trưởng, vị cha già của một dân tộc, nhà sáng lập của một cường quốc mai sau. Khi cái chết, tựa như giấc ngủ ngọt ngào mà ta chào đón sau một ngày hạnh phúc, bao trùm lấy ông, những hậu duệ đời sau sẽ tiếc thương tấm bụi trần được tôn kính. Được bọc lót bởi truyền thuyết trong những thuộc tính thần bí, con người của các thế hệ mai sau sẽ gọi ông là bậc thánh nhân; và hậu thế xa xôi sẽ nhìn thấy ông đứng đó, mờ ảo hào quang, vắt vẻo tận thượng nguồn của một trăm thế kỷ.
Khu rừng rậm rạp u ám mà các nhân vật trong câu chuyện của tôi đang lang thang khác xa với miền đất ảo mộng của kẻ mộng mơ; thế nhưng vẫn có điều gì đó trong lối sống của họ được thiên nhiên khẳng định là của riêng mình, và những nỗi lo toan gặm nhấm bám theo họ từ thế giới ngoài kia chính là thứ duy nhất cản trở hạnh phúc của họ vào lúc này. Một con chiến mã vạm vỡ bờm xờm, kẻ gánh vác toàn bộ gia tài của họ, chẳng hề nao núng trước sức nặng cộng thêm của Dorcas; dẫu cho nền tảng quen chịu đựng đã giúp cô vững vàng, trong suốt chặng đường cuối mỗi ngày hành trình, bước đi bên cạnh chồng. Reuben và con trai, với những khẩu súng hỏa mai trên vai và những chiếc rìu đeo sau lưng, duy trì nhịp bước không mệt mỏi, mỗi người dùng ánh mắt thợ săn rà soát tìm thú rừng làm lương thực. Khi cơn đói réo gọi, họ dừng chân và chuẩn bị bữa ăn bên bờ một con suối rừng trong lành, khi họ quỳ xuống với đôi môi khát khô để uống, con suối róc rách phát ra âm thanh ngượng ngùng ngọt ngào, tựa như thiếu nữ trong nụ hôn đầu đời của tình yêu. Họ ngủ dưới túp lều làm bằng cành cây, và tỉnh giấc khi chớm bình minh để tiếp tục vắt sức cho những nhọc nhằn của ngày mới. Dorcas và cậu bé bước đi hoan hỉ, thậm chí tinh thần của Reuben thỉnh thoảng cũng bừng lên niềm vui sướng bên ngoài; nhưng ẩn sâu trong nội tâm lại là nỗi buồn lạnh giá, thứ mà anh ví von như những đống tuyết dày đọng lại trong các khe suối trong khi những chiếc lá vẫn xanh rờn trên cao.
Cyrus Bourne đủ kỹ năng du ngoạn chốn rừng sâu để nhận ra rằng cha mình không còn tuân theo tuyến đường họ từng đi trong chuyến viễn chinh vào mùa thu năm trước. Giờ đây họ đang dịch chuyển nhiều hơn về phía bắc, dấn thân sâu hơn và trực diện hơn ra khỏi các khu định cư, bước vào vùng đất mà thú dữ và con người man rợ vẫn là những chủ nhân duy nhất. Cậu bé đôi khi bóng gió đưa ra ý kiến về vấn đề này, và Reuben chăm chú lắng nghe, thậm chí một hai lần còn thay đổi hướng đi theo lời khuyên của con trai; nhưng sau khi làm thế, anh lại tỏ ra bất an. Ánh mắt láo liên của anh hướng về phía trước dường như để tìm kiếm kẻ thù đang nấp sau những thân cây, và khi chẳng thấy gì, anh lại ngoảnh đầu nhìn ra sau như thể sợ hãi một kẻ bám đuôi nào đó. Cyrus, nhận ra cha mình đang dần quay lại hướng đi cũ, bèn thôi không can thiệp nữa; dẫu cho có điều gì đó bắt đầu đè nặng lên trái tim, nhưng bản tính thích phiêu lưu vẫn không cho phép cậu tiếc nuối về sự kéo dài và tính bí ẩn của con đường họ đang đi.
Vào buổi chiều ngày thứ năm, họ dừng chân và dựng lên trại lược đơn sơ gần một tiếng trước hoàng hôn. Phong cảnh vài dặm gần đây bị xé nhỏ bởi những dải đất nhô lên trông giống như những con sóng khổng lồ của một vùng biển hóa đá; và trong một trũng đất tương ứng, một chốn hoang sơ lãng mạn, gia đình đã dựng lều và nhóm lửa. Có điều gì đó vừa lạnh lẽo vừa ấm áp cõi lòng khi nghĩ về ba con người này, được gắn kết bởi những ràng buộc tình yêu mãnh liệt và bị cô lập khỏi tất cả những sinh linh thở khác. Những rặng thông tối tăm u ám nhìn xuống họ, và khi cơn gió lướt qua ngọn, một âm thanh xót xa vang lên trong rừng thẳm; hay chính những cỗ cây già cỗi ấy đang rên rỉ vì sợ rằng con người cuối cùng đã đến để đặt rìu vào rễ của chúng? Reuben và con trai, trong lúc Dorcas chuẩn bị bữa ăn, ngỏ ý muốn ray rứt đi tìm thú rừng, thứ mà chặng đường ngày hôm đó chẳng mang lại chút nào. Cậu bé, hứa sẽ không rời xa khu vực quanh trại, phóng đi với bước chân nhẹ nhàng và uyển chuyển hệt như chú hươu mà cậu hy vọng sẽ hạ gục; trong khi người cha, cảm nhận một niềm hạnh phúc thoáng qua khi dõi theo bóng con, cũng sắp sửa bước về hướng ngược lại. Trong khi đó, Dorcas đã ngồi xuống gần đống lửa làm bằng cành cây rụng trên khúc gỗ đã mục nát mọc đầy rêu bị bứng gốc từ nhiều năm trước. Công việc của cô, xen kẽ với cái nhìn thỉnh thoảng liếc về phía nồi canh đang bắt đầu sôi lăn tăn trên lửa, là đọc cuốn Niên giám Massachusetts của năm hiện tại, thứ tài liệu mà ngoại trừ cuốn Kinh Thánh chữ đen cũ kỹ, chiếm trọn toàn bộ gia tài văn chương của gia đình. Chẳng ai coi trọng những sự phân chia thời gian độc đoán bằng những kẻ bị ruồng bỏ khỏi xã hội; và Dorcas nhắc nhở, như thể thông tin đó rất quan trọng, rằng hôm nay là ngày mười hai tháng Năm. Chồng cô giật mình.
“Ngày mười hai tháng Năm! Lẽ ra tôi phải nhớ kỹ điều đó chứ,” anh lầm bầm, trong khi vô số ý nghĩ gây ra sự hỗn loạn thoáng qua trong tâm trí. “Mình đang ở đâu? Mình đang lang thang về đâu? Mình đã để quên ông ấy ở nơi nào?”
Dorcas, quá quen thuộc với những tâm trạng thất thường của chồng nên chẳng mảy mai để ý đến bất kỳ sự bất thường nào trong phong thái, giờ đây đặt cuốn niên giám sang một bên và cất lời bằng giọng điệu đau buồn mà những trái tim nhân hậu thường dành cho những nỗi đau đã nguội lạnh và qua đi từ lâu.
“Chính vào tầm này tháng này, mười tám năm trước, người cha tội nghiệp của tôi đã rời bỏ thế gian này để đến một nơi tốt đẹp hơn. Ông ấy có một cánh tay ân cần để dìu đầu và một giọng nói dịu dàng để cổ vũ, Reuben, trong những giây phút cuối đời; và ý nghĩ về sự chăm sóc tận tụy mà anh dành cho ông đã an ủi tôi rất nhiều lần kể từ đó. Ôi, cái chết hẳn sẽ vô cùng kinh hoàng đối với một kẻ đơn độc ở chốn hoang dã thế này!”
“Xin Chúa hãy phù hộ, Dorcas,” Reuben thốt lên bằng giọng đứt quãng, — “xin Chúa hãy phù hộ để không ai trong ba chúng ta phải chết độc lập và nằm lại không một tấm chiếu dời đất giữa chốn hoang vu cùng tận này!” Và anh vội vã bỏ đi, để mặc cô canh chừng đống lửa dưới những rặng thông u ám.
Nhịp bước vội vã của Reuben Bourne dần chậm lại khi nỗi đau, vô tình bị khơi gợi bởi những lời của Dorcas, bớt đi phần nhức nhối. Dù vậy, vô số dòng suy nghĩ kỳ lạ vẫn ùa về chen chúc trong tâm trí; và, lang thang tiến bước giống như một kẻ mộng du hơn là một thợ săn, việc con đường ngoằn ngoèo giữ chân anh ở khu vực quanh trại hoàn toàn không phải do anh cố ý. Những bước chân của anh vô hình trung dẫn dắt đi gần như thành một vòng tròn; và anh cũng chẳng nhận ra mình đang đứng bên bờ của một khoảnh đất rậm rạp thân gỗ nặng nề, nhưng không phải là thông. Vị trí của thông ở đây được thay thế bằng sồi và các loại gỗ cứng khác; và quấn quanh rễ chúng là một lớp cây bụi dày rậm, tuy nhiên vẫn để lại những khoảng đất trống giữa các cây, rải rác những lớp lá khô. Hễ khi nào tiếng xào xạc của cành cây hay tiếng kẽo kẹt của thân cây tạo ra âm thanh như thể khu rừng đang tỉnh giấc sau giấc ngủ say, Reuben theo bản năng lại giương khẩu súng đang tựa trên cánh tay, đưa mắt liếc nhanh và sắc bén về mọi hướng; nhưng khi nhận thấy qua một thoáng quan sát rằng chẳng có con thú nào ở gần, anh lại thả hồn mình chìm đắm trong dòng suy nghĩ. Anh đang trầm ngâm về sức mạnh kỳ lạ đã lôi kéo anh rời khỏi lộ trình đã định sẵn, tiến sâu đến nhường này vào cõi lòng của chốn hoang vu. Bất lực trong việc thấu thấu vào nơi thâm sâu trong tâm hồn nơi các động cơ ẩn giấu, anh tin rằng một tiếng nói siêu nhiên đã kêu gọi anh tiến bước, và một sức mạnh siêu nhiên đã cản trở đường rút lui của mình. Anh hy vọng rằng đó là ý định của Thượng đế nhằm ban cho anh cơ hội chuộc lại tội lỗi; anh hy vọng rằng mình có thể tìm thấy những khúc xương đã bỏ quên từ lâu; và rằng, sau khi vun đất phủ lên chúng, sự bình yên sẽ rọi ánh nắng vào ngôi mộ của trái tim anh. Khỏi những dòng suy nghĩ ấy, anh bị đánh thức bởi tiếng xào xạc trong rừng ở một khoảng cách nhất định từ nơi anh lang thang. Nhận ra chuyển động của một vật thể phía sau lớp màng rậm rạp của cây bụi, anh nổ súng với bản năng của một thợ săn và tầm ngắm của một tay thiện xạ lão luyện. Một tiếng rên rỉ trầm đục, thứ tố cáo sự thành công của anh, và ngay cả loài thú cũng có thể dùng nó để diễn tả sự giãy giụa trong cơn hấp hối, đã bị Reuben Bourne phớt lờ. Những ký ức nào đang vỡ òa ập đến với anh lúc này?
Bụi cây rậm rạp mà Reuben vừa nổ súng nằm gần đỉnh của một gờ đất nhô lên, và quây quần quanh chân một khối đá, với hình dáng và bề mặt nhẵn nhụi của một trong những mặt đá, trông chẳng khác nào một tấm bia mộ khổng lồ. Hệt như được phản chiếu trong gương, hình bóng ấy hiện hữu trong ký ức của Reuben. Anh thậm chí nhận ra những đường gân dường như tạo thành dòng chữ bằng những ký tự đã lãng quên: mọi thứ vẫn y nguyên như cũ, ngoại trừ việc một lớp bụi rậm rạp che khuất phần dưới của tảng đá, và hẳn đã che giấu Roger Malvin nếu ông vẫn còn ngồi đó. Tuy nhiên, ngay khoảnh khắc tiếp theo, ánh mắt của Reuben lại bắt gặp một sự thay đổi khác mà thời gian đã tạo ra kể từ lần cuối anh đứng ở nơi mà giờ đây anh lại đứng phía sau bộ rễ đất của gốc cây bị bứng tróc. Thân cây non mà anh từng buộc biểu tượng vấy máu của lời thề đã lớn lên và vươn mình thành một cây sồi, tuy còn lâu mới trưởng thành, nhưng với những tán lá rợp bóng không hề nhỏ. Có một nét kỳ lạ duy nhất có thể quan sát được trên cái cây này khiến Reuben run rẩy. Các cành ở giữa và phía dưới đang sống trong sự tươi tốt xum xuê, và sự phát triển quá mức đã tua tủa bám lấy thân cây gần như sát mặt đất; nhưng một tai họa dường như đã giáng xuống phần trên của cây sồi, và cái cành ở tận ngọn cao nhất đãéo khô, cạn kiệt nhựa sống và hoàn toàn chết ngắc. Reuben nhớ lại chiếc cờ hiệu nhỏ từng phấp phới trên cành ngọn cao nhất ấy khi nó còn xanh tươi và đáng yêu mến mười tám năm trước. Tội lỗi của ai đã tàn phá nó?
Dorcas, sau khi hai thợ săn rời đi, tiếp tục công việc chuẩn bị cho bữa tối của họ. Chiếc bàn dã ngoại của cô là thân cây lớn đã ngã đổ được bao phủ bởi lớp rêu phong, trên phần rộng nhất của nó cô đã trải một chiếc khăn trắng muốt và bày biện những gì còn lại của bộ đồ pewter sáng bóng từng là niềm tự hào của cô nơi các khu định cư. Trông thật kỳ lạ làm sao một khoảnh khắc nhỏ bé mang sự ấm cúng quen thuộc giữa lòng hoang dã quạnh hiu của tự nhiên. Ánh nắng vẫn còn vương vấn trên những cành cao của những thân cây mọc trên đất cao; nhưng bóng tối của buổi chiều đã chìm sâu vào trũng đất nơi khu trại được dựng lên, và ánh lửa bắt đầu đỏ rực khi nó leo lên những thân thông cao vút hoặc lơ lửng trên khối lá rậm rạp tối tăm bao quanh địa điểm đó. Trái tim của Dorcas không buồn bã; bởi cô cảm thấy việc lữ hành nơi hoang dã cùng hai người cô yêu thương còn hơn là làm một người phụ nữ cô độc giữa đám đông chẳng mải mai quan tâm đến cô. Khi cô bận rộn sắp xếp những chỗ ngồi bằng gỗ mục nát phủ đầy lá cho Reuben và con trai, giọng hát của cô lướt qua khu rừng u ám theo giai điệu của một bài hát mà cô từng học thuở thiếu thời. Giai điệu mộc mạc, sản phẩm của một thi sĩ chẳng danh tiếng, miêu tả một buổi tối mùa đông trong một ngôi nhà biên ải, khi được bảo vệ khỏi những cuộc xâm lược man rợ bởi những đống tuyết dày cộp, gia đình quây quần hân hoan bên lò sưởi của chính họ. Toàn bộ bài hát mang một vẻ quyến rũ không tên đặc trưng của tư duy không vay mượn, nhưng bốn câu thơ lặp đi lặp lại liên tục tỏa sáng tách biệt khỏi phần còn lại giống như ánh lửa bùng cháy của lò sưởi mà niềm vui của chúng ca ngợi. Vào trong đó, bằng cách sử dụng phép thuật với vài từ ngữ giản đơn, nhà thơ đã truyền ngọn nguồn tinh hoa của tình yêu gia đình và hạnh phúc tổ ấm, và chúng vừa là thơ vừa là bức tranh hòa quyện làm một. Khi Dorcas cất giọng hát, những bức tường của ngôi nhà bị bỏ hoang dường như vây quanh cô; cô không còn nhìn thấy những rặng thông u ám, cũng chẳng nghe thấy tiếng gió vẫn tiếp tục, khi cô bắt đầu mỗi câu thơ, thổi một luồng hơi nặng nề qua những cành cây, rồi lịm tắt trong tiếng rên rỉ trầm đục từ gánh nặng của bài hát. Cô bị đánh thức bởi tiếng súng nổ ở khu vực lân cận trại; và hoặc âm thanh bất ngờ, hoặc sự cô độc của cô bên đống lửa rực hồng, khiến cô run lẩy bẩy. Khoảnh khắc tiếp theo, cô mỉm cười đầy kiêu hãnh của một người mẹ.
“Chàng thợ săn trẻ tuổi xinh đẹp của tôi! Con trai tôi đã hạ gục một chú hươu!” cô thốt lên, nhớ lại rằng Cyrus đã đi săn theo hướng phát ra tiếng súng.
Cô chờ đợi một khoảng thời gian hợp lý để nghe tiếng bước chân nhẹ nhàng của con trai tung tăng trên lớp lá xào xạc báo tin chiến thắng. Nhưng cậu bé vẫn không xuất hiện; và cô cất tiếng gọi lảnh lót giữa những tán cây để tìm kiếm.
“Cyrus! Cyrus!”
Sự xuất hiện của cậu bé vẫn bị trì hoãn; và cô quyết định, vì tiếng súng dường như ở rất gần, sẽ tự mình đi tìm con. Sự trợ giúp của cô, có lẽ cũng rất cần thiết trong việc mang thịt hươu về nhà mà cô thầm hy vọng cậu đã thu được. Do đó, cô bước đi, định hướng bằng âm thanh vang lên từ lâu, vừa đi vừa hát để con trai có thể nhận biết sự tiếp cận của cô và chạy ra đón. Phía sau thân cây của mỗi cái cây, và từ mỗi chốn ẩn nấp trong bộ lá rậm rạp của bụi rậm, cô hy vọng sẽ phát hiện ra gương mặt của con trai, mỉm cười với trò đùa nghịch ngợm sinh ra từ tình thân ái. Mặt trời lúc này đã khuất dạng sau đường chân trời, và ánh sáng chiếu xuống qua những tán lá đủ mờ ảo để tạo ra vô số ảo ảnh trong trí tưởng tượng đầy mong đợi. Vài lần cô thoáng tưởng nhìn thấy khuôn mặt con đang ngó ra từ giữa những tán lá; và có lần cô tưởng tượng cậu đang đứng vẫy tay gọi cô dưới chân một tảng đá gồ ghề. Tuy nhiên, khi giữ chặt mắt vào vật thể đó, nó hóa ra chẳng là gì ngoài thân cây sồi tua tủa mọc sát mặt đất với những nhánh cây nhỏ, một trong số đó chìa ra xa hơn những nhánh khác và đang rung rẩy trước gió. Lần mò vòng qua chân tảng đá, cô đột ngột nhận ra mình đang đứng sát bên chồng, người đã tiếp cận từ một hướng khác. Tựa người vào báng súng, phần nòng súng tì trên lớp lá khô, anh dường như đang chìm đắm trong việc chiêm ngưỡng một vật gì đó dưới chân.
“Thế này là sao, Reuben? Anh đã hạ được chú hươu và ngủ quên trên xác nó rồi sao?” Dorcas thốt lên, cười vang tươi tắn ngay cái nhìn thoáng qua đầu tiên về tư thế và ngoại hình của anh.
Anh không nhúc nhích, cũng chẳng quay mắt nhìn cô; và một nỗi sợ hãi lạnh lẽo, rùng rợn, không rõ nguồn gốc và mục tiêu, bắt đầu luồn lách vào dòng máu cô. Lúc này cô nhận ra rằng khuôn mặt của chồng tái nhợt đến rợn người, và những nét trên mặt cứng đờ, như thể không tài nào mang nổi bất kỳ biểu cảm nào khác ngoài nỗi tuyệt vọng cay đắng đã đóng băng trên đó. Anh chẳng hề đưa ra bất kỳ dấu hiệu nhỏ nào cho thấy mình nhận thức được sự hiện diện của cô.
“Vì tình yêu của Chúa, Reuben, hãy nói chuyện với tôi!” Dorcas kêu lên; và âm thanh kỳ lạ từ chính giọng nói của cô khiến cô hoảng sợ còn hơn cả sự im lặng chết chóc.
Chồng cô giật mình, trừng trừng nhìn vào mặt cô, kéo cô ra phía trước tảng đá và dùng ngón tay chỉ về một phía.
Ồ, ở đó nằm cậu bé, đang say ngủ, nhưng không mộng mị, trên lớp lá rừng đã rụng! Má cậu gối lên cánh tay — những lọn tóc xoăn hất ngược khỏi trán — các cơ thể buông lỏng nhẹ nhàng. Phải chăng sự mệt mỏi bất chợt đã quật ngã chàng thợ săn trẻ tuổi? Liệu tiếng gọi của người mẹ có đánh thức cậu? Cô thừa nhận đó chính là cái chết.
“Tảng đá lớn này chính là bia mộ của những người ruột thịt gần gũi nhất với em, Dorcas,” chồng cô nói. “Những giọt nước mắt của em sẽ tuôn rơi cùng lúc cho cha và cho con trai.”
Cô chẳng nghe thấy anh nói gì. Với một tiếng thét hoang dại, dường như bật ra từ sâu thẳm linh hồn kẻ đau khổ, cô ngã quỵ bất tỉnh ngay bên cạnh đứa con trai đã khuất của mình. Vào khoảnh khắc đó, cành cây trên cùng đã khô héo của cây sồi tự nới lỏng trong bầu không khí tĩnh lặng, và rơi xuống những mảnh nhẹ nhàng, êm ái lên tảng đá, lên những chiếc lá, lên Reuben, lên vợ và con anh, và lên những khúc xương của Roger Malvin. Khi ấy, trái tim Reuben bị đánh gục, và những giọt nước mắt trào ra tựa như nước phun từ vách đá. Lời thề mà chàng trai bị thương từng cất lên, giờ đây người đàn ông mang lời nguyền đã đến để chuộc lại. Tội lỗi của anh đã được đền bù — lời nguyền đã rời bỏ anh; và trong giờ khắc mà anh đã đổ giọt máu quý giá hơn cả sinh mạng chính mình, một lời cầu nguyện, lần đầu tiên sau nhiều năm trời, đã bay vút lên Thiên đàng từ đôi môi của Reuben Bourne.