Sự việc, tự nhiên là chuyện cũ giữa ông và sư huynh Mai đạo nhân.
Mai đạo nhân và Trúc đạo nhân đều là trẻ mồ côi, từ khi còn nằm trong nôi đã bị cha mẹ bỏ rơi, được sư phụ họ trong một lần xuống núi tình cờ phát hiện, bế về nuôi dưỡng ở ngọn Vân Yến Lĩnh này.
Theo lời Trúc đạo nhân kể, sư phụ của họ là một thư sinh trói gà không chặt, những năm tuổi trẻ đọc rộng thi thư, nhưng khi đi thi khoa cử lại liên tục trượt, hơn ba tuổi mà cũng chỉ là một tú tài, thê tử còn chưa cưới nổi, thế là dưới những lời chế nhạo của người trong quê nhà, ông kiên quyết từ bỏ việc đọc sách, đến đỉnh ngọn núi sâu này, chuyên tâm nghiên cứu đạo học.
Lão tú tài chẳng có gì khác, nhưng đủ loại sách vở thì nhét đầy một phòng, và hai người họ lớn lên trong môi trường đậm chất văn chương như thế. Sư phụ căm hận khoa cử, tự nhiên cũng sẽ không bảo họ đi đọc mấy thứ Tứ thư Ngũ kinh, mà thường xuyên xuống núi mua một số sách về huyền học đạo gia và võ công cho họ đọc.
Hai người lúc bình thường rảnh rỗi là nghiên cứu mấy thứ này, có chỗ nào không hiểu, liền đem ra cùng nhau phân tích, cho đến cả võ công, cũng là chiếu theo sách để đấu luyện. Lâu ngày chầy tháng, hai vị sư huynh đệ này không chỉ đạo pháp có chút thành tựu, mà bất ngờ là còn luyện ra được một thân võ nghệ tuyệt đỉnh.
Ngày tháng trên núi vô cùng yên bình, Mai đạo nhân lớn hơn Trúc đạo nhân tròn mười lăm tuổi, hai người cùng sư phụ trải qua hai mươi năm loạn lạc nhất sau khi nhà Thanh sụp đổ. Những năm 1920 của thế kỷ trước, do nạn phỉ trong vùng núi lân cận hoành hành, gây nguy hại nghiêm trọng đến cuộc sống của người dân địa phương. Lão tú tài thấy hai người họ đã học thành tài, liền quyết định để hai huynh đệ xuống núi, tìm cách dẹp yên nạn phỉ trong vòng trăm dặm quanh đây.
Ngay cả sư phụ của họ cũng không ngờ rằng, hai người chỉ dùng thời gian ba ngày hai đêm, đi nhanh qua hàng trăm dặm đường núi, đi vòng một đoạn đường lớn. Chỉ dùng hai thanh trường kiếm bình thường, mà liên tiếp đánh sập mười một sơn trại ở những ngọn núi gần đó. Nhất thời uy trấn cả hai ngọn núi Thái Hành và Vương Ốc.
Phải biết rằng vào thời điểm đó, súng đã là một thứ rất phổ biến, hai người vậy mà lại dùng binh khí lạnh nguyên thủy nhất để làm ngần ấy việc, đủ để thấy họ lợi hại thế nào, nghe xong khiến tôi há hốc mồm.
Chuyện nổi danh này không phải là nhỏ, mười dặm tám thôn biết tiếng họ, lần lượt lên núi để nương nhờ, hoặc bái sư. Lão tú tài chọn tới chọn lui, sàng lọc ra vài mầm non tốt, những người khác đều đuổi cho xuống núi hết.
Thấy đỉnh núi không đủ chỗ ở, thế là hai huynh đệ lại dẫn dắt các đệ tử đại hưng thổ mộc, kiên quyết dùng công sức mấy năm trời, xây dựng nên một tòa đạo quán ở đây.
Đương nhiên, việc xây đạo quán cũng có mục đích của nó. Thời buổi đó, chỉ có đạo quán, chùa chiểu, ni cô am, những địa bàn của người xuất gia này mới không bị người ta dòm ngó, huống chi hai huynh đệ họ quả thực học đạo thuật.
Tuy nhiên trong mấy năm xây quán đó, lão tú tài đổ bệnh rồi qua đời. Hai sư huynh đệ để tưởng nhớ ông, đặt tên là Nhất Trọng Quan, ý là phàm là người từ đây bước ra, nhất định phải làm được "ngoài trong như một", sống một cách đường hoàng cống hiến.
Nghe đến đây, tôi cảm thấy có gì đó không đúng lắm. Nếu ngay từ đầu đã là Nhất Trọng Quan, tức là Song Trọng Quan chưa từng xuất hiện, vậy cái Song Trọng Quan dưới chân lúc này rốt cuộc từ đâu mà ra?
"He he, có phải cậu đang muốn hỏi, cái tên Song Trọng Quan này lại từ đâu mà ra không?" Trúc đạo nhân chỉ nhìn một cái liền đoán được tâm tư của tôi, bỗng tiếp lời: "Đừng vội~ ta sẽ nói cho cậu biết ngay đây!"
Sau khi lão tú tài mất, mọi chuyện thoạt đầu cũng khá yên bình. Nhưng vài năm trôi qua, các đệ tử dưới môn hạ của hai người dần đông lên, thì hai vị sư huynh đệ này lại nảy sinh bất đồng về triết lý nhân sinh.
Nói một cách chính xác, là sự theo đuổi riêng của họ đối với cuộc đời dần dần có những góc nhìn khác nhau.
Mai đạo nhân lớn tuổi hơn, có lẽ cái nhìn về sự việc mang tính thực tế hơn một chút. Ông cho rằng, nếu đã gánh vác một thân bản lĩnh, thì nên phò nguy cứu khốn, cứu vớt muôn dân khỏi chảo lửa lầm than, đó gọi là tu nghiệp.
Còn Trúc đạo nhân lại không nghĩ vậy, ông ngược lại cho rằng sư phụ năm xưa đến đây, chính là để trốn tránh thời loạn, chuyên tâm tu đạo, cuối cùng dùng giáo pháp đại thành để cảm hóa thế gian.
Thực ra mục đích cuối cùng của hai người đều tốt cả, hoàn toàn là để giúp đỡ người khác, điểm khác biệt duy nhất chỉ là phương pháp được áp dụng để đạt được mục tiêu mà thôi.
Vốn dĩ là một chuyện nhỏ, nhưng vì hai người dạy chung một nhóm học trò, người này hôm nay bảo rảnh rỗi nên giúp đỡ người khác nhiều hơn, kẻ kia chớp mắt lại bảo bây giờ phải tu đạo tâm không tạp niệm, giúp người khác là chuyện sau khi đã học thành tài.
Cứ thế này thì thành ra hỗn loạn, các đệ tử bên dưới không biết rốt cuộc nên nghe theo ai, thế là học theo sư huynh một chút, lại học theo sư đệ một chút. Cuối cùng hai người quyết định: mở ra một cuộc tranh luận về việc tu nghiệp hay tu đạo. Và cuộc tranh luận này được tiến hành trong bí mật, địa điểm chính là ở Song Trọng Quan!
Cái Song Trọng Quan này rốt cuộc ở đâu? Nói cho rõ ràng, chính là khi hai người họ đối mặt nhập định với nhau, tâm ý sẽ tương thông, mà không gian nơi tâm ý này tồn tại, chính là Song Trọng Quan.
“Nói cách khác… bây giờ tôi đang ở trong tư tưởng của ngài sao?” Tôi không kìm được mà ngắt lời Trúc đạo nhân. Điều này quá mức kỳ ảo rồi! Một con người lại có thể chạy vào không gian do tư tưởng của người khác tạo ra, mà cảm giác chân thực lại mạnh mẽ đến thế.
“He he, cậu nghĩ sao nào?” Trúc đạo nhân bị tôi cắt ngang, không những không giận, ngược lại còn lùi lại một bước, dang tay về phía tôi và nói: “Cậu tự cảm nhận đi.”
Tôi thử nhảy nhót vài cái, rồi đấm một cú vào bức tường bên cạnh. …Đau! Cảm giác chân thực nhường ấy, khiến tôi cách nào cũng không thể tin nổi, đây lại là trong giấc mơ. Đương nhiên, nếu tôi muốn bước vào tư tưởng của Trúc đạo nhân, chắc chắn là ở trong mơ, chứ không thể nào vừa ở trong đây mà thể xác bên ngoài vẫn đang tung tăng nhảy nhót được.
“Không… chẳng phải người ta nói trong mơ không biết đau sao?” Tôi xoa xoa tay, cúi đầu lẩm bẩm nói.
Trúc đạo nhân vỗ vỗ vai tôi, ra hiệu tiếp tục đi, nói: “Cái này lại không giống mơ lắm, tóm lại là, tâm pháp để đi vào sau đó đã được chúng tôi khắc lên chiếc nhẫn đồng đó, dùng để tượng trưng cho thành tựu cao nhất của hai chúng tôi. Nói cách khác, ai nắm giữ chiếc nhẫn đồng này, chính là người lãnh đạo của phái chúng ta.”
“Rồi sao nữa? Kết quả của cuộc tranh luận đó thế nào?” Tôi nhớ đến việc vừa nãy không kìm được mà ngắt lời thuật lại của Trúc đạo nhân, ngượng ngùng nhắc nhở.
Trúc đạo nhân mỉm cười đầy hàm ý, nói tiếp: “Sau đó thì~ cậu cũng thấy rồi đấy, chúng ta đã tranh luận ở đây suốt bảy ngày bảy đêm, không ai thuyết phục được ai, thế nên quyết định dùng thực lực để phân định thắng thua. Cho nên, Song Trọng Quan đã biến thành bộ dạng mà cậu nhìn thấy khi vừa bước vào lúc nãy.”