Người Mệt Mỏi

Lượt đọc: 54 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6

❊ ❊ ❊

Cô gái mười bảy một tám tuổi đó lại là ai cơ chứ? Vóc dáng không cao không thấp ấy mới uyển chuyển làm sao! Cô mặc một chiếc áo ngắn tay màu trắng điểm những bông hoa màu xanh nhỏ, cùng chiếc váy màu ngó sen. Cánh tay và đôi chân trắng ngần tựa như ngà voi, mái tóc ngắn ngang tai đen nhánh ôm lấy khuôn mặt trái xoan thanh tú, cũng trắng mịn như ngà voi, hai bên má ửng lên một lớp hồng phác phác. Hàng mày của cô rất thanh, rất nhỏ, lại rất dài, đuôi mày kéo dài tận vào trong mai tóc. Dưới đôi mày thanh tú ấy là một đôi mắt hạnh đen trắng rõ ràng. Người ta vẫn bảo mắt hai mí, đặc biệt là mắt của phụ nữ, không còn nghi ngờ gì nữa là đẹp hơn mắt một mí của họ. Thế nhưng anh lại cho rằng đôi mắt hạnh một mí của cô chắc chắn là đôi mắt đẹp nhất vô song trên khắp đất Trung Quốc, trong đôi mắt ấy ẩn chứa một ánh nhìn bình yên đến vô cùng, ngây thơ tựa như chú nai nhỏ. Bộ ngực cô rất đầy đặn, dáng điệu khoan thai. Chân cô đi một đôi giày vải đen đế bằng có quai khóa, không đi tất, làm nổi bật mu bàn chân trắng tựa ngọc...

Vậy rốt cuộc cô ấy là ai?

Anh không biết.

Năm đó anh đã là một nam sinh năm hai cấp hai. Cuộc "Cách mạng Văn hóa" đã sớm bắt đầu, trên đường đến trường tham gia các hoạt động "đại phê phán", anh thường nhìn thấy cô. Cô rõ ràng cũng là một nữ sinh năm hai hoặc năm ba cấp hai, nhưng hiển nhiên không học cùng trường với anh, nếu không bọn họ đã có cơ hội chung đường rồi. Khi anh nhìn thấy cô, cô luôn khoan thai đi từ một con đường dốc xuống, còn anh thì buộc phải đi băng qua con đường dốc ấy để rẽ vào một ngõ nhỏ. Anh thường cố tình cúi đầu bước chậm lại, đợi khoảng cách với cô rút ngắn rồi mới đột ngột ngẩng đầu lên, mục đích là để có cơ hội ngắm nhìn cận cảnh khuôn mặt thanh tú của cô. Dẫu vậy, anh chưa từng thu hút được sự chú ý của cô. Phải, chưa từng. Mùa hè năm đó, anh khoảng chừng nhìn thấy cô mười lăm, mười sáu lần, có cơ hội ngắm nhìn cận cảnh khoảng bảy, tám lần. Nhưng cô chưa từng vì anh mà đi chậm lại một nhịp, ánh mắt cũng chưa từng liếc về phía anh dù chỉ một lần. Mặc dù anh đã tính toán trăm phương ngàn kế để tiếp cận cô, mặc dù khao khát có được một ánh nhìn của cô, dù chỉ là một ánh nhìn vô tình đi nữa, thế nhưng cô lại hoàn toàn không hay biết. Ánh mắt thờ thẫn trong mắt cô tựa như tất cả những sự kiện lật trời đổi đất xảy ra ở Trung Quốc năm ấy, thảy đều hoàn toàn chẳng can gì đến cô...

Thế mà cô lại trở thành một người tình mà anh từng thầm yêu. Một vị nữ thần đẹp đến mức anh hoàn toàn không dám mơ tưởng viển vông, mà chỉ hy vọng được gặp lại thêm vài lần, dù chỉ một lần cũng mãn nguyện. Cho đến tận bây giờ khi đã bốn mươi sáu tuổi, hình bóng cô của những năm tháng ấy vẫn lưu giữ rõ nét trong ký ức của anh. Bất kể lúc nào, chỉ cần nhớ lại, cô sẽ sống động hiện lên từ trong ký ức của anh, khó phai mờ hơn bất kỳ ký ức sâu sắc nào về thời thơ ấu và thiếu niên của chính mình. Anh hiểu rằng, không còn nghi ngờ gì nữa, cô sẽ được trân giấu trong ký ức của mình suốt cả cuộc đời.

Sau đó, cha anh đột qua đời vì bệnh tim. Cha vác một bao tải nặng trên phân xưởng, đi chưa được mấy bước thì ngã sụp xuống, ra đi một cách thật dễ dàng.

Lại sau đó, mẹ anh mắc bệnh ung thư. Mẹ chưa từng nằm viện, bởi vì không có đơn vị công tác, không có nơi nào ứng trước tiền viện phí nên đành chịu, chẳng ở nổi viện, mẹ cứ ngày qua ngày chống chọi cho đến chết tại nhà. Đó là những ngày tháng bi thảm nhất trong ký ức của anh, thậm chí trên tấm ảnh chụp chung tốt nghiệp cấp hai của lớp cũng không có mặt anh. Trong những ngày mẹ vật lộn với bệnh tật trên giường bệnh từng ngày, anh lấy tâm trạng đâu mà chụp ảnh tốt nghiệp? Lại càng tiếc không nỡ đóng hơn bảy hào tiền đó.

Trước lúc lâm chung, một tay mẹ nắm lấy tay anh, một tay nắm lấy tay em trai, ngấn lệ nói cho anh biết — anh không phải là con ruột do cha mẹ sinh ra, không có quan hệ huyết thống với cha mẹ. Anh là đứa trẻ được cha nhặt về từ dưới một vòm cầu xe lửa sau khi cha mẹ kết hôn hơn ba năm. Năm đó mẹ phiền muộn vì không có con, bàn bạc với nhau một hồi liền nhận nuôi anh như xương thịt ruột thịt của mình. Nào ngờ chỉ nửa năm sau, chẳng biết bài thuốc dân gian nào đã tác dụng lên phía cha hay mẹ, mẹ lại kỳ diệu mang thai lần nữa, đứa con sinh ra tự nhiên phải là người em trai kém anh hơn một tuổi...

Mẹ nói: "Quân Sinh à, con ơi, trời đất quỷ thần ơi, mẹ đối xử với con rốt cuộc thế nào, trong lòng con lẽ nào không rõ. Mẹ không mong cầu gì con năm nào cũng đốt vàng mã ra mồ mả cho tao và bố con, chỉ cầu con có thể giống như chăm sóc em ruột của mình, chăm sóc thật tốt em trai con. Dù là ruột thịt hay không, hai đứa các con đều do một tay mẹ nuôi khôn lớn..."

Khoảnh khắc đó, anh phủ phục trên người mẹ khóc nức nở, tiếng khóc ấy thật sự là trời đất tối tăm, sống đi chết lại. Anh chẳng bận tâm gì đến sự khác biệt giữa mẹ nuôi và mẹ ruột, cũng chẳng bận tâm vì sao mình lại bị người phụ nữ sinh ra mình vứt bỏ, anh chỉ cảm thấy tuyệt vọng trước việc một người phụ nữ đã nuôi nấng anh khôn lớn, và dùng chuẩn mực đạo đức làm người của chính mình để ân cần dạy dỗ anh, nay sắp sửa chết ngay trước mắt. Mà bà là người phụ nữ yêu thương anh nhất trên đời này, cũng là người mà anh kính trọng và thân thiết nhất. Sự tuyệt vọng vì không thể cứu sống bà, cùng sự tuyệt vọng vì sau này không còn cơ hội báo đáp ơn nghĩa của bà, khiến anh chỉ hận không thể chết thay cho bà, chết cùng bà...

Anh vừa khóc nức nở vừa tuyệt vọng dùng trán đập vào thành kang. Đập cho thành kang bằng gỗ phát ra tiếng bộp bộp, đập cho trán sưng phồng lên. Còn mẹ thì đẫm nước mắt van xin anh: "Con ơi là con, đừng làm thế này nữa mà! Mẹ biết trong lòng con khó chịu, nhưng con làm thế này, mẹ nhìn thấy trong lòng cũng khó chịu lắm con ơi!..."

Đôi bàn tay gầy gò trơ xương của mẹ hoảng hốt, run rẩy che chắn lấy mép kang bằng gỗ cứng, là để ngăn trán anh cứ thế đập trực diện vào cạnh kang.

Hôm sau, khi anh và em trai lau mặt lau tay cho mẹ, mới phát hiện các khớp ngón tay của mẹ đều bầm tím. Đó là do những cú đập đầu liên hồi của anh, bị cấn vào góc cạnh của thành kang mà thành.

Một khi người mẹ hiền từ bỗng chốc biến thành mẹ nuôi, hơn nữa lại là sự thật rành rành, thì con người ta sẽ cảm thấy lịch sử của mình hoàn toàn bị đảo lộn. Kể từ đó, anh bắt đầu tưởng tượng đủ mọi kiểu về mẹ ruột của mình, cái ma chướng tưởng tượng ấy đã đeo bám anh mười mấy năm trời, mãi cho đến khi anh kết hôn và sinh con trai thì mới nhạt dần đi. Lại sau đó chính là "thanh niên trí thức đi về nông thôn". Theo quy định, giữa anh và em trai bắt buộc phải đi một người. Anh nghĩ, người phải đi "về nông thôn" đương nhiên nên là mình. Nhưng rồi nghĩ đến lời dặn dò trước lúc lâm chung của mẹ nuôi, anh lại thực sự không thể yên tâm nổi về đứa em trai không rẫm rướm sự đời, thiếu khả năng tự chăm sóc bản thân. Sau nhiều lần đắn đo, anh quyết định trốn tránh phong trào "về nông thôn", bàn bạc với em trai, em trai ủng hộ anh. Anh nhìn ra em trai quá ư phụ thuộc vào mình, cứ như thể thiếu vắng anh bên cạnh thì hoàn toàn chẳng biết phải sống thế nào.

Thế là đêm nọ, vài ngày sau, anh từ biệt đứa em trai bịn rịn không nỡ rời xa, mang theo hơn chục đồng và một bọc hành lý nhỏ, lặng lẽ rời khỏi nhà len lỏi lên tàu hỏa lang thang sang tỉnh khác. Anh hứa với em trai nửa năm sau sẽ trở về bên cạnh em. Đầu óc hai anh em lúc bấy giờ đều đơn giản làm sao, cứ tưởng phong trào "về nông thôn" chẳng qua chỉ là một cơn gió chính trị, dài nhất là nửa năm sẽ quét qua Trung Quốc.

Cuộc sống lang thang chịu đói rét, hứng chịu đủ điều lăng nhục của anh thì không cần phải kể tỉ mỉ. Anh từng ăn trộm đồ, từng bị đòn roi nhừ tử, từng bị đưa vào trạm thu dung, từng giả điên giả dại. Nửa năm sau, anh đúng hẹn trở về nhà, đón chào anh không phải là đứa em trai ngày nhớ đêm mong, mà là một chiếc ổ khóa lớn trên cửa nhà. Người hàng xóm nói cho anh biết, hơn một tháng sau khi anh bỏ nhà đi, em trai vì không chịu nổi sự động viên liên hợp của nhà trường và ủy ban khu phố, đã đi Bắc Đại Hoang rồi. Qua biểu cảm của người hàng xóm, anh nhìn thấy sự lên án dành cho người anh như anh. Phải rồi, chính mình thì trốn sang tỉnh khác lại đẩy em trai vào phong trào "về nông thôn", còn xứng làm anh nữa không? Anh đã học được cách hút thuốc trong những ngày tháng lang thang, đêm đó anh hút sạch cả một bao thuốc lá kém chất lượng.

Hôm sau, anh tìm đến ủy ban khu phố, dùng giọng nói đã bị khàn đi vì khói thuốc rẻ tiền, khẩn cầu cho phép mình đi Bắc Đại Hoang để đổi lấy em trai về.

Thế nhưng người ở ủy ban khu phố nói, anh muốn đi Bắc Đại Hoang thì được, đi lúc nào hoan nghênh lúc đó. Nhưng nếu hòng đổi em trai về thì quả thực là nằm mơ giữa ban ngày. Hộ khẩu thành phố đã xóa rồi mà muốn nhập lại là nhập được ngay chắc? Lại bảo cha mẹ hai anh em đều đã qua đời, chẳng có gánh nặng hay vướng bận gì, đúng lúc nên đến chốn thiên địa rộng lớn mà rèn luyện cho tốt.

Anh đòi địa chỉ liên lạc của em trai từ đối phương, đối phương lạnh lùng đáp không biết.

Anh lại đến trường của em trai để hỏi, nhà trường chỉ cho anh một địa chỉ đại khái. Nói cụ thể được phân về trung đoàn nào, tiểu đoàn nào, đại đội nào thì nhà trường cũng không rõ, chỉ có viết thư về sư bộ để tra cứu.

Anh gửi đi một bức thư theo địa chỉ đại khái mà nhà trường cung cấp, chờ mãi không thấy hồi âm, lại gửi thêm một bức thư nữa, vẫn bặt vô âm tín. Bức thư thứ ba vừa viết xong định gửi thì nhân viên bưu điện đưa tới một bức công văn của sư bộ ấy, anh vội vã xé toạc phong bì rút tờ giấy ra, thứ đập vào mắt lại là một tờ giấy báo tử. Trên đó chỉ viết vắn tắt sáu chữ "tử vong ngoài ý muốn", giục người nhà mau chóng tới lo liệu hậu sự...

Anh ngất xỉu.

Cái chết của em trai quả thực là "tử vong ngoài ý muốn" — một hôm em trai cùng vài nam thanh niên trí thức vác liềm trên vai đi đánh cỏ ngựa trở về, đi dọc theo bờ sông. Nước sông trong vắt thấy đáy, em trai phát hiện có cá dưới sông đang bơi lội ven bờ, thế là em trai làm ra hiệu ra ý bảo mọi người im lặng, thế là tất cả đều dừng chân, nhìn em trai giơ cao chiếc liềm, dùng cán liềm đâm cá. Từ bờ sông xuống mặt nước cao hơn một mét, còn chưa đợi mọi người hiểu rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, em trai đã ngã nhổm xuống sông, nước sông lập tức nhuộm đỏ. Mọi người hoảng loạn xúm tay vào kéo em trai lên bờ, phát hiện phần đầu giáp với gáy sau của em trai suýt chút nữa bị liềm chém đứt lìa, chỉ còn dính lại một lớp da...

Lãnh đạo trong đoàn và đại đội nói với anh, đã kỷ luật một tiểu đội trưởng chiến sĩ cũ. Bởi vì làm tiểu đội trưởng thì có trách nhiệm phải giảng giải rõ ràng cho thanh niên trí thức mới dùng liềm về mọi thứ kiến thức an toàn khi sử dụng liềm.

Dưới đó không có lò hỏa táng. Anh không cách nào mang tro cốt của em trai về thành phố, em trai đã được chôn cất trên mảnh đất Bắc Đại Hoang. Trong mấy ngày ở đại đội, anh cảm thấy chính mấy thanh niên trí thức tự nhận là có quan hệ tốt với em trai khi sinh thời, thái độ đối với anh lại lạnh nhạt bất thường. Bọn họ không thèm đếm xỉa đến anh giống như không thèm đếm xỉa đến một kẻ tiểu nhân đê tiện, anh không rõ rốt cuộc là vì sao. Có một hôm anh thực sự không chịu nổi sự khinh miệt rõ mồn một ấy, liền lôi cổ một kẻ trong số đó ra khỏi ký túc xá nam thanh niên trí thức rồi hung hăng truy vấn. Đối phương nói cho anh biết, khi em trai trò chuyện với bọn họ về anh, trong lời nói toàn chứa đựng sự oán hận. Trước khi chưa gặp anh, trong lòng bọn họ đã có ấn tượng tồi tệ về anh rồi. Bọn họ cũng giống như em trai anh, cho rằng anh là một kẻ bội tín bội nghĩa và vong ân phụ nghĩa...

— "Tôi không phải!"

Anh gầm lên, hai tay bóp chặt cổ đối phương, chỉ hận không thể bóp chết gã.

— "Mày chính là! Mày vì muốn được ở lại thành phố nên đã giở trò lừa gạt em trai mày! Mày ích kỷ đến cùng cực! Mày hoàn toàn không xứng đáng để nó coi mày là anh ruột! Mục đích của mày chẳng phải đã đạt được rành rành ra đó sao!"

Đối phương bị anh bóp cho đỏ bừng mặt, nhưng lại chẳng hề giãy giụa, ra vẻ thà bị bóp chết chứ tuyệt đối không thừa nhận anh là một người anh tốt.

— "Tôi không tin! Tôi không tin! Em trai tôi không nghĩ như thế, lại càng không nói những lời này với các người!"

— "Nó chính là nghĩ như vậy. Nó cũng chẳng chỉ một lần tận miệng nói với chúng tôi như thế! Mày không tin thì cứ đi mà hỏi mấy người bạn khác của nó!"

Anh bóp cổ người ta, đồng thời cảm thấy cổ mình cũng tựa như bị một đôi bàn tay vô hình mà lực lưỡng bóp chặt lại, bức bối đến mức lồng ngực không thở nổi. Cuối cùng anh buông thõng hai tay, há hốc mồm, trừng trừng nhìn đối phương, thở hồng hộc từng nhịp nặng nhọc, giống như một con gấu bị dùi cui điện đánh cho choáng váng đầu óc.

— "Tôi cũng là anh! Hai anh em chúng tôi cũng phải đi một người! Nhưng người không chút do dự báo danh chính là tôi! Người không chút do dự đến Bắc Đại Hoang cũng chính là tôi! Tôi không tài nào coi trọng anh nổi!"

Đối phương nhổ một bãi nước bọt xuống đất, phắt mình quay lưng bỏ đi.

Mục đích ban đầu là một lòng nghĩ cho em trai, cuối cùng lại biến thành sự hiểu lầm bị em trai hoài nghi, hơn nữa vĩnh viễn không còn cơ hội minh oan và xóa bỏ.

Chuyện này từ đó cắm sâu vào tim anh như một con dao, cho tới tận bây giờ con dao đó vẫn chưa từng rút ra khỏi tim anh. Chỉ là bị cơ tim siết chặt lấy, kẹp chặt lấy, không còn rỉ máu nữa. Muốn rút con dao này ra thì chỉ có thể nhờ vào em trai, mà em trai thì đã chết rồi.

Lãnh đạo trong đại đội và đoàn hỏi anh có yêu cầu gì không?

Anh nói chỉ có một yêu cầu duy nhất, đó là hy vọng được ở lại đại đội này làm một thanh niên trí thức thay thế vị trí của em trai.

Yêu cầu của anh được chấp thuận. Sau đó, những lời đồn đại cay độc lan truyền khắp toàn đại đội. Điều này khiến anh không dám mơ mộng có bạn bè, thực tế thì anh hình như cũng không còn hy vọng có bạn bè nữa, chẳng những không có bạn bè, mà trong lòng cũng chẳng còn bất kỳ sự theo đuổi nào. Nào là tranh đua làm "chiến sĩ ngũ hảo", "cờ thi đua Mao trác"; nào là tuyển công nhân, lên đại học, nào là chuyện nam thanh nữ tú chuyền tay viết thư tình, thảy đều không đến lượt anh. Anh dường như chỉ biến thành một con bò, hay một con ngựa của đại đội. Mỗi ngày chỉ biết làm việc, ăn cơm, đi ngủ; đi ngủ, ăn cơm, làm việc.

Anh thường một mình leo lên sườn núi phía sau ban chỉ huy đại đội. Mộ của em trai nằm trên sườn núi. Những ngày tuyết rơi, từng có người nhìn thấy anh ngẩn ngơ ngồi trước mộ em trai, trên người phủ đầy tuyết, trông như một người tuyết. Những ngày mưa lớn, cũng từng có người nhìn thấy anh ngẩn ngơ ngồi trước mộ em trai, mặc cho mưa to xối xả, bất động, giống như một vị Phật ngồi tịch diệt trong mưa lớn.

Nếu như ban đầu bản thân không tự cho là thông minh, chủ động báo danh xuống nông thôn, thì em trai đã không chết; dù có cùng em trai xuống nông thôn đi nữa, em trai cũng sẽ không chết. Bởi vì tiểu đội trưởng tắc trách, nhưng người làm anh như anh chắc chắn sẽ nghĩ đến và cẩn trọng làm tròn trách nhiệm — những lời tự trách tự hận đại loại như thế, cứ sắc nhọn như răng chuột ngày này qua tháng nọ gặm nhấm trái tim anh, gặm nhấm tâm hồn anh, khiến tâm hồn anh khó lòng có được một phút giây yên bình. Về sau, đến cả bản thân anh cũng có chút không phân biệt nổi, dụng ý ban đầu của mình rốt cuộc là tốt đẹp, hay thực sự là muốn giở trò. Sự tồn tại của anh, thoạt nhìn hình như chỉ thuần túy vì để sám hối mà tồn tại. Mọi người cũng dần quen với việc chỉ coi anh như một mẫu vật người sám hối. Không thương hại anh, cũng không còn quá mức kỳ thị anh. Bởi vì ai nấy đều cho rằng anh nên cứ thế mà vĩnh viễn tiến hành sám hối. Bởi vì một kẻ sám hối kiểu mẫu trong cuộc sống cũng có ý nghĩa tồn tại của nó, có thể dùng làm giáo viên phản diện cho những kẻ bội tín bội nghĩa và vong ân phụ nghĩa. Cứ thế, anh đành lòng bị phớt lờ, thầm lặng trải qua từng năm từng tháng ở Bắc Đại Hoang, trong suốt bảy, tám năm trời thậm chí không về thăm nhà lấy một lần, một mái nhà tan hoang chẳng còn thân nhân nào ngóng trông mình trở về, thì còn có thể coi là nhà nữa sao?

Cho đến khi "đại hồi thành", vận mệnh lưu vong của toàn thể thanh niên trí thức đại đội đều kết thúc. Vào ngày đó, bọn họ mới bắt đầu nhận thức được rằng, anh có chăng là một người tốt đáng để giao du, đáng để đối xử tử tế, đáng để đồng cảm và thậm chí — đáng để kính trọng. Anh làm việc là người chịu khó chịu khổ nhất, chưa từng tham gia vào bất kỳ cuộc đấu đá phe phái nào giữa các thanh niên trí thức. Anh không tranh danh không đoạt lợi, chưa từng khơi mào thị phi gây chuyện điều thị. Hơn nữa, trong suốt bảy, tám năm trời, có bảy, tám nam nữ thanh niên trí thức từng "mượn" kỳ nghỉ phép về thăm nhà của anh, vậy mà chẳng ai thèm nói một câu cảm ơn với anh, anh cũng chẳng hề ra hiệu cho ai thấy rằng mình cần một lời biểu đạt sự biết ơn. Anh chưa từng ăn một viên kẹo nào do những nữ thanh niên trí thức "mượn" kỳ nghỉ phép của mình mang từ thành phố về, chưa từng hút một điếu thuốc ngon nào do những nam thanh niên trí thức "mượn" kỳ nghỉ phép của mình mang từ thành phố về...

Chính là anh đã đánh xe ngựa đưa bọn họ ra huyện để bắt xe khách đường dài.

Lúc chia tay, đám thanh niên trí thức vây quanh xe ngựa vây quanh anh, hình như ai nấy đều có rất nhiều điều muốn nói với anh, mà hình như lại đều không biết nên nói với anh những lời gì cho phải.

Khi anh ngồi lên xe ngựa quất roi vụt lên, một nữ thanh niên trí thức mới rụt rè thấp giọng hỏi: "Vương Quân Sinh, tự anh khi nào thì đi?"

Anh nói: "Tôi không đi. Tôi muốn ở lại bầu bạn với em tôi cả đời."

Chỉ một câu nói ấy, khiến đám thanh niên trí thức nước mắt tuôn như suối, khóc nức nở. Bọn họ bất kể nam nữ, từng người một nhào tới chỗ anh, đều muốn ôm chặt lấy anh để từ biệt.

Còn anh thét lớn một tiếng "Giá!" — roi quất xuống lưng ngựa, đánh xe xông thẳng qua vòng vây của bọn họ, đầu đội gió bắc tuyết lạnh quay trở về...

Về sau, qua nhiều lần khuyên bảo kiên trì đầy tâm huyết của lãnh đạo đại đội, anh mới rời khỏi Bắc Đại Hoang. Bảy, tám năm trời anh tích cóp được hơn một nghìn đồng, anh để lại năm trăm đồng cho một công nhân già đáng tin cậy nhất trong đại đội, dặn dò đối phương mỗi năm thay mình ra mộ em trai nhổ cỏ, đắp thêm đất...

Sau khi hồi thành, anh "thất nghiệp chờ việc" ba tháng, tiêu mất hơn một trăm đồng, dùng ba trăm đồng để "đi cửa sau" vào nhà máy nước tương. Nếu như năm ấy anh có thêm vài trăm đồng nữa, có lẽ đã may mắn được phân công vào một đơn vị có điều kiện tốt. Khi ấy cuộc đời anh đã có cơ hội rẽ sang một hướng đi khác, biết đâu giờ này cũng đã chen chân lên làm một vị trưởng phòng. Nhưng ngẫm lại cho kỹ, một số đơn vị tốt năm nào, mười phần thì có bảy tám phần giờ đây phát không đủ lương, đang trong đợt cắt giảm nhân sự. Ngược lại cái nhà máy nước tương mà hồi đó chẳng ai thèm nhòm ngó, bây giờ lại là "hàng độc nhất vô nhị không đâu có" trong toàn thành phố, trái lại trở thành đơn vị chẳng những đảm bảo tiền lương mà tiền thưởng còn khá cao...

Nhớ lại từng chồng chuyện cũ này, người đàn ông bốn mươi sáu tuổi, bị người lạ đánh gãy hai chiếc xương sườn, đang nằm dưỡng thương công tang trong căn nhà bị tước đoạt ánh sáng, nước mắt vô thức rơi tí tách lên cuốn album ảnh.

Anh dùng mu bàn tay quệt nước mắt, ánh mắt rơi vào tấm ảnh cưới của anh và vợ, đó là một tấm ảnh đen trắng bán thân cỡ sáu inch. Năm đó đã có ảnh màu rồi, nhưng giá cả đối với họ lúc bấy giờ quả thực quá đắt đỏ, họ không nỡ chụp ảnh màu. Hơn nữa kết hôn đối với họ dường như càng giống một nhiệm vụ cuộc đời hơn, trước khi kết hôn họ đều rất thẳng thắn thừa nhận điểm này. Cho nên đều chủ trương lấy sự đơn giản, tiết kiệm làm nguyên tắc hàng đầu.

Từ tấm ảnh "tròn trăm ngày" của chính mình cho đến tấm ảnh cưới chụp cùng vợ, những khoảng trống trong album ảnh đều được bù đắp bằng ký sự hồi ức, nhưng lại cảm thấy một sự mệt mỏi đặc biệt, một sự mệt mỏi trong tâm can. Lẽ nào hồi ức có đôi khi lại là một việc mệt mỏi hơn cả làm việc nặng nhọc cơ chứ? Anh nghĩ mãi không thông, vô cùng hoang mang. Đã nhiều năm rồi anh không dùng dầm dề tâm sức để nhớ lại chuyện cũ thế này, cho dù có thỉnh thoảng nhớ lại, thì thường cũng chỉ là những mảng miếng vụn vặt. Anh cảm thấy cuộc hồi ức cuồn cuộn như thủy trào tuôn trào không dứt diễn ra trong ngày hôm nay, khiến bản thân giống như vừa bị rút đi mấy trăm CC máu, rơi vào một trạng thái suy nhược nghiêm trọng mất sức đến khó tả. Anh thậm chí còn không rõ ràng lắm giọt nước mắt của mình là do phần nào trong ký ức mà tuôn trào. Là vì cái chết của mẹ nuôi hay vì cái chết của em trai? Là vì nỗi khổ trong lòng mình năm xưa hay vì cảnh đám bạn bè thanh niên trí thức năm ấy vây quanh mình mà kìm không được cùng nhau khóc nấc lên một trận? Là vì sự hổ thẹn hay vì sự cảm động? Nói không rõ. Tóm lại là nói không rõ. "Cắt chẳng đứt, gỡ càng rối."

Sau tấm ảnh cưới là ảnh "tròn trăm ngày" của con trai, anh cứ lật qua xem ảnh "tròn trăm ngày" của mình, rồi lại lật lại xem ảnh "tròn trăm ngày" của con trai, cảm thấy bản thân lúc "tròn trăm ngày" và con trai lúc "tròn trăm ngày", đều giống hệt những con cá nhám dải. Đều có chút quái dị, có chút buồn cười. Sự quái dị và buồn cười hòa quyện lại thành một thứ dáng vẻ đáng yêu khiến người ta vừa nhìn đã dâng trào lòng trắc ẩn. Lúc là trẻ sơ sinh, anh bị suy dinh dưỡng, con trai cũng thế. Tấm ảnh "tròn trăm ngày" của anh là do mẹ nuôi đưa cho anh trước lúc lâm chung. Mẹ nuôi nói lúc cha nuôi nhặt được anh, bức ảnh nằm trong chiếc khăn nhỏ bọc anh, đặt ngay trước ngực nhỏ của anh. Phía sau tấm ảnh đó có viết bằng bút chì nguệch ngoạc mấy chữ — "Đứa trẻ này sinh mẫu Khúc Tú Phương, sinh phụ Trương Đức Sơn". Lúc anh nhận lấy bức ảnh từ tay mẹ nuôi, nét chữ vẫn còn lờ mờ phân biệt được, nay nét chữ đã mờ tịt đến mức hoàn toàn không nhìn rõ nữa. Giờ đây anh sớm đã dứt khoát dập tắt đi ý định tìm kiếm cha mẹ ruột rồi. Ai mà biết họ còn sống trên đời này hay không? Ai mà biết giờ này họ có còn là vợ chồng hay không, nếu không còn là vợ chồng thì còn có liên lạc gì nữa không chứ? Họ có vui mừng khi bỗng nhiên xuất hiện trước mặt một đứa con trai lớn đã bốn mươi sáu tuổi chẳng có chút chí hướng nào mà lại mệt mỏi rã rời đến cực độ hay không? Nếu như anh sống rất sung túc, anh ngược lại sẵn sàng không so đo chuyện bị vứt bỏ mà để họ được thơm lây nhờ mình; nếu như họ sống rất sung túc, lại còn có tài sản để thừa kế, anh cũng ảo tưởng có thể được thơm lây nhờ họ. Ai bảo họ là cha mẹ ruột của mình cơ chứ? Nhưng... nhỡ đâu họ không chỉ sống trên đời, mà lại là một cặp già khốn khổ không nơi nương tựa, nghèo túng cùng cực thì sao?...... Vợ mình lại "hạ cả", thất nghiệp rồi... Bản thân mình còn có khả năngng phụng dưỡng một cặp người già nữa không? Ở tuổi bốn mươi sáu, anh thường cảm thấy bản thân sớm đã sống đủ lắm rồi, mệt mỏi đến mức sắp không gượng nổi nữa. Giống như một con ngựa già nửa mùa từng bị chủ nhân sai khiến quá vất vả trước kia...

Anh cảm thấy bản thân hiện giờ chỉ có thể miễn cưỡng hoàn thành một phần trách nhiệm một phần nghĩa vụ mà thôi, đó chính là trách nhiệm và nghĩa vụ đối với con trai. Lại thêm dù chỉ một chút trách nhiệm hay nghĩa vụ nhỏ nhặt nữa thôi, anh cũng sẽ bị đè bẹp.

Từ bức ảnh "tròn trăm ngày" của con trai, tự nhiên liền liên tưởng đến sự chào đời của con trai. Anh mãi mãi không thể nào quên đêm mưa muộn màng cuối thu ấy — vợ lay anh tỉnh dậy, rên rỉ không ngừng mà nói: "Mau đến bệnh viện đi, em sắp sinh rồi!"

Anh lập tức ngồi dậy, nhìn chiếc bụng to vượt mặt của vợ, nửa tin nửa ngờ, trong lòng không có chủ kiến liền hỏi: "Em nắm chắc chứ? Anh từng đi thăm dò ở bệnh viện rồi, giường bệnh ở bệnh viện rất căng thẳng, sản phụ đến sớm là người ta không tiếp nhận đâu."

Thời buổi ấy vợ sinh con cũng phải nhờ vả quan hệ đi cửa sau, không có quan hệ không có cửa sau, thì chỉ đành dựa vào việc sản phụ tự mình nắm bắt chính xác thời gian. Thông thường phải trước đó ba ngày mới có tư cách nhập viện, nếu muốn sớm trước bốn năm ngày thì phải dựa vào quan hệ cửa sau. Mà với tư cách là người chồng như anh, lại chẳng có bất kỳ quan hệ hay cửa sau trực tiếp hay gián tiếp nào với phía bệnh viện, tiền đề để anh đưa ra quyết định chỉ có thể dựa vào cảm giác của vợ. Việc nắm bắt thời gian thật chuẩn xác không sai một li giữa ba ngày và bốn năm ngày, đối với một sản phụ, đặc biệt là một sản phụ sinh con lần đầu, thì yêu cầu đặt ra chẳng khác nào đòi hỏi của chủ nhà đối với người giúp việc theo giờ cả. Sinh con và chết chóc là hai việc khác nhau. Một người nói "Tôi không chịu nổi nữa rồi. Tôi sắp chết đến nơi rồi!" thì việc đó thường là không chịu nổi thật, quả thực ngay lập tức sắp chết đến nơi. Còn một sản phụ nói: "Em sắp sinh rồi!" thì có lẽ hoàn toàn chỉ là một thứ giả tượng cận kề ngày sinh nào đó, là sự ngộ nhận đối với người khác. Cho nên với tư cách là người chồng, anh đã biểu hiện ra dáng vẻ bình tĩnh điềm đạm, lâm nguy không sợ, lâm sự không loạn!

Vợ lại tuôn rơi nước mắt, mắng anh: "Vương Quân Sinh anh là đồ khốn nạn! Anh không coi sự an nguy của hai mẹ con tôi ra gì đúng không! Nếu như hai mẹ con tôi mà có mệnh hệ gì, tôi sẽ dây dưa với anh suốt đời suốt kiếp! Ái chà! Ái chà trời ơi, sao tôi lại vớ phải cái ông bác sĩ lề mề thế này cơ chứ!"

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 7 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.