Trong mối quan hệ giữa nam và nữ, ở đây đặc biệt chỉ mối quan hệ vừa có sự ân ái về thể xác lại vừa lấy tình yêu làm sợi dây liên kết, chứ không phải kiểu quan hệ thuần túy Platon, tôi nghĩ chắc hẳn có một thứ định số nào đó có lẽ chỉ có thể gọi là "duyên" chăng? Quá nhiều người đã khái quát hóa chữ "duyên", cho rằng trong thế giới lớn lao này, giữa hàng vạn chúng sinh, một nam một nữ một khi đã phát sinh chuyện yêu đương và quan hệ xác thịt, thì chung quy lại đều coi là có "duyên". Nghĩ như vậy thì khá phù hợp với sự giải thích của Phật giáo, nhưng đó không phải là ý nghĩa mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây.
Ý nghĩa mà tôi muốn nhấn mạnh là——trong mối quan hệ giữa nam và nữ, nếu can thiệp một loại nhân tố tựa như định mệnh, tức là nhân tố mà thoạt đầu một bên không muốn thừa nhận nhưng cuối cùng vẫn tâm cam tình nguyện, không một oán hận mà thừa nhận nó đang phát huy tác dụng, thì mới được coi là "duyên". Mà "duyên" đã tồn tại, tất sẽ có sự phân biệt giữa tốt, không tốt lắm và xấu. Loại không tốt lắm và xấu thì không cần phải bàn kỹ nữa. Bởi vì điều đó có thể được hiểu theo chủ nghĩa duy tâm rằng đó là sự thử thách của ông trời đối với con người. Đã gọi là thử thách, con người dĩ nhiên có thể và dĩ nhiên có quyền thay đổi nó. Không mưu cầu thay đổi, hoặc phương pháp ngu ngốc thậm chí tội ác, đều là trách nhiệm của chính con người. Thay đổi thành công, chính là vượt qua thử thách. Ở đây chỉ bàn về loại "duyên" tốt đẹp đó. Sở dĩ nó tốt, nằm ở chỗ nó chính là điều mà con người đang hướng về thế giới này để cầu xin. Cho dù thoạt đầu bạn không hề cảm thấy nó tốt, nhưng nó hết lần này đến lần khác xuất hiện trong cuộc đời bạn, cuối cùng đã khơi gợi sự coi trọng của bạn đối với nó. Mà một khi bạn đã coi trọng nó, bạn cũng bắt đầu có cái nhìn mới mẻ, đánh giá khác đi đối với người phụ nữ (hoặc người đàn ông) đã từng bước xen vào cuộc đời bạn đó. Kết quả là bạn bắt đầu cảm thấy may mắn vì yêu cô ấy là hoàn toàn xứng đáng đối với cuộc đời chỉ có một lần này của bạn. Thế thì cô ấy cũng sẽ nói cho bạn biết, cô ấy cũng cảm thấy may mắn tương tự...
Mà văn nghệ và văn bằng, có sức ảnh hưởng gần như tương đương đối với con người. Một người có được văn bằng đại học hoặc trên đại học là thật chứ không phải giả, dù là nam hay nữ, nếu vốn dĩ là người thành phố, thì sau đó lại càng giống người thành phố hơn. Đối với người này, theo cách nói thịnh hành hiện nay, tấm văn bằng đó tượng trưng cho một loại "vốn tri thức". Dường như có thêm chút "vốn tri thức" so với những người thành phố thiếu "vốn tri thức", khỏi phải nói, tự nhiên lại càng giống người thành phố hơn người thành phố nữa chứ lị.
Mối quan hệ giữa văn nghệ và con người cũng là đạo lý tương tự như thế, một người hoặc có tiếp xúc thân thiết với "văn" hoặc có tiếp xúc thân thiết với "nghệ", thời gian lâu dần, lâu ngày chầy tháng, toàn thân dường như sẽ có một loại "trường". Ở những người luyện khí công, gọi là "khí trường"; ở những nhân sĩ đã được văn nghệ tôi luyện, gọi là "khí chất". Một khi con người đã có được khí chất như thế, thường thì cũng sẽ giống người thành phố hơn là người thành phố.
Kiều Kỳ vốn dĩ là một người từ nhỏ đã lớn lên ở nông thôn, thôn đó gọi là thôn Pha Đáy.
Tần Sầm đã từng nhiều lần muốn tìm hiểu cho rõ ràng, thôn Pha Đáy quê nhà của anh rốt cuộc nằm ở huyện nào của tỉnh giáp ranh và là một ngôi làng như thế nào, nhưng Kiều Kỳ không muốn kể chi tiết cho cô nghe. Gạn hỏi mấy lần mà không ra kết quả, Tần Sầm cô cũng không hỏi nữa. Kiều Kỳ mà cô yêu là một người đàn ông ở tỉnh giáp ranh, một người đàn ông từ nhỏ đã lớn lên ở nông thôn; cô cảm thấy cô hiểu bấy nhiêu về anh, thế là đã đủ lắm rồi. Cô thà rằng người đàn ông mà mình yêu này mang lại cho bản thân một chút cảm giác thần bí còn hơn.
Thôn Pha Đáy ở tỉnh giáp ranh, lấy Ngũ Lý Pha mà đặt tên.
Ngũ Lý Pha, lấy địa mạo mà đặt tên.
Nó nằm ở vùng ngoại ô Tây Nam thành phố trực thuộc tỉnh giáp ranh, diện tích thực tế chưa đầy năm dặm, nhỏ hơn năm dặm một nửa. Mọi người cứ gọi như thế mà thôi.
Cha của Kiều Kỳ là Kiều Thủ Nghĩa, từ thời đại Đại nhảy vọt đã là thôn trưởng của thôn Pha Đáy.
Kiều Thủ Nghĩa là học sinh tốt nghiệp cấp ba năm 1956, mười tám tuổi ở trường học đã được kết nạp Đảng. Hơn nữa, vị bí thư đoàn trường trung học trọng điểm của thành phố năm đó, đã từ bỏ cơ hội ở lại thành phố làm việc, dẫn đầu trở về nông thôn trở thành một trong những nông dân thế hệ mới. Trung Quốc năm đó, đang ráo riết chuẩn bị cho việc phát động một cuộc Đại nhảy vọt về mặt công nghiệp trên toàn quốc. Đại nhảy vọt về mặt công nghiệp buộc phải lấy việc trong kho lương thực của thành phố chất đầy lương thực làm khúc dạo đầu. Cho nên năm 1956 không giống như năm 1958 của hai năm sau, Trung Quốc chỉ sợ nông dân của mình ít đi vài người, từ đó ảnh hưởng đến việc dự trữ lương thực trong kho.
Làm thôn trưởng trọn vẹn hai mươi năm, Kiều Thủ Nghĩa từ lâu đã được người thôn Pha Đáy gọi là "lão thôn trưởng" rồi. Một số người lớn tuổi hơn anh cũng gọi anh như thế, vừa thể hiện sự tôn kính đối với uy tín cá nhân không thể thay thế của bản thân anh, vừa thể hiện sự tôn kính đối với khoảng thời gian dài đằng đẵng hai mươi năm. Mặc dù Kiều Thủ Nghĩa không hề già, năm 1978 mới hơn bốn mươi tuổi đầu.
Kiều Kỳ của năm 1978, đã mười năm tuổi rồi. Nam sinh lớp bảy ở trường trung học Ngũ Lý Pha này, không hề sớm nếm trải phong vị cuộc đời từ thủa nhỏ như cha cậu ở trường trung học trọng điểm trong thành phố hai mươi năm trước. Mẹ cậu qua đời vì bệnh khi cậu vừa vào tiểu học, đó chính là thời kỳ "Cách mạng văn hóa", cha cậu suốt ngày bận rộn họp hành và lãnh đạo sản xuất, không tài nào quản thúc cậu nổi. Cơ bản là cứ để mặc cậu một cách lỏng lẻo lớn lên đến mười lăm tuổi. Thế nhưng cậu lại chẳng tuỳ tiện vấp phải cái tật xấu gì cả. Thiếu niên này tính cách hướng nội, việc học thì nửa chuyên tâm nửa không, ham chơi. Do tính cách hướng nội nên không hòa đồng, việc ham chơi cũng chỉ là chơi một mình. Đến đoạn sông cách xa thôn để câu cá, hoặc ở quanh mấy bãi cỏ lác, vũng nước đi khắp nơi tìm trứng thủy cầm. Không thì ở lại ký túc xá thanh niên trí thức yên tĩnh lắng nghe họ trò chuyện những chuyện trong thành phố, hoặc giúp họ làm những công việc đồng áng mà cha cậu phân công cho họ. Cậu rất thích nghe họ kể chuyện trong thành phố. Mặc dù thành phố cách Ngũ Lý Pha tính ra không phải là xa, lên chuyến tàu lửa vùng ngoại ô chừng hơn hai mươi phút là đến thành phố rồi, nhưng cậu vẫn chưa đi bao giờ. Nghe thanh niên trí thức kể rất nhiều chuyện trong thành phố, cậu vẫn không có chút nhận thức cảm tính nào về thành phố, cho rằng thành phố chẳng qua chỉ là một nơi đông người nên lắm chuyện rắc rối mà thôi. Thanh niên trí thức về nông thôn cắm đội ở Ngũ Lý Pha năm đó, đại khái đều là con cháu của các gia đình có bối cảnh quyền lực đặc biệt ở thành phố A, nếu không thì tuyệt đối không đến lượt được đến nông thôn cách thành phố gần như vậy để cắm đội. Trước "Cách mạng văn hóa", trên bảng giờ tàu của chuyến tàu vùng ngoại ô không hề có trạm Ngũ Lý Pha này. Sau phong trào "Tri thức thanh niên lên núi xuống làng" mới có. Nông dân ở Ngũ Lý Pha đều nói, đó là do một số người có quyền lực trong thành phố đặc chuẩn cho con cái của họ về cắm đội ở Ngũ Lý Pha. Nông dân Ngũ Lý Pha tuy cho rằng như vậy là không đúng lắm, nhưng trong lòng vẫn tạ ơn trời đất. Từ đó về sau họ vào thành phố tiện lợi hơn biết bao! Trong số thanh niên trí thức cắm đội ở thôn Pha Đáy, có một người tên là Cao Tường. Cha của Cao Tường là chỉ huy của một đoàn ca nhạc quốc gia nào đó ở Bắc Kinh. Bản thân Cao Tường là học sinh trường trung học trực thuộc Học viện Âm nhạc Bắc Kinh. Trong "Cách mạng văn hóa", gia đình Cao Tường bị trục xuất khỏi Bắc Kinh, đầu tiên bị áp giải đến trường phái đoàn "Thay mười bảy", sau đó chính sách được thực hiện nhưng vẫn không được phép trở về Bắc Kinh, bị đày đến sinh sống ở thành phố trực thuộc tỉnh này. Cha của Cao Tường có mối thâm giao tình cảm sâu sắc với một phó chủ nhiệm "Ủy ban cách mạng" thành phố, khiến Cao Tường được hưởng sự đãi ngộ đặc biệt, cũng được cắm đội đến thôn Pha Đáy. Thanh niên trí thức vốn là người Bắc Kinh ấy đã mang một loại nhạc cụ gọi là "saxophone" đến thôn Pha Đáy, hễ rảnh rỗi là lại tẻn tẻn ra bờ sông thổi một mình một lúc. Tiểu thiếu gia Kiều Kỳ đã mê mẩn tiếng "saxophone" của thanh niên trí thức, tiếp đó lại mê mẩn luôn cả bản thân thanh niên trí thức ấy. Mỗi ngày không gặp Cao Tường mấy bận, không nghe anh thổi mấy khúc "saxophone", trong lòng tiểu Kiều Kỳ lại cảm thấy trống vắng hụt hẫng.
Thế là cậu trở thành cái bóng của thanh niên trí thức đó.
Thế là thanh niên trí thức dần dần yêu thích Kiều Kỳ, một đứa trẻ nhà nông đã say mê anh cùng với cây đàn "saxophone" của anh. Cuối cùng có một ngày anh chủ động dạy Kiều Kỳ thổi "saxophone", ra điều một người thầy nghiêm khắc, dạy một cách rất đỗi trang trọng, cực kỳ kiên nhẫn, có thể gọi là phát huy siêu tài năng, truyền thụ đượm đà tình cảm...
Cuối năm chiếc "Bè lũ bốn tên" bị đập tan, mấy thanh niên trí thức ở thôn Pha Đáy, người lẫn hộ khẩu đều quay về thành phố. Cao Tường là người đi cuối cùng, lúc đó tình cảm giữa anh và thiếu niên nông thôn Kiều Kỳ này đã vô cùng sâu đậm, lưu luyến không nỡ rời xa. Còn học sinh của anh thì đã có thể thổi những khúc nhạc saxophone trôi chảy như mây trôi nước chảy. Thiếu niên thôn Pha Đáy, đối với món nhạc cụ phương Tây của người thầy đã nảy sinh nỗi si mê tựa như thiếu niên Werther đối với Charlotte, lúc đi Cao Tường đã tặng luôn cây saxophone cho cậu. Không lâu sau khi Cao Tường trở về thành phố, trở thành một giáo viên biểu diễn nhạc cụ của cung thiếu nhi, không những dạy saxophone, mà còn dạy đàn phong cầm, đàn cello...
Dưới sự giới thiệu của Cao Tường, Kiều Kỳ mười lăm tuổi cũng trở thành một học viên biểu diễn nhạc cụ nghiệp dư của cung thiếu nhi. Là học viên duy nhất đến từ nông thôn. Không những tiếp tục học saxophone với Cao Tường, mà còn học phong cầm, học cello với Cao Tường. Trên người thiếu niên nông thôn thôn Pha Đáy mười lăm tuổi, ngày càng biểu lộ ra một thứ thiên phú âm nhạc khiến thầy giáo của cậu phải kinh ngạc. Cao Tường cho rằng ngoài việc dùng từ "do Thượng đế ban tặng" ra để hình dung, thì đơn giản là không còn cách nào khác để giải thích bằng loại nào khác nữa.
Xét về mặt địa lý của thôn Pha Đáy, cung thiếu nhi nằm ở bờ bên kia sông Tùng Hoa, trên phố Giang Ngạn của thành phố. Cách đó không xa chính là cầu sông.
Cho đến khi trở thành học viên biểu diễn nhạc cụ của cung thiếu nhi, bước chân của thiếu niên thôn Pha Đáy mười lăm tuổi mới chính thức bước qua cầu sông đặt chân lên con đường xinh đẹp của thành phố ấy. Vào các buổi chiều thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu hàng tuần, mặc kệ mưa gió. May là các tiết học của học sinh năm hai trường trung học Ngũ Lý Pha luôn được sắp xếp vào buổi sáng, việc học bình thường của Kiều Kỳ không bị ảnh hưởng mấy. Cậu dần dần được coi là người may mắn ở trường trung học Ngũ Lý Pha. Mà ở cung thiếu nhi cũng ngày càng nhận được sự yêu mến và ca ngợi đồng đều của các giáo viên lớp nhạc cụ.
Thoắt cái đã đến mùa đông năm 1979. Kiều Kỳ nhớ rất rõ, hôm đó buổi trưa bắt đầu có trận tuyết đầu mùa. Cậu vẫn đi đến cung thiếu nhi như thường lệ, để lại hàng dấu chân đầu tiên trên lối đi dành cho người đi bộ lát bằng tà vẹt trên cầu sông.
Cậu không ngờ thầy giáo Cao Tường lại đứng ở đầu cầu đợi cậu, trong ngực ôm một đứa trẻ được bọc trong chiếc chăn bông nhỏ. Trên chiếc mũ bông và áo bông của thầy giáo rơi một lớp tuyết dày đặc, tã lót bọc chiếc chăn nhỏ trong ngực cũng phủ một lớp tuyết dày đặc.
Thầy giáo nói: "Kiều Kỳ, thầy vẫn luôn đợi em ở đây."
Biểu cảm của thầy giáo kỳ lạ lắm.
Cậu vô cùng kinh ngạc, không biết phải nói gì cho phải.
Thầy giáo lại nói: "Kiều Kỳ, thầy có một việc muốn nhờ em, em có đồng ý với thầy không?"
Cậu còn chẳng thèm suy nghĩ nhiều, liền gật đầu một cách đáng tin cậy hoàn toàn.
"Em lại đây."
Cậu bước đến trước mặt thầy giáo.
"Em xem." Thầy giáo vén góc chăn bông lên, dưới góc chăn lộ ra một khuôn mặt nhỏ nhắn trắng trẻo non nớt của một đứa trẻ sơ sinh, đội một chiếc mũ len màu đỏ đan hình quả cầu, đang ngủ say sưa rất ngon giấc.
"Có đáng yêu không?"
Cậu nói: "Đáng yêu ạ."
"Là một bé gái."
Cậu nói: "À, là một bé gái cơ ạ!"
"Con bé mới hơn nửa tuổi thôi."
Cậu nói: "Thế thì chắc biết nói chuyện rồi nhỉ."
"Nào, em bồng đi."
Thế là cậu cẩn thận từng li từng tí nhận lấy bé gái từ trong ngực thầy giáo, sau đó ôm chặt vào ngực mình, sợ sơ sẩy làm rơi xuống đất.
"Không cần ôm chặt thế đâu. Thế này, dùng cẳng tay đỡ ở sau gáy đứa trẻ, cánh tay này vòng ra, nhẹ nhàng ôm lấy một chút là được."
Bên cạnh bậc thềm cầu sông, giữa chốn băng giá ngập trời, thiếu niên mười lăm tuổi của thôn Pha Đáy lần đầu tiên học bồng trẻ con. Tâm trạng của cậu căng thẳng y như lúc mới học thổi saxophone vậy.
Lúc này thầy giáo Cao Tường lại lật góc chăn về phía khuôn mặt của đứa trẻ. Người làm chiếc chăn nhỏ đó rất có tâm, một góc chăn ấy được làm khác với ba góc chăn còn lại, trong lớp bông rõ ràng có lót tấm nhựa hoặc bìa cứng, hơn nữa hình dáng còn hơi khum lên. Cho dù che khuất khuôn mặt nhỏ nhắn đó của đứa trẻ, cũng không đến nỗi khiến con bé cảm thấy ngột ngạt. Mặc dù đã là mùa đông, nhưng thời tiết ngày hôm đó lại không quá lạnh cho lắm. So với mấy ngày trước, rõ ràng còn ấm hơn vài độ. Thiếu niên nhà quê lần đầu tiên bồng trẻ con, bên tai nghe tiếng xào xạc có như không của bông tuyết rơi xuống đất. Cậu không chỉ cảm thấy khá căng thẳng trong tâm lý vì đứa bé gái mới hơn nửa tuổi được bồng trong ngực, đồng thời cũng cảm thấy vui vẻ, sự tự tin bỗng dâng cao. Đứa bé gái mới hơn nửa tuổi đó, khiến cậu cảm thấy bản thân dường như không còn là một đứa trẻ trong mắt người lớn nữa, dường như bỗng chốc ở mọi mặt đều biến thành một người lớn rồi.
Cậu hỏi: "Ai làm chiếc chăn nhỏ này cho đứa bé vậy?"
Chiếc chăn là mặt lụa đỏ, thêu những đóa cúc lớn vàng óng ả, làm nền cho mấy chiếc lá xanh ngắt. Lót chăn bọc viền, trắng lóa mắt, trắng như tuyết. Còn mới, chưa giặt giũ lần nào. Cậu nghĩ, người mẹ làm ra một chiếc chăn nhỏ đẹp đẽ như thế cho đứa bé gái trong ngực, nhất định là vô cùng vô cùng yêu thương con gái của mình. Chắc chắn là người phụ nữ mang thân phận người mẹ tự tay làm rồi! Nào có người phụ nữ nào lại dễ dàng nhường loại việc thể hiện thiên chức của người mẫu này cho người khác làm thay chứ!
Thầy giáo đáp: "Em cứ cho là một người nào đó đi."
Cậu không kìm được ngước mắt nhìn thầy giáo, thấy thầy giáo cũng đang nhìn cậu. Ánh mắt hai thầy trò chạm nhau, thầy giáo nở một nụ cười vừa u sầu vừa mất tự nhiên.
"Thế, đây là con nhà ai thế ạ?"
"Kiều Kỳ, em cứ coi đứa trẻ này như con gái của thầy đi."
Cậu biết thầy giáo vẫn chưa kết hôn, thậm chí cũng chưa từng nghe ai nói thầy giáo có đối tượng. Cho nên trong lòng cậu hoàn toàn không liên tưởng đứa trẻ đó với thầy giáo lại với nhau. Lời nói của thầy giáo khiến cậu vô cùng hoang mang khó hiểu. Mà biểu cảm trên mặt thầy giáo, khoảnh khắc đó trở nên cực kỳ nghiêm trọng.
Một bàn tay đeo găng bông của thầy giáo đặt lên vai cậu, đặt rất có trọng lượng.
Thầy giáo lại nói: "Kiều Kỳ, em tuy là một thiếu niên nông thôn, em tuy chẳng qua chỉ là một học sinh của thầy, nhưng đối với thầy, so đi tính lại, nghĩ tới nghĩ lui, thầy cho rằng có lẽ chỉ có em mới là người trên thế giới này đáng để thầy tin cậy nhất. Ít nhất thầy cho rằng như vậy, chỉ cần một việc nào đó mà thầy cầu xin em mà em đã đồng ý, vậy thì nhất định em sẽ gánh vác toàn bộ trách nhiệm đáng để thầy tin cậy đối với việc đó. Đúng không?"
Lời của thầy giáo, nói rất chậm. Vừa nói, vừa suy nghĩ, có thể thấy thầy giáo rất coi trọng từng câu nói của mình vào khoảnh khắc đó.
Ánh mắt thầy giáo vẫn luôn chăm chú nhìn cậu. Ngữ điệu và biểu cảm của thầy giáo đều nghiêm nghị giống nhau, giống như ngữ điệu và biểu cảm của cha cậu đôi khi dùng để nói chuyện với cậu. Mà cha cậu chỉ vào lúc giáo huấn đạo lý làm người với cậu mới dùng biểu cảm và ngữ điệu như thế để nói chuyện. Lúc đó trong lòng cậu đối với cha sẽ không kìm được mà sinh ra sự kính sợ. Giờ phút này, đối với người thầy đang đứng trước mặt luôn chăm chú nhìn cậu, cậu cũng sắp kính sợ đến nơi rồi.
Thầy giáo ngày hôm đó đã trở thành một người hoàn toàn khác với trước kia.
"Thầy vừa nói có một việc muốn nhờ em, và em đã gật đầu đồng ý, phải không?"
Cậu nói rành mạch rõ ràng: "Vâng ạ."
Bàn tay đang đặt trên vai cậu của thầy giáo từ từ giơ lên, nhẹ nhàng phủi lớp tuyết trên vai cậu, tiếp theo phủi lớp tuyết trên chiếc mũ lông chó của cậu; sau đó, tiện đà vỗ vỗ lên vành tai mũ của cậu, biểu thị sự hài lòng và an ủi vô bờ bến đối với thái độ dứt khoát đó của cậu.
"Bây giờ, tiểu Kiều Kỳ, em phải nghe cho thật kỹ từng câu từng chữ thầy nói. Hơn nữa, phải khắc ghi từng câu thầy nói vào trong tim, mãi mãi không được quên. Việc thầy nhờ em chính là, từ hôm nay đi, không, từ bây giờ đi, bé gái mà em đang ôm trong ngực này, con bé là của em rồi. Em phải yêu thương nó, khiến nó có thể lớn lên dưới sự yêu thương của em, yêu thương nó y như em chính là cha của nó vậy! Trong đầu em tuyệt đối không được, không, là không cho phép nghĩ đứa trẻ này rốt cuộc là con nhà ai! Không cho phép em hiểu chưa? Không nhịn được mà nghĩ, vậy thì em cũng chỉ có thể nghĩ thế này——con bé là một đứa trẻ mà thầy giáo phó thác cho em. Phải rồi phải rồi, hoàn toàn không cho phép em nghĩ, cũng là làm khó em quá! Nhưng em tuyệt đối không được nhắc tới chuyện giữa chúng ta ngày hôm nay với bất kỳ ai! Kể cả với cha em cũng không! Hiểu chưa?..."
Thiếu niên Kiều Kỳ, trang trọng cúi đầu chào thầy giáo một cái. Thực ra khi thầy giáo nói chuyện, cậu vẫn luôn mơ hồ liên tục gật đầu. Lần cuối cùng, đã không còn là gật đầu nữa, mà gần như là hành lễ rồi.
Hai bàn tay của thầy giáo ôm lấy đầu cậu. Cái đầu đội mũ trượt băng của thầy giáo, cùng với cái đầu đội mũ lông chó của cậu, tựa như hai con dê núi húc đầu vào nhau.
Thầy giáo lại nói nhỏ: "Bây giờ, tiểu Kiều Kỳ, em xoay người lại, lên cầu, qua cầu, về nhà đi thôi. Hôm nay, thầy có một số việc quan trọng phải làm, không có thời gian dạy em đâu!"
Nói xong, thầy giáo tháo chiếc cặp sách đeo trên người mình xuống, trùm qua đầu cậu, để cậu đeo nó. Tiếp theo, thầy giáo lùi lại một bước.
Kiều Kỳ phủi phủi lớp tuyết trên chiếc chăn nhỏ, trong lòng vẫn mơ màng ngẩn ngơ ngốc nghếch nhìn người thầy khai sáng nghệ thuật âm nhạc của mình. Lớp tuyết trên chiếc chăn nhỏ vừa được phủi đi, mặt lụa đỏ, hoa cúc vàng, lá cây xanh, dưới sự làm nền của bức màn tuyết đang rơi kín trời xung quanh, sự tương phản ba màu rực rỡ đến mức khiến cậu hoa mắt.
Thầy giáo giục giã: "Mau đi đi. Đứa trẻ này sắp tỉnh giấc ngủ trưa rồi. Tỉnh dậy mà khóc lóc ở đây thì không hay đâu."
Cậu chầm chậm xoay người lại, bước lên bậc thềm cầu, theo bản năng ôm chặt lấy bé gái trong ngực. Thiếu niên mười lăm tuổi ở thôn Pha Đáy lần đầu tiên ôm trẻ con này cảm thấy dường như dù bản thân có ôm thế nào đi nữa đối với tiểu sinh linh bé nhỏ trong ngực kia, thì cũng có chút không được vững vàng cho lắm, cứ sơ sẩy một cái là làm rơi tiểu sinh linh bé nhỏ ấy xuống đất vậy. Con bé khiến tim cậu thấp thỏm không yên.
“Đợi đã…”
Cậu khựng lại trên bậc thềm cầu.
Thầy giáo cũng bước lên bậc thềm cầu. Thầy giáo lại một lần nữa vén góc chăn lên, ánh mắt dịu dàng như nước, ngắm nghía khuôn mặt nhỏ nhắn đang ngủ say trong chiếc chăn nhỏ đó trọn nửa phút. Thầy giáo cúi đầu hôn nhẹ lên trán con bé, tiện đà đẩy cậu lên cầu...
Thiếu niên mười lăm tuổi của thôn Pha Đáy, cẩn thận từng li từng tí, từng bước bước lên bậc thềm cầu, vững vàng bước đi trên lối đi dành cho người đi bộ bằng tà vẹt của cầu sông với từng bước một dấu chân.
Cho đến lúc đó, không có ai đi từ bên kia sông sang, cũng không có ai đi từ bên này sông qua. Những dấu chân mà cậu để lại trên lối đi dành cho người đi bộ bằng tà vẹt lúc đến, đã bị tuyết phủ kín rồi. Nhưng vẫn chưa phủ phẳng, hiện lên những dấu vết nhợt nhạt dưới lớp tuyết, chứng minh cho cậu thấy bản thân quả thực đã đi qua cầu.
Cậu đi thực sự là chậm khủng khiếp, chỉ sợ bản thân một khi trượt ngã, bé gái trong ngực sẽ rơi từ trên cầu cao xuống. Mặc dù bên thành cầu có rào lưới sắt, điều đó là không thể xảy ra. Nhưng trong lòng cậu cứ canh cánh cái điều tồi tệ ấy sẽ xảy ra, bước chân không dám đi nhanh chút nào.
Khi cậu đi đến giữa cầu, đã đổ mồ hôi rồi. Mồ hôi trên đầu chảy dọc theo hai gò má xuống, làm dính túm lông bên tai của chiếc mũ vào hai bên má, ngứa ngáy. Mồ hôi trên người chảy dọc theo ngực trước và sống lưng xuống, cũng làm chiếc áo sơ mi ướt sũng dính chặt vào người.
Cậu khựng lại. Lắc đầu vắt mồ hôi, nghiêng người nhìn lại——thầy giáo cũng đã lên cầu, đứng ở đầu bên kia của lối đi bộ bằng tà vẹt đưa mắt tiễn cậu, bóng dáng phủ đầy tuyết, thấp thoáng có thể nhận ra. Giữa cậu và thầy giáo là những dấu chân cậu để lại trên cầu hai lần, rõ ràng hơn bóng dáng của thầy giáo ở đầu bên kia cầu nhiều.
Cậu hít sâu một hơi, tiếp tục đi về phía trước. Vừa đi vừa hồi tưởng lại những lời thầy giáo nói với cậu. Mà cũng lạ thật, lúc đó mông lung không hiểu gì, dường như thầy giáo đã nói những gì, đều không lọt vào tai. Thế nhưng một khi đã nghiêm túc hồi tưởng lại, có mấy câu lại văng vẳng bên tai không sai một chữ.
"Từ bây giờ đi, bé gái mà em đang ôm trong ngực này, con bé là của em rồi. Em phải yêu thương nó, khiến nó có thể lớn lên dưới sự yêu thương của em, yêu thương nó y như em chính là cha của nó vậy!"
Lại như thể, người thầy đang đứng sau lưng cậu, đứng ở đầu bên kia cầu, đã sử dụng một thứ pháp thuật thần bí nào đó, từ xa xôi, thầm lặng, vẫn có thể truyền tải những câu nói trên vào tai cậu, gieo vào trong tim cậu.
Khi cậu đi đến tận cùng của lối đi bộ bằng tà vẹt, không kìm được lại nhìn lại một lần nữa, ở đầu bên kia cầu đã không còn bóng dáng thầy giáo nữa. Nhưng cậu biết thầy giáo vẫn đứng sừng sững ở đó, bởi vì giữa mặt cầu trắng xóa và màn trời được dệt bởi những bông tuyết bay ngợp trời, có một khúc màu đen. Giống như một tấm bia mộ màu đen. Mà ngày hôm đó thầy giáo mặc chiếc quần màu đen. Cậu nghĩ, thầy giáo dẫu mắt có tinh đến đâu, thì cũng không thể nhìn thấy cậu nữa. Bởi vì bên ngoài chiếc quần bông áo bông của cậu, trùm lên một bộ quần áo vải mỏng màu vàng, và sắp giặt đến bạc phếch rồi.
Lúc xuống cầu, cậu bất cẩn trượt ngã. Đầu tiên là quỳ một chân xuống, tiếp theo cái chân còn lại cũng không tài nào kiểm soát được mà quỳ rạp xuống. Cậu sợ cơ thể mình chúi về phía trước, ngã sấp xuống đất, đè bẹp đứa trẻ, phản ứng nhanh nhạy ngả người về phía sau kịp thời, kết quả là mông đập phịch xuống chính đôi chân sau của mình, thế là khoảnh khắc đó lưng cũng chạm đất, giống như một đứa trẻ ngã ngửa trên máng trượt ở nhà trẻ, ôm khư khư bé gái trong ngực, trượt phắt xuống từ phần nền đường sắt cao hơn hai mét, quán tính khiến cơ thể cậu trượt xuống tận chân nền đường vẫn chưa dừng lại, mà tiếp tục trượt ra xa thêm bốn năm mét.
Cậu ngồi dậy trên mặt tuyết, vén góc chăn lên nhìn, tiểu sinh linh bé nhỏ trong ngực đã tỉnh rồi, mở to đôi mắt. Trên khuôn mặt nhỏ nhắn dường như chưa có lông mày, một cặp mắt đen nhánh to bằng hai hạt cờ vây đang trừng trừng nhìn cậu. Cậu không hiểu lông mày của trẻ sơ sinh là phải theo độ tuổi lớn lên từng tuổi một mới có thể dần dần mọc dày thành hình, trong lòng rất kỳ lạ sao con bé lại có một cặp mắt to như thế, sáng như thế, đẹp đến thế, mà lại không có lông mày cơ chứ?
Giữa chốn tuyết trắng thiên địa, cái miệng nhỏ chỉ mọc được bốn chiếc răng của con bé toác ra, cười khì khì với cậu hai tiếng. Khoảnh khắc đó dáng vẻ khuôn mặt nhỏ nhắn của con bé khiến cậu cảm thấy, con bé giống hệt chú chuột chũi đầu tròn vo trong sách tranh.
"Cậu cười cái gì chứ! Chẳng phải vì cậu mà tôi mới ngã thế này sao?"
Cậu lầm bầm đứng dậy.
Mấy bông tuyết rơi trên khuôn mặt nhỏ nhắn đó, tan chảy trên khuôn mặt nhỏ nhắn đó, biến thành mấy giọt nước nhỏ trên khuôn mặt nhỏ nhắn ấy.
Con bé lại cười khì khì.
Trong tai cậu, tiếng cười đó của con bé, hình như còn mang theo ý cười nhạo cậu nữa đấy!
Mà con bé vừa cười, mấy giọt nước trên khuôn mặt nhỏ của con bé liền chảy xuống hai cái lúm đồng tiền bên má, và tạm thời đọng lại trong lúm đồng tiền. Lại có mấy bông tuyết rơi trên đôi môi nhỏ nhắn của con bé. Môi trên rơi một bông, môi dưới rơi hai bông, chớp mắt đã tan chảy trên môi con bé. Con bé thế mà lại chìa đầu lưỡi hồng hồng ra, liếm làn nước tuyết trên môi mình, trông có vẻ tận hưởng lắm.
Cậu đắp góc chăn lại, lại đi về phía trước.
Đứa trẻ ư hử một tiếng, khóc lên.
“Đừng khóc, đừng khóc, không đắp lại là không được đâu, thế sẽ bị cóng đấy!”
Cậu vừa cất lời, đứa trẻ lập tức nín khóc ngay.
Thế nhưng chỉ cần cậu không tiếp tục nói chuyện, con bé lập tức sẽ khóc ré lên.
“Cậu đấy, cậu đấy, đến lông mày còn chẳng có, sau này lớn lên thì phải làm sao đây hả? Gã đàn ông nào thèm lấy một người vợ không có lông mày chứ!...”
“Chúng ta không đi con đường đó nữa nhé? Tôi bồng cậu mỏi cả tay rồi đây này! Chúng ta cắt ngang qua bãi hoang đi, như thế chúng ta có thể đi bớt được năm sáu dặm đường đấy, như thế chúng ta có thể nhanh chóng tìm được nhà hơn. Được không? Được hay không được, cậu lên tiếng nói một câu xem nào!”
Đương nhiên, con bé chẳng nói một chữ nào cả. Chẳng qua là không khóc nữa mà thôi...
Ngày hôm đó, khoảnh khắc đó, thiếu niên mười lăm tuổi của thôn Pha Đáy tính cách hướng nội, ít nói ít cười, bình thường một ngày cũng chẳng nói được mấy câu, vừa đi vừa không ngừng nói chuyện, dường như muốn đem những lời nói trong mấy năm sau dồn cả lại nói trước một thể, để rồi trong mấy năm sau thà rằng cứ làm kẻ câm đi thì hơn.
Chẳng mấy chốc, cậu đã nói đến mức khô cổ ráo họng cùng đường mạt lộ chẳng còn gì để nói nữa rồi. Ngay cả những lời nói nhảm nhí cũng không nghĩ ra được nữa.
Thế nhưng không nói là không được. Không nói là con bé lại khóc ngay.
Thế là cậu đành phải ngân nga, đành phải hát; ngân nga những khúc nhạc cậu từng học, hát tất cả những bài hát cậu biết hát. Thở hồng hộc, lệch tông là điều không thể tránh khỏi.
Dưới lớp chăn, con bé hết lần này đến lần khác cười khì khì. Mỗi lần chỉ cười hai tiếng, chưa lần nào vượt quá hai tiếng. Cậu lệch tông con bé cười, cậu không lệch tông con bé cũng cười. Dường như trong tai con bé, thì vẫn cứ là lệch tông. Dường như giọng hát của cậu dẫu có buồn cười thế nào đi nữa vì lệch tông, thì cũng chỉ đáng để ban cho hai tiếng cười mà thôi.
Lúc đó, những lời thầy giáo nói với cậu, cậu chỉ có thể nhớ được hai ba câu quan trọng:
"Con bé là của em rồi..."
"Em hãy yêu thương nó y như cha của nó vậy..."
"Em tuyệt đối không được nhắc tới chuyện giữa chúng ta ngày hôm nay với bất kỳ ai, kể cả với cha em..."
Từ cầu sông cho đến thôn Pha Đáy, khoảng chừng mười hai, mười ba dặm đường đất. Đó là con đường do cha của Kiều Kỳ năm xưa dẫn dắt người thôn Pha Đáy tu sửa nhằm hưởng ứng lời hiệu triệu "chuẩn bị chiến tranh". Nó mặc dù hoàn toàn không có ý nghĩa "chuẩn bị chiến tranh", nhưng dẫu sao cũng được tính là một con đường, khiến cho việc nông dân vào thành phố thực sự tiện lợi hơn không ít.
Kiều Kỳ băng ngang qua bãi hoang, đi chưa đầy nửa tiếng đã bắt đầu hối hận khôn nguôi vì quyết định của mình. Bãi hoang suy cho cùng vẫn là bãi hoang, khó đi hơn con đường kia nhiều. Trải qua lớp tuyết phủ, những hố sâu hố nông và ao băng dưới tuyết đều không nhìn thấy nữa. Cậu trượt ngã mấy lần, cũng dẫm thủng lớp băng mỏng dưới tuyết mấy phen, đôi chân lún sâu vào phần bùn lạnh thấu xương dưới băng. Cậu muốn quay lại con đường cái. Quay đầu nhìn lại, đã cách rất xa rồi, không đành lòng đi đường vòng, đành phải vừa ngã vừa lảo đảo tiếp tục tiến về phía trước. Đi thêm một lúc nữa, tình trạng của cậu đã thảm hại vô cùng. Giày rớt mất một chiếc, chiếc găng tay bông cha mua cho cũng rơi mất một chiếc. Mà hai ống quần bông từ đầu gối trở lên đều ướt sũng, còn dính đầy bùn loãng. Chiếc chân mất giày cũng bị vật nhọn đâm phải, khiến cậu bước đi trông giống như một tên què. Tất cả những cực hình này vẫn chưa tính là gì, điều khiến cậu khốn đốn nhất đối với việc đối phó chính là cái miệng của cậu vẫn không được nghỉ ngơi. Cho dù là lải nhải hệt như bà cụ "xay đậu hũ", hay là ngân nga, hay là hát, tóm lại trong miệng cậu phải liên tục phát ra một thứ âm thanh nào đó. Cho dù là huýt sáo. Nói "không ngừng" thì hơi quá đáng, dừng lại một lát thì được, nhưng quá năm phút thì không xong đâu. Quá năm phút, con bé sẽ ư hử. Ư hử là khúc dạo đầu, là cảnh báo, nếu như lại không được coi trọng, con bé sẽ khóc ré lên. Nhờ có kinh nghiệm bảo vệ con bé, thiếu niên thôn Pha Đáy mặc dù bản thân nếm trải đủ mùi vị khổ cực, lại hoàn toàn không làm con bé giật mình sợ hãi, càng không hề làm con bé bị va đập hay đè bẹp. Con bé thế mà lại không tổn hại mảy may nào bình an vô sự. Điều cậu không ngờ tới nhất đồng thời cũng tồi tệ hơn rốt cuộc vẫn xảy ra——tấm chăn nhỏ không biết từ lúc nào đã bị con bé đạp lỏng ra, hai bàn chân nhỏ xíu của con bé đã lộ ra từ góc đáy chăn, đã bị cóng đỏ lên rồi. Cậu lập tức cảm thấy xót xa. Vội vàng vén góc chăn che mặt con bé lên xem, một bàn tay nhỏ xíu của con bé không biết từ lúc nào cũng đã luồn ra khỏi chiếc chăn, đang say sưa mút ngón tay cái của chính mình! Cuối cùng lại một lần nữa nhìn thấy ánh mặt trời, đây rõ ràng là điều con bé mong mỏi, con bé như tỏ ý biết ơn cười khì khì với cậu hai tiếng...
Thiếu niên thôn Pha Đáy ngoài việc quyết đoán ngay lập tức, cởi ngay chiếc áo bông của mình bọc bên ngoài chiếc chăn nhỏ của con bé ra, thì không còn diệu kế nào khác.
Cậu đã làm như vậy.
Phải, đủ mọi trải nghiệm trên con đường trong ngày tuyết lớn ấy, đối với thiếu niên mười lăm tuổi của thôn Pha Đáy, quả thực chẳng khác nào một kiếp nạn. Mặc dù cậu chẳng qua chỉ là con trai của một người nông dân, mặc dù cậu còn nhỏ tuổi đã mất mẹ, nhưng từ nhỏ lớn lên, lại chưa từng có lần nào gánh vác trọng trách lớn lao và đơn độc không nơi nương tựa như ngày hôm đó.
Ngày hôm đó cậu nằm mơ cũng không ngờ tới, tiểu sinh linh bé nhỏ được bồng trong ngực mình ấy, sau này sẽ dần dần hình thành với cậu một thứ quan hệ dứt không ra gỡ không đứt càng dứt càng gỡ lại càng trở nên mật thiết. Dựa theo suy đoán của bộ óc thiếu niên mười lăm tuổi ấy của cậu, việc mà ân sư thành tâm phó thác này, đại khái cũng chỉ là chuyện mười ngày nửa tháng. Nói dài ra, là chuyện một tháng. Nói dài thêm nữa, là chuyện nửa năm một năm. Dù có dài thế nào đi nữa, đại khái cũng sẽ không kéo dài quá một hai năm.
Thiếu niên nhà nông này từ sớm đã mong mỏi có được cơ hội để báo đáp sự bồi dưỡng của ân sư đối với bản thân.
Bây giờ cơ hội loại này cuối cùng cũng đã giáng lâm, cậu không một oán hận đối với lời hứa của chính mình. Không những không oán không hận, còn có chút cảm thấy vui mừng khôn tả.
Cậu bị chi phối bởi một ý chí lớn lao, đi chân trần một bên chân, từng bước đạp tuyết, mặc kệ phía trước bãi hoang dưới lớp tuyết còn bao nhiêu hố băng vũng bùn, mang theo khí thế quyết tử không đường lui tiến thẳng về mục tiêu mang tên nhà...
Một tiếng rưỡi sau cuối cùng cậu cũng đã trở về nhà, cậu đã gần như biến thành dạng không ra người ngợm không ra ngợm.
Mùa đông ở nông thôn theo lệ thường chẳng có việc đồng áng gì mấy, người làm thôn trưởng cũng tương đối thảnh thơi nhàn rỗi.
Bệnh hen suyễn của cha cậu tái phát, đã xin phép nghỉ không đến công xã để dự cái gọi là cuộc họp giáo dục chính trị dành cho cán bộ đảng viên cấp cơ sở ở nông thôn, đang nằm nghiêng trên chiếc giường sưởi đọc báo.
Cha kinh ngạc hỏi cậu: "Mày?… Sao thế này? Sao lại làm ra cái bộ dạng thế này rồi?"
Cậu đầu tiên không kịp trả lời, trước tiên nhẹ nhàng đặt con bé lên chiếc giường sưởi ấm áp, sau đó thở phào một hơi thật dài như trút được gánh nặng.
Cha ngồi dậy, mang vẻ hồ nghi liếc nhìn chiếc áo bông dính đầy bùn tuyết được bọc cuộn lại của cậu rồi lại hỏi: "Cái... cái đó là cái gì thế?"
Cậu mở chiếc áo bông ra, lộ ra chiếc chăn hoa nhỏ ở bên trong; vén góc chăn lên, lộ ra khuôn mặt trắng trẻo non nớt của tiểu sinh linh bé nhỏ ấy.
Cậu nói: "Là một bé gái ạ."
"Con nhà ai thế?"
"Không biết ạ."
Cha cậu há hốc miệng mấy lần mới thốt ra được câu tiếp theo: "Thế... mày mày mày... mày ẵm từ đâu về thế hả?!"
Mà lúc này, chiếc chăn nhỏ đã bị đôi tay đôi chân nhỏ xíu làm tung ra hoàn toàn, quá trình đó giống hệt như một loài động vật sinh trứng nào đó phá vỡ lớp vỏ của chúng. Tiếp theo, bé gái trên người chỉ mặc một chiếc yếm đỏ nhỏ xíu trổ tài xiếc. Con bé với động tác điêu luyện ôm lấy một bàn chân nhỏ của mình, dễ dàng dùng cái miệng nhỏ ngậm lấy ngón chân cái to của chính mình. Dưới sự làm nền của chiếc yếm đỏ nhỏ, tứ thân mập mạp non mềm từng khúc một ấy của con bé, mềm mại không xương, trắng đến mức giống như rắc thêm một lớp bột mì tinh mịn lên trên lớp bánh tráng mỏng vậy.
“Lượm được ạ.”
Thiếu niên mười lăm tuổi cúi đầu xuống, giọng nói cũng nhỏ đến mức vừa đủ để cha nghe thấy. Đây là câu trả lời cậu đã quyết định trên đường. Hơn nữa còn quyết định, cho dù phải chịu hình phạt thế nào đi nữa, cũng không thay đổi. Trong suy nghĩ của cậu, trả lời như vậy là câu trả lời duy nhất tốt nhất, mặc dù biết rõ chắc chắn sẽ làm cha tức giận, nhưng chỉ cần bản thân cứ khăng khăng một mực, thì có thể giảm bớt đáng kể sự gặng hỏi của cha đối với cậu.
Cậu liều lĩnh một phen, quyết bắt cha phải chấp nhận hiện thực.
"Nói lại lần nữa xem nào?!"
Cha quả nhiên bị chọc giận ngay lập tức.
Khuôn mặt của đứa con trai sắc mặt không đổi tim không đập, cũng không cúi người, dùng cái chân trần đầy bùn đất của mình, đá văng chiếc giày ở cái chân bên kia ra.
"Mày mày mày... mày dám nói mày lượm được á hả?!"
Lòng bàn tay của cha giáng một cú thật nặng xuống mép chiếc giường sưởi bằng gỗ.
Ngón chân cái to được nhổ ra từ cái miệng nhỏ của bé gái, thế nhưng cái cẳng chân nhỏ ấy vẫn vểnh xéo trên không trung. Khuôn mặt nhỏ nhắn của con bé xoay theo tiếng động, đôi mắt to đen nhánh như quân cờ vây đang trừng trừng nhìn vào khuôn mặt của người đàn ông mang thân phận người cha kia.
“Chính là lượm được mà. Không dám nói cũng phải nói thế này, dám nói cũng phải nói thế này.”
Người làm cha lại há hốc miệng mấy lần. Hoàn toàn gọi là há hốc, không thốt ra được một chữ nào nữa.
Đứa con trai ra vẻ vô cùng hợp lý nói: "Không cho con nói là lượm được, thế cha bảo con phải nói thế nào?"
"Tao đánh chết mày!"
Đôi chân của người làm cha thõng xuống giường sưởi, tức giận đùng đùng dùng đôi chân mò mẫm tìm giày.
Lúc này, đứa trẻ trên giường sưởi ư hử hai tiếng.
Đứa con trai nhắc nhở: "Cha đừng lớn tiếng la hét như thế. Cha sẽ làm con bé sợ đấy. Nếu con bé bị cha dọa cho khóc lên, con không dỗ đâu đấy..."
"Đồ khốn nạn!..."
Đôi giày của cha đã xỏ vào chân, bước một bước đến trước mặt con trai, giơ tay định tát.
Đứa con trai ưỡn ngực lên, rướn cổ cứng đờ, nhắm nghiền hai mắt, chuẩn bị ăn một cái bạt tai giáng, hằn học.
Oa!...
Đứa trẻ bỗng nhiên khóc thét lên.
Kiểu khóc đó, dùng từ vang dội để hình dung là vẫn chưa đủ. Đó đơn giản là một tiếng khóc lanh lảnh. Tiếng khóc khiến người ta sục sôi máu nóng giống như kèn xung phong chuẩn bị xông lên phía trước.
Bàn tay của người cha cứng đờ giữa không trung, thịt trên gò má tức giận giật giật.
Đôi mắt của đứa con trai mở choàng ra. Cậu biết ơn liếc nhìn con bé một cái, cảm thấy bản thân đã nhận được sự hậu thuẫn mạnh mẽ về mặt đạo đức.
Cậu dùng giọng điệu đầy tính chiến lược nhằm biến chiến tranh thành tơ lụa mà nói: "Thế nào, thấy chưa?..."
“Mày mày mày... đừng để nó khóc nữa chứ!”
Bàn tay vẫn đang giơ giữa không trung của người cha rốt cuộc không đành lòng bỏ qua mà giáng cho con trai một bạt tai. Nhưng lại không tát vào mặt cậu, mà lại tát vào sau gáy cậu.
Trong lòng đứa con trai thầm vui mừng một chút. Cậu hiểu rõ, điều này có nghĩa là cục diện đang chuyển biến theo hướng có lợi cho bản thân.
Cậu bước mấy bước đến trước mép giường sưởi, nằm nhoài nửa người bên cạnh đứa trẻ, nghiêng đầu, áp sát mặt vào mặt con bé rồi nói: "Này, đừng khóc, đừng khóc. Nhìn này, có tôi ở đây cơ mà! Cậu không nhận ra tôi nữa à?..."
Cặp mắt to đen nhánh như quân cờ vây trừng trừng nhìn cậu. Con bé lập tức nín khóc ngay.
Cậu áp sát miệng vào tai con bé, lại nhỏ giọng nói: "Cậu tốt thật đấy, đúng là bạn tốt!"
Con bé đương nhiên là không hiểu lời cậu nói rồi.
Nhưng con bé rõ ràng đã quen thuộc với giọng nói của cậu, hơn nữa cũng rõ ràng không ghét khuôn mặt của cậu.
Đối với trẻ sơ sinh, giọng nói quen thuộc chính là viên thuốc an thần. Chúng trước tiên thông qua giọng nói quen thuộc để có được cảm giác an toàn. Đại khái là vậy. Giống như loài vật nhỏ thông qua mùi hương để nhận biết mẹ của chúng.
Con bé cười khì khì.
Con bé thực ra là một đứa bé gái không thích khóc mà rất thích cười...
Người đàn ông làm cha đó, bỗng thấy bản thân không giữ được thể diện trước mặt con trai.
Ông hừ một tiếng, lùi lại mép giường, quay lưng ngồi xuống, cuộn một điếu thuốc, sự bực bội tràn ngập trong lòng không nơi trút giận, câm nín không nói câu nào bắt đầu châm thuốc hút.
Ông vừa hút được hai hơi, đứa con trai liền kháng nghị: "Cha đừng hút nữa, xem chừng sặc con bé bây giờ!"
Người làm cha quay đầu trừng mắt nhìn đứa con trai và đứa bé gái một cái thật sắc, đứng dậy rời đi, trốn sang căn phòng bên cạnh để hút thuốc.
Mới vừa hút được hai hơi, đứa con trai cũng đi theo sang căn phòng bên cạnh, ấp úng nói: "Cha, con bé tè rồi, đạp quẫy khắp nơi toàn là phân..."
Cứ như thế, cục diện lại càng chuyển biến theo hướng có lợi cho đứa con trai hơn. Mâu thuẫn ra mâu thuẫn, xung đột ra xung đột, đến tối thì hai cha con suy cho cùng vẫn phải ngủ chung một chiếc giường sưởi. Nếu làm cho chiếu trải giường sưởi cũng toàn là phân, thì thứ bị tổn hại chính là lợi ích chung của hai cha con. Cha là người từng trải, có kiến thức hơn con trai, biết rằng nếu phân mà thực sự dính lên chiếu sưởi, thì cái đó đúng là cực kỳ khó lau sạch cho sạch sẽ. Rõ ràng rành rành ra đấy, chiếu sưởi được đan bằng những nan chiếu, các khe hở đan xen vào nhau, rất dễ che giấu vết bẩn tích tụ cáu bẩn. Không thể tháo chiếu sưởi ra, lau sạch các nan chiếu rồi đan lại được. Vậy thì mùi hôi thối sẽ duy trì mấy ngày liền. Thậm chí đến mùa hè, khoảng chiếu nhỏ đó vẫn sẽ thu hút ruồi nhặng...
Người làm cha vừa nghĩ đến những điều này, cũng đành gác lại chuyện giận đứa con trai, lập tức vứt bỏ điếu thuốc cuộn, dùng một chân dập tắt, cùng con trai đồng tâm hiệp lực xử lý tình huống bất ngờ do đứa bé gái mà đứa con trai "lượm về" gây ra...
Khỏi phải nói, đến đây độc giả từ sớm đã hiểu rõ, bé gái này, chính là cô gái bị Tần Sầm gọi là "yêu tinh nhỏ".
Mà hai cha con Kiều Kỳ xử lý đâu vào đấy mọi chuyện, chính là đem một chiếc chăn nhỏ mới toanh tháo ra; đem phân dính trên áo bông của Kiều Kỳ cọ rửa sạch sẽ; căng dây trong nhà phơi lên; đun nước nóng tắm rửa sạch sẽ cho "yêu tinh nhỏ"; trên giường sưởi trải đệm của chính họ. Dùng chăn của chính họ vây "yêu tinh nhỏ" lại; lại tìm một quả bầu khô dâng hiến cho con bé, hy vọng con bé có thể yên tĩnh tự chơi đùa một lát——thời tiết mùa đông ở phương Bắc, đã tối sầm lại từ sớm.
Con "yêu tinh nhỏ" đó chơi đùa với quả bầu khô một lát, liền ném sang một bên chẳng còn chút hứng thú nào nữa. Con bé bò ra khỏi vòng vây của chiếc chăn, lại tè một bãi trên tấm đệm, thế là hai cha con lại lâm vào tình trạng bận rộn tay chân luống cuống, mà con bé bò đến mép giường sưởi, ngẩng đầu lên kêu meo meo không ngừng hệt như chú cừu non đang ngóng bú sữa mẹ. Đương nhiên, thứ con bé thốt ra là tiếng người, lặp đi lặp lại chỉ có hai chữ là: "Đói, ăn... ăn, đói..."
Kiều Kỳ sợ con bé bị cóng, lại càng sợ con bé ngã xuống đất, vội vàng xông một bước đến mép giường sưởi, dùng chăn vây con bé lại một lần nữa, nhét cứng quả bầu khô vào tay con bé.
Mà người cha nọ, dậm chân một cái, bất đắc dĩ lắc đầu thở dài: "Haiz, mày! Mày! Mày đúng là đứa con trai ngoan! Mày nói mày lượm về cái gì không hay chứ? Lượm về một con mèo con con chó con còn hơn là lượm về cái thứ "yêu tinh nhỏ" thế này! Mèo con chó con còn biết tìm riêng một xó xỉnh khuất người để tè bia dẫn chứ! Mày xem mới có một lát mà làm thành cái thế này... thế này..."
Đứa con trai tự cảm thấy đuối lý, đành có phận sự cúi đầu không dám lên tiếng.
Người làm cha lại dậm chân một cái, gầm gừ: "Mày không nghe thấy à? Nó bảo nó đói, nó vừa tè xong ị xong, cái này lại đòi ăn, mày bảo tao phải lấy cái gì cho nó ăn hả? Hử? Lấy cái gì cho nó ăn?"
Đứa con trai cũng không biết nên lấy cái gì cho con "yêu tinh nhỏ" này ăn. Cậu bất chợt nghĩ đến chiếc cặp sách mang về cùng một lúc, không kìm được liếc nhìn chiếc cặp sách ở đầu bên kia giường sưởi.
Ánh mắt của người cha cũng rơi lên chiếc cặp sách.
Ông sợ "yêu tinh nhỏ" đợi không kịp thức ăn đưa vào miệng lại khóc lên. Tiếng khóc lanh lảnh vừa rồi của con bé khiến đại não ông đau nhức. Đã mười mấy năm nay ông chưa từng nghe tiếng trẻ con khóc ở khoảng cách gần như thế, mà con bé vậy mà lại khóc với cái khí thế kiêu căng hống hách nhường ấy cơ chứ!
Tạ ơn trời đất, trong cặp sách có một bình sữa bột nguyên chất, nửa bình đường, còn có cả một bình sữa có núm vú giả.
"Yêu tinh nhỏ" vừa nhìn thấy bình sữa, cười khì khì.
Mà người làm cha cũng là người làm thôn trưởng đàn ông to xác ấy, lập tức quay người đi đun nước tiếp, pha sữa...
Lúc "yêu tinh nhỏ" ôm bình sữa tự mãn tự đắc uống sữa, hai cha con nhân cơ hội lật ngược tấm đệm lại, để cho chiếc giường sưởi nướng khô lại mặt bị nước tiểu làm ướt kia.
Sau khi "yêu tinh nhỏ" ăn no, ngủ thiếp đi, hai cha con mới tùy tiện làm cho bản thân một bữa cơm ăn.
Sau bữa ăn, Kiều Kỳ rửa chân, ngồi trên giường dùng cây kim nhỏ khều gãy mấy cái gai đâm vào bàn chân của mình. Còn cha, thì thay cậu giặt cọ ống quần bông bị nước bùn làm ướt.
Cha vắt khô ống quần, sấy khô chiếc quần ở chỗ nóng nhất của đầu giường sưởi, sau đó đứng ngoài cửa, hút một điếu thuốc cuộn, tiếp tục tiến hành cuộc thẩm vấn bị "yêu tinh nhỏ" ngắt quãng:
"Mày nói mày lượm được, mày nói dối!"
"Cha, con không nói dối ạ."
Thiếu niên mười lăm tuổi ở thôn Pha Đáy, con trai của thôn trưởng, lớn ngần này lần đầu tiên nói dối.
"Tao cứ cảnh cáo mày trước nhé, mày mà lén lút ẵm con nhà người ta về nhà mình, thế là phạm pháp đấy!"
", con bé là con nhà người ta không sai, nhưng không phải con ăn trộm từ nhà người ta đâu. Quả thực là con lượm được mà!"
"Lượm ở đâu?"
"Trong thành phố ạ."
"Trong thành phố chỗ nào?"
"Chỗ cầu sông ấy ạ. Chỗ bậc thềm cầu ấy ạ."
"Thế thì mày cũng không nên lượm! Mày mà không lượm, giờ này con bé đã không ở trong nhà chúng ta rồi!"
"Con mà không lượm, người khác không chết cóng ở đó đấy chứ ạ? Con bé lớn thế này cũng là một con người, là một sinh mạng!"
Đứa con trai bắt đầu viện lý lẽ rất kêu.
"Mày mà không lượm, người khác nhìn thấy cũng sẽ lượm, thế thì nó bây giờ đã ở trong nhà người ta rồi!"
Cha cũng viện lý lẽ rất đanh thép.
"Tuyết lớn thế cơ mà, con đợi nửa ngày cũng chẳng thấy bóng người nào đi đến đó cả! Nếu không phải là con, đổi lại là cha, cha có nỡ không bồng nó về nhà không?"
Đứa con trai lấy công làm thủ.
"Mày đừng có ra vẻ mày lượm được là có lý nhé! Dù sao thì nhà chúng ta không phải là nơi để đứa trẻ này ở lại lâu dài đâu. Mày có thể lượm nó về, lão tử cũng có thể nghĩ cách tống nó đi nơi khác!"
Đứa con trai vừa hé miệng còn định nói gì đó, cha quát mắng: "Mày câm miệng lại cho tao! Chuyện này tao bảo phải làm thế nào thì phải làm thế nào!"
---❊ ❖ ❊---
Đêm đến, "yêu tinh nhỏ" tỉnh giấc, khóc lóc, tìm người; Kiều Kỳ đành phải ôm chầm lấy con bé vào trong chăn của mình, con bé lúc đó mới ngủ thiếp đi lần nữa.
Vẫn chưa đến kỳ nghỉ đông, nhưng các môn học đều đã kết thúc, giáo viên và học sinh cuối cùng cũng nghĩ thông suốt với nhau, đó chính là kỳ thi cuối kỳ mà cả hai bên đều không được lơ là chủ quan.
Thế nhưng sáng hôm sau rốt cuộc các giáo viên đã hướng dẫn học sinh ôn tập những nội dung gì, nam sinh lớp tám Kiều Kỳ không ghi nhớ nổi lấy nửa chữ. Trải qua bốn tiết học, trong đầu cậu trống rỗng một mảng. Cậu chỉ nghĩ đến một chuyện duy nhất trong lớp học, đó chính là cha ngàn vạn lần đừng nhân lúc cậu không có nhà, một ý chí độc đoán đem "yêu tinh nhỏ" tống đi đâu mất. Thế thì cậu biết ăn nói thế nào với thầy giáo Cao Tường đây? Sau khi tan học, cậu một mạch chạy về nhà, cứ như trong nhà có một điều vô cùng tốt đẹp phù hợp nhất với tâm nguyện của cậu đang vẫy tay mỉm cười với cậu vậy.
Ở cửa nhà, cậu nghe thấy tiếng cười khì khì của "yêu tinh nhỏ", một trái tim lập tức an định. Bước chân vào nhà, thấy cha đang đứng bên mép giường sưởi, đang giơ cao "yêu tinh nhỏ" trêu đùa con bé kìa.
Cậu cũng cười theo.
Cha đặt "yêu tinh nhỏ" xuống quay đầu trừng mắt nhìn cậu và nói: "Mày có gì mà cười? Cười cũng vô ích. Phải giải quyết thế nào, thì bắt buộc phải giải quyết thế đó."
Trong phòng ấm áp như mùa xuân, mà ngày thường cha rất tiết kiệm củi lửa...
Buổi chiều, cậu vẫn đi đến cung thiếu nhi như mọi khi. Ở cổng cung thiếu nhi, vừa vặn gặp một đám thiếu nam thiếu nữ đi ra. Cậu hỏi họ bị làm sao thế? Sao lại lần lượt đi ra ngoài thế này? Chẳng có ai trả lời cậu cả. Biểu cảm của họ nói cho cậu biết, ở cung thiếu nhi đã xảy ra chuyện không lành nào đó, hơn nữa chuyện đó rõ ràng còn ít nhiều có liên quan đến cậu. Bước vào cung thiếu nhi, mấy thầy giáo đang bàn tán điều gì đó ở đại sảnh. Họ vừa phát hiện ra cậu, đều im bặt không nói gì nữa.
Một thầy giáo lớn tuổi nói: "Kiều Kỳ, đi theo tôi."
Cậu đi theo thầy giáo đó đến phòng bảo quản nhạc cụ. Đàn cello và phong cầm của thầy giáo Cao Tường, được đặt đơn độc ở một nơi dễ thấy.
Thầy giáo đó chỉ tay nói: "Kiều Kỳ, thầy giáo Cao Tường để lại một bức thư, phó thác nhờ tôi mang hai loại nhạc cụ này tặng lại cho em."
Cậu đưa tay nhẹ nhàng xoa hai món nhạc cụ đó và nói: "Con không cần đâu ạ. Thầy giáo năm xưa đã tặng cho con một cây kèn saxophone rồi. Thầy giáo còn phải dùng chúng để dạy học sinh cơ mà!"
"Em bắt buộc phải nhận. Thầy giáo Cao Tường đã phó thác như vậy, chúng ta chỉ có thể làm theo lời phó thác của cậu ấy thôi."
"Thầy giáo Cao Tường... thầy ấy, được điều đi nơi khác rồi ạ?"
"Cậu ấy... đi thì đúng là đi rồi. Thế nhưng... không phải là được điều đi nơi khác. Trước khi không có giáo viên nào có thể thay thế cậu ấy dạy học sinh hai loại nhạc cụ này, em cũng không cần phải đến cung thiếu nhi nữa..."
"Thế, thầy giáo Cao Tường rốt cuộc đã đi đâu rồi ạ?"
"Kiều Kỳ, thầy biết tình cảm giữa em và thầy giáo Cao Tường rất sâu sắc. Nhưng thầy chỉ có thể nói sự thật cho em biết——em sẽ không bao giờ gặp lại cậu ấy nữa đâu, mãi mãi..."
"Thầy giáo Cao Tường thầy ấy..."
"Bị tàu hỏa cán chết rồi..."
Thiếu niên thôn Pha Đáy Oa lên một tiếng khóc lớn to tướng. Cậu không biết bản thân đã xông ra khỏi cung thiếu nhi thế nào, xông lên cầu sông ra sao...
Trong túi áo của cậu, nhét bảy tám tờ giấy. Chúng được gấp lại vuông vức, phía trên viết chữ viết tay bằng bút máy vô cùng thanh tú của cha cậu.
Đó là bảy tám tờ tìm người, tìm kiếm cha mẹ của "yêu tinh nhỏ", hoặc người thân của con bé, cũng như những người biết chuyện. Cha cậu yêu cầu cậu, bắt buộc phải dán bảy tám tờ giấy đó lên những nơi dọc đường ven sông mà mọi người thường xuyên nhìn thấy.
Cậu lôi những tờ giấy đó ra xé nát vụn từng tờ một. Gió bắc trên cầu sông thổi lồng lộng, những mảnh giấy chớp mắt đã bị thổi bay tứ tung, giống như đàn bướm đang chập chờn bay lượn. Mặt sông dưới cầu, tựa như một tấm lụa trắng khổng lồ trải thẳng đến nơi xa xôi, hoàn toàn không có màu sắc nào khác. Những mảnh giấy bị thổi bay qua lưới sắt, bay lên cao càng lúc càng nhỏ dần, dần xa rồi biến mất; bay là là sát mặt sông, chớp mắt là cũng không nhìn rõ nữa. Mà những mảnh giấy bị lưới sắt chặn lại, tự nhiên cũng lớn hơn một chút, run rẩy không ngừng đầy lo lắng trong gió, trông hệt như từng chú chim ngọc bị vây giam trong lưới, vô ích và đáng thương hết sức vẫy mạnh đôi cánh của chúng. Các góc của mảnh giấy đập vào lưới, phát ra tiếng lạch tạch lạch tạch.
Vết nước mắt đã đông cứng thành hai hàng băng trên mặt Kiều Kỳ. Lúc ấy, thiếu niên này hiểu rõ trong lòng, từ nay cậu là người thân duy nhất của "yêu tinh nhỏ", cũng là người duy nhất biết chuyện. Dù ngoài việc người thầy Cao Tường đáng kính của cậu đã bị đoàn tàu nghiền nát ra, cậu chẳng hề biết thêm bất cứ chuyện gì khác.
Trước khi bước vào nhà, cậu lau mặt mấy cái. Cha cậu đang lục lọi rương bừa bộn, quay đầu nhìn cậu và hỏi một cách kỳ lạ: "Sao vừa đi đã về thế?"
Cậu làm ra vẻ như không có chuyện gì xảy ra, nói rằng thầy Cao bị ốm, học sinh lớp nhạc cụ đều về nhà cả rồi.
Còn cha cậu, vậy mà không hề nghi ngờ gì mà tin sái cổ, chỉ tiện miệng nói: "Thế thì con, nên sang nhà thầy Cao thăm hỏi thầy một chuyến, con khác với những học sinh khác của thầy mà."
Cậu đáp vốn dĩ mình cũng định thế, nhưng vì chưa từng đến nhà thầy Cao lần nào, không biết nhà thầy ở đâu nên không đi.
"Con không biết hỏi mấy giáo viên khác à?"
"Con sợ hỏi xong cũng không tìm được, thành phố lớn thế cơ mà."
"Haiz con với cái, con mười lăm tuổi rồi đấy!"
"Hơn nữa, trong túi con chẳng có nổi một xu, nhỡ ở xa, con không bắt xe thì đi kiểu gì?..."
"Cha thấy con vốn chẳng có thành ý gì cả! Mấy tờ giấy tìm người cha viết con đã dán hết chưa?"
"Dán hết rồi ạ."
"Con không được gạt cha!"
"Trước đây con từng gạt cha bao giờ chưa?"
Cha cậu nghẹn lời, đành tiếp tục cúi xuống lục rương.
Trong lòng Kiều Kỳ dâng lên một nỗi đau nhói mơ hồ. Thiếu niên này trước đây chưa từng lừa dối bất kỳ ai, càng chưa từng lừa dối cha mình. Rõ ràng, cha không hỏi gì thêm, cũng không nhìn ra trên mặt cậu có biểu cảm gì đáng ngờ, là vì tin tưởng vào phẩm chất thành thật bấy lâu nay của đứa con trai này. Cậu thầm nghĩ, vì "yêu tinh nhỏ", từ nay về sau, cậu sẽ bắt buộc phải học cách nói dối, bao gồm cả việc nói dối cha mình, trước tiên là nói dối cha mình. Hơn nữa, còn phải ngày càng nói dối cao tay hơn. Đây là điều cậu cực kỳ không muốn. Từ nhỏ, thiếu niên này đã có bản năng cảm thấy rằng, là con trai của một vị trưởng thôn mà lại đi ăn gian nói dối là một chuyện đáng xấu hổ.
Cha lục trong rương ra một cuộn vải hoa nhỏ, một gói bông nhỏ, rồi đậy nắp rương lại. Vải và bông là số thừa lại từ việc làm chăn mấy năm trước. Cha kẹp chúng vào nách, bước đến trước mặt cậu, với thái độ trách cứ mà rằng: "Chưa từng thấy loại người nào, giữa trời đông giá rét mà lấy một chiếc chăn nhỏ bọc đứa trẻ trần truồng lại rồi vứt đi! Đối với cốt nhục của mình mà cũng nhẫn tâm thật đấy. Cha phải đi nhờ người phụ nữ nhà khác, làm cho nó một bộ quần áo bông liền quần liền áo nhỏ, không thì qua mùa đông kiểu gì?"
Trong lòng cậu lại nhói lên một cái, suýt chút nữa thì mở miệng kể sự thật cho cha nghe. Thế nhưng cha vẫn không nhìn ra trên mặt cậu có biểu cảm gì đáng ngờ, nói xong liền bước ra ngoài.
"Cha..."
Cha quay người lại ở cửa.
"Nếu nó tỉnh, con... có nên cho nó bú sữa không?"
"Không, cho nó uống chút nước là được. Nước cha đã ngâm nguội trong một chiếc cốc rồi. Đừng cho đường, không thể nuông chiều cái thói quen không ngọt thì không chịu uống nước của nó được. Chẳng có lợi ích gì cho nó đâu. Nó đang ngủ say, con cũng đừng có giở trò dở hơi, lúc rảnh rỗi không có việc gì lại cứ nhất định phải gọi nó dậy. Nó mà tỉnh là bám người lắm, đến lúc đó hai bố con mình thế nào cũng phải có một người chuyên để cho nó bám đấy!"
"Con biết rồi ạ."
"Còn nữa, cái cặp sách kia, con đừng có động vào. Tiền trong đó, mà con dám lấy một xu, cẩn thận cha chặt tay con!"
Cậu phản kháng nói: "Con từng lấy tiền của người khác bao giờ đâu?"
Cha lại cứng họng.
Tư thế ngủ của "yêu tinh nhỏ" gần như không có một tiếng động, giống như một con búp bê vải lớn được làm với đôi mắt nhắm nghiền. Cậu áp tai sát vào mũi và miệng con bé, lúc này mới nghe thấy tiếng thở của nó, nhịp thở mảnh như tơ, đều đặn và say sưa yên ả, trong tai cậu nghe thấy thì vô cùng êm tai, kỳ diệu.
Cha nhóm lò sưởi ấm áp vừa độ. Trên chóp mũi "yêu tinh nhỏ" rịn ra vài hạt mồ hôi li ti. Cậu muốn dùng đầu ngón tay lau đi hộ con bé, giơ tay rồi rụt lại mấy lần, nhưng không dám. Lại kéo ra một miếng bông cũ từ chỗ rách ở góc chăn, định lau đi hộ con bé, cứ chần chừ do dự, cuối cùng vẫn không dám hành động thiếu suy nghĩ.
Ngày thứ hai, ngày thứ ba, Kiều Kỳ không đến cung thiếu nhi.
Đến ngày thứ tư, cậu nghe được ở cung thiếu nhi những lời bàn tán đại loại về cái chết của thầy Cao Tường — rằng thầy Cao Tường và một cô gái chưa tròn đôi mươi đã lén lút yêu nhau hơn ba năm rồi, bắt đầu từ khi thầy còn chưa về thành phố. Đó là một cô gái nhà quê ở tỉnh An Huy. Cha cô ấy chết đói năm 1962. Cô ấy có một người chị. Còn mẹ cô ấy vẫn luôn là người làm trong nhà thầy Cao, cùng gia đình thầy hoạn nạn có nhau trong thời kỳ "Cách mạng Văn hóa", bị lưu đày cùng gia đình thầy ra nông trường, sau đó lại cùng nhau từ giã Bắc Kinh đến định cư tại thành phố này, chẳng bao lâu sau thì bệnh chết ở thành phố này. Cha mẹ thầy Cao cảm ơn lòng trung thành của người giúp việc già, tìm đủ mọi cách để chuyển hộ khẩu của con gái út bà ấy từ quê nhà nông thôn lên thành phố này, và sắp xếp cho cô ấy vào làm việc ở nhà máy thuốc lá, coi như con gái. Thế nhưng, khi chuyện tình yêu bí mật giữa con trai họ là Cao Tường và con gái của người giúp việc già quá cố bị họ phát hiện, họ nổi giận lôi đình, cho rằng chắc chắn cô gái đến từ vùng quê kia đã quyến rũ, dụ dỗ con trai họ, cho rằng cái gọi là tình yêu của cô ta đối với con trai họ có động cơ khác, mục đích không thuần khiết, đơn giản là vong ân bội nghĩa, tổn người lợi mình. Kết quả là cô ấy bị đuổi khỏi nhà họ Cao. Thế nhưng một khi hạt giống tình yêu đã nảy mầm trong trái tim trẻ tuổi, trừ phi khoét nó ra khỏi trái tim tuổi trẻ ấy, rồi đặt lên tấm sắt nung đỏ nướng thành một hạt than, nếu không thì nó sẽ không tự ngừng sinh trưởng.
Tình yêu vẫn tiếp tục hoạt động "ngầm", cũng liên tục vấp phải những lời cảnh cáo và sự "trấn áp". Cha mẹ của Cao Tường không phải là những bậc cha mẹ đặc biệt độc đoán, càng không phải là những kẻ hung bạo. Thực ra đối với con trai Cao Tường, họ hầu như chưa từng không tôn trọng lựa chọn và quyết định của nó. Ví dụ như họ hy vọng sau khi về thành phố, nó sẽ thi vào Nhạc viện Trung ương, với sở trường âm nhạc của nó thì đó không phải là vấn đề gì lớn. Còn Cao Tường hình như chẳng còn chút tình cảm nào không dứt ra được với Bắc Kinh, trái lại, ngày càng thích thành phố phía bắc nhiều tuyết vào mùa đông này hơn. Nó thà làm giáo viên lớp nhạc cụ ở cung thiếu nhi chứ không muốn thi vào Nhạc viện Trung ương, cha mẹ cũng không khuyên nhủ mà ngầm đồng ý quyết định của nó. Nhưng đối với chuyện đại sự hôn nhân của nó, cha mẹ lại phản ứng trái ngược hoàn toàn. Họ có sự cân nhắc của riêng mình. Họ từng là người Bắc Kinh, hơn nữa từng là những người Bắc Kinh rất có thân phận. Họ luôn ngóng trông từng phút từng giây để được nhanh chóng trở lại làm người Bắc Kinh một lần nữa. Dù có không khôi phục lại thân phận trước đây thì họ cũng bất chấp tất cả. Mặc dù thành phố phía bắc này cũng là một thành phố lớn khá xinh đẹp, sau khi đánh đổ "Bè lũ bốn tên" đã bắt đầu đương nhiên dành cho họ đủ loại đãi ngộ phá lệ, nhưng trong thâm tâm họ vẫn chỉ coi thành phố này là nơi lưu đày của mình. Bắc Kinh là khúc mắc trong lòng họ. Là bến đỗ tinh thần của họ. Là nơi yên nghỉ linh hồn đã được định sẵn từ lâu của họ. Không quay lại Bắc Kinh thì họ chết cũng không nhắm mắt được. Cao Tường là đứa con trai duy nhất của họ. Khi họ rời khỏi thành phố này, con trai bắt buộc phải cùng họ về Bắc Kinh. Chỉ riêng chuyện này mới là chuyện dù thế nào đi nữa họ cũng không thỏa hiệp với con trai. Đối với thân phận trước kia, họ đã chuẩn bị tâm lý từ bỏ hoàn toàn, nhưng chưa từng nghĩ tới chuyện có thể cân nhắc để lại đứa con trai duy nhất ở lại một thành phố khác, một thành phố từng là nơi lưu đày cuộc đời họ. Không, đối với họ đây là một chuyện không cho phép thương lượng. Họ cho rằng, trong chuyện này, nếu con trai trái lại ý chí của họ, thì cũng chính là đã trái lại nguyên tắc tối thiểu là con trai của họ. Mà tình yêu của con trai, đương nhiên cũng nên diễn ra một cách thuận lý thành chương ở Bắc Kinh. Dù đó là con gái của một gia đình bình thường ở Bắc Kinh, họ cũng dự định đối mặt với hiện thực. Nhưng tuyệt đối không thể là con gái của người giúp việc quá cố nhà mình, càng không thể là một cô gái không có tài cán gì ở nông thôn An Huy! Cô ta mới chỉ có trình độ văn hóa tiểu học năm bốn thôi đấy! Hơn nữa, với năng lực hiện tại của họ, nếu muốn chuyển hộ khẩu của cô ta về Bắc Kinh, đó sẽ là một chuyện khó khăn biết bao nhiêu! Tại sao con trai cứ nhất định phải theo đuổi đến cùng một thứ tình yêu khó hiểu như thế này chứ? Trên đời này đâu chỉ có duy nhất một cô gái là cô ta! Nghĩ đi nghĩ lại, ở chỗ họ, chỉ còn lại một lời giải thích duy nhất, đó chính là — đứa con trai duy nhất của họ đã bị bùa mê thuốc lú bởi thuật mê hoặc khó lòng chống cự do con gái của người giúp việc già quá cố nhà họ thi triển. Kết quả là cô gái ấy không lâu sau đó đã bị nhà máy thuốc lá sa thải. Vốn dĩ chỉ là công nhân tạm thời, chẳng cần lý do gì cả. Thế nhưng tình yêu vẫn tiếp tục diễn ra "ngầm", lúc này tình yêu không chỉ đơn thuần là tình yêu, mà còn là "phong trào kháng chiến ngầm". Cô gái cũng giống như mẹ cô ấy khi còn sống, lại bắt đầu làm người giúp việc ở nhà người ta. "Phong trào kháng chiến ngầm" của tình yêu càng chọc giận cha mẹ Cao Tường hơn, họ cho rằng đó là sự coi thường và khiêu chiến đối với quyền lực chính đáng của họ là cha mẹ. Hơn nữa cô gái đó đích thị là chủ mưu, con trai họ chẳng qua chỉ là kẻ tùy tùng bị làm cho u mê nhất thời. Thực ra trái lại, cô gái ấy hết lần này đến lần khác định lùi bước khi gặp khó khăn, chính con trai họ mới là kẻ liều chết tiến lên không chùn bước. Thế nên có một ngày cô gái bị chủ nhà lịch sự sa thải, chẳng nhà nào muốn thuê một cô gái có tì vết về mặt phẩm hạnh làm người giúp việc cả. Chẳng lẽ quyến rũ con trai nhà chủ lại không phải là tì vết không thể dung thứ nhất của một người giúp việc hay sao? Huống chi cô ta không biết hối cải mà còn tiếp tục. Quan điểm này không tiện nói ra thẳng thừng, cho nên mới vừa lịch sự vừa kiên quyết, chỉ nói là không cần nữa. Cao Tường vì thế mà cãi nhau to một trận với cha mẹ, ngay cả bản thân cậu ta cũng bị đuổi khỏi nhà, đành tìm một cái cớ để đến ở lại cung thiếu nhi. Hồi đó, ở Trung Quốc, ở các thành phố, tình trạng nhà ở của các gia đình bình thường chật chội biết nhường nào, ai mà muốn thuê một căn phòng nhỏ để ở lại lâu dài trong thành phố thì là một chuyện cực kỳ khó khăn. Mà vào lúc ấy, cô gái đã mang thai. Vào những năm đó, ở Trung Quốc, ở thành phố, giả sử không phải là vợ chồng, quan hệ nam nữ chỉ có thể là một "sự kiện" được tiến hành trong sự nơm nớp lo sợ, vội vàng và hoảng hốt. Không gian tìm được thường đủ để khiến người ta cảm thấy vô cùng xấu hổ. Cũng chính điểm này, thường khiến cho các cặp tình yêu trẻ tuổi sinh ra cảm giác "phạm tội" về mặt tâm lý do hành vi tính dục trước hôn nhân gây ra. Thứ cảm giác "phạm tội" ấy khiến cho Cao Tường và cô gái mà cậu ta yêu cảm thấy họ giống như một đôi trộm cắp gây án. Quả ngọt của tình yêu kết trái sai thời điểm quá mức. Vào những năm đó, ở Trung Quốc, cho dù ở một thành phố lớn, đối với một cặp thanh niên chưa cưới, việc tránh thai thành công hay không, thực ra chủ yếu dựa vào năng lực tính toán toán học của phía nữ. Ngoài ra, không còn cách nào khác. Bởi vì Trung Quốc những năm đó hầu như không có loại thuốc tránh thai nào được bày bán công khai, mà mua bao cao su thì phải có giấy giới thiệu của đơn vị. Tiếc là cô gái mà Cao Tường yêu, cái đầu toán học của cô ấy vốn dĩ chẳng giỏi giang gì cho cam. Cao Tường quyết định tuyên bố sự thật với cha mẹ. Còn cô gái thì không đồng ý. Cô ấy không đủ dũng khí để đồng ý. Do môn đăng hộ đối không xứng, về mặt tâm lý, cô ấy vốn dĩ đã yêu trong sự tự ti vô cùng. Cô ấy sợ cha mẹ Cao Tường coi chuyện cô ấy mang thai là một âm mưu nữa được thực hiện trót lọt của cô ấy, từ đó coi đó là thủ đoạn tống tiền của cô ấy. Cô ấy kiên quyết đòi trở về quê nhà nông thôn An Huy, cô ấy nói về đến quê nhà tự khắc cô ấy sẽ có cách "giải quyết". Trong hoàn cảnh vạn bất đắc dĩ, cô ấy nghĩ mình có thể sinh đứa trẻ ra. Cô ấy cho rằng, người ở quê, đối với chuyện chưa kết hôn mà mang thai của cô ấy, có lẽ không những sẽ ôm thái độ bao dung, mà còn dành cho một chút ít đồng cảm. Ít nhất, ở quê nhà, xung quanh cô ấy không toàn là những người xa lạ lạnh lùng. Thế nhưng cô gái chưa trải sự đời này lại phạm sai lầm một lần nữa. Trở về quê, cô ấy còn bất hạnh hơn khi trở thành một giáo viên phản diện "hư hỏng đạo đức", ngay cả chị ruột của cô ấy, một diễn viên nữ của đoàn kịch Hoài kịch huyện cũng cảm thấy vì cô ấy mà mất hết cả thể diện.
"Người nhà quê chúng ta, là có thể với tới một thứ quan hệ thân thiết không họ không hàng với người nhà ở thành phố lớn sao? Để với tới được thì khó khăn biết bao nhiêu! Đó là do mẹ chúng ta đi làm người giúp việc cho nhà người ta, dùng hai mươi mấy năm trung thành tận tụy đổi lấy đấy! Nếu gia đình Cao Tường chuyển về Bắc Kinh, thế thì hai chị em chúng ta coi như có quan hệ đặc biệt với một hộ gia đình Bắc Kinh rồi! Người gia đình Bắc Kinh đấy nhé! Huống chi cha mẹ của Cao Tường không phải là người bình thường, vốn là những nhân vật tên tuổi trong giới văn nghệ Bắc Kinh đấy! Nhân vật tên tuổi giới văn nghệ cậu biết là dạng người thế nào không? Dù không thể thường xuyên qua lại như người thân, đem ra nói với người khác, thì đó cũng là một niềm vinh quang của hai chị em mình! Là cái phúc đức mà mẹ chúng ta đã tích góp cả đời ăn ở hiền lành với người để lại cho hai chị em mình! Người ta chuyển hộ khẩu của cô lên thành phố, người ta tìm cho cô một công việc, tiền lương hơn ba mươi đồng một tháng, cũng coi như xứng đáng với hai mươi mấy năm trung thành tận tụy của mẹ rồi! Thế còn cô thì sao? Cô lại không biết trân trọng cái mối quan hệ khó có được này, cô lại còn mơ mộng hão huyền muốn làm con dâu nhà người ta! Thế nên mới trăm phương nghìn kế quyến rũ con trai nhà người ta! Con dâu của một gia đình như thế là chuyên đợi cô đến làm chắc? Giờ thì hay rồi, cô tự làm mình mang thai, lại quay về ở nhờ nhà tôi, hại tôi cũng không dám ra ngoài, không ngẩng đầu lên được trước mặt mọi người! Cô bảo tôi phải làm sao với cô đây?!..."
Người chị dùng đủ loại lời lẽ như thế để mắng mỏ sỉ nhục cô ấy. Những lời đó cơ bản cũng đại diện cho cái nhìn của người ở quê đối với cô ấy. Đến cái mức bị ngàn người chỉ trỏ như vậy, cô ấy ngược lại đâm ra sắt đá, không nghe bất kỳ lời khuyên can nào của ai, nhất định phải sinh đứa con ra bằng được.
Còn về phía Cao Tường, dẫu sao cũng là mối tình đầu tiên trong đời, yêu một cách rất ngây ngô không hiểu chuyện. Lúc chưa chia tay thì thề non hẹn biển, tựa hồ như trên đời này hoàn toàn không có người nào hay thế lực nào có thể làm họ tách rời; một khi đã chia tay, không cần phải ngày ngày nâng niu dỗ dành an ủi nữa, thì lại cảm thấy một sự nhẹ nhõm tựa như được giải thoát, trách nhiệm phai nhạt dần, chẳng qua lúc đầu chỉ chạy đến quê nhà cô ấy lén lút thăm một lần. Thời gian lâu dần, đến thư cũng viết ít đi, trong thư cũng không còn xuất hiện những lời ngọt ngào nhung nhớ khôn nguôi nữa. Mà đó lại là thứ mà cô gái yêu cậu ta hằng khao khát hằng mong mỏi trong những ngày tháng vô cùng đặc biệt ấy. Không phải cậu ta thay lòng đổi dạ. Không, cậu ta không thay lòng đổi dạ. Chỉ là cái thứ tình cảm quấn quýt nồng nhiệt như keo sơn của mối tình đầu, do chia tay mà đã hạ nhiệt rồi.
Đứa trẻ cuối cùng cũng được sinh ra.
Thế nhưng năm thứ hai, người mẹ trẻ chưa chồng đã nhảy ao tự vẫn...
Lại qua mấy ngày nữa, có một thanh niên nông thôn An Huy đến thành phố tỉnh lỵ này, đến cung thiếu nhi. Anh ta ẵm một đứa trẻ. Lúc đó Cao Tường đang lên lớp, dạy đàn phong cầm.
Mấy ngày trước cậu vừa được bình chọn là giáo viên gương mẫu ở cung thiếu nhi, còn giành được một trăm đồng tiền thưởng. Cậu đang định viết thư cho cô ấy hỏi thăm tình hình, đồng thời báo cho cô ấy biết thành tựu trong sự nghiệp của mình, tiện thể gửi một trăm đồng tiền thưởng đó cho cô ấy.
Cậu bị đồng nghiệp gọi ra khỏi phòng học.
Ở sảnh ngay cửa ra vào của cung thiếu nhi, trước mặt bác gác cổng và đồng nghiệp của cậu, người thanh niên đến từ nông thôn An Huy nói với cậu rằng: "Cho anh này, đây là con của anh!"
Đối phương còn chưa mở miệng nói chuyện, nhìn thấy người ta đang ẵm đứa trẻ trên tay, trong lòng cậu đã lập tức hiểu ra mấy phần.
Sau khi đối phương nói câu đó, cậu sững sờ tại chỗ. Có thể tưởng tượng được, trên mặt bác gác cổng và đồng nghiệp của cậu sẽ có biểu cảm gì.
Cậu quả thực cảm thấy không còn chỗ nào để dung thân nữa.
Đối phương lại nói: "Anh không muốn à? Anh không muốn, tôi bồng đến thế nào thì bồng về thế ấy vậy."
Trên mặt đối phương lại chẳng có biểu cảm gì đặc biệt khiến cậu lúng túng, giọng điệu cũng vô cùng bình tĩnh. Tựa hồ như chỉ là nhận lời gửi gắm của người ta, mang đến cho cậu một "thứ đồ" mà cậu muốn hay không cũng được, người ta ai nấy đều thấy quen mắt thường gặp.
Cậu rất máy móc chìa hai tay ra đón lấy đứa trẻ.
"Là con gái."
"..."
"Anh mãi mãi cũng không gặp lại được mẹ nó nữa."
"Mẹ nó chết rồi."
"Con gái anh đã hơn nửa tuổi rồi. Anh biết ở nông thôn, một người phụ nữ không chồng mà ngày ngày ẵm bồng một đứa trẻ, người ta sẽ bàn tán về chuyện này thế nào không?...
"Hơn nửa năm nay, mặc người chỉ trỏ, mặc người khinh miệt, mẹ nó không thể nào chịu đựng thêm được nữa... Thế nhưng cô ấy không nói với bất cứ ai rằng đứa trẻ có một người cha như anh! Vì danh tiếng của anh, vì danh tiếng gia môn nhà anh! Trời xanh có mắt, cô ấy thẹn với anh..."
"Cô ấy nhảy ao chết đuối rồi. Tôi và gì của đứa trẻ, đã tiễn đưa cô ấy đi rồi..."
"..."
"Bây giờ, nó chỉ còn có anh là người cha này thôi."
"Nếu mẹ nó không đến thành phố này, không đến nhà anh, thì đã không hết yêu tôi, thì đã không mang thai con của anh, thì đã không chết. Thế thì, chúng tôi đã là vợ chồng rồi. Một đôi vợ chồng nghèo rất xứng đôi rất hạnh phúc ở nông thôn."
Đối phương nói xong mấy câu cuối cùng, quay người cái là rời khỏi cung thiếu nhi không thèm ngoảnh đầu lại.
Từ đầu đến cuối, bản thân cậu không thốt ra được một câu nào.
Cậu ẵm con gái của mình dưới ánh mắt dòm ngó trừng trừng của bác gác cổng và đồng nghiệp, trong chốc lát dường như biến thành bức tượng đá, ngẩn ngơ đến mức ngay cả chớp mắt cũng không động đậy. Mà bác gác cổng và đồng nghiệp của cậu, cũng gần như đờ đẫn thành cái bộ dạng đó.
Hơn một phút sau, cậu cũng rời khỏi cung thiếu nhi.
Bác gác cổng và đồng nghiệp trân trân nhìn cậu đi mất, cũng đều không nói một câu nào. Đều không biết nên nói câu gì cho phải.
Cậu ẵm con gái ngẩn ngơ lang thang trên phố một lát, đầu óc mới hơi tỉnh táo lại một chút.
Cậu ẵm con gái về nhà. Không nơi để đi, chỉ có thể về nhà.
Cậu vừa nói người mình đang ẵm là con gái, mẹ cậu trợn ngược hai mắt, lập tức ngất lịm đi.
Cậu không dám nói mẹ của con gái mình đã chết và chết như thế nào, sợ cha không chịu nổi cú sốc tinh thần lớn mà cũng ngất theo. Cậu hiểu rõ trong lòng, cha mẹ cậu tuyệt đối khó lòng chấp nhận hiện thực là họ có một đứa cháu gái danh không chính ngôn không thuận.
Hôm sau, cậu đem con gái giao cho học sinh mà cậu yêu quý nhất. Sau một đêm suy nghĩ trọn vẹn, cậu rút ra một kết luận đó là — trên thế giới này, ngoại trừ cậu học sinh mười lăm tuổi tên là Kiều Kỳ kia ra, cậu hoàn toàn không còn một người nào khác có thể phó thác. Không biết dựa vào điều gì mà cậu chắc chắn rằng, người học sinh nông thôn ít nói mới mười lăm tuổi tên là Kiều Kỳ ấy, tuyệt đối sẽ không làm cậu thất vọng.
Đêm hôm đó cậu còn đưa ra một quyết định trọng đại khác — chết.
Mà ngày hôm sau, trận tuyết đầu tiên của mùa đông rơi xuống.
Sau khi giao con gái cho học sinh của mình, cậu không đi xuống cầu sông, mà quay người bước đi giữa hai đường ray xe lửa, ngẩn ngơ thất thần cứ thế đi thẳng về phía trước.
Nghe thấy tiếng còi tàu phía trước vang lên, cậu tạm thời quyết định cách chết của mình...
Toàn bộ đầu đuôi ngọn nguồn này, mãi về sau thiếu niên mười lăm tuổi ở thôn Phơ Đáy mới biết được. Khi cậu đã hiểu rõ một số chi tiết, thì tuổi tác cũng đã đôi mươi rồi. Còn vào thuở ban đầu, cậu chỉ có thể biết được một số chuyện chính từ những lời bàn tán xôn xao của mọi người, đó chính là — đứa bé gái "thuộc về" cậu ấy, có lẽ sẽ thực sự "thuộc về" cậu ấy. Con bé là con gái của thầy giáo cậu. Thầy giáo của cậu và cô gái mà thầy giáo yêu lần lượt tự sát, vì tình yêu gặt hái ít kết quả nhất nhưng tốn nhiều công sức của họ, và cũng vì thuở tình đầu không biết yêu là gì...
Năm sáu ngày sau đó, mỗi buổi chiều cậu vẫn mang theo đàn cello bước ra khỏi cửa như thường lệ. Cậu nói với cha là đến cung thiếu nhi, thực ra cậu không đi. Nhưng cậu cũng chẳng đến nơi nào khác. Cậu mang theo đàn cello đi thẳng đến bờ sông rồi không tiến về phía trước nữa. Cách mặt sông đóng băng, có thể nhìn thấy toàn cảnh cung thiếu nhi. Hai cây liễu lớn ở hai bên trái phải trước cửa vẫn đọng đầy sương tuyết, giống như hai rặng san hô bạc khổng lồ. Cậu hoặc đứng bên bờ sông kéo đàn cello, hoặc ngồi trên bậc thang của cầu thang để kéo. Không bước dù chỉ một bước lên mặt sông, không bước dù chỉ một bước lên bậc thang cầu thang. Lúc kéo, mắt đăm đăm nhìn xa xăm về phía cung thiếu nhi. Nước mắt trào ra từ khóe mi, đông cứng thành vệt nước mắt băng trên mặt, cậu cũng không hề hay biết. Đầu ngón tay bị cóng đến tê dại, cả hai bàn tay đều cứng đơ vì lạnh, cậu liền đan chéo tay đút vào ống tay áo, hoặc nhét vào ngực áo để sưởi ấm. Cho dù đã ngừng kéo đàn, ánh mắt cậu vẫn nhìn về phía cung thiếu nhi. Phía bên sông này, bất kể xuân hạ thu đông, mọi thứ đối với cậu đều quá đỗi quen thuộc. Thành phố phía bên kia sông, ngoại trừ cung thiếu nhi ra, tất cả mọi thứ đều là những thứ cậu không quen thuộc. Thế nhưng cũng chưa từng muốn làm quen với nó cho lắm. Nền tảng của một thành phố vô cùng xa lạ, làm nổi bật lên cung thiếu nhi duy nhất mà cậu quen thuộc. Tòa nhà tuy không hùng vĩ nhưng kiểu dáng rất đẹp mắt đó, tựa như một biểu cảm đặc biệt của thành phố, mang một ý nghĩa hoàn toàn khác trong ánh mắt cậu. Trước sau trái phải bốn phương tám hướng, hình như chỉ có cung thiếu nhi là đáng để cậu ngắm nhìn mãi không chán, còn những phong cảnh khác đều không đáng để cậu ngắm cho lắm. Cung thiếu nhi ấy đã trở thành một ngôi đền trong thâm tâm cậu. Tôn thờ một vị thần vô hình bị người ta bàn tán đủ điều, từ đó cũng không tránh khỏi bị những lời đồn thổi bôi nhọ và bóp méo. Vị thần mà cậu vẫn luôn kính yêu và sùng bái như xưa. Thiếu niên này vào thuở đó vẫn chưa thể nhận thức được rằng, trong những ngày tháng ấy, tiếng đàn của cậu đã đượm thêm một sợi buồn thảm. Cho dù thứ cậu kéo không phải là đàn cello nữa, mà là các loại nhạc cụ khác, ví dụ như đàn phong cầm, nhị hồ; hoặc là nhạc cụ hơi, ví dụ như tiêu, sáo, saxophone gì đó, trong tiếng nhạc cũng đều có một sợi tình điệu u sầu. Ngay cả những khúc nhạc vui tươi cũng thế. Những khúc nhạc vốn dĩ đã u sầu thì lại càng như thế. Mà điều này sau này đã ảnh hưởng đến thiên phú âm nhạc của cậu, được những nhân vật có thẩm quyền đánh giá cao hơn; cũng ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài trong sự nghiệp âm nhạc của cậu. Đây là điều mà thầy giáo Cao Tường của cậu lúc còn sống không sao lường trước được...
Cha cậu rốt cuộc cũng là trưởng thôn. Không thể sau khi cậu rời nhà liền biến thành một bảo mẫu toàn thời gian chăm sóc trẻ con. Cha đôi khi đưa "yêu tinh nhỏ" đến nhà họ Trương, đôi khi đưa đến nhà họ Lý, nhờ người trong thôn trông nom giúp vài tiếng đồng hồ. Nếu cậu về sớm, cậu sẽ đi bồng "yêu tinh nhỏ" về. Nếu cha về sớm, thì đó là nghĩa vụ của cha.
Chẳng mấy chốc, toàn bộ người trong thôn đều biết chuyện đứa con trai của trưởng thôn nhặt được một "yêu tinh nhỏ".
Khoảng chập tối ngày thứ bảy hoặc thứ tám sau khi thầy giáo chết, lúc cậu về đến nhà, không thấy cha đâu, cũng chẳng thấy "yêu tinh nhỏ" đâu. Đọc tờ giấy nhắn lại của cha, cậu đến nhà một người trong thôn muốn bồng "yêu tinh nhỏ" về. Người ta lại bảo với cậu, "yêu tinh nhỏ" vừa bị cha cậu bồng đi rồi. Người ta còn bảo với cậu, cha cậu quyết định đưa "yêu tinh nhỏ" đến đồn công an phố Duyên Giang trong thành phố. Đã nhặt được ở cầu sông, thì đưa đến đồn công an đó cũng coi như hợp tình hợp lý.
Lúc cậu chạy ra khỏi đầu thôn, trời đã tối hẳn. Xe ngựa cùng tấm lưng của cha ngồi trên xe thấp thoáng nhìn thấy được, cách cậu chừng sáu bảy mươi mét.
Cậu vừa đuổi vừa gọi: "Cha! Không được đâu! Con không đồng ý, cha không thể làm thế được đâu!..."
Cha quay đầu lại một lần. Cậu nhìn thấy một tay cha cầm roi, một tay bồng "yêu tinh nhỏ" vào lòng. Ngay sau đó, cha liên tục quất mấy roi, giục xe ngựa đi nhanh hơn. Trong chớp mắt, xe ngựa biến mất trong màn đêm. Tiếng lục lạc ngựa vang lả tả, cậu biết ngựa đã bắt đầu chạy rồi. Rõ ràng, cha muốn hất cẳng vứt bỏ cậu lại phía sau.
Cậu bám theo không buông, tiếp tục gọi.
Thế nhưng tiếng lục lạc ngựa càng lúc càng xa, càng lúc càng nhỏ.
Thiếu niên thôn Phơ Đáy mười lăm tuổi, một hơi đuổi theo hơn chục dặm, đến thở cũng không dám nghỉ ngơi một lát.
Đến khi cậu đuổi kịp tới đầu cầu, chỉ thấy xe ngựa được cột vào một gốc cây cổ thụ, hai con ngựa chạy mệt đang đứng ăn tuyết. Nào còn bóng dáng của cha đâu nữa! Cha sớm đã bồng "yêu tinh nhỏ" đi qua cầu sông từ đời nào rồi.
Cậu cũng không chút do dự bước lên cầu sông...
Lúc cậu thở hồng hộc mồ hôi nhễ nhại đuổi đến đồn công an, thì thấy mấy đồng chí cảnh sát trực đêm, đang thay nhau trêu "yêu tinh nhỏ" cười giòn giã, mà con bé vốn thích vui vẻ cứ cười khanh khách khà khà từng trận. Cậu nhìn ra được, các đồng chí cảnh sát cũng đều vô cùng yêu mến "yêu tinh nhỏ" của cậu.
Sự xuất hiện của cậu khiến các đồng chí cảnh sát hết sức kinh ngạc.
Cha nói: "Đây chính là con trai tôi, nó hơi không nỡ xa đứa bé này."
Trên đầu Kiều Kỳ vừa tháo mũ ra bốc cả hơi khói.
Nữ cảnh sát hỏi Kiều Kỳ: "Sao em lại đổ mồ hôi đầm đìa thế này?"
Kiều Kỳ đáp: "Do chạy ạ."
Nữ cảnh sát lại hỏi: "Em chạy cái gì chứ?"
Kiều Kỳ nhìn cha cậu, ngậm miệng không nói nữa.
Nữ cảnh sát nhìn kỹ lên mặt cậu, tiếp tục hỏi: "Em còn khóc nữa phải không?"
Kiều Kỳ quay phắt người đi, ôm "yêu tinh nhỏ" trốn vào góc tường.
Các đồng chí cảnh sát nhìn nhau, trong lòng đều hiểu được tám chín phần.
Cha của Kiều Kỳ nói: "Nếu chúng tôi không còn chuyện gì nữa, hai cha con tôi xin phép để lại đứa trẻ rồi đi đây."
Một nam cảnh sát, nhìn dáng vẻ có vẻ là người gánh vác chút trách nhiệm nắm giữ chút quyền hạn, thong thả nói: "Đồng chí trưởng thôn, anh vừa thấy rồi đấy, đối với chuyện này, tôi đã tự mình làm ghi chép văn bản rồi. Nhưng nếu hai người cứ để đứa trẻ lại đồn công an, rồi bỏ đi như thế, thì không hay cho lắm. Đồn công an không phải nhà trẻ đâu, đứa trẻ này là một sinh mệnh sống, chứ không phải đồ thất lạc nào khác, chúng tôi có thể tạm thời nhốt nó vào một cái tủ trước, một tháng, hai tháng, một năm, hai năm, bao giờ tìm được người mất thì bao giờ lại lấy nó ra từ trong tủ, để người ta ký tên rồi nhận về..."
Cha của Kiều Kỳ nói: "Đồng chí công an, có một điểm có lẽ anh vẫn chưa hiểu rõ. Chúng tôi tuy nói đứa trẻ này là nhặt được, nhưng sự việc bày rõ ra đấy, đứa trẻ này không phải do gia trưởng làm mất, mà là bị gia trưởng của nó vứt bỏ..."
Viên cảnh sát cắt lời: "Đồng chí trưởng thôn, không phải là tôi có lẽ vẫn chưa hiểu rõ. Điểm anh nói đấy, tôi rất rõ. Các đồng chí của tôi cũng đều rất rõ."
Vừa nói, anh ta vừa đảo mắt nhìn các đồng chí của mình.
Thế là bọn họ từng người một gật đầu.
Anh ta cầm cuốn sổ ghi chép trên bàn lên, dùng bút gõ gõ rồi nói tiếp: "Anh xem, cái tôi ghi chép trực tiếp chính là hai chữ 'trẻ bỏ rơi'. 'Nhặt được', đây là cách nói quen thuộc của chúng ta thôi, để phân biệt với trộm, cướp, lừa đảo. Đối với trẻ bỏ rơi, 'nhặt được' thực ra chính là có ý nghĩa là phát hiện ra rồi! Xem này, ở đây, tôi dùng từ 'phát hiện'. Anh để con bé lại chỗ chúng tôi, chỗ chúng tôi sau này sẽ rối tung lên, không thể đi làm bình thường được nữa. Cảnh sát đồn công an chúng tôi không thể thay phiên nhau chăm sóc một đứa trẻ này được! Mỗi người chúng tôi đều có một đống công việc của riêng mình đấy! Cho nên, tôi cho rằng, đồng chí trưởng thôn, anh vẫn nên bồng đứa trẻ về đi, mấy ngày trước chăm sóc thế nào, thì tiếp tục chăm sóc thế ấy trước đã..."
Nữ cảnh sát nọ lên tiếng chen vào: "Nhìn ra được, đứa trẻ này được chăm sóc rất tốt, nếu không thì sẽ không hoạt bát thế này đâu."
Một nam cảnh sát nói: "Đâu chỉ là hoạt bát không thôi chứ, phải gọi là lanh lợi mới đúng!"
Các đồng chí cảnh sát khác lại từng người một gật đầu.
Viên cảnh sát gánh vác chút trách nhiệm có chút quyền hạn nói: "Nghe thấy chưa trưởng thôn, lời của các đồng chí chúng tôi, cũng coi như đang khen ngợi anh đấy! Đương nhiên rồi, cũng bao gồm cả khen ngợi con trai anh nữa. Đứa trẻ này được chăm sóc rất tốt, chắc chắn không chỉ là công sức của một mình anh. Tại sao anh vẫn nên bồng đứa trẻ về? Thứ nhất, hai cha con anh, rõ ràng có thể làm tròn trách nhiệm đối với đứa trẻ này tốt hơn chúng tôi. Thứ hai, đây cũng chính là làm tròn một phần trách nhiệm đối với cha mẹ nó. Họ vứt bỏ nó, có lẽ là do suy nghĩ sai lầm nhất thời. Đợi khi họ hối hận, đi tìm khắp nơi, cuối cùng tìm thấy, nhìn thấy đứa con do chính mình vứt bỏ hồi xưa được chăm sóc béo trắng mập mạp, ngoài việc mang lòng biết ơn vô hạn với anh ra, đồng thời họ cũng sẽ biết ơn xã hội. Thế thì, anh coi như đang làm tròn trách nhiệm cho xã hội chúng ta rồi. Thứ ba, đứa trẻ này sau này lớn lên, nếu vẫn nhớ quãng đời trải nghiệm này, đương nhiên cũng sẽ biết ơn hai người. Thế thì, chung sống tốt, anh coi như có thêm một đứa con gái, con trai anh coi như có thêm một người em gái nhỏ. Thứ tư, cảnh sát đồn công an chúng tôi cũng sẽ biết ơn anh. Anh coi như đã gánh vác nghĩa vụ giúp chúng tôi, làm thay chúng tôi việc mà chắc chắn chúng tôi làm không tốt bằng hai cha con anh. Còn về phần chúng tôi, chúng tôi nhất định sẽ chú ý thăm dò, hễ có manh mối gì, sẽ lập tức thông báo cho các anh..."
Đối phương nói xong những lời đó, cha của Kiều Kỳ á khẩu không trả lời được. Không biết nên nói gì cho phải nữa. Đội chiếc mũ cao thế này lên đầu rồi, mặc ai đi nữa, cho dù có không muốn đến đâu đi chăng nữa, thì cũng chỉ có thể áp dụng thái độ tạm thời là như thế mà thôi.
Còn Kiều Kỳ, lòng nóng như lửa đốt, bồng "yêu tinh nhỏ" "thuộc về" mình, bước chân bắt đầu dịch chuyển về phía cửa.
Viên cảnh sát có chút trách nhiệm có chút quyền hạn nọ, còn ra hiệu cho các đồng chí của mình đều đội mũ cảnh sát bằng bông lên, cùng nhau tiễn hai cha con Kiều Kỳ ra tận ngoài cửa.
Trên bậc thềm ngoài cửa, họ đứng thành một hàng, chào hai cha con Kiều Kỳ, dáng vẻ vừa nghiêm trang vừa tếu táo...
Lúc đi qua cầu sông, cha sải bước đi rất nhanh, Kiều Kỳ bồng "yêu tinh nhỏ" của mình, có chút theo không kịp.
Cũng may cha đi một đoạn lại dừng lại một lát, lớn tiếng cảnh cáo hết lần này đến lần khác: "Con cẩn thận cho tao kẻo ngã đấy! Con mà làm nó ngã bị thương, về nhà tao không tha cho con đâu!"
Xuống khỏi cầu sông, lên xe ngựa, cha cũng không giục ngựa, mặc cho hai con ngựa thong thả đi.
Suốt dọc đường cha không ngoảnh đầu lại, suốt dọc đường không nói một câu nào. Rõ ràng là trong lòng đang bực bội, không thèm đếm xỉa đến đứa con trai này.
Nửa đường, cha cởi áo da ra, văng ngược ra sau một cái, rơi trúng người cậu.
Đường về ngược gió, cậu vội vàng dùng áo da đắp lên chiếc chăn nhỏ của "yêu tinh nhỏ", cũng để chắn bớt gió tạt thẳng vào mặt mình...
Cha đánh xe ngựa thẳng về đến cửa nhà. Lặng lẽ nhìn cậu nhảy tót xuống xe bước vào nhà, cha mới đi tháo xe.
Đến khi cha cũng vào trong nhà, cậu đã cho "yêu tinh nhỏ" bú xong sữa rồi.
"Yêu tinh nhỏ" dọc đường không khóc không nháo, sau khi bú sữa xong, bò khắp chiếc kang chơi đùa, khều cho một quả bầu lăn qua lăn lại, thế là tự mình vui vẻ cười khanh khách khà khà, tiếng cười vang rền chí chóe. Con bé dường như đã nhận ra "nhà" rồi. Dường như cảm thấy, chỉ có ở trong "cái nhà" này, mới là nơi thích hợp nhất an toàn nhất. Chơi chưa được bao lâu, nó chơi mệt rồi, bò đến mép kang, giơ hai bàn tay nhỏ về phía Kiều Kỳ, có ý bảo cậu bồng. Cậu hiểu, nó buồn ngủ rồi.
Kiều Kỳ bồng "yêu tinh nhỏ" lên, vừa mới dỗ cho nó ngủ thì cha về.
Cha chỉ vào cậu, thấp giọng nhưng hầm hầm tức giận nói: "Con đừng tưởng chuyện này cứ thế là xong đấy, chưa xong đâu!"
Nói dứt câu, cha cởi giày ra, áo cũng chẳng cởi, ngả đầu là ngủ.
Đêm hôm đó "yêu tinh nhỏ" ngủ rất say như thường lệ, cha lại cứ trở mình suốt, còn ho khan khe khẽ. Tính ra thì Kiều Kỳ ngủ là không yên giấc nhất, bên phía cha hễ có động tĩnh gì một cái là cậu giật thột tỉnh giấc, tiện đà theo phản xạ đưa một tay sờ soạng về phía "yêu tinh nhỏ", xem con bé còn đó hay không. Cậu sợ cha tranh thủ lúc mình ngủ say, lén lút bồng "yêu tinh nhỏ" ra khỏi cửa nhà, lại đem đi gửi gắm ở chỗ nào nữa.
Sáng hôm sau, cha phát sốt. Do hôm qua trên đường cởi áo da ra, bị nhiễm lạnh cảm rồi.
Cậu nói: "Cha ơi, thế thì cha ngàn vạn lần đừng bồng nó nữa đấy, kẻo lại lây sang nó."
Lời nói của cậu khiến cha trừng mắt lườm cậu một cái sắc lẹm.
Cả ngày hôm đó, quả nhiên cha không bồng "yêu tinh nhỏ". Nó muốn cha bồng nhưng cha cũng không bồng. Thậm chí, còn không đến gần nó.
Đến tối, cha kẹp chăn gối nách, chẳng nói một tiếng nào, tự giác sang căn phòng nhỏ khác chất đống tạp vật để ngủ...
Lại qua bảy tám ngày nữa, bên đồn công an không truyền đến bất kỳ tin tức gì. Cha đã mất đi sự kiên nhẫn chờ đợi, lại bồng "yêu tinh nhỏ" đến công xã một chuyến.
Các vị lãnh đạo công xã nghe xong báo cáo của cha, một vị lãnh đạo lực bất tòng tâm nói: "Thủ Nghĩa này, không phải chúng tôi không muốn giúp anh giải quyết cái khó khăn của cái anh trưởng thôn này đâu! Trẻ con do người thành phố vứt bỏ, công xã nông thôn chúng ta muốn giúp anh cũng chịu thua thôi em ạ! Cái này dính lậu đến vấn đề hộ khẩu đấy! Nếu biến một đứa trẻ đáng lẽ nên có hộ khẩu thành phố thành một đứa trẻ có hộ khẩu nông thôn, lớn lên nó sẽ hận đấy!"
Một vị lãnh đạo công xã khác lại nói: "Thủ Nghĩa trước nay chưa từng vì việc riêng mà làm phiền đến các lãnh đạo công xã chúng ta, đã hôm nay anh ấy bồng đứa trẻ đến trước mặt chúng ta, dù thế nào chúng ta cũng phải hiến cho anh ấy một chủ kiến chứ. Thủ Nghĩa anh thấy thế này được không? — Chúng ta đặc phê cho đứa trẻ này một chỉ tiêu sinh đẻ, thế thì nó được nuôi dưỡng ở chỗ anh, sẽ trở thành hợp pháp. Còn về phía thành phố kia, bên đồn công an khi nào có kết quả rồi, hủy bỏ chỉ tiêu đó đi là được chứ gì."
Kiều Kỳ tranh thủ trả lời: "Được, được ạ!"
Cha giơ cái tát đầy đe dọa, lại muốn tát cậu.
Cha vặn hỏi lại: "Nếu đồn công an phía thành phố mãi vẫn không tìm được cha mẹ ruột của đứa trẻ này, thế chẳng phải nó nghiễm nhiên hợp pháp trở thành một nhân khẩu trong nhà Kiều Thủ Nghĩa tôi rồi sao? Nếu tôi lại vứt bỏ nó lần nữa, chẳng phải tôi lại sẽ bị người ta lên án sao? Làm không khéo chẳng phải tôi sẽ phạm pháp hay sao?"
Các vị lãnh đạo lại nhỏ nhẹ khuyên nhủ, đều nói một đứa bé gái đáng yêu thế này, anh ngàn vạn lần đừng vứt bỏ nó nữa nhé! Nói thế chẳng phải uổng công lòng tốt vất vả các lãnh đạo bọn tôi giúp anh sao? Nói hiện nay bây giờ, kế hoạch hóa gia đình, bất kể nông thôn thành phố, một chỉ tiêu sinh đẻ dễ dàng được đặc phê thế chắc? Rất nhiều nông dân vì chuyện này mà hối lộ lãnh đạo anh không rõ à? Nếu cha mẹ ruột của đứa trẻ mãi vẫn không tìm thấy, anh coi như nuôi dưỡng một đứa con gái của mình thì có gì là không tốt chứ?"
Trưởng thôn Kiều nói với giọng chém đinh chặt sắt là không tốt. Nói mình năm mươi tuổi rồi, tình trạng sức khỏe lại kém, có một đứa con trai ruột sau này lo việc dưỡng già là đủ rồi, tuyệt đối không muốn có thêm một đứa con gái hơn nửa tuổi chẳng có quan hệ huyết thống gì với mình nữa. Huống chi con bé này nói không chừng lại là một đứa câm! Sắp một tuổi rồi, mà chỉ biết nói mỗi từ "đói", "ăn", khiến người ta lo lắng quá chừng ấy chứ!
Cuối cùng, trưởng thôn Kiều đưa ra một phương án — ông nói ông muốn vì đứa trẻ mà triệu tập một cuộc họp toàn thôn, nếu trong cuộc họp có nhà nào bày tỏ ý nguyện muốn nhận nuôi đứa trẻ này, hễ có một chút năng lực nuôi dưỡng nhất định, thì xin công xã đặc phê chỉ tiêu sinh đẻ cho gia đình nhà đó, bất kể con cái nhà người ta đã sinh quá kế hoạch hay chưa...
Các vị lãnh đạo công xã thương lượng mấy câu ngay trước mặt hai cha con họ, về nguyên tắc là đồng ý.
Trưởng thôn Kiều thực sự có chút sốt ruột không đợi nổi. Ngay tối hôm đó ông đã triệu tập cuộc họp toàn thôn. Một trăm mấy chục con người lớn, tề tựu đông đúc quây quần ở nhà kho nông cụ. Chủ yếu là sợ "yêu tinh nhỏ" bị lạnh, nên đã dựng sẵn lò gang lớn và ống khói từ trước, sưởi ấm áp trong nhà kho. "yêu tinh nhỏ" trong toàn thôn đã là "người nổi tiếng" rồi. Rất nhiều nam thanh nữ tú bị thu hút bởi "hiệu ứng người nổi tiếng" nên đã đến đó. Lại có những gia đình vì từng trông nom "yêu tinh nhỏ" giúp trưởng thôn nên đâm ra có chút yêu mến nó, muốn tận mắt xem thử rốt cuộc nó sẽ rơi vào nhà ai.