Loài người là một trong số các loài động vật.
Nếu phân loại theo "hành vi xã hội", động vật lại có thể được chia thành hai loại lớn là động vật sống bầy đàn và động vật không sống bầy đàn.
Giống như ong bắp cày, kiến, ngỗng trời, chim cánh cụt, chim bồ câu, hải cẩu, cho đến ngựa, bò, dê, sói, chó v.v., tất cả đều sống bầy đàn. Chúng bắt buộc phải sống cùng nhau. Các cá thể không muốn rời đàn sống cô độc, trừ khi bị ép buộc hoặc bị dụ dỗ mà mất đi ý chí tự do.
Còn như các loài động vật khác như sư tử, hổ, báo, gấu trúc, cho đến diều hâu và rùa, ba ba v.v., thì lại là động vật không sống bầy đàn. Phần lớn chúng là những "hộ đơn thân", ngoại trừ việc giao phối ra, thì mạnh ai nấy sống, không quan tâm đến nhau. Đây là một hiện tượng rất thú vị nhưng không dễ hiểu được phát hiện trong nghiên cứu "hành vi xã hội của động vật" ở ngành động vật học hiện đại.
Loài người thì thuộc loại động vật sống bầy đàn trước. Trong đời sống xã hội của loài người, không có bất kỳ cá nhân nào có thể thực sự sống tách biệt khỏi bầy đàn.
Đã sống bầy đàn, thì động vật sống bầy đàn tất yếu sẽ chia nhóm để ở. Điều này trong đời sống xã hội của người nguyên thủy, được gọi là đời sống bộ lạc.
8.1 Đặc trưng đời sống bộ lạc của người nguyên thủy
Nhưng suy cho cùng, loài người vẫn là "tinh hoa của muôn loài". Điểm linh tú của con người là biết tận dụng kinh nghiệm để cải thiện cuộc sống. Sự cải thiện cuộc sống không chỉ giới hạn ở cá nhân, mà còn bao gồm cả toàn bộ bộ lạc. Cho nên giữa các bộ lạc thời nguyên thủy, cũng đã có sự phân biệt ưu việt, kém cỏi, mạnh, yếu.
Hơn nữa, loài người cũng là một trong số các loài động vật sống bầy đàn có hành vi xã hội đồi bại hơn, có lẽ cũng là loại đồi bại nhất. Họ tàn độc ích kỷ, hiếu sát hiếu chiến hiếu tài, lại vô hạn ham mê sắc dục. Bọn họ không chỉ đối xử với nhau giữa các cá thể như vậy; giữa các tập thể cũng thế. Không chỉ giữa người và thú là thế, mà giữa người với người cũng vậy. Không chỉ giữa các dị tộc với nhau; mà ngay trong cùng một tộc cũng thế. Tôn giáo nguyên thủy khuyên người ta làm điều thiện, thực chất cũng là khuyên con người có hành vi như vậy.
Do đó, các nhà nhân loại học và nhà sử học hiện đại đều phát hiện ra rằng, chiến tranh bộ lạc giữa những người nguyên thủy là đánh mãi không hết. Giữa các bộ lạc không chỉ không có thói quen chung sống hòa bình, mà cũng chẳng có quan niệm chung sống hòa bình. Lấy mạnh hiếp yếu, lấy đông hiếp cô, là nền tảng trong quan niệm giá trị của họ, đồng thời cũng là một phần rất quan trọng trong phương thức sinh tồn. Chiến tranh đã đánh mãi không hết, thì giữa các bên tất yếu phải có sự phân định thắng thua. Đã có sự phân định thắng thua, thì cũng xuất hiện sự khác biệt giữa thống trị và bị thống trị. Cứ phát triển theo hướng này, chế độ nô lệ với các hình thái khác nhau đã phát sinh; tiến thêm một bước nữa, chế độ phong kiến với các hình thái khác nhau, cũng xuất hiện.
Trên đây là những hiện tượng đại đồng tiểu dị đã xảy ra trong xã hội nguyên thủy. Bởi vì con người rốt cuộc cũng chỉ là một loại động vật sống bầy đàn. "Hành vi xã hội" của con người vốn có tính phổ quát của nó, cho nên phương thức đời sống xã hội thời kỳ đầu của họ, tất yếu có những điểm tương đồng.
Nhưng suy cho cùng, con người vẫn "khác với cầm thú". Trong quá trình lâu dài mà kinh nghiệm tích lũy ngày càng nhiều, ngày càng phức tạp, "tính gần nhau, thói xa nhau", do môi trường tự nhiên và truyền thống văn hóa khác nhau, sự phát triển xã hội của họ cũng dần dần đi ngược lại với nhau, không thể được bao hàm chỉ bằng một mô hình duy nhất.
8.2 Sự hình thành mô hình phương Đông "quốc gia mạnh hơn xã hội"
Hãy nhìn vào hình thức và sự phát triển của xã hội cổ đại nước ta, sẽ thấy nó có những mô hình đặc thù, là điều mà các nền văn minh khác chưa từng có.
Chế độ phong kiến được hình thành ở thời Tây Chu nước ta, chính là kết quả của việc bộ lạc họ Cơ có vũ lực mạnh hơn, dân số đông hơn trong số các tộc người Mông Cổ ấy, dùng vũ lực áp đặt lên các bộ lạc lạc hậu khác. Chu Văn Vương và Chu Vụ Công ép các bộ lạc nhỏ này phải tôn phùng chính sóc của nhà Chu, tuân theo trật tự đẳng cấp phong kiến do nhà Chu quy định, gánh vác nghĩa vụ binh dịch, lao dịch, cống hiến tài vật cho vương thất họ Cơ, thậm chí tusy bỏ thủ lĩnh vốn có của họ, đổi sang tôn phùng "chư hầu họ Cơ" làm người lãnh đạo của bộ lạc mình. — Tóm lại, nó lấy chủ nghĩa bộ lạc bán độc lập, làm kết cấu cơ sở của xã hội chính trị lúc bấy giờ. Thế nhưng kết cấu này kéo dài mấy trăm năm, qua hàng nghìn trận chiến tranh bộ lạc, kết quả của việc thôn tính lẫn nhau, đến thời Chiến Quốc (năm 403 TCN ~ năm 256 TCN) thì đã không thể duy trì được nữa. Cho đến khi Tần Tần Thủy Hoàng dẹp yên các chư hầu, thống nhất đại lục Đông Á thành một đế quốc hùng mạnh, thì chế độ phong kiến dựa trên cơ sở chủ nghĩa bộ lạc này, đã sụp đổ hoàn toàn.
Nhằm thích ứng với những nhu cầu mới của thời đại mới, người Tần bèn dựa vào "chế độ nhà Tần" vốn có tính hiệu quả cao hơn và mang ý nghĩa tiến bộ hơn của họ, tiến hành một cuộc cải cách mở cửa và biến pháp canh tân mang tính toàn quốc. Đây chính là những gì mà sách giáo khoa lịch sử trung tiểu học của chúng ta gọi là "phế phong kiến, lập quận huyện; phế tỉnh điền, mởThiên Mạch (đường biên ruộng đất)". Cái trước là cải cách chính trị, cái sau là mở cửa kinh tế, biến của công thành của riêng, dựa theo quy luật cung cầu, nâng cao sản xuất nông nghiệp.
Đây là sự đặt móng lớn cho chế độ chính trị kinh tế của Trung Quốc chúng ta — không phải, của phương Đông chúng ta; đồng thời cũng là "sự chuyển đổi" lớn lần thứ nhất trong đời sống xã hội của dân tộc phương Đông chúng ta — chuyển từ "chủ nghĩa bộ lạc" (tribalism) của một loài động vật sống bầy đàn bậc cao, sang một chế độ kinh tế lấy sản xuất nông nghiệp tự do làm chủ đạo; và chế độ chính trị của một đế quốc vũ trụ (universal empire) tập trung quyền lực trung ương, lấy chế độ quan văn được khoa học hóa cao độ làm xương sống, trời không có hai mặt trời, dân không có hai vua.
Dưới chế độ mới và phương thức đời sống mới này, nó tiếp tục không ngừng thống nhất hàng nghìn hàng vạn "dân tộc thiểu số" vẫn đang sinh sống theo phương thức chủ nghĩa bộ lạc. Đem tất cả bọn họ thu nạp vào trong một "lò luyện lớn" của dân tộc hỗn hợp mang đặc điểm "văn giống chữ, xe cùng trục, đạo cùng loài", để cùng nhau xưng huynh gọi đệ, chung thờ tổ tiên; cùng hưởng an lạc, cũng chung gác hoạn nạn. Ranh giới giữa các dân tộc cuối cùng cũng dần dần tiêu diệt, cho đến khi khít khao không một kẽ hở.
Quan niệm và thực tiễn về việc các dân tộc này không ngừng dung hợp, văn hóa không ngừng phát triển, mà phương thức sinh sống cùng chế độ chính trị kinh tế thì trước sau như một ấy, vậy mà kéo dài hai nghìn năm mà không hề suy giảm chút nào. Hơn hai trăm năm trước, Hoàng đế Ung Chính thực hiện chính sách "cải thổ quy lưu" đối với các dân tộc thiểu số vùng Tây Nam, há chẳng phải là sự tiếp nối của việc "phế phong kiến, lập quận huyện" hay sao? Hai tuần trước, sáu vị "lập pháp viên sơn bào" vừa mới được bầu ra ở Đài Loan, há chẳng phải là ví dụ mới nhất về sự dung hợp dân tộc này hay sao?
Tôn Trung Sơn tiên sinh — người nhậm chức Đại Tổng thống lâm thời dưới ngọn "quốc kỳ ngũ sắc" (mỗi màu đại diện cho một tộc) vào đầu thời Trung Hoa Dân Quốc — phản đối khái niệm "Ngũ tộc cộng hòa", chính là vì khái niệm này không phù hợp với thực tế lịch sử. Cho dù cho đến tận ngày nay, trong lãnh thổ Trung Quốc vẫn còn hơn năm mươi "dân tộc thiểu số", thì con số thời Tần Hán há chẳng gấp mười gấp trăm lần trở lên hay sao? "Ngũ tộc cộng hòa" làm sao có thể bao quát hết được chứ?
Cho nên "Trung Quốc" không phải là một "quốc gia dân tộc" (nation-state) đơn thuần giống như Anh, Pháp, Đức, Ý hay Ireland, Ukraine. "Người Hán" (Chinese trong miệng người phương Tây) cũng không chỉ chuyên chỉ một dân tộc cụ thể nào đó. "Hán" vốn dĩ là một danh từ địa lý, sau đó phát triển thành tên của một triều đại mà thôi. Giống như "America" vốn là tên của một người, sau đó trở thành tên của hai lục địa ở bán cầu Tây; cuối cùng lại biến thành tên chung được chuyên dùng bởi "người Mỹ" (Americans) sở hữu hàng trăm giống dân tộc. Người Hán trên đại lục Đông Á ngày trước cũng giống y như người Mỹ trên đại lục Bắc Mỹ ngày nay, nó không đại diện cho một dân tộc cụ thể nào đó; nó là tên chung sau khi hàng nghìn hàng vạn dân tộc đại dung hợp. Chỉ vì thời gian dung hợp đã lâu, nó cuối cùng đã sử dụng một thứ ngôn ngữ văn tự chung, hình thành nên cái gọi là "dân tộc Hán ngữ" ngày nay. Giống y như vị Winston Churchill đầy kiêu hãnh xung quanh Thế chiến II đã nhấn mạnh về "những người nói tiếng Anh" (English-speaking people), đó là một hiện tượng văn hóa "văn cùng chữ". Chỉ có điều cho đến tận thời điểm hiện tại, những "người nói tiếng Anh" rạch ròi trắng đen ấy, vẫn chưa thực sự dung hợp thành một "dân tộc nói tiếng Anh" mà thôi.
Người bạn già của tôi — Giáo sư Trương Tuy — gần đây đã chứng minh rằng trong lãnh thổ Trung Quốc ngày nay không hề có một "dân tộc Do Thái" nào cả. Thế nhưng Giáo sư Trương cũng không phủ nhận lịch sử di cư vào Trung Quốc từ sớm của dân tộc Do Thái. Chỉ có điều trải qua hàng nghìn năm, dân tộc Do Thái đã dung hợp khít khao không một kẽ hở với dân tộc Hán ngữ mà thôi. — Đây có lẽ là một ngoại lệ cực kỳ hiếm thấy trong ba nghìn năm lịch sử di cư của người Do Thái. Trong hoàn cảnh thông thường, người Do Thái rất hiếm khi bị đồng hóa bởi dân tộc bản địa. Thế nhưng đội binh mã dũng lăng Tần há chẳng sớm đã nói lên rằng, từ tận hai nghìn năm trước, quân đội quốc gia của chúng ta đã là một đội bóng hỗn hợp gồm nhiều dân tộc khác nhau rồi sao?
Do đó, cuộc vận động "chuyển đổi" xã hội do dân tộc Hán ngữ thúc đẩy từ hai nghìn năm trước, vốn là một loại chuyển đổi mô hình xã hội lớn mang tính tự phát, khởi nguồn từ bên trong xã hội, và có quy mô tầm vóc thế giới. Hàng nghìn hàng vạn nhân tố chủ quan, khách quan, tất yếu và ngẫu nhiên thúc đẩy sự chuyển đổi này là nói không hết. Nó cũng giống như quá trình chuyển đổi của các xã hội dân tộc khác xảy ra ở Tây Âu, Bắc Phi, Trung Đông, Nam Á nhưng lại có kết quả hoàn toàn khác, không phải khởi nguồn từ một xã hội đơn thuần, hay một loại nhân tố đặc thù nào đó, mà là cái gọi là "tính tất yếu của lịch sử" phát triển theo một đường thẳng.
Nói một cách cụ thể hơn, cuộc chuyển đổi lớn của xã hội dân tộc phương Đông lần này, khởi nguồn từ "Biến pháp Thương Ưng" vào giữa thế kỷ thứ tư TCN, và hoàn thành ở "Chuyên quyền muối sắt" do Hán Vũ Tiên thực thi vào cuối thế kỷ thứ hai TCN. Từ cuộc chuyển đổi lần này, chuyển biến từ xã hội phong kiến sang "Đế quốc vũ trụ" mang mô hình đặc thù "quốc gia mạnh hơn xã hội", về sau lại biến thành một loại "định hình". Kéo dài hơn hai nghìn năm, không hề xảy ra sự thay đổi mang tính căn bản! — Trong suốt hơn hai nghìn năm này, các triều đại hưng vong, dân tộc phân hợp, văn hóa thịnh suy, anh hùng nổi chìm, sản xuất thăng giáng, thương mại bành trướng thu hẹp... muôn hình vạn trạng, lại càng nói không sao hết. Thế nhưng đổi người chứ không đổi ngựa, các nguyên tắc tổ chức chính trị kinh tế vận hành trong sự định hình này, phương thức sinh sống của các thành viên thuộc các tầng lớp xã hội, tư duy logic, luân lý và nền tảng xã hội của quan niệm giá trị của trí thức thông thường v.v., lại vững như thái sơn, không hề lay động chút nào. Nền tảng đã đứng vững không dời, thì kiến trúc thượng tầng của xã hội cho dù có biến động kịch liệt, cũng vạn biến không rời gốc.
8.3 Từ "nghìn năm không đổi" đến "mười năm đổi một lần"
Lại thu hẹp phạm vi lại để nói. "Tam cương ngũ thường" trói buộc hành vi xã hội của nhân dân ấy, không những không hề lay động chút nào, mà ngay cả những thứ nhỏ nhặt như chế độ hôn nhân "lệnh cha mẹ", thói quen đa thê ở chung giữa vợ cả vợ lẽ, lễ nghĩa tang ma cũ "để tang ba năm", kỳ thi khoa cử "tam khảo lấy sĩ", văn ngôn khó hiểu của những chữ "chi hồ giả y", thơ cổ thể năm chữ bảy chữ, nghệ thuật biểu diễn ca múa nhạc, tranh thủy mặc truyền thống là chính, điêu khắc tôn giáo rập khuôn nghìn bài như một... cho đến cả tục bó chân quấn giáp đau đớn rên rỉ, hạng mục nào là không nghìn năm không đổi chứ?
Phương thức sinh sống không đổi, không có nghĩa là xã hội không tiến bộ. Thực ra trong hai nghìn năm qua, xét về mặt phát triển khoa học kỹ thuật, ít nhất có một nghìn năm là "gió Đông áp đảo gió Tây". "Tứ đại phát minh" của Trung Quốc thì không cần phải nói rồi, chính là y thuật nội ngoại khoa, làm gốm, ươm tơ, đóng thuyền v.v., cho đến giai đoạn cận hiện đại, Trung Quốc đều dẫn đầu thế giới. Thế nhưng sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự thay đổi của phương thức sinh sống vốn là hai mặt của một vấn đề. Suy luận theo lẽ thường, hoặc dựa trên kinh nghiệm lịch sử của các dân tộc da trắng, thì tiến hóa khoa học kỹ thuật tất yếu sẽ dẫn đến sự gia tăng bậc thang của lực lượng sản xuất; lực lượng sản xuất không ngừng tăng lên, tất sẽ gây ra sự biến động trong phương thức đời sống xã hội. Từ đó sản sinh ra "chủ nghĩa tư bản". Thế nhưng trong xã hội Trung Quốc truyền thống nơi quốc gia mạnh hơn xã hội ấy, sức mạnh tiến hóa tự nhiên của xã hội này lại không thể vượt qua được tính ì của xã hội đã được chế thể hóa và sớm đã bám rễ sâu xa trong chính xã hội đó. Tính ì này cũng đã hạn chế sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong việc thúc đẩy lực lượng sản xuất. Ngược lại, nó lại phát sinh tác dụng phản đảo kìm hãm lực lượng sản xuất, mà thỏa hiệp với phương thức đời sống trước sau như một của mình.
Nói cách khác, tính ì xã hội do nhân tạo tạo ra, đã đặt ra giới hạn cho lực lượng sản xuất xã hội phát triển tự nhiên; lực lượng sản xuất xã hội phát triển tự nhiên đã có giới hạn, thì lực lượng sản xuất không thể thúc đẩy bản thân xã hội thực hiện sự thay đổi về mặt bản chất. Cứ như vậy, thì quá trình phát triển của xã hội, cũng sẽ dậm chân tại chỗ, nghìn năm không đổi. Chủ nghĩa tư bản vì thế cũng vĩnh viễn không thể xuất hiện được.
Thế nhưng nói đi cũng phải nói lại, "không đổi" thì có gì là không tốt chứ? Cho nên các nhà triết học, nhà tư tưởng, nhà tôn giáo, nhà chính trị của chúng ta, đều không cảm thấy không đổi có gì là không tốt. Ngược lại, mọi người bất mãn với hiện trạng, lại cho rằng nay không bằng xưa, là kết quả của việc biến thành xấu. Đem không tưởng, quốc gia lý tưởng, xây dựng ở thời kỳ Nghiêu Thuấn hơn bốn nghìn năm trước, mọi người liền trong ngoài kết hợp với nhau mà tạo ra một hệ thống văn hóa phương Đông hoàn chỉnh. — Hệ thống văn hóa này khác biệt hoàn toàn với "văn minh phương Tây", "văn minh Trung Đông", "văn minh Ấn Độ", văn minh bản địa Phi-La. Chúng phát triển riêng biệt, mỗi cái mang một đặc trưng riêng, không phải bất kỳ mô hình xã hội hay công thức phát triển đơn thuần nào có thể bao quát được.
Thế nhưng mô hình phát triển xã hội dậm chân tại chỗ, nghìn năm không đổi này của chúng ta, vào giữa thế kỷ XIX, bất ngờ hứng chịu đụng độ. Đã hứng chịu đụng độ rồi, thì xã hội cổ đại "tĩnh như trinh nữ" này của chúng ta, bỗng nhiên thay đổi "như thỏ chạy thoát" — quả thực là mười năm đổi một lần. Đổi một cái thì mặt mũi hoàn toàn khác lạ. Gái mười tám thay đổi mười tám lần, một trăm năm mươi năm nay, thói quen nghìn năm không đổi ấy của chúng ta, thoắt cái đã đổi ít nhất mười lăm lần. Thời kỳ cuối Thanh đầu Quốc không cần bàn tới nữa, chỉ nhìn hai mươi năm gần đây sau khi hai ông Tưởng - Mao qua đời, sự thay đổi về tính chất trên mặt chính trị xã hội ở hai bờ eo biển hà cớ gì chỉ có ba lần?
Chứ đừng nói là "ba lần", dù chỉ là một lần — như "tự do ngôn luận" của Đài Loan và "một quốc gia, hai chế độ" ở đại lục, trong Trung Quốc truyền thống đều là những món hàng nghìn năm cũng không đổi ra được đấy độc giả ạ. Đọc giả có lẽ không để tâm, bởi vì quý vị "làm người trong cuộc". Tụi tôi làm sử lật sách lịch sử ra, thì đã hoảng sợ biến sắc rồi.
Hai bờ eo biển hôm nay vẫn đang thay đổi đấy thôi! Đại lục muốn biến ra một "chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc", Đài Loan muốn biến ra một "chủ nghĩa tư bản không mang đặc sắc Trung Quốc".... Cùng tắc biến, biến tắc thông. Biến mà "thông" rồi, thì có thể duy trì năm mươi năm một trăm năm, thậm chí hai nghìn năm không đổi nữa. Đây chính là cái gọi là "định hình". Biến mà chưa thông, thì đành phải tiếp tục biến thôi. Lịch sử vốn dĩ là không có đáy mà! Dù sao thời gian thì có thừa. — Thế nhưng sinh ra là "người gốc Hoa", chúng ta vẫn luôn hy vọng cái sự "thông" và "định hình" này sớm ngày đến.
8.4 Quy luật của "sự đột phá" và "sự chuyển đổi"
Quay ngược lại hỏi thêm một câu: Lịch sử Trung Quốc vốn dĩ là nghìn năm không đổi mà! Tại sao một khi đã thay đổi, thì lại mười năm đổi một lần, thay đổi đến mức không có điểm dừng vậy? Nói một cách đơn giản, đó chính là vấn đề "nút thắt cổ chai". Sự phát triển của văn hóa và xã hội đều sẽ xảy ra hiện tượng tắc nghẽn nút thắt cổ chai. Nút thắt cổ chai một khi đã tắc nghẽn, thì sự phát triển của văn hóa và xã hội, sẽ giống như được miêu tả ở mục trước, chỉ có thể dậm chân tại chỗ, luẩn quẩn không tiến. Vĩnh viễn không xông ra khỏi nút thắt cổ chai, thì chỉ có kết cục già chết, chết thung thung hoặc già mà không chết, mang bệnh kéo dài sự sống, lê lết từ từ.
Quy trình xông ra khỏi nút thắt cổ chai này, trong triết học gọi là "đột phá", còn trong sử học và xã hội học thì gọi là "chuyển đổi" — chuyển từ mô hình xã hội này sang mô hình xã hội khác, nhằm mưu cầu tiếp tục phát triển về phía trước. Thế nhưng cho dù là "đột phá" hay "chuyển đổi", cả hai đều có quy luật "cùng tắc biến". Nói cách khác, cũng chính là một nền văn hóa hoặc một xã hội, khi đối mặt với sự sụp đổ, trượt dốc đến đường cùng núi cùng, lòng người ngóng trông sự thay đổi, thì nó sẽ thay đổi. Ngược lại chính là một xã hội đang trên đà hưng thịnh, hoặc một nền văn minh đứng ở vị trí cao nhìn xuống, kiêu ngạo nhìn bốn phương, tự mãn tự đủ, thì nó cũng sẽ không rảnh rỗi sinh nông nổi, chủ động đi mưu cầu sự thay đổi. Khái niệm hóa hiện tượng lịch sử này một chút, cũng có thể nói văn hóa thời suy vong thì tất yếu phải thay đổi; văn hóa ưu thế thì không thay đổi.
Thay đổi cũng có sự phân biệt giữa "biến đổi về lượng" và "biến đổi về chất". Biến đổi về lượng chính là "cải lương"; biến đổi về chất chính là "cải chế". Cải chế cũng có sự phân biệt giữa văn cải và võ cải. Văn cải thì gọi là "biến pháp"; võ cải thì gọi là "cách mạng". Cách mạng cũng có "thuyết cách mạng một lần" thu gọn công sức vào một trận chiến; cũng có "thuyết cách mạng nhiều lần" tích tiểu cách mạng thành đại cách mạng, tức là điều mà Tôn Trung Sơn đã nói "Cách mạng vẫn chưa thành công, đồng chí vẫn cần nỗ lực", mọi người cứ từ từ cách mạng tiếp.
Hãy nhìn nước Mỹ ngày nay xem. Mỹ là một quốc gia hiện đại hóa lấy đô thị làm linh hồn. Thế nhưng linh hồn ngày nay của nó đã biến thành sào huyệt cướp bóc, khu ma túy, ổ kỹ nữ và tiệm nam sắc (lầu xanh đồng tính). Xã hội của quốc gia phá thai này, đã bị sự lạm dụng chủ nghĩa cá nhân đẩy đến bên bờ vực sụp đổ. Nếu nó không thực thi một cuộc "biến pháp cải chế" triệt để, thì cái "nút thắt cổ chai" này của nó sẽ vĩnh viễn không có ngày được đột phá. Thế nhưng mấy bác Mỹ hiện nay đang bận rộn bảo vệ "Phương thức sinh sống của người Mỹ" (The American Way of Life) còn không xong. Vị Đại thống tể hippy của họ đang bận tối tăm mặt mũi vì "vấn đề nhân quyền của Trung Quốc", "vấn đề bộ lạc" ở trong lãnh thổ Nam Tư cũ và Trung Đông Bắc Phi v.v. Làm sao họ có thể nghĩ đến việc cái "đời sống Mỹ" ngày tiệc tùng thâu đêm suốt sáng kia cũng đang cấp bách cần tiến hành một cuộc "biến pháp cải chế" chứ? Đám lão gia giáo sư đứng ngoài cuộc thanh tao đến từ nước ngoài chúng ta thỉnh thoảng giảng dạo vài câu chuyện cười trong lớp học, cổ súy biến pháp cải chế, nói đến mức học sinh da đen da trắng đứng dậy vỗ tay, hoan hô rợp trời, thế nhưng đám sếp bản địa người Mỹ của chúng ta, lại còn tưởng rằng anh đang tung tin đồn nhảm gây hoang mang dư luận, kích động phong trào sinh viên, mà muốn tẩy chay cơ mà! Vốn dĩ mà nói! Một nền văn minh ưu thế đang ở vào trạng thái đỉnh cao, làm sao có thể nghĩ đến chuyện giữa ánh đèn rực rỡ hoa lệ của nó đã sớm ẩn giấu sát cơ cơ chứ? Nút thắt cổ chai không thể biến pháp, không thể cải chế ngày nay của nước Mỹ, hoàn toàn trùng hợp một cách kỳ lạ với đạo lý nghìn năm không đổi của nước ta.
8.5 "Chủ nghĩa vị chủng Hán" và vòng lặp mẹ chồng nàng dâu
Hai nghìn năm nay, các triều đại thay thế nhau, nông dân bạo động, trung nguyên chao đảo, giợ rợ xâm lấn, trăm họ khổ không thể tả! Thế nhưng cái "văn hóa" này của chúng ta từ đầu đến cuối vẫn không hề đánh mất địa vị cao cả tự cao tự đại, tự mãn tự đủ, đứng cao nhìn xuống, kiêu ngạo nhìn bốn phương ấy. — Lại dùng thêm một thuật ngữ trong ngành văn hóa học để giúp giải thích, đây gọi là "Chủ nghĩa vị chủng Hán" (Sinocentrism). Dân tộc Hán ngữ liên tục mở rộng theo kiểu lăn cầu tuyết này của chúng ta, thường xuyên bị "bốn rợ", "năm rợ" đánh cho tả tơi, đôi khi thậm chí máu chảy thành sông, thây phơi đồng nội; hoàng đế của chúng ta gọi các thống trị giả dị tộc là bố là anh. Bị người ta bắt sống đi, cũng không tiếc nhẫn nhục chịu đựng qua loa sống tiếp, mặc lên người bộ đồng phục nhân viên nữ phục vụ, "mặc áo xanh rót rượu" cho chủ tử ngoại tộc.
Thế nhưng thật kỳ lạ, cái "Chủ nghĩa vị chủng Hán" này của chúng ta từ đầu đến cuối vẫn chưa từng lay động. Quý vị không thấy khi người Mông Cổ tộc thiểu số vùng biên cương xâm chiếm Trung nguyên vào thế kỷ XIII, bọn họ không phải đã đặt ra một Mông Cổ, hai sắc mục, biến "người Hán" thành công dân hạng ba hay sao? Lại càng không thấy bọn họ xếp đám "ông đồ nghèo" tộc Hán vẫn luôn mang trọng trách "lấy thiên hạ làm trách nhiệm" xuống dưới cả "kỹ nữ", trên cả "căn mày" (cái gọi là "tám đĩ chín đồ mười ăn mày") hay sao?
Thế nhưng thấm thoắt thoi đưa, đại hoàng đế nhà Nguyên há chẳng phải cũng muốn mở khoa cử chọn sĩ hay sao? Đám ông đồ nghèo mở miệng ngậm miệng là Khổng Mạnh Chu Công, há chẳng vẫn là "đứng đầu bốn dân" hay sao?
Tóm lại, quan niệm chủ nghĩa vị chủng vượt lên trên "bốn rợ" của "Trung Quốc" truyền thống chúng ta, thực chất đã manh nha từ tận thời kỳ Thương Chu, đến sau khi đại nhất thống Tần Hán thì lại càng thêm trầm trọng. Kể từ đó, chế độ nhà Hán trong quan niệm của người phương Đông đã trở thành thông chế của thiên hạ. — Nào là quân thần phụ tử, nghèo hèn sang trọng, trọng nam khinh nữ, sĩ nông công thương v.v., kết cấu xã hội, phương thức sinh sống, ai nấy đều coi là đương nhiên. Khỏi phải nói minh quân hiền tướng, công khanh đại phu không muốn đi thay đổi nó, cho dù là kẻ buôn muối lậu Hoàng Sào xuất thân từ tầng lớp bị áp bức, tiểu hòa thượng Chu Nguyên Chương, nông dân nghèo khổ Lý Tự Thành, Trương Hiến Chỉnh cũng không muốn đi thay đổi nó. — Nàng dâu đầy rẫy oán hận, chỉ muốn đi làm mẹ chồng; sau khi làm mẹ chồng rồi, lại đi hành hạ nàng dâu. Cho nên sự phát triển của xã hội truyền thống nước ta, liền diễn ra vòng lặp ác tính giữa mẹ chồng và nàng dâu, quay mòng mòng hai nghìn năm!
Có người hỏi: Giữa mẹ chồng và nàng dâu tại sao không thể làm chút "tự do bình đẳng", "dân chủ pháp trị", "bảo đảm nhân quyền" chứ?
Đáp rằng: Những khái niệm văn minh này, về cơ bản là không phù hợp với tính phổ quát trong hành vi xã hội của loài động vật sống bầy đàn. Jefferson nói: "Mọi người sinh ra đều bình đẳng." Thực ra trẻ sơ sinh cất tiếng khóc chào đời, trí tuệ ngu đần phân đôi, mạnh yếu phô bày, có cái gì gọi là sinh ra đã bình đẳng chứ?
8.6 "Tự do bình đẳng" là kết quả của sự cân bằng lực lượng xã hội
Bình đẳng là một kết quả lần đầu tiên được nhìn thấy trong kinh nghiệm phát triển xã hội của phương Tây, khi hai loại lực lượng xã hội tranh chấp mà không bên nào chịu nhường bên nào, kết quả là chung sống hòa bình, đối xử bình đẳng với nhau. Có bình đẳng thì mới có dân chủ, tự do, nhân quyền, pháp trị..., tất cả chúng đều có kinh nghiệm xã hội này trước rồi các khái niệm hóa mới đi theo sau. (Tác giả từng có một bài chuyên đề riêng bàn luận chi tiết về vấn đề này, ở đây không nói dài dòng thêm nữa.)
Sách truyện cười thông tục nước ta có một bài thơ vè chế nhạo vị thi sĩ thích viết thơ lên tường. Thơ rằng: "Khắp tường toàn là rắm, tại sao tường không đổ? Hai bên đều có rắm, cho nên chống đỡ được!"
Cho nên cái gọi là "tự do bình đẳng", "dân chủ nhân quyền" v.v. những tinh hoa văn minh hiện đại này, đều không phải là lời răn dạy của các vị tiên tri thần thánh, hay sự ban ơn của các vị minh chủ thánh quân. Chúng là kết quả của việc "hai cái rắm chống đỡ" xuất hiện một cách ngẫu nhiên trong quá trình phát triển của xã hội phương Tây. — Còn hai nghìn năm nay, cái mô hình "quốc gia mạnh hơn xã hội" do "Chủ nghĩa vị chủng Hán" của chúng ta phát triển ra, từ đầu đến cuối vẫn là một mô hình "lệch một bên". Chỉ cần "một bên tường có rắm", thì một bức tường bình đẳng sẽ vĩnh viễn không thể xuất hiện, xã hội vĩnh viễn không thể "chuyển đổi"; thế giới quan vĩnh viễn không thể "đột phá" được. Thế nhưng trong mô hình cổ xưa này của chúng ta, nàng dâu cuối cùng cũng có ngày được làm mẹ chồng. Tiểu hòa thượng cũng có thể làm hoàng đế; kẻ chăn trâu chưa chắc đã không thể chấm trạng nguyên..., xã hội cũng không phải là không có điểm công bằng hợp lý. Hồ Thích nói: Không cảm thấy mất tự do, thì cũng là tự do rồi. Mọi người tâm an lý đắc, vì thế cũng không có ý định mưu cầu thay đổi nữa.
Marx cho rằng sự phát triển của xã hội là kết quả của sự biến động quan hệ xã hội sản xuất, quả là lời nói chân lý chí lý. Thế nhưng người thầy của Marx là Hegel lại cho rằng ý chí tập thể của quần chúng, cũng đủ để quyết định hành vi tập thể của quần chúng. Đem trí tuệ của hai thầy trò họ tương hỗ sử dụng cho nhau, thì nhận thức của nhà sử học đối với sự việc "nghìn năm không đổi" của "Chủ nghĩa vị chủng Hán" chúng ta, tuy không trúng nhưng cũng không còn xa lắm.
8.7 "Mười năm đổi một lần" là bậc thang của "sự chuyển đổi"
Các mục trên là để giải thích thế giới quan "Chủ nghĩa vị chủng Hán" của phương Đông chúng ta, vì sao suốt mấy nghìn năm không thể "đột phá" (breakthrough); kết cấu chính trị kinh tế "quốc gia mạnh hơn xã hội" vì sao suốt hai nghìn năm không có "sự chuyển đổi" (pattern change)?
Dưới đây thì muốn giải thích, chế độ cũ "nghìn năm không đổi" của nước ta, vì sao vào giữa thế kỷ XIX, chính là sau "Chiến tranh nha phiến" (1839 ~ 1842), bỗng nhiên lại diễn ra cái cảnh "mười năm đổi một lần"?
Quý vị không thấy sau Chiến tranh nha phiến, chưa đầy mười năm (1850), đã xuất hiện một Hồng Tú Tuyền ăn cả ba đạo Nho - Thích - Đạo hay sao; lại mười năm sau trong chế độ chính trị lại mọc ra một Bộ Ngoại giao (Tổng lý nha môn) chưa từng có trong hai nghìn năm; tiếp theo sau đó chính là binh lính thao trường kiểu Tây của Lý Hồng Chương, quân chủ lập lập hiến của Khang Hữu Vi, Phù Thanh diệt Dương của Nghĩa Hòa Đoàn (1900), việc thành lập Dân Quốc của Tôn Trung Sơn (1911) và việc toàn bàn Tây hóa của Hồ Thích (1919). Gần như đều là mười năm đổi một lần. Mà mỗi lần thay đổi đều là những món hàng mới mẻ mà Trung Quốc truyền thống nghìn năm cũng không đổi ra được.
Lại nhìn thế hệ "trưởng bối" sinh ra sau phong trào "Ngũ Tứ" (1919) của chúng ta — kể từ khi chúng ta nhớ sự việc đến nay, chẳng phải cứ mỗi mười năm lại có một nước Trung Quốc khác nhau hay sao? Hãy nhìn năm 29 (sự thống nhất và nội chiến của Quốc Dân Đảng), năm 39 (kháng chiến), năm 49 (kiến quốc Trung Hoa Nhân dân), năm 59 (Đại nhảy vọt), năm 69 (Cách mạng văn hóa Lâm - Tứ), năm 79 (Hội nghị toàn thể trung ương 3), năm 89 (Lục Tứ), năm 99 (?). — Chẳng phải cũng là mười năm đổi một lần, hơn nữa mỗi lần thay đổi đều mặt mũi hoàn toàn khác lạ; mỗi lần thay đổi há chẳng đều là những món mới mẻ mà Trung Quốc cũ nghìn năm cũng không đổi ra được sao?
Cổ ngữ có câu: "Thà làm con chó thời thái bình, chứ không làm con người thời loạn thế." Thế hệ tác giả chúng ta chính là không may sinh vào cái thời loạn thế người không bằng chó ấy. Theo thời đại lộn nhào bảy tám vòng, bị lộn cho cửa nát nhà tan, mà vẫn không biết đi về đâu? Sống sót ở trong nước, nhà nào mà chẳng có "kinh khó niệm", trốn ra hải ngoại làm "người Mỹ" làm "người Đài Loan", ngày tháng cũng chẳng dễ chịu gì.
Đau thương tột cùng rồi ngẫm lại, sinh ra là người Trung Quốc thời đại hiện nay, hà cớ gì lại lạnh lẽo đến mức này? Tóm lại trong một câu, chúng ta không may sinh vào "thời kỳ chuyển đổi" thứ hai trong lịch sử dân tộc Trung Hoa, mà "mười năm đổi một lần" chính là bậc thang của sự chuyển đổi đấy! Chuyển đổi xã hội là đau đớn, là lâu dài — đặc biệt là lần chuyển đổi thứ hai này. Nó không phải là tự phát, tiệm tiến. Nó là vận động dân tộc và vận động xã hội đột phát, kịch liệt dưới sự chèn ép của chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Chúng ta tận thân cuộn mình vào trong kiếp nạn này, vậy mà vẫn có thể sống sót. Dùng một câu tiếng Tứ Xuyên, thì cũng nên tự chúc mừng mình "mạng lớn" rồi.
8.8 Mối quan hệ giữa "định hình" và chủ nghĩa đế quốc
Thế nhưng "sự chuyển đổi thứ hai" này của xã hội chúng ta, muốn chuyển ra một loại "định hình" như thế nào đây?
Đến lúc đó chúng ta đành phải sục sạo những cái gốc rễ của chủ nghĩa đế quốc phương Tây đã áp bức chúng ta chuyển đổi. Tác giả bất tài, không muốn múa rìu qua mắt thợ bắt chước các bậc hiền triền viết thêm một cuốn văn hóa Đông Tây và triết học của nó nữa. Chỉ là những lời nói trong phòng học đa dân tộc suốt mấy chục năm qua, mà được giới trẻ các dân tộc vui vẻ đón nhận, nay dùng tiếng Hán tóm tắt lại, để thỉnh giáo các bậc hiền đạt trong nước mà thôi.
Hóa ra xã hội người da trắng cổ đại vốn cũng lấy đời sống bộ lạc làm cơ sở, ban đầu dưới phạm vi của nước cộng hòa La Mã, đặc biệt là Đế quốc La Mã cùng thời với Đông Hán của chúng ta, cũng có xu hướng dần dần thống nhất. Không may là bản thân Đế quốc La Mã từ đầu đến cuối vẫn không thoát khỏi truyền thống bộ lạc. Đế quốc Tây La Mã chính là diệt vong từ bên trong bởi phiên trấn kiêu ngạo lộng quyền; diệt vong từ bên ngoài bởi man tộc xâm lược. Tây La Mã đã diệt vong, Tây Âu bị man tộc (tổ tiên của người Anh, Pháp, Đức, Ý ngày nay) chiếm cứ, mà những đám man tộc này tuy cuối cùng được Tòa thánh Thiên Chúa giáo thống nhất, về mặt đời sống tinh thần dần dần hướng tới "hành đồng luân", nhưng về mặt tổ chức chính trị lại chia năm xẻ bảy. Cho đến sau thế kỷ thứ IX, những bộ lạc nguyên thủy này mới dần dần bước vào chế độ phong kiến có phần tương đương với thời Xuân Thu nước ta. Từ thời đại phong kiến, bọn họ cũng nhanh chóng bước vào một thời đại Chiến Quốc thôn tính lẫn nhau. Do sự cạnh tranh khốc liệt giữa các quốc gia, lực lượng sản xuất không ngừng tăng trưởng, và sự xuất hiện nhanh chóng của các thành phố vừa và nhỏ, bọn họ ở giai đoạn cuối thời Chiến Quốc cũng xuất hiện hiện tượng "chư tử nổi dậy, bách gia tranh minh", điều này trong lịch sử phương Tây được gọi là "Phục hưng" (Renaissance) (1300 ~ 1600).
Tất cả những điều này, châu Âu thời trung cổ và Trung Quốc thời Tiên Tần, trong quy trình phát triển xã hội, đều có những điểm tương đồng giống nhau như đúc; chỉ có điều Tây Âu muộn hơn Đông Á khoảng hơn một nghìn năm trăm năm mà thôi.
Thế nhưng trong sự phát triển "sau phong kiến" (post-feudalism), phương Đông và phương Tây hoàn toàn đi ngược lại nhau. Ở phương Đông, chúng ta hình thành nên một đại đế quốc "quốc gia mạnh hơn xã hội". Trong mô hình này, chúng ta đã đi vòng vèo hơn hai nghìn năm, không thể đột phá, như đã nói ở trên. Ở châu Âu sau thời phong kiến thì xuất hiện vô số "quốc gia dân tộc" — cục diện cạnh tranh bình đẳng của Yên, Triệu, Hàn,Ngụy, Tề, Sở, Tấn, thế nhưng giữa các vương quốc dân tộc của họ, từ đầu đến cuối lại không thể xuất hiện nổi một Tần Thủy Hoàng để dẹp yên các chư hầu, thống nhất châu Âu.
Ngay lúc các quốc gia dân tộc này cạnh tranh khốc liệt nhất, kỹ thuật hàng hải của họ cũng có sự đột phá nhanh chóng, khiến Vasco da Gama đi vòng qua mũi Hảo Vọng thẳng tiến tới Ấn Độ vào năm 1498, mở ra con đường thông sang Đông Nam Á. Columbus cũng phát hiện ra châu Mỹ vào năm 1492. Chẳng mấy chốc, những tiểu quốc hải tặc châu Âu vốn không có tên tuổi gì trước đó, từng nước từng nước một đều biến thành các đế quốc thực dân lớn tiến hành thực dân hóa vô hạn, cướp bóc vô hạn ra hải ngoại, là chủ nghĩa đế quốc trần trụi hút máu ăn tủy.
Của cải vô tận, ruộng đất phì nhiêu vô tận của Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh nhanh chóng vỗ béo châu Âu, kích thích sản xuất, gây ra cuộc cách mạng công nghiệp, làm lớn mạnh các thành phố, đồng thời nuôi dưỡng giai cấp tư sản thành thị đang trưởng thành nhanh chóng. Đối với tầng lớp trên, nó muốn gác không vương thất, bài xích giáo hội, đoạt lấy chính quyền, giải phóng tư tưởng, tranh thủ tự do. Đối với những đồng nghiệp tầng lớp trung lưu, thì muốn làm dân chủ pháp trị, cạnh tranh công bằng, chơi theo quy tắc. Đối với công nông tầng lớp dưới, thì ân uy song toàn, cấm đoán nổi dậy... Nhanh chóng, một mô hình "xã hội mạnh hơn quốc gia" đã xuất hiện ở các nước Tây Âu. Chủ nghĩa tư bản cũng theo đó mà đến. Thế giới quan "chủ nghĩa Âu tâm" (Eurocentrism) lấy đây làm cơ sở cũng bao trùm cả thế giới. Phàm là tất cả mọi sự vật mâu thuẫn với thế giới quan này, không phải là "dã man" (barbarian) thì cũng là "dị đoan" (heresy hoặc paganism). Không phải giống nòi của mình, thì cuốc bỏ đi. Dưới trận cuồng phong bão táp này, trái đất này chính là thiên hạ của "chủ nghĩa bành trướng châu Âu" (European expansionism).
Cũng ngay dưới trận cuồng phong bão táp này, cánh cửa của Trung Quốc cổ đại đã bị những kẻ buôn ma túy nha phiến người Anh xô mở. Cái "Chủ nghĩa vị chủng Hán" già nua yếu ớt mà lú lẫn tự đại kia, đã giáp mặt trực diện với "Chủ nghĩa Âu tâm" mới nổi đang ào ạt kéo tới.
8.9 Dần dần nhường chỗ cho "Chủ nghĩa Âu tâm"
Như mọi người đều biết, văn hóa Trung - Tây một khi đã tiếp xúc, cái "Chủ nghĩa vị chủng Hán" trải qua hai nghìn năm không có địch thủ ấy của chúng ta đã bị phá nát như cành khô lá mục. Cho nên lịch sử cận đại Trung Quốc sau năm 1842, chính là một lịch sử "Chủ nghĩa vị chủng Hán" không ngừng nhường chỗ cho "Chủ nghĩa Âu tâm". — Tức là "lịch sử chuyển đổi" nhường chỗ từ mô hình xã hội của Trung Quốc truyền thống, sang mô hình xã hội của châu Âu hiện đại.
Có rất nhiều nhà sử học hiện đại, vì để bảo toàn tôn nghiêm của dân tộc chúng ta (thực ra chỉ là sĩ diện), bèn mỹ hóa đoạn lịch sử này thành "Lịch sử phong trào hiện đại hóa Trung Quốc". Thực ra phong trào hiện đại hóa Trung Quốc trước "Ngũ Tứ" vốn là hai mặt của một đồng tiền xu. "Tây hóa" chính là "hiện đại hóa"!
Trong quá trình "Tây hóa" kéo dài tám mươi năm này, thứ đầu tiên chúng ta nhường chỗ cho phương Tây chính là Tây hóa khoa học kỹ thuật bắt đầu bằng "thuyền lớn pháo dài". Điều mà Ngụy Nguyên (1794 ~ 1856) gọi là "học theo kỹ năng sở trường của người ngoại tộc". Trong quá trình hiện đại hóa khoa học kỹ thuật này, làm hăng hái nhất, công việc có thành tích nhất, thất bại cũng thảm hại nhất, có lẽ phải kể đến Lý Hồng Chương (1822 ~ 1901) và "Hạm đội Bắc Dương" của ông.
Tôn Trung Sơn (1866 ~ 1925) thời trẻ tuy cũng là một người theo phái cải lương (reformist), thế nhưng từ bốn năm trước Biến pháp Mậu Tý (1894), ông đã sớm nhận ra cái bình cũ không thể chứa rượu mới. Muốn làm cải cách chính trị, thì phải "trục xuất thợ rợ, thiết lập dân quốc", lật đổ sự chuyên chế của nhà Thanh, làm lại từ đầu từ gốc đến ngọn.
Ba vị chuyên gia cải cách chính trị vào cuối thời nhà Thanh này, người sau còn mãnh liệt hơn người trước; người sau còn triệt để hơn người trước. Cũng có thể nói là sự nhường bước của "Chủ nghĩa vị chủng Hán" đối với "Chủ nghĩa Âu tâm", càng nhường càng nhiều. Đến danh nghĩa của Tôn Trung Sơn, quả thực đã biến thành Tây hóa toàn diện chế độ chính trị, chuyển đổi triệt để.
Thế nhưng ba vị tiên hiền ấy lại lê theo một cái đuôi chung — bọn họ đều không muốn cắt đứt hoàn toàn với cái "Chủ nghĩa vị chủng Hán" cổ xưa này; mà cứ thích kiểu mẹ chồng nàng dâu dây dưa không dứt.
Thứ mà Trương Chi Động làm là "Trung học vi thể", không cần phải bàn nữa. Thứ mà Khang Hữu Vi cổ xúy rõ ràng là "quân chủ lập hiến" mô hình nước Anh, thế nhưng ông ta cứ thích lôi "Kinh học Văn mới" truyền thống ra làm vật làm nền, để biểu thị rằng "biến pháp cải chế" mà ông dốc sức theo đuổi, là "kế thừa học vấn đã tuyệt truyền của các bậc thánh hiền đời trước", chứ không phải là lấy dị tộc biến đổi Trung Hoa.
Tôn Trung Sơn vốn là Washington lãnh đạo chúng ta tiến hành Tây hóa toàn diện chính trị, thế nhưng khi về già ông ấy lại cứ thích tự nhận mình là "kế thừa đạo thống của Chu Công Văn Vũ". Đạo thống của Chu Công Văn Vũ là gì? Tam cương ngũ thường? Quân thần phụ tử? Trọng nam khinh nữ? Quý hện khác biệt? Sĩ nông công thương? Con đích con thứ? Hôn nhân vợ cả vợ lẽ?... Cứ kế thừa như thế này tiếp, thì còn có cái gì gọi là "dân quốc" nữa chứ?
Tất cả những điều này không phải biểu thị rằng "tư tưởng" của các nhà tư tưởng thế hệ trước của chúng ta không triệt để. Thiên hạ vốn không có cái gọi là "nhà tư tưởng triệt để"; thậm chí không có nhà tư tưởng nào vừa nghĩ xong là không nghĩ nữa. Đặc biệt là các nhà tư tưởng chính trị, họ đều là người phát ngôn cho thời đại của chính mình. Trong thời đại của ba vị trưởng bối kể trên, xã hội của chúng ta, thế giới quan "Chủ nghĩa vị chủng Hán" của chúng ta, sự nhường bước đối với mô hình phương Tây vẫn chưa nhường đến giai đoạn cuối cùng. Sự nhường bước của văn hóa thời suy vong đối với văn hóa ưu thế, vốn là phòng thủ từng bước một, không nhường được thì tuyệt đối không nhường. Nó không bị dồn đến bước đường cùng, cặn bã sạch trơn, không còn chỗ chê thì cái "mặt đối lập" này của nó chỉ có số phận bị phá nát như cành khô lá mục. Nó không thể tạo ra được sự phản đòn hiệu quả.
8.10 "Đối lập", "thống nhất" và "tính giai đoạn"
Lại mượn tạm một câu thuật ngữ trong phép biện chứng của Hegel và Engels, một bên "chính" (thống nhất, thesis) gây áp lực lên một bên "phản" (mặt đối lập, antithesis), bên "phản" này chỉ đến khi hoàn hảo không chỗ chê thì nó mới có thể phát ra sự phản đòn hiệu quả, kết hợp lại với bên "chính" để sản sinh ra một "sự thống nhất mới" (hợp, synthesis).
Lại lấy một ví dụ cụ thể nhất. Nhà tư tưởng có tư tưởng bài ngoại triệt để nhất vào cuối thời Thanh là Khang Hữu Vi, bản thân ông ta có tới sáu vợ gồm vợ cả và vợ lẽ. Có vợ cả vợ lẽ trong "Chủ nghĩa vị chủng Hán" và đạo thống Khổng Mạnh, đều là danh chính ngôn thuận. Thế nhưng dưới sự thách thức của một nền văn hóa ưu thế là "Chủ nghĩa Âu tâm", nhân vật mới này lại chính là một tên dị đoan và man tộc hành vi như cầm thú. Về sau Tôn Trung Sơn đã nhường bước đến cùng dưới sự thách thức của thói tục phương Tây này. Cũng chỉ có nhường bước đến cùng, ngày nay chúng ta mới có thể đưa ra sự phản đòn hiệu quả đối với xã hội phương Tây đang hoành hành căn bệnh thế kỷ ở phương diện đạo đức tình dục và chế độ hôn nhân, để rồi lại một lần nữa gió Đông áp đảo gió Tây. — Đây là câu chuyện của sau này.
Cho nên phong trào chuyển đổi xã hội nước ta trong một trăm năm mươi năm qua — mặc kệ quý vị gọi nó là "Tây hóa" hay "hiện đại hóa" — nó đều thể hiện rõ "tính giai đoạn", nó bắt đầu từ cải cách khoa học kỹ thuật, tiến bộ đến cải chế thể chế chính trị; rồi từ cấu tưởng quân chủ lập hiến, thông qua "Cách mạng Tân Hợi" thực thi vào việc thực tập chính phủ nghị viện. Mỗi một giai đoạn đều có sự tiến bộ lớn hoặc nhỏ, rõ ràng hoặc mờ ám (cũng có thể nói là nhường bước nhiều hơn lớn hơn đối với "Chủ nghĩa Âu tâm"). Đương nhiên cũng có những dòng chảy ngược lớn hoặc nhỏ trên bề mặt, khiến người ta cảm thấy "dân quốc không bằng Đại Thanh".
Tuy nhiên những giai đoạn nhỏ mười năm đổi một lần này đều mang tính quá độ. Đã mang tính quá độ, không có thuộc tính tồn tại vĩnh hằng hoặc trong thời gian tương đối dài, thì sự phát triển của mỗi một giai đoạn tất yếu sẽ kết thúc bằng sự thất bại. Điều này cũng giải thích nguyên nhân cơ bản tại sao trong một trăm năm mươi năm gần đây, nước ta xuất hiện vô số "anh hùng thất bại". Thế nhưng loại thất bại mang tính giai đoạn và tính tiến bộ rõ rệt này, cũng chính là nhân tố kích thích và thúc đẩy sự phát triển của giai đoạn tiếp theo. Cứ sinh sôi nảy nở như thế, từng giai đoạn từng giai đoạn đẩy về phía trước. Cùng tắc biến, biến tắc thông, cuối cùng đẩy vào "giai đoạn cuối cùng" của nó, trăm sông đổ về một biển, phát triển ra một "sự định hình" trăm năm, thậm chí nghìn năm không đổi. Chỉ sau khi "sự định hình" ấy được hình thành thì văn hóa Trung Quốc mới có thể khôi phục lại "ưu thế" đã đánh mất của mình; mới có thể phản đòn một cách hiệu quả đối với văn hóa phương Tây hiện tại, mà thúc đẩy lịch sử toàn nhân loại bước vào "thời đại siêu phương Tây" (The Post Western Era).
Tác giả phát biểu những lời ngông cuồng này, có phải là sự tự hào tự tin theo kiểu "đại sư quốc học", cho rằng văn hóa Trung Quốc là số một thế giới hay không? Không phải. Chỉ là sự chuyển đổi lần này của xã hội phương Đông chúng ta đã chuyển đổi được một trăm năm mươi năm rồi. Kinh nghiệm một trăm năm mươi năm đã tích lũy đủ dữ liệu (data) cho chúng ta. Dựa vào những dữ liệu đã có sẵn, nhìn cho rõ "quá khứ", một nhà khoa học xã hội không cần phải có quá nhiều sự huấn luyện về "phân tích ma trận toán học" (mathematic matrical analysis), cũng có thể dựa vào đó để tính toán "tương lai", không cần phải đi tìm tượng số siêu tự nhiên như Trần Đoàn (? ~ 989), Thiệu Ung (1011 ~ 1077) nữa.
8.11 Từ toàn bàn Tây hóa đến Tây hóa thế nào
Tóm lại, trong quá trình "Tây hóa" (hiện đại hóa) gần một trăm năm mươi năm qua của nước ta, "Phong trào Ngũ Tứ" xảy ra vào năm 1919 nên là một cột mốc phân định. Trước Ngũ Tứ, trọng tâm phong trào hiện đại hóa của chúng ta là vấn đề "Chủ nghĩa vị chủng Hán" bị ép buộc nhường bước cho "Chủ nghĩa Âu tâm". Cho đến khi "Phong trào Tân văn hóa" diễn ra xung quanh "Ngũ Tứ", quá trình "nhường bước" này của chúng ta đã nhường đến cùng trên mặt văn hóa — chính là cái gọi là "đánh đổ tiệm mì nhà họ Khổng" vậy; chính là cái gọi là "toàn bàn Tây hóa" vậy. Cho nên sau Ngũ Tứ, đã không còn là vấn đề có nên Tây hóa hay không, mà là vấn đề Tây hóa như thế nào và lựa chọn Tây hóa ra sao. "Phong trào Tân văn hóa" vốn dĩ là một "Phong trào khai sáng", thì tiếp nối ngay sau đó chính là vấn đề "sau thời kỳ khai sáng".
Việc đề xuất "toàn bàn Tây hóa" lần đầu tiên gây chấn động thế giới, thiên hạ xôn xao, thế nhưng nó cũng thế như chẻ tre, đi đến đâu quét sạch đến đấy. Đọc giả ngày nay có lẽ vẫn còn có người không phục. Thế nhưng các hạ và tôi đều có thể tự soi gương nhìn lại chính mình, quý vị ngoài tròng mắt đen, làn da vàng ra, chúng ta từ trên đầu đội mũ tennis, rẽ ngôi tóc; cho đến tất tây, giày da dưới chân, trên người chúng ta còn điểm nào là chưa "Tây hóa"? Tây hóa vốn dĩ là một phương thức sinh sống. Xin hỏi chúng ta từ buổi sáng thức dậy, đánh răng súc miệng, đi làm đi học, cho đến tối xem tivi, mặc đồ ngủ lên giường; trừ việc cầm đũa ăn cơm ra, phương thức sinh sống truyền thống của chúng ta, còn sót lại mấy lạng? Tây hóa là một quan niệm giá trị, là một thứ tâm thế văn hóa và nội hàm giáo dục. Đọc giả thử ngẫm xem, chúng ta từ giáo dục quốc dân chín năm cho đến đại học bốn năm, chúng ta học được một thân bản lĩnh, có mấy hạng bản lĩnh là xuất phát từ quốc cổ truyền thống? Có mấy hạng không xuất phát từ phương Tây? Chúng ta ngay cả việc dạy học ngữ văn Trung Quốc, cũng đã Tây hóa triệt để.
Bạn bè ạ, ta mỗi ngày tự kiểm điểm bản thân ba lần — đời sống và tư tưởng của chúng ta, cho đến nay còn lại mấy mục chưa Tây hóa? Than ôi, tất cả chúng ta từ lâu đều đã "toàn bàn Tây hóa" rồi. Chỉ là quá trình ấy diễn ra từ từ, chúng ta đều không hay biết mà thôi — cái quá trình toàn bàn Tây hóa này, chỉ có thế hệ sau Ngũ Tứ mới tâm phục khẩu phục đấy thôi! Thế nhưng đứng ở cột mốc phân định Ngũ Tứ này, những "đại sư khai sáng" tay trái kế thừa người trước, tay phải khai mở người sau để thúc đẩy phong trào toàn bàn Tây hóa này, chúng ta không thể không đồng lòng tôn Hồ Thích làm đầu đàn.
8.12 Hai "cuộc đột phá" lớn của Hồ Thích
Sự cống hiến của Hồ Thích (1891 ~ 1962) trong giai đoạn này, có lẽ có thể quy nạp thành hai "cuộc đột phá" lớn:
Thứ nhất, ông đã đột phá nút thắt cổ chai do Khổng Mạnh và phái Nho gia tạo ra trong "Chủ nghĩa vị chủng Hán", mà khôi phục "độc tôn Nho thuật" về lại địa vị bình đẳng giữa quần kinh với chư tử thời Tiên Tần. Điều này cũng chính là đem lịch sử "bị bẻ ngược" trong hai nghìn năm kể từ sau Đổng Trọng Thư bẻ ngược trở lại. Là một cuộc vận động văn hóa mang tính văn nghệ phục cổ,văn nghệ phục nguyên. Quý vị phải biết rằng ý nghĩa ban đầu của "Phục hưng" (Renaissance) ở châu Âu chính là văn nghệ xông phá gông cùm do giáo hội thời trung cổ tạo ra, mà khôi phục lại văn hóa Hy Lạp La Mã cổ đại đấy. Không phá thì không lập. Sự quật khởi của văn minh châu Âu hiện đại, "Phục hưng" thực sự là tiếng súng mở màn. "Phục hưng Trung Quốc" (The Chinese Renaissance) do Hồ Thích lãnh đạo, hô vang "chỉnh lý quốc cố, tái tạo văn minh", tác dụng xảy ra ở Trung Quốc hiện đại, cũng chính là như vậy.
Thứ hai, Hồ Thích còn tiến xa hơn khi đột phá nút thắt cổ chai văn hóa dân tộc tự trói buộc mình của "Chủ nghĩa vị chủng Hán", mà thay thế nó bằng thế giới quan "Chủ nghĩa Âu tâm". Đem địa vị lãnh đạo của văn hóa dân tộc Trung Quốc dứt khoát nhường cho người phương Tây, lấy dị tộc biến đổi Trung Hoa. Đây là một cuộc "vận động khai sáng" (The Enlightenment) cực kỳ táo bạo, buông bỏ cái tôi nhỏ bé, nâng cao lý trí; cũng là sự kế tiếp của cuộc vận động khai sáng châu Âu vốn khởi nguồn từ Paris thế kỷ XVIII. Phong trào khai sáng của châu Âu là kết quả của sự đại nhảy vọt về kiến thức khoa học vào thời kỳ cuối của thời kỳ Phục hưng. Dưới ánh hào quang chiếu rọi của khoa học mới nổi (đặc biệt là vật lý học, thiên văn học, sinh học và nhân loại học), uy quyền của Thượng đế "Đấng sáng tạo" (Creator) ban đầu, đã hoàn toàn dao động.
Thế nhưng Thượng đế lại chính là cái gọi là gốc rễ tổng thể của "văn minh phương Tây" ngày nay; là nguồn cội tinh thần mà người da trắng an thân lập mệnh không thể thiếu dù chỉ một ngày. Thượng đế một khi đã biến mất, thì toàn bộ xã hội đều sẽ hoảng mang như chó nhà có tang, biết làm sao đây? Cho nên bọn họ vào thế kỷ XVIII cái gọi là "Thời đại lý trí" (The Age of Reason) này, muốn sắp xếp một cách thỏa đáng cho Thượng đế, đại tự nhiên và "lý trí" (reason) vừa mới được giải phóng trong văn minh nhân loại. Ba bên cùng chung sống hòa bình, an yên vô sự, một nền văn minh phương Tây cận đại chưa từng có trong lịch sử, rực rỡ huy hoàng, đã xuất hiện trong lịch sử.
Phong trào khai sáng Trung Quốc do Hồ Thích lãnh đạo, cũng chính là như vậy. Nó không phải chịu ảnh hưởng của sự phát triển khoa học, mà là kết quả của sự thách thức từ nền văn minh ưu thế phương Tây. Dưới sự thách thức của nền văn minh phương Tây chiếm ưu thế tuyệt đối, uy quyền tối cao của Khổng lão phu tử của chúng ta, cũng hoàn toàn dao động.
Cái tiệm mì nhà họ Khổng của Khổng nhị tiên sinh ấy, kinh doanh thương mại độc quyền đã hơn hai nghìn năm nay, đè bẹp người tiêu dùng chúng ta thê thảm, cho nên Hồ Thích muốn dẫn dắt đám Hồng vệ binh "đánh đổ tiệm mì nhà họ Khổng". Bạn bè ạ, quý vị cho dù là đại sư quốc học, quý vị nói tiệm mì nhà họ Khổng không đáng bị đánh đổ? Quý vị cho dù là đại sư thần học, trước luận chứng khoa học "thuyết tiến hóa" mới nổi, quý vị vẫn còn muốn kiên quyết bảo vệ "con người là do Thượng đế tạo ra"?
Không phá thì không lập. Cái cũ không đi, cái mới không đến. Không đánh tiệm mì nhà họ Khổng nát bét ra, thì tư tưởng mới không thể bén rễ. Học lý mới của phương Tây, thì không thể dẫn nhập vào được.
"Thầy Hồ ơi, văn hóa bản vị thực sự không có điểm nào ra hồn sao?" Học sinh có điểm nghi ngờ ở nơi không nghi ngờ của ông không khỏi hoài nghi một chút.
"Dân tộc nào, mà có thể vứt bỏ văn hóa bản vị của mình chứ?"
Quả thực vậy, châu Âu thế kỷ XVIII không vứt bỏ được "Thượng đế"; Trung Quốc thế kỷ XX có thể vứt bỏ Khổng Tử? Đem tiệm mì nhà họ Khổng bất chấp tất cả phá hủy triệt để đi? Tôn Trung Sơn chẳng phải cũng đã từng nói "Phá hoại khó hơn xây dựng" hay sao? Đánh đổ tiệm mì nhà họ Khổng, chỉ là một cuộc vận động chống độc quyền, chứ không phải muốn tiêu diệt Khổng Tử.
Quả nhiên, văn hóa cũ, tư tưởng cũ, chạy trối chết mà đi.
Văn hóa mới, tư tưởng mới, liền theo công cụ truyền bá văn hóa mới (bạch thoại văn) mà kéo đến như nước vỡ bờ!
Năm ngoái, khi đến thăm "Soái phủ" ở Thẩm Dương, tôi nhìn thấy những chữ vàng lớn như đấu trên tường, ca ngợi Trương Thiếu soái là "công thần muôn thuở". Đây chính là ví dụ tiêu chuẩn mà cuốn "Hán Thư" đã nói: "Kẻ dời củi dời ống khói không có ơn đức; kẻ đầu bù tóc rối được làm khách quý". Trương Học Lương đầu bù tóc rối, sao có thể sánh được với Hồ Thích - người dời củi dời ống khói chứ?
Nếu bàn về sự hưng khởi của chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc, "công thần muôn thuở" đáng lẽ phải là thầy của Mao Trạch Đông - Hồ Thích mới phải!
8.13 Nước trong không có cá lớn
Thế nhưng, những thành tựu mà Hồ Thích đạt được trong sự phát triển văn hóa và trách nhiệm mà ông gánh vác trong sự phát triển lịch sử, thì suốt đời ông vẫn chưa làm rõ được. Lúc thì ông chủ trương Tây hóa, lúc thì hiện đại hóa, lúc lại là thế giới hóa. Nói suốt mấy chục năm, nói đến mức chẳng ai hiểu ra sao.
Tôi nhớ bốn mươi năm trước, tôi từng mang từng bài viết phê phán Hồ Thích ở đại lục đến căn hộ của họ Hồ, cùng thầy đọc dưới ngọn đèn, niềm vui thật hòa hợp ấm cúng. Những bài phê phán Hồ Thích đó tuy phần lớn là "bài viết đánh dậm", nhưng cũng không thiếu những kiệt tác có cái nhìn sâu sắc chân thực. Lúc đó tôi còn trẻ, hễ gặp đoạn nào có thể ngâm tụng được, tôi liền dùng ngọn mâu không bị dắt mũi của thầy, để tấn công chiếc khiên bị dắt mũi của thầy, cùng ông nghiêm túc biện luận khó dễ. Tiên sinh Thích chi là bậc tiền bối có phong độ dung thứ nhất mà người viết từng được thân cận thụ giáo. Nhưng ông cũng là một ông cụ có thất tình lục lục; kiến giải giữa thầy trò chúng tôi mỗi người mỗi khác, mà thái độ học tập của tôi lại vô cùng nghiêm túc — không bị thuyết phục thì không chịu hùa theo. Cho nên có lúc thầy cũng nổi giận ít nhiều. Ông không thích một học sinh mà lại đi cổ vũ cho một kẻ phê phán Hồ Thích có cái nhìn sâu sắc — đây cũng là điểm rất đáng yêu và không giả tạo của thầy Hồ.
Vốn dĩ là vậy! Một nhà tư tưởng, nhà triết học và nhà tôn giáo khai sáng tông phái và sơn môn như Khổng Tử, Lão Tử, Mặc Tử, Thích Ca, Socrates, Giê-su, Muhammad, Karl Marx, Dewey,... bọn họ thành Phật làm tổ, thường là có được trong lúc vô tình; thậm chí xuất phát từ một trăm phần trăm sự ngẫu nhiên. Khi còn sống, họ thường cũng không biết bản thân mình "suốt đời đang bận rộn cái gì"? Câu này chính là lời "phu tử tự đạo" mà tiên sinh Thích chi đã tận miệng nói với tôi. Nói thật lòng, đây cũng là chân lý một trăm phần trăm mà đệ tử này đã phát hiện ra trong câu "phu tử tự đạo".
Cậu nhóc chăn cừu Do Thái Giê-su ấy, lúc sinh thời nào biết sau khi chết mình lại làm ra một tôn giáo vĩ đại đến thế; hai nghìn năm sau bữa tiệc sinh nhật của hắn vẫn còn phong quang nhường ấy? Muhammad vốn dĩ là một kẻ mù chữ, có lý lẽ để nổi dậy, rồi làm hoàng đế. Nhưng hắn lại sao biết được những lời lẽ mù chữ của mình sau này lại trở thành cội nguồn chung của văn hóa Hồi giáo?
Những điều nói trên là tôn giáo. Lại nhìn Karl Marx - người có sức mạnh hơn cả tôn giáo. Cụ Mã trước khi nhắm mắt xuôi tay vào năm 1883, vẫn nhất quyết không thừa nhận mình là một "người theo chủ nghĩa Marx". Những người theo chủ nghĩa Marx vĩ đại trên thế giới ngày nay, khi tuổi cao sức yếu, hở ra là nói mình sắp đi gặp Karl Marx. Nếu thực sự đi gặp Karl Marx, thì phải cẩn thận chiếc gậy của cụ Mã đấy nhé!
Nói tóm lại, các nhà tư tưởng, nhà tôn giáo thành Phật làm tổ, đều là những bậc thánh nhân thuận theo thời thế. Họ là những bậc trí giả và hiền giả đứng ở đỉnh cao của thời đại mình. Dựa theo nhu cầu của thời đại, dùng ngôn giáo (lời dạy) và thân giáo để thúc đẩy hoặc đảo ngược sự phát triển của xã hội nơi họ đang sống. Thế nhưng quá trình trưởng thành tư tưởng và tín ngưỡng của họ đều rất phức tạp; hiệu năng và ảnh hưởng tư tưởng của họ cũng phải dựa vào sự thực chứng lâu dài trong tiến trình tiến lên của lịch sử, cho nên nước trong không có cá lớn, bất kỳ người khổng lồ tôn giáo và văn hóa nào trong lịch sử nhân loại, hệ thống tư tưởng của họ đều mờ ảo khó phân biệt. Một khi họ qua đời, các đệ tử tín đồ cùng ân oán mới cũ đều ai đúng cho là đúng, ai sai cho là sai. Cho nên Nho chia làm tám phái, Mặc chia làm ba nhánh, Phật có mười tông, Hồi có hai phái, Thiên Chúa có trăm loại, chủ nghĩa Marx có nghìn nhà vậy.
Hồ Thích - nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất trong lịch sử tư tưởng cận đại Trung Quốc này, cũng không thoát khỏi quy luật chung đó, cho nên khi ông ngày nay đang dần chìm xuống đại dương lịch sử, hệ thống tư tưởng, cống hiến học thuật, mức độ ảnh hưởng lớn nhỏ, công tội ra sao, từ lâu đã mỗi người một ý rồi.
Từ nay về sau, người phê phán Hồ Thích vốn từ lâu đã có tiền lệ trăm nhà; còn kẻ nghiên cứu Hồ Thích, tiếp nối Hồ Thích, mỗi người tìm kiếm sư thừa, cũng tìm mãi không hết.
8.14 "Một quốc gia, hai chế độ" và "Tẩy trắng hoàn toàn kiểu Tây"
Hơn nữa, bất kỳ nhà tư tưởng nào cũng đều chủ quan; đều mang tính bài tha mạnh mẽ. Không lo người ta không biết mình, chỉ lo mình không biết người. Cho nên ông rất khó có được nhận thức khách quan đối với bối cảnh lịch sử của tư tưởng chính mình; ông đối với ảnh hưởng mà tư tưởng mình áp đặt lên xã hội tương lai, cũng tuyệt đối không thể đoán trước được. — Hồ Thích cũng là như vậy!
Lấy một ví dụ thiết thực mà nói nhé: Hồ Thích mở miệng ra là nhắc đến Dewey, nhắc suốt cả đời, tại sao kết quả ở Trung Quốc lại làm ra một Lênin thế này? Đây là điều ông không thể đoán trước, cũng không thể đưa ra lời giải thích hợp lý. Nhưng lại là vấn đề "hậu khai sáng" (Post-Enlightenment) mà chúng ta ngày nay phải đưa ra.
Phải biết rằng cuộc đại chuyển đổi xã hội lần thứ hai trong lịch sử nước ta (từ hình thái xã hội nông nghiệp phương Đông trung cổ, chuyển sang hình thái xã hội công thương nghiệp phương Tây hiện đại), thực ra bắt đầu từ việc ký kết "Hiệp ước Nam Kinh" vào năm 1842. Nhưng bạn có biết sáu năm sau khi ký kết "Hiệp ước Nam Kinh", năm 1848, châu Âu lại xuất hiện "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" (The Communist Manifesto) không?
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” có ý nghĩa gì? Sự công bố của "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" là sự khởi đầu của sự chia rẽ "chủ nghĩa vị trung tâm châu Âu". Ngay từ những năm đầu của phong trào Phục hưng (từ sau năm 1300) và cao trào Cải cách tôn giáo (1520), văn hóa và tư tưởng châu Âu đã mang tính khu vực vô cùng rõ rệt. Vào giữa thế kỷ 19, khi chủ nghĩa vị trung tâm châu Âu bắt đầu chia rẽ, ít nhiều cũng theo các đường ranh giới khu vực cũ mà phân chia.
Điều bất hạnh là khi văn minh châu Âu ngày càng tiến đến chia rẽ, cũng chính là lúc phong trào Tây hóa của Trung Quốc chúng ta dần sâu sắc thêm. Kết quả là, ngay vào lúc chúng ta quyết định tiến hành Tây hóa toàn diện (Phong trào Ngũ Tứ năm 1919), cũng chính là lúc họ hoàn toàn chia rẽ (Cách mạng tháng Mười năm 1917).
Xin hỏi các đại sư khai sáng chủ yếu tiến hành "Tây hóa toàn diện" chúng ta (cả Hồ Thích và Trần Độc Tú đều vậy), bây giờ "Tây hóa" chia làm hai, các anh cũng chỉ có thể tiến hành "Tây hóa một nửa", các anh chọn một nửa nào?
Hồ Thích đã chọn Dewey.
Trần Độc Tú đã chọn Lênin.
Hai vị bạn già mỗi người một ngả, "Tân Thanh niên" cũng theo đó mà biến chất, Trung Quốc "sau khai sáng" cũng chia làm hai, thành "một quốc gia, hai chế độ" rồi. — Một quốc gia, hai chế độ bắt đầu từ một châu, hai chế độ.
Cho nên "một quốc gia, hai chế độ" không phải do Đặng Tiểu Bình phát minh ra đâu nhé! Nó là do hai ông Hồ, Trần dựa vào "một châu, hai chế độ" mà khởi xướng trước. Chỉ có điều mô hình của Hồ và Trần là một mô hình mày sống ta chết: mô hình "Đã sinh Du, sao còn sinh Lượng". Mô hình của Đặng công thì chỉ là một mô hình chung sống hòa bình, "mày chết tao làm hòa thượng" mà thôi.
Bạn tôi ơi, không phải nói nhảm đâu chứ! Bi hài kịch Trung Quốc trong bảy mươi năm qua, chính là kết quả đấu tranh giữa "Tây hóa một nửa" của Lênin và "Tây hóa một nửa" của Dewey tại Trung Quốc. Năm 1949, Lênin đã đánh bại Dewey. Cái giá của chiến thắng này, theo ước tính thấp nhất của người bạn Trung Quốc - ông Edgar Snow, là sáu mươi triệu cái đầu đấy nhé! Ba mươi năm sau đó, các phong trào chính trị diễn ra trên đại lục, chẳng phải là sự tiếp 1 của cuộc đấu tranh "một quốc gia, hai chế độ" trước giải phóng hay sao? Chỉ đến sau "Hội nghị toàn thể Trung ương lần thứ ba" năm 1978, Đặng công mới đem cái "lịch sử đã bị đảo ngược này, đảo ngược trở lại".
Hồ Thích chi và Trần Độc Tú làm ra một quốc gia hai chế độ, chia làm hai, chia suốt bảy mươi năm. Nay dưới sự chỉ đạo của họ Đặng, gặp lại nhau dưới suối vàng, lại có thể hợp làm một, tiếp tục điều hành tờ "Tân Thanh niên" thời kỳ hậu khai sáng rồi.
8.15 Cũng là "chủ nghĩa tư bản mang đặc sắc Trung Quốc"
Mười lăm năm gần đây, tốc độ chuyển đổi xã hội ở hai bờ eo biển thật đáng kinh ngạc! Theo những tài liệu mà chúng ta có thể đọc được ở hải ngoại, mười lăm năm trước bắt đầu từ con số không, các doanh nghiệp tư doanh trên đại lục, hộ cá thể nay đã tăng lên tới mười bốn triệu đơn vị; hộ tập thể cũng có tới sáu triệu. Những mặt khác như sự phát triển ngoại thương và sự tích lũy tổng sản lượng, sự nâng cao thu nhập bình quân đầu người, đều là những điều chưa từng có trong lịch sử.
Người viết giảng dạy lịch sử chủ nghĩa tư bản tại các quốc gia tư bản chủ nghĩa, tính đi tính lại tròn bốn mươi năm, nay lật lại những cuốn sách giáo khoa cũ kỹ, đối chiếu với những tài liệu mới tinh trong tay, tôi vẫn chưa phát hiện ra quốc gia tư bản chủ nghĩa tiên tiến nào từng có quy mô và tốc độ phát triển kinh tế như đại lục ngày nay cả! Tôi nên nói với học sinh của mình rằng, đây là "chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc"? Hay là "chủ nghĩa tư bản mang đặc sắc Trung Quốc"? Theo định nghĩa của khoa học xã hội, nó nên là cái sau. Theo viễn cảnh phát triển của kinh tế chính trị học, thì cả hai đều không có gì là không được.
Nhưng cứ phát triển như thế này, Trung Quốc liệu có còn mang họ "Xã" nữa không? Không phải vậy. Bạn không thấy nước Mỹ vào giai đoạn cuối thế kỷ 19, "Thời đại mạ vàng" (The Gilded Age), đã thực hiện một thời gian ngắn chủ nghĩa tài phiệt, rồi vừa bước vào thế kỷ này, chủ nghĩa tư bản của họ đã bắt đầu được điều chỉnh lại hay sao? Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nước Mỹ đã hấp thụ rất nhiều chế độ ưu việt chính của các quốc gia theo chủ nghĩa xã hội, để trở thành quốc gia phúc lợi lớn nhất thế giới. Vấn đề trong tương lai của nước Mỹ nằm ở sự sụp đổ đạo đức xã hội và nút thắt cổ chai của chế độ pháp luật. Hệ thống kinh tế tự điều tiết của nó không hề mắc bệnh hiểm nghèo.
Cho nên phát triển theo quy luật kinh tế thị trường, kinh tế đại lục nếu không sinh chuyện ngoài lề, thì vấn đề không lớn, hơn nữa phát triển thuận lợi, nhất định có thể hợp làm một, dung hợp xã hội và tư bản thành một chế độ; san bằng khoảng cách giữa vùng duyên hải và hòn đảo báu, mà dẫn dắt sự hội tụ chính trị của hai bờ.
Sự phát triển của "chủ nghĩa tài phiệt" ở Đài Loan ngày nay, vốn dĩ là mô hình "mạ vàng" của nước Mỹ một trăm năm trước. Đợi đến khi vàng bạc không thể chi phối lá phiếu nữa, thì nó sẽ tan thành mây khói.
Cho nên tiền đồ của hai bờ eo biển ngày nay phần lớn vẫn do đại lục quyết định. Nếu đại lục phát triển cân bằng kinh tế và chính trị, thì "Phong trào chuyển đổi" kéo dài một trăm năm mươi năm nay, rất nhanh sẽ hợp làm một, bước vào "giai đoạn cuối cùng". Chế độ xuất hiện sự "định hình", thì thịnh thế trăm năm, gió đông áp đảo gió tây, cũng là điều trong dự liệu, không được coi là kỳ tích gì cả.
Thế nhưng, sự định hình của xã hội trong tương lai, ngày nay tuy đã có manh mối khá rõ trên đường chân trời, nhưng sự phát triển của lịch sử rốt cuộc có rất nhiều nhân tố, giữa chừng quay đầu, lại vòng vo thêm mấy chục năm, thì cũng không tính là bất ngờ. Chỉ là những người cầm lái hai bờ hiện nay nếu có thể thêm một phần viễn kiến, bớt một phần tư tâm, thì mười dặm cuối cùng này hẳn không khó vượt qua. Chỉ là đi trăm dặm thì chín mươi dặm mới là nửa đường, lật xe thường ở ngay trước cửa nhà, rốt cuộc không nên lơ là chủ quan.
8.16 Học thuyết hiển hách "sau khai sáng"
Động lực ban đầu của việc viết bài này là để viết một bài tựa cho tác phẩm lớn "Nghiên cứu tư tưởng Hồ Thích" của bạn tôi - giáo sư Âu Dương Triết Sinh. Nay đặt bút viết vạn ngôn, mà chưa nhắc đến một chữ nào của Âu Dương, chẳng phải là lạc đề đi vạn dặm hay sao? Sở dĩ người viết làm như vậy, chính là vì coi trọng tầm quan trọng trong bài luận văn của người bạn nhỏ của tôi, cho nên mới không muốn đặt bút qua loa, làm cho xong chuyện.
Cá nhân tôi cảm thấy, nghiên cứu tư tưởng Hồ Thích, ngày nay ở hai bờ eo biểnKý nhiên đã dần được dỡ bỏ lệnh cấm, chiểu theo quy luật cơ học áp lực càng lớn thì độ đàn hồi càng lớn, nó sau này nhất định sẽ trở thành một môn học hiển hách là điều không phải bàn cãi! Đại sư Đỗ Phủ nói rất hay: "Các người thân và tên đều cùng diệt, không cản dòng sông muôn thuở chảy!" Hồ Thích là ngôi sao lớn chiếu rọi cổ kim trong lịch sử văn hóa Trung Quốc, sao lại là thứ mà thám tử đặc vụ có thể cấm đoán tuyệt đối được chứ.
Thế nhưng môn học hiển hách mang tên "Nghiên cứu Hồ Thích" này, trong sự phát triển của thế kỷ tới, lại có xu hướng gì đây?
Tôi nhớ những năm trước khi tiên sinh Hồ cùng tại hạ cùng đọc văn học phản Hồ của hai bờ eo biển (lúc đó ở đại lục gọi là "học thuật phản động"; Đài Loan gọi là "tư tưởng độc tố"), họ Hồ chưa từng viết dù chỉ một chữ phản bác, nhưng cũng chưa bỏ sót một chữ nào không xem. Ông xem xong bài nào cũng có ý kiến. Chỉ là lúc đó không có máy ghi âm bỏ túi, tôi không ghi âm lại lời ông nói mà thôi. Nhìn chung, lời phê bình khái quát của ông đối với những bài viết có chiều sâu hơn một chút, là "chỉ biết một mà không biết hai".
Hồ Thích là một bậc thông tuệ kiêm chuyên gia rất toàn diện. Trình độ chuyên gia của ông thường là điều mà các chuyên gia của các chuyên ngành khác không thể theo kịp. Cho nên các chuyên gia các ngành nếu chỉ xuất phát từ góc độ chuyên ngành của mình để phê phán Hồ Thích, thì thường là nhìn trộm ống dòm thấy một đốm, thấy một phần mà không thấy toàn cục. Chỉ biết một mà không biết hai, sẽ bị bậc thông tuệ cười chê, cho rằng không đáng để phản bác.
Tệ nhất là sau khi Hồ Thích qua đời, người thi hành di chúc của ông tuổi cao sợ chuyện, mặc cho người ta tùy ý xới xáo gánh vác đại sự học thuật, hồ đồ phán xét bừa bãi, không những khiến mặt Phật vấy bụi, mà còn biến một vị đạo sư lớp tiến sĩ đang sống sờ sờ, thành vị học cứu trong "Xuân Hương náo học", thật là quá đáng tiếc.
Những điều này đều là sự bất hạnh trong lịch sử văn hóa, sau này sẽ không xảy ra nữa. Thế nhưng môn Hồ học mới nổi sẽ phải lựa chọn và tuân theo điều gì?
Có một lần trong căn hộ của ông, tôi nhớ tiên sinh Hồ hứng thú rất cao, cùng tôi bàn luận sôi nổi về chính trị thời Dân quốc. Ông bày tỏ sự tiếc nuối sâu sắc đối với sự thất bại của "Quốc hội đầu thời Dân quốc". Bởi vì những nghị viên đó "đều là nhân tài hiếm có". Ông lại tỏ ra tiếc nuối vì Quốc Dân đảng đã không nghe lời ông mà "chia làm hai". Nếu không thì Trung Quốc lúc đó chẳng phải đã có chế độ hai đảng rồi sao?
Nghe xong, tôi cười cợt phản bác ông rằng: "Thầy Hồ ơi! Những học lý trừu tượng mà thầy đề xướng, không có cái nào là không đúng; còn những đề nghị cụ thể mà thầy đưa ra, thì không có cái nào là không sai."
Tiên sinh Hồ nghe vậy vô cùng nổi giận, mắng tôi là "nói nhảm, nói nhảm". Nhưng ông vẫn giữ tôi lại ăn tối, sau bữa tối còn cùng tôi - người học sinh này - trò chuyện văn nghệ khách sáo đến tận nửa đêm.
Những gì tôi nói lúc đó tuy là một câu nói đùa mạo phạm tôn sư, nhưng bốn mươi năm sau ngẫm lại, thì thấy lời của học sinh không phải là không có ba phần triết lý. Phàm là "học lý trừu tượng" thường xuất phát từ trí tuệ, có thể tìm kiếm trong việc tham thi đả tọa; mà "đề nghị cụ thể" nếu không có sự "thử nghiệm" lâu dài thì sao biết được hiệu quả điều trị. Đây vốn dĩ là tinh nghĩa của "chủ nghĩa thực nghiệm" mà!
Đến như học lý trừu tượng của chủ nghĩa thực nghiệm "bàn nhiều về vấn đề, ít bàn về chủ nghĩa", chẳng phải là "mèo đen mèo trắng" hay sao? Không có mèo đen mèo trắng, thì sao có mười bốn triệu hộ cá thể của ngày nay?
Tôi đi thăm các vùng thành thị nông thôn trên đại lục, nghe công nông truyền tai nhau, "hộ vạn tệ" của ngày nay chỉ được tính là "bần nông"; kẻ sung túc thì thấp nhất cũng từ một chục vạn trở lên. Tết năm nay, khắp nước pháo nổ vang trời, chiêng trống động đất, chúc mừng phát tài, muôn người vui mừng khôn xiết, thật sự là mèo đen mèo trắng không ra, thì biết tính sao với trăm họ? Nhưng tông phái mèo đen, thực chất là chính tông của Hồ học. Đồ đệ của họ Đặng có lẽ có lời dị nghị rằng: Đảng ta là "chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc", thì có can hệ gì đến Hồ Thích? Đáp rằng: Không hại gì. "Chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc" chẳng phải vẫn là "chủ nghĩa tư bản mang đặc sắc Trung Quốc" hay sao? Hai cái rốt cuộc có gì khác biệt? Phái Pháp gia Thân, Hàn chẳng phải là môn đồ Tuân Khúc của phái Nho sinh đó sao? Nho và Pháp vốn là một nhà; Quốc và Cộng lại có gì khác biệt. Chia lâu ắt hợp, đây chính là thời điểm rồi.
Những điều nói trên thực sự là đại sự hồi triều của Hồ học làm chấn động đất trời, nhưng rốt cuộc là có thực chất mà không có danh nghĩa. Thế nhưng việc nghiên cứu Hồ Thích có thực có danh cũng đã trổ tài lộ diện ở mọi vùng miền trên đại lục, mà đội hình mới này lại lấy thanh thiếu niên làm chủ đạo. Phàm là giới Hồ học lớn tuổi trên đại lục đã chẳng còn lại mấy người, thế hệ trí thức trung du sinh sau phong trào Ngũ Tứ thì lớn lên trong một thời đại sa mạc "đại lục không biết Hồ Thích, Đài Loan không biết Lỗ Tấn". Họ tuy trải qua việc nhồi nhét, cũng khó mà biết được chân lý tinh túy. Phàm là hai ông Hồ và Châu trong giai đoạn này đều bị xuyên tạc. Gỡ bỏ mặt nạ của họ, nhận thức lại bộ mặt thật, vô cùng không dễ dàng. Thế nhưng thế hệ thanh niên trí thức Trung Quốc sinh ra sau khi Hồ Thích qua đời (1962) này, thì lại khác. Họ có ý chí tự do, môi trường ổn định cùng khát khao và sự rèn luyện tri thức. Đội hình hiện nay của họ lớn mạnh đến mức, khí thế ào ạt kéo đến như lở núi sóng trào, thật khiến thế hệ đi trước phải trợn mắt há mốc mồm. Một cuộc vận động Phục hưng và Khai sáng văn hóa Trung Quốc mới, đang mưa gió chực chờ. Một nền văn hóa mới phương Đông chẳng mấy chốc sẽ chảy ngược về phương Tây, đang bước những bước khởi đầu. Đây không phải là người viết đang nói lời cay đắng câu khách; mà thực sự là tâm đắc thực tế sau khi lăn lộn mấy chục vòng ở ba bờ đại dương! Hãy nhìn Viện Khoa học xã hội trên đại lục, cứ một nơi là có sáu nghìn nhà nghiên cứu. Cuộc sống tuy khổ, nhưng ai nấy đều chăm chỉ không mệt mỏi, cúi đầu nghiên cứu. Kẻ thống trị nếu dừng ngục tù văn hóa, không can thiệp đến tự do học thuật (bây giờ gần như đã là như vậy), để cho họ tự thành lập gia phái, thì còn ra thể thống gì nữa! Bọn chúng ta những kẻ cao trí hủ nho trốn chui trốn lủi ở góc biển, già nua vô ích mà đau xót, đối mặt với đội hình này, thực sự có cảm giác như một giọt nước bị cuốn vào con sóng lớn Tiền Đường. — Đây cũng là một trong những lý do khiến tôi đặc biệt coi trọng vị bạn nhỏ tiến sĩ Âu Dương Triết Sinh.
8.17 Bạn tôi - Tiến sĩ Âu Dương Triết Sinh
Âu Dương vẫn là một thanh niên chưa tròn ba mươi tuổi, nhưng luận văn tiến sĩ xuất sắc này đã giúp anh vượt cấp thăng chức lên làm phó giáo sư - chức vị mà ít nhất phải đến ba mươi bảy tuổi mới có thể đảm nhận. Năm kia trong cuộc thi luận văn Hồ học hai bờ eo biển, lại bất ngờ đánh bại quần hùng ngay tại sào huyệt Hồ học ở Đài Bắc, chễm chệ đứng đầu bảng. Chúng ta coi như có duyên, gặp gỡ tình cờ trong một hội nghị thảo luận về tư tưởng Hồ Thích ở hải ngoại. Đọc bài văn của anh, nắm lấy bàn tay anh, ngắm nhìn con người anh, lắng nghe lời anh nói; một trang thanh niên đường đường chính chính lại chính là một vị tiểu Hồ Thích.
Triết Sinh muốn tôi viết một bài tựa cho cuốn luận văn tiến sĩ sắp xuất bản của anh. Tôi tuy là một kẻ bận rộn chuyện không đâu, nhưng cũng tự thấy không thể không tuân lệnh. Triết Sinh là người đầu tiên mà tôi quen biết trong thế hệ của họ (thế hệ sinh ra sau khi Hồ Thích qua đời), dùng ý chí tự do để nghiên cứu Hồ Thích. Cuốn sách của anh cũng là cuốn sách vững chãi đầu tiên của thế hệ họ. Tác giả sau này ít nhất vẫn còn sáu mươi năm thời gian sáng tác. Mười hai cuốn chuyên khảo có sức nặng hơn nữa sẽ lần lượt nối tiếp ra đời. Phía sau anh, tôi cũng biết chắc sẽ còn có hàng trăm hàng nghìn nhà học giả thanh niên tương tự như anh, lần lượt xuất hiện. Dưới sự thúc đẩy của họ, Hồ học sẽ có một bầu trời mới huy hoàng rực rỡ. Việc dành cho tác phẩm đầu tay của anh những lời ca tụng gấm hoa thêm thắt hay những lời phê bình bới lông tìm vết, đều là không cần thiết. Điều quan trọng là cuốn sách đầu tiên này của anh, chiếm vị trí như thế nào trong môn Hồ học hậu khai sáng này. Do đó tôi không muốn viết một bài tựa vô thưởng vô phạt. Tôi muốn nhân cơ hội này để bàn về cách nhìn của thế hệ chúng ta đối với Hồ Thích — sự xuất hiện của Hồ Thích mang theo bối cảnh thời đại và văn hóa như thế nào; trong bối cảnh thời đại và văn hóa này, ông lại phát huy những tác dụng gì, đẩy nền văn minh Trung Quốc bước sang một thời đại mới khác.
Hồ Thích là một con người rất toàn diện. Mỗi người quan sát ông từ những góc độ khác nhau, ông chính là "nhìn ngang thành dãy, nghiêng thành đỉnh". Tôi chỉ đưa ra cách nhìn của mình để thỉnh giáo các bậc phương gia, đặc biệt hy vọng những người bạn thuộc thế hệ thanh niên có thể uốn nắn những điều còn thiếu sót trong ý kiến thô thiển của tôi, đó coi như là việc dùng ngọc thô để đổi lấy ngọc quý vậy.