Chúng tôi, những nhà sử học nghiên cứu về "lịch sử Trung Hoa Dân Quốc đương đại", điều kiện tiên quyết khi đặt bút xuống chính là phải có một sự hiểu biết mang tính bản chất về "lịch sử đế quốc truyền thống" (đặc biệt là giai đoạn cuối nhà Thanh). Bởi vì "Dân Quốc" không phải từ trên trời rơi xuống, mà nó được chuyển hoá dần dần từ "Đế quốc". Đế quốc là cha, Dân Quốc là con. Không biết cha của nó, thì sao có thể biết được con của nó chứ?
Hơn nữa, mối quan hệ giữa đế quốc và Dân Quốc không phải là mối quan hệ đột biến giữa gà và trứng trong sinh học; không phải một con gà chế độ đế chế, bỗng nhiên đẻ ra một quả trứng trị vì dân chủ. Mối quan hệ giữa hai bên lại là mối quan hệ giữa tằm và bướm — về bản chất, về chế độ, đó là một mối quan hệ chuyển hoá rút tơ lột kén. Sự truyền ngôi đổi đời giữa hai triều đại, tơ vương tơ vấn, là không thể cắt đứt làm đôi được.
Hãy lấy thực trạng ở đại lục và Đài Loan trong thập niên 90 làm ví dụ: Cho đến ngày nay, chế độ chính trị trên đại lục có thể nói vẫn là nhộng trong kén, cách thời cổ đại chưa xa. Mao Trạch Đông nói: "Ngàn năm vẫn theo chính pháp Tần." Vấn đề trên đại lục chính là vấn đề cái "chế độ nhà Tần" này không tài nào rứt bỏ được. Đây cũng là một kiểu vấn đề đánh mất phương hướng "hậu cách mạng" (post-revolution) theo kiểu Liên Xô rồi quay trở lại với sự chuyên chế.
Còn thực trạng của Đài Loan thì sao? Con bướm trắng dân chủ ấy đã phá kén cất cánh bay lên. Thế nhưng loài bướm đều có bản tính lao vào lửa. Lại lỡ coi ngọn lửa mãnh liệt là ánh sáng, nhỡ may việc bay lượn mất kiểm soát, lao đầu vào lửa tự vẫn, thì mọi công sức trước đó đều đổ sông đổ biển. Cho nên tình hình hòn đảo quý báu ngày nay, nếu tìm tiền lệ từ trong lịch sử, xem ra rất giống với thời kỳ nước Đức Cộng hòa lần thứ ba. Nước Đức năm xưa do sự thù hận cộng với bạo lực đã từng châm ngòi cho một loại "vận động bài Do Thái" (anti-Semitism). Người trong nước trút mọi khó khăn gặp phải trong công cuộc phục hưng và những hiện tượng bất bình trong lẫn ngoài nước lên đầu một dân tộc thiểu số; tạo nên một thứ tâm lý quần chúng có xu hướng "chủng nghĩa khủng bố" (terrorism) mang tính "tiền cách mạng" (pre-revolution) tựa như gió lụt sắp đến. Tâm lý này rất dễ leo thang. Nếu không thể kịp thời kìm hãm để phòng ngừa từ trước khi điều đó xảy ra, thì viễn cảnh của nó cũng không thể gọi là lạc quan.
Nói ngắn gọn lại. Những nỗ lực của hai bờ eo biển chúng ta trong nền chính trị dân chủ, suy cho cùng vẫn đang tìm lối đi trong hai mô hình Đức và Xô. Khoảng cách giữa đôi bên với mục tiêu thực sự của "Dân Quốc", vẫn còn những khoảng cách khác nhau đấy!
6.1 Bản chất của thể chế "Dân Quốc"
Gác lại triết lý chính trị phương Tây rườm rà không bàn tới, hãy xem các nhà tư tưởng hiện đại của chính chúng ta nói thế nào.
Tôn Trung Sơn tiên sinh trong "Di chúc" của ông từng nói ông dốc sức cho cuộc cách mạng quốc dân tròn bốn mươi năm, mục đích của ông là "tìm kiếm sự tự do bình đẳng cho Trung Quốc". Bản "Tổng lý di chúc" này vốn do Uông Tinh Vệ - người vốn rất có văn tài - chắp bút. Uông thị vì để chiều theo cái giọng điệu hành văn "phải, rất phải, đặc biệt phải" của ông, thay Tôn tiên sinh soạn di chúc, nên không tránh khỏi việc dùng lời lẽ làm tổn hại ý nghĩa. Mục đích cách mạng của Tôn Trung Sơn không chỉ là theo đuổi sự tự do bình đẳng cho Trung Quốc trên trường quốc tế; ông còn muốn toàn thể bách tính Trung Quốc trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, đối xử với nhau cũng phải được tự do bình đẳng nữa cơ.
Đương nhiên từ phương diện đời sống kinh tế mà nói, điều Tôn tiên sinh yêu cầu không phải là cái kiểu "không lo nghèo ít" của Khổng Phu Tử, hay cái sự "phòng chống phong kiến, tư bản, tu sửa" mang tính "bình đẳng nghèo" của Hồng Vệ Binh. Ông vẫn luôn nhấn mạnh tình hình kinh tế của nhân dân Trung Quốc chỉ là "nghèo lớn, nghèo nhỏ". Cầu mong sự bình đẳng giữa cái nghèo lớn và nghèo nhỏ thì không có ý nghĩa lớn lao gì. Điều Tôn thị yêu cầu là "bình đẳng giàu có" — dùng từ vựng hiện đại để diễn giải, thì gọi là "quân phú" vậy! Muốn giàu có rồi sau đó mới chia đều, thì nền kinh tế nông nghiệp truyền thống của nước ta (bao gồm cả thủ công nghiệp và các thị trấn nhỏ trực thuộc hệ thống kinh tế nông nghiệp) sẽ không thể gánh vác nổi. Nói một cách đơn giản, muốn thiết lập một "Dân Quốc" đúng nghĩa, thì sự phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa chính là điều kiện cần.
Hơn nữa, việc thực hiện cất cánh kinh tế công nghiệp hóa đòi hỏi toàn thể nhân dân đều phải động não ra tay, nếu một số ít người lạm dụng quyền lực, tham gia thâu tóm, thì nền kinh tế này sẽ không bao giờ "cất cánh" nổi. Điều này lại liên quan đến sự cởi mở dân chủ về mặt thể chế chính trị. Hãy tạm gác lại "nhân quyền" đáng lẽ phải được hưởng trong hành vi ứng xử của xã hội loài người "hiện đại", ngay cả khi chỉ quan sát từ một chuyên đề thực tế cấp bách hơn là xây dựng kinh tế, thì sự tự do bình đẳng và cởi mở dân chủ về mặt chính trị cũng là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế. Lật xem lịch sử tiến hóa của các "quốc gia phát triển" ngày nay: Chưa từng có quốc gia nào chính trị bế tắc mà kinh tế có thể "cất cánh"; cũng chưa từng có quốc gia nào kinh tế đã cất cánh, mà chính trị vẫn tiếp tục bế tắc. Cặp anh em khó nhọc này hỗ trợ lẫn nhau, thiếu một thứ cũng không được. Cho nên điều kiện cần thứ hai mà một "Dân Quốc" thực sự phải có, chính là một "chính phủ đại nghị" (representative government) thực sự đại diện cho chính trị toàn dân: Điều mà Lincoln gọi là "của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân" chính là đây. Trong vận hành chính phủ mà có bất kỳ sự che đậy đánh tráo nào, thì đó không phải là "Dân Quốc" thực sự.
Có được một Dân Quốc thực sự "của nhân dân, do nhân dân", thì cái "vì" nhân dân mà hưởng thụ tài sản kinh tế, trình độ giáo dục, nhân quyền cơ bản, bốn quyền tự do sẽ đi liền theo đó. Tôn Trung Sơn tiên sinh trọn đời cách mạng, mục tiêu cuối cùng "chưa thành công" của ông chính là thiết lập một Dân Quốc đích thực như đã nói ở trên.
Thế nhưng một quốc gia cho dù có thể hoàn thành hai điều kiện lớn kể trên như Nhật Bản và Đức trước chiến tranh, rốt cuộc làm thế nào để duy trì nó tiếp tục, mà không đến mức điên cuồng tẩu hỏa nhập ma, cũng là một bài toán khó tày trời. Người xưa có câu "Khởi nghiệp không dễ, giữ thành càng khó!" chính là có ý này. Hãy nhìn chế độ quân chủ lập hiến đại nghị mà các bậc hiền tài "Minh Trị Duy Tân" của Nhật Bản đã dày công tạo dựng biết bao nhiêu, đáng ngưỡng mộ làm sao. Nào ngờ tiền bối có thể "khởi" tạo ra nó, nhưng hậu bối lại không thể "thủ" giữ lấy nó. Cho đến khi một nhúm "quân nhân trẻ tuổi" bạo ngược vô tri, mượn danh nghĩa yêu quốc, dùng bạo lực để nhúng tay vào chính trị; hô vang một tiếng, cả nước hưởng ứng theo. Can đảm thì đúng là can đảm thật, nhưng hậu quả của nó là phải ăn bom nguyên tử. Lại nhìn nước Đức: Sau Thế chiến thứ nhất, họ nhẫn nhục chịu đựng, tái thiết nước cộng hòa, bi tráng biết nhường nào! Đáng tiếc là một số ít lãnh đạo ích kỷ vụ lợi, lợi dụng tâm lý trả thù của quần chúng, biến thù hận thành sức mạnh chính trị, dân tộc Đức lại một lần nữa gánh chịu đại họa.
Hai dân tộc Nhật và Đức, trong thế giới cận đại đều là những dân tộc ưu tú có hiệu suất cao nhất, thể hiện xuất sắc nhất. Nhưng tại sao lại phạm phải sai lầm ngu muội nhường này? Chúng ta những kẻ đọc sách lịch sử sau khi thở dài suy ngẫm, mới ngộ ra rằng, hóa ra nguồn gốc tội ác của họ xuất phát từ bên trong chính đảng của họ, những nhà tổ chức hẹp hòi đã chèn ép các nhà chính trị có tầm nhìn xa; trong nền vănên minh cận đại của họ, những nhà lý luận cực đoan cũng đã hất cẳng các nhà tư tưởng khoáng đạt. Hòn núi nơi khác, có thể dùng làm đá mài ngọc, điều này khiến chúng ta sau thời Tôn tiên sinh, lại nhớ đến Hồ Thích chi tiên sinh — tư tưởng của hai ông Tôn - Hồ là "Tiêu quy Cao tùy" (đời sau theo sát khuôn phép đời trước).
Thích chi tiên sinh từ những năm tuổi trẻ đã phản đối chủ nghĩa cực đoan. Cho rằng chính trị dân chủ không thể đi đường tắt. Muốn dùng kiểu "hiệu quả nhanh" như phát xít, đảng áo nâu để kiến quốc cứu dân thì khác nào mò cá đáy giếng. Hồ Thích những năm cuối đời cổ vũ "sự khoan dung quan trọng hơn tự do". Chủ trương phàm là việc gì cũng phải suy nghĩ, là người không dung thứ ta? Hay ta không dung thứ người? Nếu chỉ là sự đơn phương "thà ta phụ người, chứ không để người phụ ta", thì đó chính là Tào Tháo rồi, còn có dân chủ gì nữa chứ? Cho nên tinh túy của dân chủ mà Hồ tiên sinh suốt đời xướng nghị, chính là một câu: "Dân chủ là một lối sống." Ba nước Đức, Ý, Nhật trước Thế chiến thứ hai, về hai phương diện kinh tế công nghiệp và chính phủ đại nghị đều đã hội đủ các điều kiện cần thiết để thực hiện chính trị dân chủ. Đáng tiếc là họ vạn sự đã chuẩn bị xong, chỉ thiếu cơn gió đông "lối sống dân chủ" này mà thôi. Gió đông không đến, họ liền chơi đùa với lửa rồi tự thiêu thân. Chỉ biết người khác không dân chủ, mà u mê không nhận ra lối sống của chính mình vốn dĩ đã không dân chủ, từ đó lạm dụng tự do, lạm dụng "chế độ đa số" (majority rule), thì đã hại lầm muôn dân.
Nói đến đây, bản chất của "Dân Quốc" chúng ta cũng đã lộ diện. Bản chất là gì? Thưa: Là "kinh tế công nghiệp". Không chấn hưng thực nghiệp thì không cách nào làm giàu. Thưa: Là "chính phủ đại nghị". Không có chính phủ đại nghị do nhân dân bầu cử thực sự thì không đủ để bàn về chính trị toàn dân. Thưa: Là "lối sống dân chủ". Nếu lối sống không dân chủ mà lắm "tiền" (money) nhiều "thế" (might), thì suy cho cùng cũng chỉ là một phiên bản thu nhỏ của "phe Trục" mà thôi, còn bàn gì đến dân chủ nữa chứ?
Trên thực tế, kể từ "Chiến tranh Nha phiến" (1839~1842) bắt đầu, đồng bào toàn quốc, các bậc nhân nhân chí sĩ của chúng ta, dốc hết tâm tư trí lực theo đuổi chính là ba mục tiêu này. Nhưng một thế kỷ rưỡi đã trôi qua, trên đại lục chúng ta có thể nói là ngay cả một mục tiêu cũng chưa theo đuổi được, thậm chí càng đuổi càng xa. Còn Đài Loan thì sao? Chín bận giậm đất làm núi, thiếu một gùi nữa là thành công. Liệu gùi đất này có thể được bồi đắp một cách suôn sẻ lên trên, mà không đến mức vì một cọng tranh mà đè chết con lạc đà. Chúng ta những người viết lịch sử, tay cầm thẻ tre, mỗi tối mở ti vi lên, chỉ đành kiên nhẫn chờ xem mà thôi!
6.2 Sự khác biệt Trung - Tây trong thời đại "hậu phong kiến"
Bạn bè có lẽ sẽ hỏi: Viễn cảnh của Dân Quốc vốn dĩ đơn giản như vậy, cớ sao dân tộc chúng ta khổ công rượt đuổi hung hăng cả trăm năm nay, chết hàng trăm triệu người, mà cho đến nay vẫn là tiền đồ mịt mờ? Câu trả lời cho câu hỏi này đương nhiên là muôn hình vạn trạng. Đồng thời vấn đề này cũng không phải Trung Quốc mới có. Quốc gia lớn như Ấn Độ, quốc gia nhỏ như Philippines và Indonesia — thậm chí toàn bộ "các nước thế giới thứ ba" ngày nay, chẳng phải đều có những nỗi phiền muộn tương tự hay sao? Chẳng phải cũng đều có những nguyên nhân khác nhau của chúng hay sao? Nhưng nỗi phiền muộn lớn nhất của Trung Quốc, rõ ràng vẫn là vấn đề "xung đột văn hóa" (cultural conflict) Trung - Tây.
Phải biết rằng "Đế quốc" Đại Thanh của chúng ta là sản phẩm thuần túy của văn hóa Trung Hoa, một mạch thừa kế suốt hơn hai nghìn năm; trong khi "Dân Quốc" lại là sự tiếp nối hoàn toàn của văn minh Tây Âu. Lấy truyền thống của Trung Hoa cổ đại, một bước mà muốn nối liền với chế độ phương Tây hiện đại, nếu chỉ nói là "vuông tròn không khớp", thì chúng ta vẫn xem nhẹ vấn đề này. Sự thật lại là hai bên "phân cực", "đi ngược lại nhau", thậm chí là "nước lửa bất dung" cơ chứ! Cho nên muốn từ cái nhộng "đế quốc" kiểu Trung Hoa, lột xác ra con bướm "Dân Quốc" kiểu phương Tây, quá trình đó đau đớn khôn cùng. Thế nhưng ở vào "thời đại hậu phong kiến" (post-feudal period) này, dưới ảnh hưởng phát triển mãnh liệt của phương Tây, chúng ta lại buộc phải đổi mới tâm can, không biến hóa không được, đây chính là nút thắt khó gỡ trong lịch sử cận đại của chúng ta.
Thế nhưng, sự khác biệt giữa Trung và Tây rốt cuộc nằm ở đâu? Câu hỏi này, trả lời ra thì dài dòng. Ở đây xin nói một chút về đại lược đã được giản hóa.
Nhìn từ góc độ lịch sử so sánh, có thể nói sự phát triển văn minh thế giới trong gần hai nghìn năm qua, đại khái có thể dùng sự diễn biến của hai dòng chủ lưu Đông Á và Tây Âu để khái quát những phần còn lại. Hai dòng chủ lưu này vốn là phát triển độc lập, rất ít khi can thiệp lẫn nhau. So sánh cả hai, thành tựu của chúng có lẽ cũng kẻ tám lạng người nửa cân. Thế nhưng sau thế kỷ 17, 18, văn minh Tây Âu rõ ràng đã từng bước dẫn đầu. Khi văn minh Đông Á vẫn còn đình trệ trong thời kỳ chuyên chế đế vương, kinh tế nông nghiệp, các nước Tây Âu về mặt chính trị đã vứt bỏ sự chuyên chế; về mặt kinh tế cũng thoát khỏi gốc nông nghiệp mà dần dần phát triển ra "chủ nghĩa trọng thương" và "cách mạng công nghiệp".
Văn minh phương Tây vì sao trong cận đại lại đột nhiên buông cương phóng nhanh? Mấu chốt của nó có lẽ là kết quả của sự sụp đổ "xã hội phong kiến". Tác giả trong rất nhiều bài viết vụ về của mình, từng nhiều lần giải thích quá trình phát triển xã hội Trung - Tây có "tính thông đồng" của nó, ví dụ như sự phát triển và lớn mạnh của xã hội phong kiến hai bên, chính là một ví dụ về tính thông đồng. Song quá trình phát triển của xã hội Trung - Tây, cũng có "đặc tính" của nó, ví dụ như sự hình thành xã hội phong kiến phương Tây, thực ra xảy ra sau khi Đế quốc La Mã sụp đổ; mà sự lớn mạnh của xã hội phong kiến Trung Quốc, lại xảy ra trước khi Đại đế quốc Tần Hán được thiết lập. Do điều kiện chủ quan và khách quan trong lịch sử Trung - Tây khác nhau, nên thứ tự phát triển xã hội của họ cũng trước sau khác nhau; thứ tự khác nhau lại dẫn đến hai xã hội này trong thời cận cổ và hiện đại, cũng có sự khác biệt về bản chất.
Sự khác biệt về bản chất giữa hai bên lại nằm ở đâu? Thưa: Nóng tảng cơ sở phát triển của xã hội Tây Âu Bắc Mỹ hiện đại nằm ở chỗ "xã hội trọng hơn quốc gia". "Quốc gia" (state) chính là "kiến trúc thượng tầng" (superstructure) của xã hội. Cấu trúc của quốc gia biến động theo sự biến động của xã hội.
Nước ta thì ngược lại, nền tảng phát triển xã hội của nước ta lại là "quốc gia mạnh hơn xã hội". Xã hội là "kiến trúc thượng tầng" của quốc gia, hình thái cấu trúc của nó, động lực hưng thịnh suy vong của nó, đều nghe theo sự sai khiến chỉ bảo của quốc gia.
Sự đi ngược chiều nhau của hai xã hội Trung - Tây, rốt cuộc là vì sao mà lại như thế? Thưa: Các điều kiện chủ quan và khách quan trong quá trình phát triển của cả hai bên, đều có nguyên nhân dẫn đến điều đó.
6.3 Sự hình thành tự nhiên của giai cấp trung lưu phương Tây
Số là Tây Âu vào thế kỷ 15, 16 sau khi xã hội phong kiến sụp đổ, do sự hạn chế của đủ loại điều kiện (bao gồm cả chữ viết biểu âm vĩnh viễn không thể thống nhất), cho nên họ cũng không thể sản sinh ra một Tần Háng. Kết quả của nó liền hình thành một cục diện các tiểu vương quốc, tiểu thành bang phân liệt. Những nước nhỏ đại khái cỡ như Hong Kong, Macao và Singapore ngày nay hoặc thậm chí còn nhỏ hơn. Nước lớn thì cũng chẳng qua như Hàn Quốc, Đài Loan hoặc lớn hơn một chút, nước lớn nhất cũng chỉ cỡ một tỉnh Tứ Xuyên mà thôi. Nếu chúng ta nhắm mắt thử tưởng tượng: Góc đất Tây Âu năm đó, lại có mười mấy (thậm chí mấy chục) Singapore, Hong Kong, Macao, Đài Loan, Hàn Quốc, cạnh tranh kịch liệt về mặt thương mại. Chính phủ độc lập hoặc bán độc lập của họ, cũng bị kéo theo mà miễn cưỡng bám đuổi theo sau (như Đài Loan và Hàn Quốc trong hai mươi năm gần đây); mọi người đồng lòng hướng về tiền tài, một thứ "chủ nghĩa trọng thương", đương nhiên không gọi mà tự xuất hiện.
Xã hội phồn vinh thúc đẩy sự phát triển của giáo dục và khoa học kỹ thuật, củng cố "Phong trào Phục hưng" và "Cải cách tôn giáo". "Của cải các quốc gia" của Adam Smith, cũng theo đó trở thành cuốn sách khoa học xã hội đầu tiên của xã hội hiện đại, tình hình lúc đó có lẽ cũng giống như cuốn "Cẩm nang chứng khoán" ở các tiêm tạp hóa Đài Loan ngày nay. Dần dà một "giai cấp trung lưu" có được sức mạnh chính trị lấy động sản và bất động sản làm nền tảng bèn ra đời theo thời thế (hãy nhìn Đài Loan và Hàn Quốc ngày nay). Mọi người đấm đá lẫn nhau bên trong nghị viện "nhất viện chế" (unicameral), áp đảo quý tộc già, nâng cao các nghị sĩ bình dân tăng ph́i; thiết lập và củng cố hạ viện, liền khống chế được chính phủ. "Chính phủ đại nghị" toàn dân được nói đến ở tiết trước, trong sự cải tiến không ngừng, đã biến thành mô hình thích hợp hơn nhằm bảo vệ lợi ích tập thể của giai cấp mới nổi này.
Cho nên cái gọi là "chính phủ đại nghị" toàn dân, thực ra là sản phẩm tự nhiên thuận nước đẩy thuyền trong quá trình phát triển kinh tế tự do của phương Tây, chẳng có đạo lý sâu xa gì ghê gớm cả.
Thế nhưng một chế độ ngoại lai nông cạn dung tục như vậy, chúng ta muốn đem nó cấy ghép vào đại lục Đông Á, cớ sao lại cao vời vợi đến thế và khó sinh đẻ đến vậy? Chính là bởi vì nó với truyền thống văn hóa của chúng ta, thực sự là nước lửa không dung nhau.
6.4 "Truyền thống tông pháp" và "chế độ gia trưởng" của Trung Quốc
Truyền thống "quốc gia mạnh hơn xã hội" của chúng ta, được diễn biến dần dần từ "xã hội tông pháp" cổ xưa nhất của chúng ta. Chế độ tông pháp là hàng nội địa chính hiệu. Nó không thể tìm thấy những chế độ tương tự trong lịch sử của các dân tộc khác.
Thế nhưng "xã hội tông pháp" rốt cuộc lại là cái quái gì? Nói một cách đơn giản, nó chính là chế độ thị tộc (clan) lấy gia trưởng phụ hệ (paternity) làm trung tâm, được phát triển ra từ truyền thống sùng bái tổ tiên vốn có của tổ tiên chúng ta.
Tiết trước đã nói rồi: "Xã hội phong kiến" của chúng ta sụp đổ sớm hơn phương Tây một nghonom bảy trăm năm mươi năm. Thế nhưng sau khi xã hội phong kiến sụp đổ, chúng ta lại không đưa nó đến mức độ các tiểu bang chi chít, ai nấy đều chăm chăm kiếm tiền. Ngược lại, do sự sai khiến của các điều kiện chủ quan và khách quan đặc thù, chúng ta lại tạo ra một đại đế quốc siêu cấp tập trung quyền lực cao độ.
Để vận hành "chế độ tập trung quyền lực" này, chúng ta lại phát triển ra một bộ "chế độ quan văn" (civil service system) không gì sánh bằng trong lịch sử thế giới. Chế độ hoàn chỉnh này, lại trải qua sự cải tiến qua các triều đại, đến đầu đời nhà Thanh, có thể nói đã đạt đến cảnh giới hoàn mỹ. Sự linh hoạt và khoa học trong vận hành của nó, quả thực không phải là chế độ quan đảng sau này của hai đảng Quốc - Cộng có thể theo kịp. Một hệ thống thống trị hoàn bị và hợp lý như vậy, lại được một số nhà tư tưởng, nhà chính trị dung nhũ tinh ý của ba nhà Nho, Pháp, Đạo phương Đông của chúng ta vào đó, qua ngày tháng hóa dân thành tục, liền hình thành một cái gọi là "thể thống văn hóa" (cultural entity) "Bá đạo vương đạo pha trộn". Về đặc tính và tính thông đồng của thể thống văn hóa này, các bậc hiền đạt hiện nay và tác giả đã bàn luận rất nhiều trong các tác phẩm khác nhau, không nên chồng chéo lên nhau nữa. Nay tạm liệt kê mấy điều sơ lược, để cho thấy tác dụng của nó diễn ra trong cuộc xung đột văn hóa Trung - Tây.
Điều đầu tiên chúng ta nên đưa ra chính là "chế độ gia trưởng" lưu lại từ "xã hội tông pháp" truyền thống của chúng ta. Trong gia đình Trung Quốc truyền thống, trên dưới phân minh, lớn nhỏ có thứ bậc, nam nữ có sự khác biệt. Các thành viên trong gia đình đều nghe lệnh của một vị gia trưởng vừa lớn tuổi vừa tôn kính. Vị gia trưởng này trong việc quản lý các công việc kinh doanh của gia đình, có uy quyền và quyền lực tuyệt đối; đồng thời về mặt đạo đức, ông cũng có nghĩa vụ và lòng bác ái lớn lao. Đối với sự hưng suy nghèo giàu của một gia đình, và việc giáo dục nuôi dưỡng bảo vệ con cái cháu chắt, ông đều phải gánh vác toàn bộ trách nhiệm. Nhưng ông không phải là một kẻ độc tài không có sự ràng buộc gì. Chỉ lấy tài sản gia đình mà nói đi! Các thành viên trong toàn gia đình (trừ con gái đã kết hôn) là ai nấy dốc sức tùy khả năng, ai nấy lấy theo nhu cầu. Nếu thỏa thuận "chia nhà", thì "gia trưởng" cũng chỉ có thể lấy phần mà mình đáng được nhận. Thế nhưng trong việc giáo dục thông thường, thì giữa lớn nhỏ trên dưới hoàn toàn không có cái gọi là "tự do bình đẳng". Con cái dưới sự giáo dục quản thúc của gia trưởng, ngay cả quyền tự do tối thiểu, cái gọi là "quyền tự do lựa chọn hôn nhân" thuộc "nhân quyền cơ bản" ngày nay cũng không được hưởng thụ.
Nho gia truyền thống nước ta bàn về chính trị, phần lớn đều song hành "quốc, gia", trước tiên phải có khả năng "tề gia", rồi sau đó mới có thể bàn đến "trị quốc". Nhà chính là một nước nhỏ; nước chính là một nhà lớn. Cho nên vua chúa, hoàng đế bèn là thái thượng gia trưởng của một gia đình đặc biệt lớn; bách tính đều là "thần dân". Không những thế, các cấp quan lại dưới trướng hoàng đế đại đế cũng đều là những gia trưởng lớn nhỏ khác nhau. Huyện trưởng tri phủ gọi là "quan phụ mẫu", thứ sử quận thủ gọi là "lại mục dân" (quan cai quản dân). Cứ thế suy rộng ra, thì hoàng đế chính là ông tổ sống lớn nhất. Cho nên danh nghĩa hiện đại hóa "tổ quốc" này, trong thời cổ đại thì gọi là "quân phụ chi bang" (nước của vua và cha). Quân phụ nhất thể, là đối tượng được thần dân tôn kính và phục tùng nhất. Cho nên Mạnh lão phu tử lúc mắng người cũng nói: "Không cha không vua, là cầm thú vậy." Do đó cấu trúc xã hội chính trị Trung Quốc truyền thống chính là bắt đầu từ cái uy quyền nhỏ "cha" này, hình thành một "kim tự tháp quyền lực" nho nhỏ. Sau đó chồng chất lên đài ngọc, các kim tự tháp lớn nhỏ ghép nối từng tầng từng lớp, cho đến hoàng đế. "Bộ máy quốc gia" (state machine) do hoàng đế thao túng chính là kim tự tháp quyền lực lớn nhất. Vạn tuế gia là người gom toàn bộ quyền trách "dạy dỗ, nuôi dưỡng, bảo vệ" của cả nước vào một thân. Chữ "dạy" trong xã hội phương Tây trung cổ là do nhà thờ chia sẻ. Làm hoàng đế Trung Quốc thì là "làm vua, làm thầy", quản lý và giáo dục túm gọn cả hai. Hai quyền chính trị đều là từ trên xuống dưới. Chính quyền trung ương gánh vác mọi trách nhiệm; cũng thực thi mọi quyền lực. Cái gọi là "quốc gia mạnh hơn xã hội", hoàn toàn trái ngược với "xã hội mạnh hơn quốc gia" của các quốc gia dân chủ phương Tây hiện đại. Nay thử đem mối quan hệ giữa "quốc gia" và "công dân" cá thể trong hai mô hình khác nhau này vẽ thành sơ đồ như sau:
6.5 "Tập quyền" không phải là "cực quyền"
Thế nhưng trong Trung Quốc truyền thống, cấu trúc chính trị tuy tập trung quyền lực cao độ ở trung ương (xem hình A) — dùng thuật ngữ hiện đại mà nói, thì gọi là "cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn quốc phục tùng trung ương". Nhưng "tập quyền" (centralization) không phải là "cực quyền" (total power hoặc totalitarianism). Trong hệ thống thống trị "kiểm soát từng tầng" này, các cấp chính quyền nếu đều có thể ra bài theo đúng đạo lý, cũng khá có thể thu được hiệu quả "thả lỏng tay áo mà cai trị" (thủ củng nhi trị). Cho dù tầng cao nhất xuất hiện một "bạo chúa" hoang dâm vô đạo, hắn muốn thông qua các tầng kim tự tháp, một gậy đến cùng, nô dịch nhân dân toàn quốc, cũng cực kỳ không dễ. Bởi vì sự xuất hiện của bạo chúa, bước đầu tiên hắn buộc phải phá hoại pháp thống của chính mình. Pháp thống đã mất, thì máy móc thống trị mất linh, trong đại đế quốc mà giao thông và thông tin đều khá nguyên thủy đó, chơi trò "chủ nghĩa bạo chúa phương Đông" (oriental despotism), cũng là điều thế lực không cho phép.
Trên thực tế, trong lịch sử chính trị Trung Quốc hơn hai nghìn năm, ngoài Tần Thủy Hoàng, Mao Trạch Đông ra, cũng không tìm được vị "bạo chúa phương Đông" thứ ba chết ở đời thứ hai. Cho nên những người dân nghèo khổ sinh sống ở tầng đáy của kim tự tháp quyền lực này, mặt trời mọc thì đi làm, mặt trời lặn thì nghỉ ngơi, trời cao hoàng đế ở xa, cũng khá có thể tự tìm lấy niềm vui "dân chủ ăn mày" (beggar democracy). Thế nhưng "nhân quyền cơ bản", "tự do bình đẳng" của những người "ăn mày" lại đi đâu mà tìm? Những khái niệm hiện đại này, bạn tôi ơi! Vốn dĩ đều là trò "tự do hóa giai cấp tư sản" phương Tây hiện đại mà thôi! Ở cái Trung Quốc đế chế hoàn toàn không tồn tại "giai cấp tư sản" đó, những chế độ và thói quen phong tục phớt lờ nhân quyền, tước đoạt tự do như quân quyền, phụ quyền, phu quyền, chế độ cưới xin mù quáng, chế độ đa thê v.v., vốn dĩ đều được "đạo đức vốn có" của chúng ta thừa nhận mà thôi! Sinh làm người Trung Quốc thời đại đó, có ai lại cảm thấy "thiên hạ có cha mẹ nào sai" đâu? Nhà thơ Hồ Thích nói rất hay: "Không cảm thấy không tự do, thì cũng là tự do rồi." Điều này giống hệt như câu nói của công dân Mỹ ngày nay "Không cảm thấy quá tự do, chỉ thấy tự do là tốt", chính là hai mặt của một đồng xu vậy! Trên thực tế, tác hại của "tự do không có tiết chế" thực ra lớn hơn rất nhiều so với "sự không tự do lành mạnh" (nhấn mạnh hai chữ lành mạnh)! Khách du lịch đang đứng trong núi Lư Sơn, làm sao có thể nhận ra toàn cảnh của nó được chứ!
Cho nên nhìn từ lịch sử so sánh, "chế độ gia trưởng" tuân theo quy tắc cũ tông pháp này của chúng ta, trong thế giới thời trung cổ, không chỉ là một "chế độ khả thi", thậm chí còn là một "chế độ tương đối tốt" nữa cơ!
Khổng tử nói: "Dân khả sử do chi, bất khả sử tri chi" (Dân có thể khiến họ theo đuổi, chứ không thể khiến họ hiểu rõ). Nước Đức thời đại Bismarck thực thi "chủ nghĩa phụ đạo" (paternalism), chẳng phải cũng giống như vậy sao? Friedrich Đại đế nói: "Ta mưu cầu phúc lợi cho nhân dân, nhưng không nhất thiết phải để nhân dân biết đâu!" Điều này với triết lý chính trị của Khổng Phu Tử chúng ta, chẳng phải là ăn nhịp với nhau hoàn toàn hay sao? Chế độ gia trưởng của chúng ta vẫn kéo dài cho đến tận ngày nay, ban đầu không vì các cuộc cách mạng qua các thời kỳ mà có sự thay đổi. Trên thực tế, vấn đề tồn tại ở Đài Loan ngày nay, có lẽ chính là vì thiếu đi một vị gia trưởng mà thôi! Thế nhưng tác phong của Tổng thống Lý Đăng Huy ngày nay, dường như có ý định tái thiết chế độ này.
Chính vì mô hình chính trị theo đạo Khổng Mạnh của chúng ta khỏe mạnh trường thọ, tương đối hợp tình hợp lý. Dân tộc chúng ta an phận với lối sống này đã hơn hai nghìn năm, một khi muốn dùng rợ thay Trung Hoa, đảo lộn gốc ngọn, sự gian nan muôn phần, đau đớn khôn cùng, tự nhiên là chuyện trong dự kiến. Nhưng tại sao chúng ta nhất định phải đổi Trung Hoa theo rợ? Đó chính là vì trung cổ suy cho cùng cũng là trung cổ; "chế độ tương đối tốt" của thời đại đó, kéo dài cho đến ngày nay đã phần lớn không còn thích hợp nữa, chúng ta hiện nay muốn mở ra lối đi riêng, thì đành phải học theo phương Tây, thay đổi dây cung gảy lại từ đầu thôi.
6.6 "Chủ nghĩa cá nhân lành mạnh"
Trong các quốc gia dân chủ hiện đại, nền tảng của xã hội được xây dựng trên "chủ nghĩa cá nhân lành mạnh" của một công dân. Mối quan hệ giữa công dân cá thể với các cấp chính quyền, và với mối quan hệ giữa các cấp chính quyền với nhau, đều là mối quan hệ hợp đồng song phương (xem hình B), chính phủ không còn là gia trưởng. Nó là "cơ quan dịch vụ" (service agency) nghe lệnh của nhân dân, quan lại là "công bộc" (public servant). Cứ thế này, nó và chế độ gia trưởng truyền thống của chúng ta, hoàn toàn đi ngược lại nhau.
Thế nhưng chế độ ngoại lai này chưa chắc đã tốt hơn chế độ gia trưởng nội địa của chúng ta. Nếu nó đi đúng con đường như các quốc gia nói tiếng Anh ngày nay, thì chính phủ chính là cơ quan phục vụ nhân dân; nếu quyền lực bị lạm dụng, thì toàn thể quốc dân, đều sẽ trở thành đối tượng cá thể của sự chuyên chính độc phu. Rousseau nói: "Trước bạo chúa, mọi người đều bình đẳng." (Before a despot everyone is equal.) chính là ám chỉ tình huống này. Đến lúc đó, trời không cao, hoàng đế cũng ở xa, thì dân chúng sẽ không còn một ai sống sót. Ba nước Đức Ý Nhật trước chiến tranh cộng thêm nước Nga của Stalin, Mao Trạch Đông và đám Hồng Vệ Binh của ông sau chiến tranh, chính là kết quả của việc chơi trò với ngọn lửa tẩu hỏa nhập ma từ cái chế độ ngoại lai vẽ hổ không thành này. Đài Loan những năm 90 lột xác từ chế độ gia trưởng sang hướng một chế độ ngoại lai "xã hội trọng hơn quốc gia", hy vọng các nhà lãnh đạo chính trị trẻ tuổi của họ nhẫn nhịn vì đại cục quốc gia. Đừng có vẽ hổ không thành, rồi mê muội lạc mất phương hướng thì mới tốt.
Chế độ gia trưởng dưới truyền thống xã hội tông pháp được nói đến ở trên chỉ là một trong những đặc điểm của thời đại đế quốc của chúng ta cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn "lột xác" sạch sẽ. Nhưng đặc điểm này không phải tồn tại một cách cô lập. Nó phối hợp vận hành tương hỗ với chế độ kinh tế nông nghiệp vốn có của nước ta. Hai người bọn họ vốn dĩ là một cặp "anh em sinh đôi dính liền" (Siamese twins). Cùng sinh cùng tử với nhau, không thể tách rời. Trên thực tế sự mất cân đối chính trị kinh tế của ĐCSTQ trên đại lục ngày nay, chính là đang muốn bỏ anh giữ em giữa hai người anh em này, cho nên mới lắm mâu thuẫn chồng chất.
6.7 Di chứng của việc trọng nông khinh thương
Tuy nhiên nói đi cũng phải nói lại, chế độ kinh tế lấy nông nghiệp lập quốc vốn có của chúng ta, cũng không phải là chế độ tồi tệ gì. Ngược lại, nó vốn dĩ là một "chế độ tương đối tốt" (better system) được thiết kế tinh vi trong lịch sử loài người, thực thi hai nghìn năm mà có hiệu nghiệm thực tế đấy!
Phải biết rằng thời đại phong kiến Trung Quốc, vốn dĩ giống như châu Âu, đất đai thuộc sở hữu nhà nước. Thế nhưng sau khi chế độ phong kiến sụp đổ, kinh tế châu Âu nhanh chóng bước lên "chủ nghĩa trọng thương" (mercantilism). Mà chúng ta lại chầm chậm bước lên "chủ nghĩa trọng nông".
Chủ nghĩa trọng thương vốn dĩ dưới điều kiện khách quan xã hội mạnh hơn quốc gia, không chịu sự chi phối của ý chí con người mà tự nhiên trưởng thành. Nó quả thực là một sản phẩm "hiện thực khách quan" (objective reality) (như Marx đã tưởng tượng).
Thế nhưng "chủ nghĩa trọng nông" của chúng ta, lại là một chế độ "thiết kế chủ quan" (subjective planning) từ đầu đến cuối. Nói một cách cụ thể hơn, nó là kết quả do chính phủ chủ động tiến hành "cải cách ruộng đất" trong tình huống quốc gia mạnh hơn xã hội, là do ý chí chủ quan tạo ra. Tấn Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, "phế giền điền, mở bờ ruộng" chính là cuộc "cải cách ruộng đất" lớn lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Chính phủ vì để giải phóng lực lượng sản xuất của các hộ cá thể nông thôn, bèn đem chế độ ruộng công (giền điền) phế bỏ đi. Đổi nông nghiệp thành tư doanh — đây chính là nội dung chính trong việc Đặng Tiểu Bình vứt bỏ cải cách ruộng đất theo kiểu Mao trong những năm gần đây.
Sau thời nhà Tần, ruộng đât đã biến thành hàng hóa, có thể do nhân dân tự do mua bán. Chế độ kinh tế tự do nông thôn này, thực thi ở Trung Quốc hai nghìn năm, không có sự biến chất quá lớn. Cho đến năm 1949 sau Công nguyên, sau khi chính quyền ĐCSTQ thành lập, mới bị Mao Trạch Đông đảo ngược lại.
[Chú thích] Cải cách ruộng đất của Mao Trạch Đông, đổi ruộng tư thành ruộng công, cũng là sản phẩm của ý chí chủ quan. Nói về mặt chế độ, thực ra là khôi phục chế độ sản xuất phong kiến thời Tiên Tần, cho nên cuối cùng không thể thực thi được. Vương Mang cũng là chơi chế độ sản xuất phong kiến, cái gọi là "khôi phục giền điền", cuối cùng mất cả đầu.
Dùng ý chí chủ quan để thiết lập chế độ ruộng đất, Nho Pháp hai nhà thời cổ đại vốn dĩ là một nhà. Sau khi nhà Hán kế thừa chế độ nhà Tần, chính quyền của Nho gia, đem chính sách "trọng nông khinh thương" vốn có của Pháp gia, tiếp tục đẩy lên đỉnh cao nhất. Giai cấp thương nhân bị chính phủ kỳ thị nghiêm trọng. Chính sách "khinh thương" đi ngược lại với phương Tây này của nước ta, sau đó lại đi sâu vào lòng người, trải qua hai nghìn năm mà không hề thay đổi chút nào. Thương nhân đã bị một chính quyền hùng mạnh trấn áp rồi, cái "giai cấp trung lưu thành thị" (urban middle class) đóng vai trò là lực lượng chủ lực cho sự phát triển kinh tế hiện đại đó trong lịch sử Trung Quốc liền không thể xuất hiện được. Thiếu đi giai cấp trung lưu thành thị, Trung Quốc liền không thể sản sinh ra "chủ nghĩa trọng thương" và "cách mạng công nghiệp" (Industrial Revolution). Không có cách mạng công nghiệp và "sản xuất quy mô lớn" (mass production) đi kèm với nó, thì chúng ta đành an phận thủ thường giữ gìn một đại đế quốc nông nghiệp nửa đói nửa no, vĩnh viễn không muốn phát sản làm giàu nữa. Toàn thể nhân dân đều sinh tồn trên bờ vực nghèo lớn nghèo nhỏ, nếu lại cộng thêm dân số mất kiểm soát như thời kỳ cuối nhà Thanh thì đúng là nghèo ráo hoảnh — rất may hiện tượng dư thừa dân số của nước ta, chỉ xảy ra sau thời Càn Long nhà Thanh.
Những điều được mô tả ở trên chính là thực trạng chính trị kinh tế được kế thừa từ truyền thống cổ xưa trong thời kỳ cuối nhà Thanh của nước ta. Tình hình thực tế này, cũng do sự phối hợp hoàn hảo không tì vết của chế độ chính trị kinh tế truyền thống tạo ra. Thế nhưng nhìn từ thành tích tổng hợp tích lũy của văn hóa loài người, thể chế này vốn dĩ không có quá nhiều điểm xấu. Ngược lại, nền văn minh trung cổ độc bộ thế giới của chúng ta, chính là do thể chế chính trị kinh tế này thai nghén ra.
Thế nhưng đã có truyền thống ưu tú như vậy, tại sao vào thời kỳ cuối nhà Thanh — "văn minh vốn có" lúc đó chẳng phải còn nhiều hơn bây giờ một chút sao? — chúng ta lại thể hiện ra cái vẻ vô tích sự đến thế? Kết quả dẫn đến việc những "thanh niên mới" đồng thanh hô hào đánh đổ, suýt chút nữa phủ nhận sạch trơn "văn minh vốn có". Mà bốn mươi năm gần đây, chúng ta lại vì sao thể hiện sự bạo ngược vô tri đến thế, còn phải làm phiền lão nhân gia "Nữ thần Dân chủ", vượt biển Đông sang, phổ độ chúng sinh chứ?
Đối với việc này, câu trả lời tổng hợp của chúng ta, trọng điểm có lẽ có mấy điểm. Một trong số đó chính là vấn đề xung đột văn hóa Trung - Tây được nói đến ở tiết trước. "Trung cổ" có lẽ là của chúng ta; nhưng "hiện đại" thì tuyệt đối là của người ta. Hãy lật xem sách giáo khoa tiểu trung học của chúng ta ngày nay; hãy nghĩ về ăn mặc ở đi lại hằng ngày của chúng ta, có bao nhiêu phần trăm là thuộc về "văn minh vốn có" của chúng ta chứ? — Này huynh đài, toàn là hàng ngoại cả đấy!
Tóm lại một câu, chế độ chính trị kinh tế truyền thống của chúng ta (dù tốt hay xấu), không thể thích ứng với nhu cầu Tây hóa hiện đại. Không thích ứng nổi, thì nó sẽ biến thành gánh nặng để chúng ta mưu cầu cái mới, là vật cản đường cho sự hiện đại hóa. Hán tử chuyên nói chuyện dũng mãnh thuở xưa, thì sẽ vô cùng vô tích sự. Hãy nhìn Thiên vương Hồng Tú Càn của chúng ta, bệ hạ một mặt muốn giữ lại chế độ đa thê trong văn minh vốn có, một mặt lại muốn tôn sùng tôn giáo Cơ Đốc chỉ cho phép có một vợ, cho nên đã bị Mục sư Roberts tẩy chay, khiến cho thân chết nước mất.
6.8 Tính chu kỳ của bộ máy nhà nước truyền thống
Hơn nữa, cho dù một dân tộc cổ xưa, họ có dũng khí buông bỏ gánh nặng truyền thống để mưu cầu cái mới thay đổi, họ còn phải có một bộ máy hành chính có hiệu suất để thúc đẩy việc này. Đáng tiếc là bộ máy nhà nước lớn thời cuối nhà Thanh của chúng ta, cũng đã đến mức gỉ sét tơi tả, đáng lẽ phải đem đi phế thải rồi — nó không gánh vác nổi trọng trách lớn lao trời giáng này.
Các nhà khoa học bảo chúng ta rằng, sự kết hợp đoàn thể của bất kỳ loài động vật bầy đàn nào, giữa sự sinh diệt thịnh suy đều có tính chu kỳ của nó. Phản ánh điều này trong lịch sử truyền thống, các nhà sử học thì gọi nó là "trị loạn, phân hợp"; các nhà âm dương gia thì gọi nó là "khí số"; các nhà Hán học phương Tây thì gọi nó là "chu kỳ triều đại" (dynastic cycles). Nhưng bất kể gọi là gì, bộ máy nhà nước "chế độ quan văn tập trung quyền lực" cộng với "kinh tế nông nghiệp" của chúng ta đó, cũng có tính chu kỳ vận hành không dời đổi theo ý chí con người. Sự thật lịch sử chính trị các triều đại sau Tây Hán đã cảnh cáo chúng ta, thời hạn vận hành hiệu quả của bộ máy lớn này không thể vượt quá hai năm trăm. (Nhìn theo tiêu chuẩn thế giới, hai trăm năm một chu kỳ, tính là không dài nhất, nhưng cũng tính là đủ dài rồi.) Quá thời hạn này, chính là lúc phế thải đổi mới rồi.
Những kẻ thống trị người Mãn Châu vào làm chủ Trung Quốc vào năm 1644 sau Công nguyên, đến khi ký kết "Hiệp ước Nam Kinh" năm 1842, đã tròn một chu kỳ. Đến lúc này bộ máy nhà nước thống trị mô phỏng cải tạo lại từ nhà Hán của họ, cũng đã đến lúc gỉ sét phế thải rồi, không gánh nổi trọng trách đi được xa nữa.
Chúng ta thử nhắm mắt trầm ngâm suy nghĩ, nếu "Chiến tranh Nha phiến" và các quốc nhục quốc nạn khác, đều xảy ra vào thời kỳ đỉnh cao của ba triều đại Khang, Ung, Càn, thì kết quả của nó sẽ ra sao nữa? Đây cũng là vận mệnh quốc gia của chúng ta đưa đẩy chăng? Những quốc nạn quốc nhục này, lại xảy ra vào thời kỳ đỉnh cao của "chủ nghĩa bành trướng châu Âu" (European expansionism) (dựa theo chu kỳ của họ), cũng vừa vặn lúc chu kỳ vận mệnh quốc gia của Đại Thanh đế quốc bắt đầu suy kiệt. Giữa sự đối chọi thịnh suy này, thì tạo hóa của triều đình nhà Thanh ra sao, cũng không cần phải bói toán mới biết được.
Cho nên các nhà sử học cận đại nước ta mỗi khi thích chê bai quan lại ngoại giao triều Thanh là lờ đờ ra sao, ngu muội ra sao, mà hạ thần đọc sách lịch sử mấy chục năm, thì không cho là như vậy.
Giả sử đem những người "xuất thân khoa giáp" thời nhà Thanh như Lâm, Tăng (Quốc Phiên), Tả (Tông Đường), Lý (Hồng Chương), Tráng (Chi Đôn), Lưu (Côn Nhất), Thẩm (Bảo Trinh) cho đến Cung vương Dịch Hân v.v., so với đám cao cán các đảng phái Quốc, Cộng, Dân, Thanh, Dân minh, Dân tiến sau này, sự chênh lệch ưu liệt giữa họ, há phải chờ kẻ múa mép cầm thẻ tre như ta đây bàn dài nói lắm sao? Chỉ là khí số Đại Thanh đế quốc sắp tận, chu kỳ phế thải của bộ máy thống trị đã đến, khéo ăn khéo ở cũng không thể nấu thành cơm khi không có gạo, nước không ra nước há có thể đổ hết trách nhiệm lên đầu những người lái xe và thợ bảo trì được chứ!
6.9 "Tây hóa", "hiện đại hóa" và "tính giai đoạn"
Tổng hợp sự luận giải của các tiết trên trong bài này, nói một cách ngắn gọn, chúng ta có lẽ có thể nói, một bộ lịch sử cận đại Trung Quốc chính là một "lịch sử chuyển hóa" (history of transformation) từ "Trung Quốc truyền thống" chuyển sang "phương Tây hiện đại". Quá trình chuyển hóa này, các nhà sử học thời kỳ đầu, gọi nó là "Tây hóa". Các học giả hiện nay thì đổi gọi là "hiện đại hóa". Kỳ thực ranh giới của hai khái niệm này thực sự không dễ phân định, tuy nhiên loài người suy cho cùng cũng là động vật có "cảm quan lịch sử" (sense of history). Lịch sử thường cũng là công cụ tốt nhất để giải thích cuộc chiến tranh giành khái niệm.
Hãy lấy việc đánh răng trong đời sống hiện đại của chúng ta làm ví dụ đi! Thói quen vệ sinh "đánh răng" này, được truyền từ phương Tây sang. Nó ở Trung Quốc thế kỷ 19, đại khái có thể gọi là "Tây hóa" hoặc "Âu hóa" rồi. Thế nhưng đánh răng trong đời sống đô thị Trung Quốc ngày nay lại trở thành một phần không thể thiếu, thì chúng ta chỉ có thể xếp nó vào phạm trù "hiện đại hóa" mà thôi. Nghe nói Mao Trạch Đông không có thói quen đánh răng. Điều này có lẽ do bối cảnh nông thôn và cá tính nổi loạn của ông khi còn trẻ tạo nên. Mao Trạch Đông thời trẻ phản đối "sùng ngoại nịnh bái", cho nên đã từ chối thói quen "Tây hóa" này (Mao thị cũng chưa từng mặc "âu phục" suốt cả đời). Cho nên khi về già ông vào ở trong đô thị, sinh sống không đủ "hiện đại hóa" nên bị vợ mắng là "quá nhà quê".
Đời tư của Mao Trạch Đông, chỉ là chuyện nhỏ thôi. Thế nhưng, bạn tôi ơi, nhìn một phát hiện ra mầm mống chứ! "Quy tắc vi mô" xã hội học này lại có thể giúp chúng ta giải quyết vô số vấn đề lớn đấy!
Thế nhưng bất kể là "Tây hóa" hay "hiện đại hóa", sự chuyển hóa này trong lịch sử cận đại của chúng ta, hầu như mười năm đổi thay một lần, tầng lớp phân minh. Nó tồn tại "tính giai đoạn" hết sức đậm đặc. Chúng ta nếu từ quan điểm lịch sử kinh tế xã hội, thử nhìn lại lịch sử Trung Quốc truyền thống trước Chiến tranh Nha phiến, thì hầu như ngàn năm không đổi.
Từ một cuốn "lịch sử tĩnh" ngàn năm không đổi, đột nhiên tiếp nối sang một cuốn "lịch sử động" mười năm đổi thay một lần, thì sự chao đảo của Trung Quốc cận đại cũng có thể tưởng tượng được. Tuy nhiên sự chao đảo này của chúng ta không phải là hỗn loạn không theo quy củ. Nó từ "Tây hóa" bước vào "hiện đại hóa", đi từng bước một theo bài bản, tầng lớp phân minh.
Vừa nãy đã nói rồi, văn minh vốn có của chúng ta vốn dĩ là văn minh "ba tự" tự cấp, tự túc, tự mãn. Nó ở giai đoạn "hiện đại" đột nhiên động đậy mạnh mẽ, thực chất là bắt đầu từ "Chiến tranh Nha phiến". Trong cuộc chiến tranh này chúng ta nếm mùi khổ sở từ bọn phương Tây, cho nên mới mày mò làm "việc tây" (lúc đó gọi là "việc di"). Cách cũ đối phó với ngoại tộc của chúng ta xưa nay là "lấy rợ trị rợ". Lúc Chiến tranh Nha phiến, chúng ta bị thuyền kiên pháo lợi của người rợ đánh bại. Sau chiến tranh đau đớn nghiệm lại, "chuyên gia việc di" đầu tiên của chúng ta là Ngụy Nguyên bèn nghĩ đến chuyện "học kỹ thuật tiên tiến của người rợ để trị người rợ" (xem lời tựa cuốn "Hải quốc đồ chí" do Ngụy sáng tác). Điều này liền bắt đầu bước đầu tiên "hiện đại hóa khoa học kỹ thuật" của chúng ta — cũng chính là một trong "bốn hiện đại hóa" mà Đặng Tiểu Bình muốn làm ngày nay.
Nói thật lòng, những nhân vật phái mới trong thế kỷ trước của chúng ta làm "bốn hiện đại hóa" quả thực là có thanh có sắc. Giữa thập niên 90, "Hạm đội Bắc Dương" của Lý Hồng Chương thế mà lại là một trong bảy hải quân lớn trên thế giới, vượt xa hải quân Nhật Bản mới nổi. Đáng tiếc là một trận Giáp Ngọ, đuôi chồn lộ sạch. Những kẻ có thức từ đó về sau không bao giờ làm "bốn hiện đại hóa" nữa, bởi vì họ biết rằng, vấn đề căn bản của Đại Thanh đế quốc không nằm ở bốn hóa mà nằm ở hóa thứ năm — "hiện đại hóa chính trị". Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu do đó đã làm "quân chủ lập hiến". Hai thầy trò họ cho rằng ngay cả hoàng đế cũng phải "Tây hóa" một chút. Người đồng hương Quảng Đông của họ là Tôn Trung Sơn thì cho rằng muốn làm hiện đại hóa chính trị thì phải làm triệt để. Ông chủ trương "xây dựng Dân Quốc", thẳng thừng hất cẳng hoàng đế đi, để bầu ra một vị "President" (Tổng thống).
Khang Lương thất bại. Tôn tiên sinh thành công, và đắc cử vị "President" đầu tiên trong lịch sử năm nghìn năm của Trung Hoa. Nhưng Tôn President lại không giải quyết được vấn đề, theo sau ông ta chính là cục diện quân phiệt hỗn chiến, giặc giái xâm lấn. Chính trị quốc gia dân sinh ngược lại còn kém xa thời kỳ cuối của Đại Thanh đế quốc nữa. Điều này lại rước thêm một nhóm "những kẻ có thức" như Hồ Thích chi đến để suy nghĩ lại.
Hồ Thích chi bọn họ cho rằng khoa học kỹ thuật (thuyền kiên pháo lợi) chỉ là chuyện phụ, chính trị kinh tế cũng chỉ là chuyện phụ. Quan trọng là toàn bộ hệ thống văn hóa của chúng ta đã mắc bệnh hiểm nghèo, không lột xác triệt để thì không thể thành công. Đây chính là nền tảng lý luận cho "thuyết toàn bàn Tây hóa" của họ. Muốn vứt bỏ toàn bộ "văn hóa vốn có" mà thúc đẩy "toàn bàn Tây hóa", cứ thế họ cũng đẩy vận động "Tây hóa" lên đỉnh cao nhất. Thế nhưng quá trình "chuyển hóa" từ Ngụy Nguyên đến Hồ Thích này cứ từng nấc vươn cao, tầng lớp phân minh, "tính giai đoạn" là vô cùng đậm đặc.
Trung Quốc sau "Vận động Ngũ Tứ" mặc dù thuộc về một đại thời đại khác, nhưng quỹ tích biến đổi của nó, giai đoạn phân minh, về cơ bản là không khác gì so với giai đoạn trước.
Tóm lại, bộ lịch sử cận đại Trung Quốc đầy gian khổ mà quang huy của chúng ta, dưới sự thúc đẩy hợp lực của toàn dân tộc, lúc nào cũng thay đổi, chỗ nào cũng thay đổi. Tiến trình của nó tuy khó tránh khỏi vòng vèo khúc khuỷu, lật đật ngược xuôi, nhưng sự mày mò của nó, cuối cùng rồi cũng sẽ tìm được một lối ra an toàn và viên mãn. Lối ra là gì, một nước Dân Quốc trị an lâu dài, danh xứng với thực, giống như Dân Quốc được nói đến ở đầu bài. Ngữ có câu: "Cùng tắc biến, biến tắc thông." Cho nên chỉ cần chúng ta không ngừng mày mò, cuối cùng ắt sẽ có đại đạo để "thông". Nhìn theo cục diện hai bờ eo biển những năm gần đây, ngày "thông" này, dường như không còn quá xa nữa, chúng ta hãy chờ xem!