Những người bạn có hứng thú với thư mục học cận đại và hiện đại Trung Quốc của chúng tôi đại khái đều không phủ nhận một hiện tượng, đó chính là khâu yếu nhất của người Trung Quốc khi dùng Hán văn để nghiên cứu lịch sử nước nhà, lại chính là lịch sử ngoại giao Trung Quốc cận đại. Bản thân người viết thậm chí còn từng không biết nặng nhẹ mà lớn tiếng phán rằng: Nếu bàn về thành tựu trong lĩnh vực lịch sử ngoại giao, trong các trước tác tiếng Trung, quả thực không tìm được một cuốn sách nào ra hồn để đọc. Dù đây là lời nói bừa mang tính cá nhân, vốn kém học thức lại hay ăn nói hàm hồ giống như một kẻ phái hữu, ví như cuốn sách mới "Vãn Thanh thương ước ngoại giao" của người bạn vong niên mấy chục năm qua - Giáo sư Vương Nhĩ Võ Mẫn - quả thực là một cuốn sách cực kỳ đáng đọc, nhưng câu nói cửa miệng ấy của tại hạ cũng xuất phát từ kinh nghiệm giảng dạy bao nhiêu năm ở trong và ngoài nước, là cảm xúc chân thật phát từ đáy lòng.
Bởi vì trong các thư mục tham khảo (syllabus) khi chúng tôi giảng dạy lịch sử ngoại giao Trung Quốc (nhất là lịch sử ngoại giao Trung - Anh, Trung - Mỹ), hoặc các môn học loại như lịch sử quan hệ quốc tế Đông Á tại các trường đại học nước ngoài, đôi khi vì lòng tự tôn văn hóa thúc đẩy, thực sự rất muốn đưa vào một số "tác phẩm tiếng Trung" để làm rạng danh môn mi hộ, thế nhưng đôi khi ngoài một số sách tư liệu ra, những tác phẩm tiếng Trung được miễn cưỡng đưa vào thực sự đi ngược lại với nguyện vọng. Nguyên nhân chính là, khi bạn đặt những cuốn mục được chọn một cách miễn cưỡng ấy sánh ngang với các mục sách tiếng Tây cùng loại, công lực và trình độ giữa hai bên hoàn toàn không thể đặt lên bàn cân để so sánh.
Hãy thử nói về lịch sử ngoại giao cuối nhà Thanh đi, có "tác phẩm tiếng Trung" nào khi đặt lên so sánh với bộ ba tập "Lịch sử quan hệ quốc tế Đại Thanh" của Morse mà không phải là một đứa trẻ con chứ?
Lại nói về học trò của Morse là Fairbank nhé, dưới ngọn cờ lớn của họ Fairbank, chỉ riêng đại học Harvard đã cho ra đời mấy chục tác phẩm cụ thể mà nhỏ gọn tương tự. Không bàn đến quan điểm, chỉ so sánh từ công lực và trình độ nghiên cứu học thuật, trong các "tác phẩm tiếng Trung" cho đến nay vẫn chưa tìm được mấy cuốn trước tác lớn có thể sánh ngang với họ. Đem ra so sánh như vậy, nếu chúng ta muốn học phái Cambridge không xưng vương xưng bá trong lĩnh vực lịch sử ngoại giao cuối nhà Thanh này, há lại là chuyện có thể sao? Ở đây còn muốn mạnh dạn chen vào một câu, trong học phái Cambridge này, dẫu là quan điểm do các học giả gốc Á nắm giữ, thì đó cũng là quan điểm của Fairbank. Dẫu rằng sau khi họ Fairbank qua đời, quan điểm này đã dần phai nhạt.
Nếu hỏi, trong lĩnh vực này, khoảng cách giữa các trước tác bằng hai thứ tiếng Trung và Anh sao lại lớn đến vậy? Câu trả lời của người viết lại phải quay về "chủ nghĩa" cũ của cá nhân mình. Trước hết, đây là vấn đề chuyển đổi lịch sử. Chuyển đổi học thuật vốn là một bộ phận của chuyển đổi xã hội; mà chuyển đổi của sử học lại là một bộ phận của chuyển đổi học thuật. Lịch sử ngoại giao lại càng khỏi phải nói, vốn dĩ là một bộ phận của sử học. Chúng ta phải biết rằng, học vấn trong lĩnh vực lịch sử ngoại giao và lịch sử quan hệ quốc tế trong sử học truyền thống của nước ta, trong cái gọi là lục gia nhị thể, chưa từng trở thành một chuyên ngành thực thụ. Nhất là môn luật quốc tế mà tất cả các nhà ngoại giao đều nên có một số tu dưỡng nhất định, nó cũng giống như toàn bộ phái Pháp gia truyền thống của chúng ta, sự phát triển chưa từng trưởng thành trọn vẹn. Trong lịch sử học thuật Trung Quốc, nó giống như một nụ hoa, hoa chưa nở rộ đã tàn úa. Tại sao lại như vậy? Đó không phải là điều có thể nói rõ chỉ trong vài ba câu. Mục sau sẽ lược thuật lại điều này.
Hơn nữa, người viết khi bàn về sử học so sánh, đặc biệt là khi bàn về văn học so sánh và nghệ thuật so sánh, luôn thích khuyên những người bạn làm "nghiên cứu so sánh" rằng, so sánh phải phân chia "giai đoạn". Phải lấy cổ đại so với cổ đại, trung cổ so với trung cổ, hiện đại so với hiện đại, thì mới thấy được cao thấp. Không thể đánh đồng nói rằng âm nhạc Trung Quốc không bằng âm nhạc phương Tây, thơ ca Trung Quốc không bằng thơ ca phương Tây, hay tiểu thuyết Trung Quốc không bằng tiểu thuyết phương Tây... Bạn chỉ có thể nói âm nhạc Trung Quốc hiện đại thua xa âm nhạc phương Tây hiện đại. Bạn tuyệt đối không thể nói âm nhạc thời Đường của Trung Quốc không bằng âm nhạc châu Âu thời kỳ Trung cổ. Cho nên chúng ta bàn về lịch sư quan hệ quốc tế, thậm chí là học vấn về luật quốc tế cũng tương tự như vậy. Trong Trung Quốc truyền thống, chúng ta đã tụt hậu so với phương Tây trong chuyên ngành này, tụt hậu đến mức gần như không còn gì, thế nhưng sự phát triển của nó trong thời kỳ Tiền Tần lại từng có rất nhiều điều để nói, thậm chí còn đạt được những thành tựu cao hơn nữa! Chúng ta thử đọc lại các sách cổ của nước ta như "Tả Truyện", "Quốc Ngữ", "Quốc Sách", cho đến "Án Tử", "Quản Tử", thì sẽ biết thành tựu của chúng ta không hề thua kém phương Tây. Thế nhưng sau đời Tần Hán thì không còn đủ để nhìn nữa. Xin hãy nêu vài ví dụ nhỏ:
3.1 Sự nảy mầm của công pháp quốc tế cổ đại nước ta
Vào thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc, nhà ngoại giao lão luyện Quản Trọng của nước ta (?-645 TCN), đóng vai trò như Chu Ân Lai của nước Tề, với tư cách là Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao, phò tá Tề Hoàn Công đánh thiên hạ, thực hiện "Cửu hợp chư hầu, nhất khuông thiên hạ" (chẳng phải chính là những gì nước Mỹ đang làm ngày nay sao?). Để duy trì hòa bình quốc tế thời bấy giờ, vào năm 651 TCN, tại Quỳ Khâu nước Tề (nay là huyện Lâm Truy, tỉnh Sơn Đông), Quản Trọng đã triệu tập một hội nghị quốc tế và ký kết một hiệp ước quốc tế gọi là "Minh ước Quỳ Khâu". (Nếu hiệp ước này được ký kết vào thế kỷ XX, Chu Ân Lai hiển nhiên sẽ chọn Geneva hoặc Bandung). Trong "Hiệp ước Quỳ Khâu" này, các cường quốc lúc bấy giờ, dưới sự thao túng của nước Tề (vị trí tương đương với nước Mỹ già ngày nay), đã cắt máu ăn thề, tuyên bố cùng tuân thủ các điều khoản đã ký kết, những điều khoản này đương nhiên cũng trở thành luật công quốc tế của năm đó. Nguyên văn điều khoản được công bố với quốc tế dưới danh nghĩa "Chu Thiên tử" lúc bấy giờ chỉ có tiếng mà không có miếng (tức là danh nghĩa của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc ngày nay). Nội dung của hiệp ước là:
Không được ngăn chặn nguồn nước, không được tích trữ lương thực, không được phế lập thái tử, không được lấy thê thiếp làm vợ chính, không được để phụ nữ tham gia chính sự. (Xem "Xuân Thu Cốc Lương Truyện", năm Hy Công thứ chín)
Công ước quốc tế thời cổ đại này của nước ta, đại khái cũng có thể gọi là "Công ước ngũ vô" hoặc "Công ước ngũ cấm"! Ngày nay đọc lên tuy thấy buồn cười, các nhà nữ quyền hiện đại đọc lại càng muốn tức giận dựng tóc gáy, thế nhưng đây lại là hiệp ước quốc tế phù hợp nhất với nhu cầu thực tế lúc bấy giờ. (Hãy nhìn vào các hiệp ước như "cấm hạt nhân", "cấm ma túy", "cấm vũ khí" (vũ khí hóa học) v.v., ba cấm, năm cấm do Mỹ dẫn đầu tiến hành trong Liên Hợp Quốc ngày nay, thì có thể biết được tầm quan trọng của nó).
Vào thế kỷ thứ VII TCN tại lưu vực sông Hoàng Hà, sông Hoài và sông Trường Giang, các nước nhỏ rất nhiều. Một con sông chảy qua mấy nước. Nếu quốc gia thượng nguồn xây đập trữ nước, quốc gia hạ nguồn sẽ phải chịu hạn hán, cho nên không được "ngăn suối" (chặn dòng, xây đập, hoặc tạo hồ chứa nước). Trong thời kỳ nạn đói thiếu lương thực, các nước càng không cho phép đầu cơ tích trữ, tức là điều gọi là "không tích trữ lương thực".
Điều "không phế lập thái tử" này cũng rất quan trọng. Do truyền thống lâu đời về việc kết hôn giữa các bộ lạc thời cổ đại, hôn nhân vương tộc trong thời đại phong kiến nước ta đều có bối cảnh quốc tế. Cho đến ngày nay chúng ta vẫn có thành ngữ "hôn nhân Tần Tấn". Ghê gớm thật, Tần và Tấn đều là những cường quốc siêu cấp. Đứa cháu ngoại thiếu gia của hai nhà bọn họ đã làm "thái tử", bạn lại muốn phế bỏ nó, thay thế bằng con của vợ lẽ, há chẳng phải sẽ gây ra tranh chấp quốc tế sao? Vì hòa bình quốc tế, thì thái tử không thể thay đổi được.
3.2 Vợ lẽ tuyệt đối không được làm vợ cả
Câu "Không được lấy thê thiếp làm vợ chính", cũng phải được viết vào hiệp ước quốc tế. Bạn bè ơi, bạn cho rằng đó là trò cười sao? Không phải đâu. Không những thời đó là chuyện lớn liên quan đến hòa bình thế giới, mà ngay cả ngày nay, tiểu tam cũng không thể thay thế được chính thất đâu! Không tin, nếu bạn thử tưởng tượng Tổng thống Mỹ Bill Clinton, ngày nay muốn ly hôn với Hillary, rồi đưa Monica S. Lewinsky lên làm Đệ nhất Phu nhân Mỹ, bạn xem thế giới ngày nay sẽ biến thành cái dạng gì? Trước hết, "quan hệ đối tác" giữa Washington và Bắc Kinh, e rằng sẽ rất khó duy trì. Các nhóm chính trị cực hữu trong Quốc hội, nếu nhân cơ hội này muốn phế truất vị tổng thống lăng nhăng này, thì vai trò mà người Mỹ hiện đang thể hiện ở Vịnh Ba Tư và eo biển của chúng ta cũng sẽ thay đổi hoàn toàn.
Việc "lấy vợ lẽ làm vợ chính" vào thời nay còn có thể sinh ra những sơ hở như thế, huống chi là đại lục Đông Á từ hai ngàn năm trăm năm trước? Cho nên họ phải quy định rõ ràng trong hiệp ước quốc tế rằng: các vị nguyên thủ có thể có tam cung lục viện, nhưng không được phép dùng tiểu tam để thay thế chính thất.
[Phụ chú] Ngược lại, có tin đồn rằng Bành Đức Hoài sau khi đánh trận Triều Tiên trở về, lập tức với tư cách là Bộ trưởng Quốc phòng, hạ lệnh giải tán Đoàn văn công Trung Nam Hải, lý do của ông là: "Thời đại nào rồi mà còn có thể lập tam cung lục viện?" Đây chính là Bành Trương Phi, không bằng Quản Trọng thời Xuân Thu. Cần phải biết rằng, Trung Quốc chúng ta từ quân chủ chuyển sang dân chủ, "sự chuyển đổi" này vẫn chưa chuyển cho trọn vẹn! Chủ tịch của chúng ta ít nhất vẫn là nửa ông hoàng, thậm chí là một ông rưỡi đấy! Hoàng đế vẫn còn tồn tại, sao ngài Bành lão tổng lại có thể "vượt cấp" đi bãi bỏ chế độ quan trọng nhất trong thể chế chính trị chuyên chế, cái gọi là tam cung lục viện cơ chứ?... Xin hỏi người đàn ông có quyền lực nào, kể cả Tổng thống Bill Clinton, lại không muốn có tam cung lục viện? Kẻ không làm không phải là không muốn, mà là không thể chứ không phải không làm. Đáng thương thay cho Mãnh Trương Phi không hiểu rõ đạo lý chuyển đổi này. "Bành đại tướng quân" đáng kính đáng yêu ấy của ông, sau này rốt cuộc lại không có một cái kết có hậu, người đọc sử không khỏi đau xót cho ông.
Còn về việc không cho phụ nữ tham gia chính sự, ngày nay mà nói thì rất đi ngược lại với trào lưu. Thế nhưng ngay cả ngày nay, vẫn khó tránh khỏi phải có một điều khoản ngoại lệ! Giống như những người phụ nữ mạnh mẽ ở Đài Loan ngày nay như Lữ Tú Lân và Trần Văn Xuyến, họ sống độc lập tự chủ, thà hy sinh hôn nhân và việc sinh con đẻ cái, chứ nhất định phải làm chính trị. Mỗi người phụ nữ đều có chí hướng riêng, thực sự là khiến người ta phải ngả mũ cúi chào. Thế nhưng nếu có người phụ nữ nào, trước tiên muốn cướp lấy một người chồng mạnh mẽ, rồi sau đó mượn uy thế của chồng để hiệu lệnh chư hầu, mượn oai hùm để hoành hành thiên hạ, giống như Giang Thanh và Diệp Quần (vợ của Lâm Bưu), thì không đáng để làm gương.
Thậm chí ngay cả ở nước Mỹ ngày nay nơi nữ quyền dâng cao, Hillary mang dã tâm lớn cũng không thể muốn làm gì thì làm đối với chính trị, chẳng phải vẫn là do những người trong Quốc hội chán ghét việc bà ta mượn uy thế của chồng để nhúng tay vào chính sự quốc gia đó sao? Phu nhân Clinton ngày nay đối với người chồng lăng nhăng mà không ghen tuông, cũng là vì tiền đồ chính trị của chính mình mà đành ngậm đắng nuốt cay hy sinh trước những kẻ theo chủ nghĩa đại nam nhân trong Quốc hội. Cho nên nhà chính trị lớn và nhà ngoại giao lớn thời cổ đại nước ta là Quản Di Ngô (Trọng), lại đi thúc động Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc lập pháp cấm "phụ nữ tham gia chính sự", thì cũng không lấy gì làm khó hiểu.
3.3 Đại sứ Án Tử không chui cửa chó
Khu vực Tề Lỗ thời cổ đại nước ta, ngoài việc sinh ra một số bậc thánh nhân lỗi lạc, còn sản sinh ra một số nhà chính trị và nhà ngoại giao lỗi lạc. Sau này, Án Tử (tên Anh, tự Bình Trọng, ?-500 TCN) làm tướng nước Tề, cũng là một dạng Chu Ân Lai, vừa làm Tể tướng kiêm Ngoại trưởng, ông thậm chí còn đích thân ra trận làm đại sứ để đáp lễ các nước!
Lúc này nước Tề đã ngày một suy vi, trong khi nước Sở đang trỗi dậy. Đi sứ nước Sở, công việc cũng không dễ làm cho lắm. Trong "Án Tử Xuân Thu" có một câu chuyện nhỏ kể về việc Án Tử đi sứ nước Sở, vì ông cũng giống như Đặng Tiểu Bình, là một người lùn, người Sở muốn sỉ nhục ông nhưng ngược lại lại bị đại sứ Án Tử sỉ nhục, cũng rất đáng để kể lại. Trước tiên chúng ta hãy đọc nguyên văn "cổ Hán ngữ" của ông (các bạn trẻ tuổi, cũng không ngại nhân tiện luyện tập, đọc thử những món đồ cổ gọi là "Chư tử bách gia", thực ra không quá khó đâu!). Nguyên văn "Án Tử" như sau:
Án Tử sứ Sở, Sở nhân dĩ Án Tử đoản, vi tiểu môn ư đại môn chi trắc, nhi diên Án Tử. Án Tử bất nhập, viết: "Sử cẩu quốc giả, tòng cẩu môn nhập. Kim thần sử cẩu... bất đáng từ thử môn nhập." Tân giả cánh đạo tòng đại môn nhập. Kiến Sở vương, vương viết: "Tề vô nhân da? Sử tử vi sứ." Án Tử đối viết: "Tề chi Lâm Tư tam bách giản, trương mễ thành âm, huy hãn thành vũ, tị kiên kế chủng nhi tại, hà vị vô nhân?" Vương viết: "Nhiên tắc hà vi sử tử?" Án Tử đối viết: "Tề mệnh sứ, các hữu sở chủ. Kỳ hiền giả sử hiền chủ, bất tiếu giả sử bất tiếu chủ, Anh tối bất tiếu, cố nghi sử Sở hĩ." (Xem "Án Tử Xuân Thu" nội phần tạp hạ cửu chương)
Lại dùng văn xuôi để nói lại một lần nữa — Án Tử đi sứ nước Sở, người nước Sở bởi vì ông là một người lùn, nên đã đục một cái cửa nhỏ ở bên cạnh cửa lớn, muốn đại sứ Án Tử đi vào từ cửa nhỏ. Đại sứ không chịu vào, nói: "Người đi sứ nước chó, thì mới đi từ cửa chó mà vào. Thế nhưng hôm nay tôi đến nước Sở để đi sứ, người nước Sở không phải là chó, tôi cũng không nên đi vào từ cửa chó." Người tiếp tân không còn cách nào khác, đành phải mời đại sứ đi vào từ cửa lớn.
Sở vương nhìn thấy đại sứ mạo tướng bình thường liền nói: "Chẳng lẽ nước Tề không còn ai nữa sao? Tại sao lại cử một người như ngươi đến làm đại sứ?" Án Tử đáp: "Nước của chúng tôi người nhiều lắm chứ! Chỉ riêng thành Lâm Truy thôi đã có ba trăm khu phố. Trên con đường lớn đông đúc tấp nập, mọi người giơ tay lên là đủ che rợp cả thành; mọi người đem mồ hôi trên đầu lau đi rồi vẩy ra thì giống như trời mưa vậy. Hừ, sao lại nói là không có người?" Sở vương nói: "Nước Tề đã có nhiều người như vậy, tại sao lại cử ngươi ra đi?" Đại sứ Án Tử đáp: "Đại vương không biết đấy thôi. Nước chúng tôi cử đại sứ đi đều có quy cách nhất định. Nhân tài hạng nhất giống như thật thì được cử đến đại quốc hạng nhất giống như thật. Tôi Án Anh vốn là viên ngoại giao bất tài nhất nước chúng tôi, cho nên mới được cử đến nước Sở, cũng là điều đương nhiên thôi!"
Lúc này nước Sở đang vươn lên giành lấy vị trí hàng đầu, nuôi chí tranh bá, chiến tranh lạnh giữa hai nước đang diễn ra vô cùng khốc liệt. Với tư cách là đặc sứ tại nước Sở, lúc nào cũng có khả năng phải chịu nhục. Có một lần cảnh sát trưởng nước Sở bắt được một tên trộm, nói là người nước Tề, Sở vương bèn hỏi đại sứ Án Tử rằng: "Người Tề vốn giỏi trộm cắp thế sao?" Điều này đã khơi mào cho câu thành ngữ nổi tiếng trong văn học Trung Quốc mà Án Tử đã thốt lên: "Quýt sinh ở Hoài Nam thì là quýt, sinh ở Hoài Bắc thì là cam" (nguyên văn: Quýt sinh Hoài Nam tắc vi quýt, sinh ư Hoài Bắc tắc vi chỉ). Án Tử nói: "Dân sinh ở nước Tề thì không trộm cắp; vào nước Sở thì trộm cắp, là do phong khí nước các người quá tồi tệ đấy! Hắn vốn là lương dân nước Tề, hễ đến nước Sở liền biến thành tên trộm..." Thật là làm khó cho tài ăn nói của đại sứ Án Tử.
3.4 Phong ba bắt tay và chén cơm Trung Quốc của Kissinger
Những câu chuyện trên có lẽ đều là sự thật, bởi vì làm ngoại giao trong chiến tranh lạnh, bất kể cổ kim đông tây đều không phải là chuyện dễ dàng! Một nhà ngoại giao, ngoài việc thực thi chính sách ngoại giao ra, sự ứng biến nhanh trí của ông ta trong những lúc giao tranh đàm phán bình thường cũng đòi hỏi phải có một thứ thiên tài đặc biệt!
Gần đây nhất là tại Hội nghị Geneva năm 1954, Thủ tướng Chu Ân Lai đã từng vươn tay ra về phía Ngoại trưởng Mỹ Dulles và cất tiếng chào "Good morning". Nào ngờ cái tên đế quốc già Dulles này lại từ chối không chịu bắt tay. Dưới tình huống đó, cái tay của Chu công phải thu về như thế nào? May mắn thay, Chu Ân Lai ứng phó với cục diện này cũng có thiên tài của ông, giống như Án Tử, cuối cùng vẫn có thể biến hung thành cát. Sau đó giới ngoại giao quốc tế hễ nhắc đến chuyện này không có ai là không mắng Dulles là một lão khốn nạn.
Sau này vào năm 1971, khi Kissinger lần đầu tiên bí mật thăm Trung Quốc, ông đã vắt óc suy nghĩ vì "vấn đề bắt tay" này. Ông vô cùng sợ hãi: "Lỡ như tôi vươn tay ra mà ông ấy (lão Chu) không vươn tay, thì phải làm sao bây giờ?" (Xem hồi ký "Thời đại Nhà Trắng" của Kissinger, và hồi ký Nixon, năm 1972, trang 559).
Thực ra, con người Kissinger này vẫn là được huấn luyện ngoại giao chưa đủ. Trước khi đến Trung Quốc, ông đáng lẽ phải tìm hiểu rõ ràng "con người Chu Ân Lai" này chứ! Cổ nhân có câu: "Há lại có kẻ đầu độc người như Thúc Tử họ Dương sao?" Thời nay lại "Há lại có một Chu Ân Lai không chịu bắt tay sao?" Ngược lại, lão Chu trước khi gặp Kissinger, thậm chí còn tra cứu rõ mồn một cả luận án tiến sĩ của hắn tại Harvard nữa kìa! Cứ như thế, anh Tôn Hành Giả nhỏ bé làm sao có thể nhảy thoát khỏi bàn tay Phật tổ họ Chu chứ?
Cho nên khi Chu công còn sống, Kissinger trước sau vẫn là vị tiến sĩ người Mỹ nằm trong môn hạ của Chu công, phục vụ cho ngài. Tiến sĩ Kissinger, nói thật ra, cũng vui mừng khôn xiết và không biết chán. Cho đến nay vẫn một lòng trung thành với Bắc Kinh. Tại sao vậy? Các vị không nghe câu chuyện Tô Tần khi nghèo túng trở về nhà, "vợ không xuống cửi, chị dâu không nấu cơm" đó sao? Đợi đến khi ông ta đeo ấn tướng sáu nước, đi ngang qua cửa nhà lần nữa thì: "Vợ và chị dâu lé mắt không dám ngẩng lên nhìn, cúi rạp người phục vụ lấy thức ăn (bò dưới đất để hầu hạ khách ăn uống)". Tô Tần cười hỏi chị dâu: "Sao lúc trước kiêu ngạo mà bây giờ lại cung kính thế?" Chị dâu che mặt đáp nhỏ rằng: "Còn chẳng phải vì chú ngày nay làm quan lớn, có tiền có thế hay sao?" (Xem "Sử ký - Tô Tần liệt trang" bản Trung Hoa, trang 2262).
Tô tử "treo đầu xà, đâm đùi nhọn", khổ công học tập thành danh, là vì điều gì? Chẳng phải là vì ngày hôm nay hay sao?
Tiên sinh Kissinger của chúng ta, cũng chính là như thế đấy! Người viết khi dạy học ở Mỹ, chính là bắt đầu từ nơi khốn đốn nhất là lớp học ban đêm dành cho người lớn ở Thành phố New York, thời gian lên lớp là từ bảy đến mười một giờ đêm. Sau một ngày làm việc, mệt mỏi không thể diễn tả bằng lời. Cho nên trong những phòng học như thế này, giáo viên vốn dĩ đã rất thảm; những sinh viên nghèo vừa học vừa làm lại càng đáng thương hại hơn.
Kissinger những năm đầu vốn là một đứa trẻ tị nạn Do Thái nhỏ bé đến từ châu Âu, ban ngày làm kế toán ở cửa hàng nhỏ, ban đêm theo học khoa chuyên ngành kế toán của lớp học người lớn Đại học Thành phố New York.
Kissinger lúc đó, cũng giống như Tô Tần những năm đầu, là một kẻ nghèo xơ xác với "vợ không xuống cửi, chị dâu không nấu cơm". Cho đến sau Thế chiến thứ hai, ông ta nhận được học bổng dành cho cựu chiến binh, mới từ "Harvard của người nghèo" (tên gọi đùa của Đại học Thành phố New York) chuyển sang Harvard của người giàu, để "treo đầu xà, đâm đùi nhọn", đọc sách lấy bằng tiến sĩ của mình.
Những biến cố thăng trầm của ông sau đó, hầu như đều là kết quả của việc làm việc cho Chu Ân Lai. Rời khỏi lĩnh vực Trung Quốc này, Kissinger liền không còn là Kissinger nữa. Uống nước nhớ nguồn, làm sao có thể không tận tụy đến mức đầu rơi máu chảy? Bạn bè ơi, đối tượng phục vụ của Tô Tần, Trương Tịch vốn dĩ là không có biên giới. Kissinger gốc Do Thái sinh ra ở Đức, ông ta có thể phục vụ cho Nixon, ông ta cũng có thể phục vụ cho Chu Ân Lai đấy thôi.
Làm ngoại giao cũng giống như dụng binh, sự uyển chuyển kỳ diệu cũng đều nằm ở một ý nghĩ. Chu công đã đạt được điều đó. Cho nên kẻ hèn này luôn thích nói rằng, trong lịch sử Trung Quốc gần một trăm năm nay chỉ sản sinh ra hai người rưỡi nhà ngoại giao. Ngoài Chu Ân Lai và Lý Hồng Chương ra, Cố Duy Quân được tính là nửa người. Mà trong hai người rưỡi nhà ngoại giao này, cũng chỉ có nửa người Cố Duy Quân là xuất thân chính cống. Lý, Chu hai vị đều xuất thân từ hàng ngũ binh sĩ. Cố Duy Quân tuy xuất thân từ giới ngoại giao chính cống, nhưng cũng chỉ là chính cống kiểu Tây, Wellington (Wellington là tên tây của Cố) từ khi rời nhà đi học chưa từng bước chân vào một trường học Trung Quốc nào cả.
Lý, Chu hai người, tuy là hàng thuần nội địa, nhưng như mục trên đã nói, trong doanh nghiệp nhà nước không có ngành nghề này. Những việc mà hai ông làm, có thể nói là ngoại giao thiên tài và ngoại giao thông thường một trăm phần trăm. Làm ngoại giao thông thường, ngoại giao thiên tài, đã không còn là điều đáng ca ngợi nữa, hai ông lại cộng thêm việc mỗi người có một kẻ bề trên vô tri lại thích quyền lực, biết ít nhưng cứ ra vẻ ta đây hiểu biết, hoành hành ngang ngược. Hai ông làm ngoại giao, không những phải chống giặc ngoài ở phương Tây, mà còn phải thuyết phục vị hôn quân ở trong nước. Có thể duy trì được cục diện bại mà không vong, thì đã là điều vô cùng hiếm có rồi. Đau đớn thay!
3.5 Sự chuyển đổi của chế độ kiến thiết ngoại giao Trung Quốc cổ đại
Toàn bộ một đống lớn những giai thoại ngoại giao từ cổ chí kim được nêu ra ở trên, chẳng qua chỉ muốn chứng minh rằng: ① Học thuyết ngoại giao thời cổ đại của nước ta vô cùng phi thường. Phẩm trù bao gồm mọi khái niệm và thực tiễn liên quan đến quan hệ quốc tế do phương Tây phát triển ngày nay, trong sách cổ nước ta không có cái gì là không đầy đủ. Cơ quan hành chính chuyên trách ngoại giao, địa vị trong hệ thống kiến thiết chính phủ cũng vô cùng tôn sùng. Dùng một câu nói hiện đại để diễn tả, đó chính là, hoặc là thủ tướng kiêm ngoại trưởng, hoặc là ngoại trưởng làm thủ tướng (Ngoại trưởng Mỹ chính là như vậy).
Những người làm ngoại giao lúc bấy giờ cũng là những đứa con cưng giữa các quốc gia. Tô Tần chính là người kiêm nhiệm chức vụ bộ trưởng ngoại giao của sáu nước, "đeo ấn tướng của sáu nước", điều này trong lịch sử ngoại giao của loài người hiển nhiên cũng là một "Kỷ lục Guinness".
Không những thế, thậm chí cả ý tưởng về tổ chức "Hội Quốc Liên" (The League of Nations) và "Liên Hợp Quốc" (The United Nations) vốn chỉ xuất hiện vào thế kỷ XX cũng đã nảy mầm từ thời kỳ Chiến Quốc của chúng ta. Khái niệm được gọi là "tôn vương nhương di" trong tư tưởng của họ lúc bấy giờ, về cơ bản chính là tổ chức quốc tế được các cường quốc trên bề mặt đồng lòng ủng hộ, nhưng trên thực tế lại do mấy nước lớn tranh bá thao túng, cái gọi là "ép thiên tử để hiệu lệnh chư hầu" chính là đây.
Các vị không nhìn thấy trước Thế chiến thứ hai, trong "Hội Quốc Liên", năm mươi quốc gia bị Anh dẫn dắt bằng mũi; và nước Mỹ già ngày nay, hễ mở miệng là lại đem lá bài Liên Hợp Quốc ra để ra oai với tất cả các quốc gia trên thế giới hay sao? Saddam Hussein của Iraq bây giờ đào mấy ngàn cái chỗ trốn, nhưng vẫn sợ không có nơi ẩn thân; Giang Zemin của Trung Quốc liên tục cười nịnh với vị tổng thống lăng nhăng kia, chẳng phải cũng là vì sợ hắn ta ép thiên tử để hiệu lệnh chư hầu hay sao? Bộ trưởng Ngoại giao Tiền ngày nay chẳng phải vẫn dùng tư thế cúi thấp dưới một hầu trên vạn hầu để mỉm cười, cúi đầu và nói không đối với chính sách Vịnh Ba Tư của bá chủ hay sao?
Thế nhưng ②, nền văn minh nước ta sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất đại lục Đông Á, phế bỏ phong kiến, lập ra các quận huyện, đã thiết lập nên "Đế quốc vũ trụ" (UniversalEmpire) chưa từng có trong lịch sử loài người và cũng là duy nhất từ trước đến nay, đây cũng là "Sự chuyển đổi lớn lần thứ nhất" của nền văn minh phương Đông do người da vàng chủng tộc Mông Cổ thiết lập.
Một chuyển là trăm chuyển, trật tự thế giới (World Order) nơi các nước cùng tồn tại, một cường quốc xưng bá thời cổ đại không còn tồn tại nữa, hệ thống ngoại giao được phát triển chậm rãi trong thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc, theo đó cũng nhanh chóng chuyển đổi, và trở nên hoàn toàn biến dạng.
[Phụ chú] Trước khi đế quốc Đại Tần thống nhất đại lục Đông Á, trong lịch sử loài người chỉ có Đế quốc Macedonia do Alexander thiết lập là có thể so sánh tương đương, nhưng Alexander chết là đế quốc diệt vong. Ông ta cũng không tạo ra được quy mô và chế độ của một đế quốc vũ trụ. Đế quốc La Mã sau nhà Tần tự nhiên cũng là một đế quốc vũ trụ, đáng tiếc là sau khi nó vong quốc vào năm 476, thì sẽ không bao giờ quay trở lại nữa. Những kẻ kiến thiết đế quốc phương Tây sau đó, liền không còn khái niệm "trời không hai mặt trời, dân không hai vua" nữa. Sau này Đế quốc Anh "mặt trời không bao giờ lặn", lớn thì lớn thật, nhưng không phải là một quốc gia vũ trụ.
3.6 Chỉ có Lý Phiên Viện, không có Bộ Ngoại giao
Cho nên trong truyền thống lịch sử của nước ta, thời kỳ đế quốc sau đời Tần Hán, chỉ có nội giao mà không có ngoại giao để mà bàn tới. Bên trong hệ thống kiến thiết của chính phủ trung ương chúng ta, Cửu khanh Lục bộ, trăm chế đều đầy đủ, duy chỉ là không có một "Bộ Ngoại giao". Để ứng phó với các vương quốc nhỏ do các dân tộc thiểu số xung quanh thiết lập, các triều đại trước đây cũng chỉ thiết lập một "Lý Phiên Viện" với các tên gọi khác nhau để chuyên trách công việc đó, thế nhưng "Lý Phiên Viện" chỉ là một tổ chức cấp ty cục bên trong Bộ Lễ, mọi sự vụ đều được xử lý như "nội giao", chứ không phải là "ngoại giao".
Ví dụ như mối quan hệ giữa chính phủ trung ương và vương quốc Nam Việt có kinh đô đặt tại Phiên Ngung (nay là Quảng Châu) vào đầu thời Tây Hán, cuốn "Lịch sử Trung Quốc Cambridge" do Fairbank chủ biên, lại nói đó là "quan hệ ngoại giao" (foreign relations, xem chương 6 tập 1 của cuốn sách này, có bản dịch tiếng Trung). Người viết khi xử lý vấn đề này lại cho rằng đó là một "quan hệ nội giao", chính là mối quan hệ giữa Trương Học Lương ở Đông Bắc và Tưởng Giới Sạch ở Nam Kinh. Các học giả và chính trị gia phương Tây ngày nay, cũng cho rằng quan hệ giữa Bắc Kinh và Tây Tạng là foreign relations, nói rằng Trung Quốc đã chiếm đóng Tây Tạng, Tây Tạng nên khôi phục độc lập, vân vân.
3.7 Hợp tung liên hoành Yale và Harvard
Cơ quan ngoại giao của Bắc Kinh thừa biết đó là chuyện đám người phương Tây kiếm cớ gây rối, thế nhưng các đại thần vì để tự vệ, lại chỉ có thể ấp úng, chơi trò ú tim, không nói ra được những đạo lý khiến người ta tâm phục khẩu phục. Nguyên nhân sâu xa của việc đó, thứ nhất chính là, nếu bạn dùng "quan điểm hiện đại" và "người phương Tây hiện đại" để chơi trò chơi điện tử, thì bạn bắt buộc phải tuân phục quy tắc trò chơi của họ (Play their game according to their rules).
Một khi bạn đã không thể từ bỏ quy tắc mạt chược truyền thống của chính mình, thế nhưng lại muốn chơi bài xì phé của họ, thì đó chính là vuông tròn không khớp. Đôi khi cho dù bạn có chân lý lớn tày trời, thì cũng giống như tú tài gặp binh lính, có lý mà không thể giảng giải rõ ràng. Ví dụ như, nếu bạn không thực hiện kế hoạch hóa gia đình, giống như lời Chủ tịch Mao đã nói "người đông dễ làm việc", thế thì há chẳng phải bạn chính là sự ngu muội vô tri ở thế giới thứ ba với đại diện là người nông dân Mao sao? Thế nhưng nếu bạn rầm rộ thực hiện chế độ một con, "phá bỏ" vô số đứa trẻ đáng yêu, thế thì há chẳng phải bạn càng tàn nhẫn dã man, không có văn hóa hay sao?
Nói tóm lại, trong Quốc hội Mỹ "vinh quang, vĩ đại, chính xác", dù thế nào đi nữa thì bạn cũng luôn luôn là kẻ sai trái là được rồi.
Bạn bè ơi, bạn nói các chính trị gia Mỹ miệng lưỡi sắc mỏng, vô lý gây sự thật là ngây ngô buồn cười. Đảng Cộng sản vinh quang, vĩ đại, chính xác của chúng ta chẳng phải cũng y như vậy sao, thậm chí còn có phần vượt trội hơn nữa! Chính trị vốn là chính trị mà! Chính trị gia nào mà miệng lưỡi chẳng sắc mỏng? Hơn nữa việc làm ngoại giao hiện đại là chuyện của toàn thể nhân dân, bao gồm cả những người khiêng củi bán nước, thậm chí cả gái đứng đường, đều có ngôn ngữ chung của họ, nhà ngoại giao không chỉ là phát ngôn nhân của chính phủ, mà còn là phát ngôn nhân của bách tính nhân dân họ (nước Anh chính là như vậy).
Ít nhất, làm ngoại giao là một đại đạo, đại chuyên ngành, nếu chỉ trông cậy vào thiên tài của một hai người như Chu Ân Lai, Lý Hồng Chương để làm ra thứ ngoại giao thông thường, ngoại giao thiên tài, thì tóm lại cũng không thể kháng chiến đến cùng được. Muốn đánh "cuộc chiến trường kỳ" mà Chủ tịch Mao đã nói, thì bạn phải có một ThinkTank (bộ tham mưu) chuyên nghiệp, vĩnh cửu. Các nhà ngoại giao Mỹ thế kỷ XX hầu như đều xuất thân từ mấy phòng học của Yale và Harvard, thậm chí là từ mấy chiếc ghế sofa đó.
Reagan, vị diễn viên khởi nghiệp từ miền Tây không tin vào tà thuyết, ông ta muốn tìm mấy "chuyên gia miền Tây" để chống lại tập đoàn ngoại giao, sau khi bị đánh cho bầm dập mặt mày, mới biết sự khó khăn của việc chống độc quyền. Bạn bè ơi, tập đoàn, Quỷ Cốc Tử, đều không phải là thứ tốt đẹp gì cả. Sau thời Tần Thủy Hoàng, chúng ta chẳng phải đã chống đối suốt hai ngàn năm rồi hay sao.
Đáng tiếc là ngày nay chúng ta lại quay trở về "thời đại Chiến Quốc" (trong thời kỳ kháng chiến, một số giáo sư như Lôi Hải Tông đã tự xưng là "phái Chiến Quốc", và cho ra mắt một cuốn tạp chí tên là "Chiến Quốc Sách", từng khiến lão... tức giận ngứa cả răng). Trong thời đại Chiến Quốc diễn lại vở kịch cũ này, nếu muốn tiếp tục chơi trò "hợp tung, liên hoành", thì đành phải dựa dẫm vào sự luyện tập lâu dài của các ThinkTank của Yale và Harvard. Nếu chỉ trông chờ vào "chủ nghĩa phản trí tuệ" (Anti-Intellectualism) anh minh vĩ đại của Chủ tịch Mao, thì e rằng sẽ rơi vào ngõ cụt.
3.8 Cũng bàn về vấn đề Tây Tạng
Quay trở lại bàn về vấn đề Tây Tạng. Người viết kém cỏi, về vấn đề Tây Tạng, cá nhân tôi lại cảm thấy Đạt Lai Lạt Ma không hề tạo ra sự chia rẽ, Đạt Lai cho rằng mối quan hệ giữa ông ta và Bắc Kinh vẫn là domestic relations (quan hệ nội giao), rất tiếc là những gì Đạt Lai áp dụng chỉ là quan điểm chủ nghĩa lịch sử và quan điểm chủ nghĩa thực dụng; người viết lại cảm thấy, nếu ông ta cộng thêm một "quan điểm chủ nghĩa hậu hiện đại" (Post-Modernist Approach) nữa, thì sẽ hoàn hảo biết bao.
Nói thế là sao? Hóa ra trong "giai đoạn hậu hiện đại" (cũng chính là từ những năm 50 của thế kỷ sau trở đi), giữa các "dân tộc anh em" vì để thông thương có qua có lại, cùng có lợi cùng bảo vệ lẫn nhau, thì ngày càng đoàn kết hơn, chứ không phải ngày càng chia rẽ hơn. Đem các dân tộc anh em vốn đoàn kết lại với nhau tách rời ra, để họ đấu đá lẫn nhau, nhằm tạo cơ hội cho hàng xóm đục nước béo cò (fish in the troubled water), giống như Bosnia ngày nay, thậm chí là Iraq và Kuwait, đó là việc làm của chủ nghĩa đế quốc, và cũng là đi ngược lại với trào lưu thế giới.
Các vị không nhìn thấy người châu Âu hiện đang ở lại châu Âu, đang rầm rộ tiến hành "Thị trường chung" (Common Market) và "Liên minh châu Âu" (European Union) đó sao? Các vị giáo sư lớn của các nước Liên minh châu Âu, giữa họ với nhau sắp khôi phục lại việc dùng chữ La-tinh để liên lạc thư tín rồi kìa! Chẳng phải họ đang rầm rộ tiến hành đồng văn thư, đồng quy xa, đồng luân hành, đồng chế độ chính (quân), đồng giá trị tiền tệ, đồng kinh điển giáo lý đó sao? Chẳng phải họ cũng đang tìm cách khôi phục "Cộng hòa La Mã" (Roman Republic) đó sao? "Đế quốc La Mã" (Roman Empire) thì phải đợi thế hệ đi trước một chút. (Đế quốc La Mã xấp xỉ tương đương với thời Hậu Hán của chúng ta; mục đích hôm nay của họ là khôi phục "sự hưng thịnh của Tiền Hán")
Người Mỹ hiện tại chẳng phải đang giúp họ mở rộng "NATO" đó sao? Đây quả thực là đang thực hiện lý tưởng của Gia Cát Khổng Minh!
Lại nhìn vào những người châu Âu hiện đang ở châu Mỹ, cái gọi là "Công dân Mỹ gốc Âu" (European-Americans) và "Công dân Canada gốc Âu" da trắng như một chiếc khăn trải giường (European-Canadians, đồng thời chúng ta cũng phải biết rằng, Canada ngày nay là quốc gia có mức sống cao nhất trên toàn thế giới), chẳng phải họ đã hòa trộn hoàn toàn để trở thành một "dân tộc nói tiếng Anh" (English-Speaking People, chú ý không phải là Peoples - các dân tộc) hoàn toàn mới mẻ và xưng bá thế giới đó sao?
Bây giờ ba nước Mỹ, Canada, Mexico ở Bắc Mỹ chẳng phải cũng đang tiến hành cộng đồng kinh tế ba nước đó sao? Chúng ta nên biết rằng, Tây Âu và Bắc Mỹ đã được số hóa ở "thời kỳ hậu hiện đại", cái gọi là "văn" trong đồng văn thư của họ, tuyệt đối không phải là "chữ La-tinh", mà là "tiếng Anh".
"Lò nung lớn" (Melting Pot) dân tộc hào quang rực rỡ trong lịch sử Mỹ, cũng chỉ nói đối với "Công dân Mỹ gốc Âu", chứ không nói đối với các tộc người khác. Chúng ta người gốc Á chớ nên tự lừa dối mình. Đối với người gốc Âu mà nói, điều đó chính xác một trăm phần trăm, và họ cũng đã hòa tan vào chung một lò một trăm phần trăm.
Thế nhưng tỷ lệ kết hôn giữa "Công dân Mỹ (và Canada) gốc Âu" với những người không phải gốc Âu, lại chưa đầy một phần trăm! Cho nên trong "thế giới của thời đại hậu hiện đại" (World of the Post-Modern Era) sẽ xuất hiện một "chủ nghĩa dân tộc da trắng thuần túy" (Pure White Nationalism) hoặc "chủ nghĩa dân tộc Aryan" (Aryan Nationalism) vắt ngang qua Đại Tây Dương, nói tiếng Anh. Chủ nghĩa dân tộc Aryan mới nổi này không phải là chủ nghĩa dân tộc Ấn-Âu (Indo-European Nationalism) trước Thế chiến thứ hai. Chủ nghĩa cũ đó có thuộc tính "chống Do Thái" (Anti-Semitic). Đó cũng là vết xe đổ mang tính chí mạng khiến nó cuối cùng thất bại.
Từ nay về sau, "chủ nghĩa dân tộc Aryan" này sẽ bao gồm cả người Do Thái. "Người gốc Do Thái đã đồng hóa" (Assimilated Jews) sẽ là thành viên vô cùng quan trọng nằm ở lõi tổ hợp của nó. Sự kết hợp dân tộc mới, lặng lẽ này, hiện đang phát triển nhanh chóng. Sau giữa thế kỷ tới, nó sẽ ập đến với sức mạnh cuồn cuộn như lở núi ngàn sông.
Cho nên, trong thế giới hậu hiện đại, kẻ xưng vương xưng bá rất có thể vẫn sẽ là họ, trừ phi những cái gọi là "chủng tộc da màu" (Coloured Races) khác có thể nhanh chóng vươn lên đuổi kịp, đoàn kết tự cứu mình, nếu không thì những "kẻ dưới cơ" (underdogs) trên thế giới ngày nay, cho đến lúc đó vẫn sẽ không có ngày ngóc đầu lên được.
[Phụ chú] Trong khoảng thời gian từ thế kỷ IV đến thế kỷ VI, thời kỳ Ngũ Hồ loạn Hoa ở nước ta, cũng từng có hiện tượng tương tự. Bốn trăm năm Ngũ Hồ loạn Hoa cũng là một cuộc đại dung hợp của các dân tộc phương Đông, khiến cho một dân tộc Hán cổ xưa được bổ sung thêm dòng máu mới, từ đó phát sinh hiện tượng cải lão hoàn đồng (renovated), rồi xuất hiện thời kỳ đỉnh cao của đại đế quốc Tùy Đường. Chủ nghĩa dân tộc Aryan mới của dân tộc nói tiếng Anh bắt đầu từ Mỹ và Canada hiện nay, chính là một hiện tượng tương tự không thể xem thường.
Cho nên các học giả gốc Á chúng ta, nếu làm ngơ trước sự phát triển mới không thể tránh khỏi trong lịch sử này, mà lại đi theo "những người theo chủ nghĩa Âu tâm" (Eurocentrists) để thổi phồng cái gọi là "Thuyết mối đe dọa từ Trung Quốc", hoặc tự cao tự đại phản đối bất kỳ chủ nghĩa dân tộc nào, và đi quậy phá linh tinh cái gọi là tuyên truyền kiểu trẻ con như "Trung Quốc cũng có thể nói không", thì đều là "sủa nhầm cây" (Barking up the wrong tree).
Bạn bè ơi, thứ mà họ đáng lẽ phải phản đối, không phải là chủ nghĩa dân tộc Trung Hoa đáng thương hại của chúng ta, đem một chút xíu lòng mong mỏi đất nước thái bình phát sinh sau khi 1,2 tỷ người gốc Á đã trải qua một trăm năm nhục nhã, xem như "Họa da vàng" (Yellow Peril) trong tương lai. Trời ơi, trí thức gốc Á dẫu có một chút lương tâm, sao nỡ thốt ra lời này? Trong thế giới "hậu hiện đại", bạn bè ơi, chủ nghĩa dân tộc Trung Hoa của chúng ta e rằng còn chưa đủ tư cách để làm "Họa da vàng" đâu! Thực hiện một số công việc kiềm chế phòng xa cho "Trật tự thế giới được Aryan hóa mới" (New Aryanized World Order) vốn thầm lặng nhưng cuồn cuộn như lở núi ngàn sông ấy, mới là nhiệm vụ cấp bách của chúng ta trong thế kỷ mới; mà công việc này, người viết tài hèn sức mọt, e rằng cũng chính là phương hướng phát triển mà người gốc Á chúng ta không thể tự vứt bỏ!
3.9 Tương lai của tiếng Phổ thông trong mạng lưới thế giới
Cho nên những người làm sử học so sánh như chúng ta, trơ mắt nhìn các dân tộc da trắng vì lợi ích thiết thực của các dân tộc anh em của họ trong tương lai, đang từ phân chia mà đi đến hợp nhất, từ mấy chục thứ ngôn ngữ, mà dần dần thống nhất thành tiếng Anh.
Tiếng Anh đã trở thành "tiếng quốc gia" của Mỹ và Canada ngày nay, và cũng sẽ trở thành ngôn ngữ tộc người của dân tộc mới này (dân tộc nói tiếng Anh), còn đại lục Đông Á của chúng ta từ hơn một ngàn năm trước cho đến nay vẫn luôn là chủng tộc da vàng Mông Cổ thống nhất, tại sao ngày nay nhất định phải tạo ra sự chia rẽ?
Đạt Lai Lạt Ma, vị chính trị tăng vô cùng thông minh, biết nói tiếng Anh, và cũng có tầm nhìn thế giới khá rộng lớn, hiển nhiên cũng nhìn ra trào lưu thế giới này, vì lợi ích chính trị và kinh tế thiết thân của đồng bào Tạng, và cũng vì tiền đồ chính trị của chính mình, cho nên ông ta chỉ muốn làm Đổng Kiến Hoa của Tây Tạng, chứ không muốn làm Lý Đăng Huy của Đài Loan. Đây là tầm nhìn lịch sử (Historical Vision) mà Lý Đăng Huy hay Hứa Tín Lương đều không thể sánh bằng.
Các chính trị gia Mỹ đối với điều này thì vô cùng không cam tâm, cứ khăng khăng ép buộc ông ta làm "độc lập Tây Tạng"; cứ khăng khăng bắt ông ta chia rẽ khỏi Trung Quốc, đây chính là sự khốn nạn của đám chính trị gia Washington.
Đạt Lai vốn dĩ không muốn làm độc lập, thế nhưng Bắc Kinh lại cứ thích đẩy nước trả thù, khăng khăng đẩy nhà sư vào vòng tay người Mỹ, mở miệng ra là đeo cho ông ta cái mũ "độc lập Tây Tạng", đây chính là sự hồ đồ của các chính trị gia Bắc Kinh.
Nói một cách công bằng, vị chính trị tăng mang đầy dã tâm Đạt Lai này, muốn làm một "Đổng Kiến Hoa của Tây Tạng", vốn dĩ không có gì là đáng trách cả. "Kiếp trước" của ông ta chẳng phải đã làm mười ba lần "Đổng Kiến Hoa" rồi hay sao? Làm thêm một lần nữa, có gì là không được chứ?
Thế nhưng vị đại sư tôn kính ơi ngài không biết rằng, thời đại đã khác rồi! Nếu ngài có được nền tảng vật chất và tinh thần giống như Hồng Kông, thì vẫn có thể thử xem sao. Tây Tạng ngày nay vẫn chưa cách xa thời cổ đại là mấy, di chứng của chế độ nô lệ vẫn còn đó, lạc hậu nghèo đói, về cơ bản vẫn giống như châu Phi ở phía nam sa mạc. Nơi đó chỉ có thể sản sinh ra những tên bạo chúa phong kiến kiểu châu Phi, làm sao có thể tạo ra "đặc khu" kiểu Hồng Kông được chứ?
Đổng Kiến Hoa tuy không thông minh hơn vị nhà sư biết nói tiếng Anh là ngài là bao, nhưng con trai của một kẻ tầm thường này ít nhất cũng biết làm kinh doanh chứ! Huống chi bên dưới ông ta còn có một "hệ thống quan liêu chuyên nghiệp hiện đại" (Professional Modern Bureaucy) đã được tôi luyện qua bao lửa thử vàng, đặc thủ có thể là kẻ ngốc, nhưng những người khác (bọn họ) thì không hề ngốc đâu.
Tiểu hòa thượng Đạt Lai ngài, bên dưới ngài có những thứ gì nào? Quả thực, các vị hòa thượng lớn nhỏ trong ban bệ của ngài đều biết "niệm kinh"; niệm kinh thì không thể quản lý được "đặc khu" đâu.
Đến đây, chúng ta cũng đành phải hỏi các chính trị gia Mỹ ngày đêm thúc động nhà sư làm độc lập rằng: các vị muốn tiểu hòa thượng quay về Tây Tạng để niệm kinh? Hay là làm "Đặc thủ"?
Bản thân người viết không có ý định thổi phồng cho Đảng Cộng sản. Chỉ cảm thấy Đạt Lai Lạt Ma cùng lũ hòa thượng ăn mặn của ông ta không thể gặm nổi bát cơm của đặc thủ Đổng mà thôi.
[Phụ chú] Theo thống kê của các chuyên gia, mức sống thế giới năm 1997 là: Canada thứ nhất, Mỹ thứ tư, Nhật Bản thứ bảy, Anh thứ mười lăm, Hồng Kông thứ hai mươi hai, Trung Quốc thứ một trăm linh tám... Xem The World Book, niên giám 1998, trang 231. Nếu Tây Tạng biến thành đặc khu, thứ hạng có lẽ sẽ ở sau vị trí một trăm hai mươi đấy. Làm đặc khu cái gì chứ?
Hơn nữa, người Mỹ và dân tộc nói tiếng Anh, từ lâu đã biến tiếng Anh thành "quốc ngữ" và "tộc ngữ" của họ. Trong "Mạng lưới thế giới" (World Wide Web, gọi tắt là WWW) của thời đại hậu hiện đại trong tương lai, tiếng Anh rất có khả năng sẽ trở thành ngôn ngữ quốc tế độc bá thế giới, ít nhất cũng là ngôn ngữ quốc tế mang tính "thực dụng" (functional) đứng đầu trong năm thứ tiếng, bốn thứ tiếng còn lại nên là tiếng Trung, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ả Rập và tiếng Nga.
Tương lai trong WWW, tiếng Pháp nhất định sẽ bị tiếng Anh hất cẳng.) Cho nên, do trào lưu xô đẩy, tiếng Anh đã trở thành quốc ngữ của năm nước Anh, Mỹ, Canada, Australia, New Zealand và là tộc ngữ của "dân tộc nói tiếng Anh" đang trong quá trình hình thành, thế nhưng tiếng Trung của chúng ta vốn gánh vác nghĩa vụ và trách nhiệm tương đương, tại sao lại không thể trở thành quốc ngữ và tộc ngữ chứ?
[Phụ chú] Năm xưa Mao Trạch Đông và những người khác đổi "quốc ngữ" ban đầu thành "tiếng Hán", đó là một chính sách sai lầm tự cho mình là đúng. Phong trào độc lập Đài Loan ngày nay muốn dùng tiếng Mân Nam để thay thế "quốc ngữ", cũng là tư tưởng lỗi thời không biết đến trào lưu thế giới "hậu hiện đại". Đồng bào Đài Loan có tư tưởng, tuyệt đối không được để bị lừa. Nếu bạn bị lừa, con cháu đơn ngữ của bạn sau này sẽ hận bạn đến chết mất thôi. Các vị không thấy Lý Quang Áo, người nói tiếng Khách Gia, cũng phải dùng "tiếng Trung" để thống nhất các phương ngôn ở Singapore đó sao? Đó là vì suy nghĩ cho con cháu đấy! Lý Quang Áo mới là một chính trị gia có tư tưởng, có tầm nhìn lịch sử, tương lai sẽ để lại phúc trạch vô tận. Không giống như vị tổng thống tiên sinh cùng tộc với ông ta, thật là ngắn cận.
Do đó, cả triều đình lẫn phe đối lập của chúng ta đều nên tranh luận một phen với những người theo chủ nghĩa Âu tâm ngày nay dựa trên nhận định này chứ! Làm sao có thể im hơi lặng tiếng như ve sầu mùa đông, chỉ nghe họ thổi phồng một phía chứ?
Bài viết thô thiển của người viết chỉ xuất phát từ học lý thuần túy và trào lưu lịch sử, tuyệt đối không hề coi trọng một chính quyền nào cả. Sâu sắc mong rằng các bậc hiền đạt độc giả từ các giới có thể đưa ra những chỉ giáo sâu sắc hơn đối với bài viết thô thiển này mà không dính dáng đến cảm xúc, đó chính là dùng ngọc thô để dẫn dụ ngọc quý vậy.
3.10 Triều đình Trung Quốc chính là Liên Hợp Quốc phương Đông cổ đại
Nói lại từ đầu, học lý ngoại giao truyền thống và hành chính ngoại giao của nước ta sau thời Tần Thủy Hoàng đã chuyển hướng sang một phương hướng mới. Đối tượng mà nó dốc sức hướng tới không còn là sự cạnh tranh bình đẳng giữa các quốc gia nữa, mà là tác dụng phát sinh từ chính phủ trung ương của một quốc gia vũ trụ hình kim tự tháp đối với vô số vương quốc nhỏ bé xung quanh.
Những người đọc sử chúng ta có thể khẳng định rằng, từ châu Á cổ đại, trung cổ cho đến cận cổ, ngoài "Trung Quốc" thống nhất ra, các tiểu bang của các dân tộc thiểu số xung quanh nhiều không kể xiết. Họ nói các phương ngôn khác nhau, dưới nước phụ dung lại còn có nước phụ dung. Chiến tranh bộ lạc (tribal wars) giữa họ với nhau cũng đánh mãi không thôi.
Cho nên một triều đình nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh, nhà Thanh vừa hùng mạnh lại vừa có "đặc quyền trọng tài" (arbitrational power), thường lại chính là lực lượng duy trì sự cùng tồn tại hòa bình giữa họ với nhau.
[Phụ chú] Hiện tượng hỗn chiến giữa các tiểu quốc này vào thời điểm đó không chỉ có ở khu vực Đông Á. Châu Phi và châu Mỹ Latinh dẫu không cần phải bàn tới, Trung và Tây Âu cũng không thể tránh khỏi. Hãy nhìn vào các tiểu bang Giéc-manh ở Trung Âu, cũng như các tiểu bang Ý ở Tây Âu, đều mãi cho đến cuối thế kỷ XIX mới quy về thống nhất, trước khi thống nhất, giữa họ cũng là những cuộc tranh chấp không bao giờ dứt. Thần Thánh La Mã giáo hoàng đời đầu và Tòa thánh thời Trung cổ, cận cổ, sức ràng buộc đối với họ còn kém xa triều đình Trung Quốc thời kỳ đế chế.
Nói một cách khác, tác dụng phát sinh của triều đình Trung Quốc lúc bấy giờ bên trong "trật tự thế giới" của chính nó, cũng chính là tác dụng phát sinh của "Hội đồng Bảo an" (Security Council) và "Tòa án Công lý Quốc tế" (The International Court of Justice) thuộc Liên Hợp Quốc ngày nay, cho nên mối quan hệ quốc tế giữa đế quốc Trung Hoa đó và vô số vương quốc nhỏ bé xung quanh tương tự như mối quan hệ giữa Liên Hợp Quốc và các quốc gia thành viên. Tức là sự tiếp nối của mối quan hệ giữa "Chu Thiên tử" và chư hầu trong thời kỳ Tiền Tần.
Ví dụ như chính quyền Lạt Ma ở Tây Tạng, khi vấn đề kế thừa không thể tự mình giải quyết, chính phủ Bắc Kinh liền ban hành một chiếc "bình vàng", để họ bốc thăm. Khi các vương công Mông Cổ và Lạt Ma đấu đá nhau không dỡn nổi, thì do triều đình Bắc Kinh ban sắc phong riêng biệt, thực hiện chính sách phân rẽ chính trị và tôn giáo, chỉ có triều đình mới có quyền quyết định tất cả; cũng chỉ có triều đình mới có thể duy trì hòa bình khu vực của các địa phương.
3.11 Đường Thái Tông chinh phạt Cao Ly, Đặng Tiểu Bình trừng phạt Việt Nam
Đương nhiên, con người vốn là loài động vật cấp thấp hiếu chiến hiếu sát, dưới bất kỳ loại thể chế nào, chiến tranh cũng là điều không thể tránh khỏi. Trung Quốc và các nước nhỏ dân tộc thiểu số bốn phía, thường xuyên đánh nhau, đôi khi còn đánh nhau vô cùng quyết liệt. Ví dụ như Đường Thái Tông chinh phạt Cao Ly (năm 645), Đặng Tiểu Bình trừng phạt Việt Nam (1979), cũng đều xuất binh tới mấy chục vạn.
Sinh viên người Việt Nam của tôi từng nói với tôi rằng, trong lịch sử Việt Nam, tất cả các "anh hùng dân tộc" của Việt Nam đều là "anh hùng chống Trung Quốc". Tôi cũng nói với họ rằng, trong lịch sử nội chiến tộc người tại bán đảo Đông Dương, không biết đã sản sinh ra bao nhiêu "anh hùng dân tộc", có lẽ gấp hàng trăm hàng ngàn lần anh hùng chống Trung Quốc, thế nhưng chỉ có "anh hùng chống Trung Quốc" mới có thể lưu danh sử sách. Đại danh của các anh hùng khác, các bạn không biết mà thôi. Các học sinh cười lớn và đồng tình.
Chúng ta phải biết rằng, trong các triều đại hùng mạnh như Hán, Đường, Nguyên, Minh, Thanh, "lễ nhạc chinh phạt xuất phát từ thiên tử"; vì các sự vụ khu vực, hoặc đơn giản là vì "thanh thế" (aggrandizement), đều sẽ xảy ra các cuộc chiến tranh kiểu như chinh đông, chinh tây.
Thế nhưng trong các triều đại suy yếu của Lục triều và Nam Bắc Tống, thì "lễ nhạc chinh phạt xuất phát từ chư hầu". Một khi các nước chư hầu thôn tính lẫn nhau, trở nên quá hùng mạnh, thì họ sẽ tiến vào Trung Nguyên, thiết lập nên các đại đế quốc Bắc Ngụy, Liêu, Kim, Nguyên, Thanh, thế nhưng hình thức bên ngoài và cấu trúc bên trong của đế quốc vũ trụ mà họ thiết lập nên, kể từ sau khi Tần Hoàng Hán Vũ thiết chế cho đến nay, trong hai ngàn năm vẫn trước sau như một, đây cũng chính là điều mà Mao Trạch Đông từng nói "ngàn năm vẫn thi hành pháp trị nhà Tần".
Đây vốn là một loại "trật tự thế giới" phương Đông, có quy trình vận hành của riêng nó. So với trật tự thế giới kiểu phương Tây, giữa hai bên chỉ có sự khác biệt về chế độ, chứ không có chuyện phi đạo lý chính trị nào cả.
Thể chế ngoại giao vận hành dưới thế giới quan hoàn toàn khác biệt với phương Tây này, và chính phủ vũ trụ đương nhiên hoàn toàn đi ngược lại với thể chế phương Tây. Thế nhưng nó cũng là một chế độ tự thành hệ thống, vận hành hiệu quả (a functional system), hoạt động suốt hai ngàn năm, chưa từng bị tê liệt.
Chỉ là từ sau Chiến tranh Nha phiến (1839-1842), dưới sự thách thức của thể chế phương Tây, không thể tiếp tục duy trì được nữa mà thôi. Thế nhưng trong "thời kỳ hậu hiện đại" (during the Post-Modern Era) sắp tới đây, lý luận và thực tiễn của nó, liệu có thể tỏa sáng trở lại? Kiềm chế thể chế phương Tây, ngày nay xem ra vẫn còn quá sớm để nói, thế nhưng không phải là hoàn toàn không có khả năng.
Các vị không nhìn thấy nước Mỹ ngày nay ở Vịnh Ba Tư, chẳng phải đang rầm rộ tiến hành thủ đoạn "ép thiên tử, lệnh chư hầu" đó sao? Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đương nhiệm ngài Annan, chẳng phải do Washington một tay vun trồng đó sao? Người Mỹ ngày nay cứ nhất quyết không cho phép ông ta thực hiện đầy đủ chức trách thẩm quyền của mình. Chẳng phải rất kỳ lạ hay sao?
Nói tóm lại, các cuộc chiến tranh sau Thế chiến thứ hai, như chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam (bao gồm cả trận đánh của Đặng Tiểu Bình), chiến tranh Vịnh Ba Tư và Bosnia, tính chất và phương thức kết thúc của chúng, so với Chiến tranh thế giới thứ nhất, thứ hai và các cuộc chiến tranh lớn nhỏ trước chiến tranh, đã hoàn toàn khác biệt.
Chiêu trò ép thiên tử lệnh chư hầu mà người Mỹ tiến hành trong những năm gần đây, ngày càng giống với truyền thống cũ của phương Đông chúng ta, đợi đến khi trái đất chuyển sang thời đại "hậu hiện đại" hoặc "hậu phương Tây" (Post-Western Era), mưu lược tung hoành của các chính trị gia sẽ ra sao? Hiện tại tuy nói vẫn còn quá sớm, thế nhưng việc nó hoàn toàn khác biệt với hiện tại, thì người khôn ngoan không cần đợi suy xét cũng tự khắc hiểu rõ.
Bây giờ hãy nhìn lại một chút, để xem thể chế ngoại giao nước ta, từ thời cận cổ chuyển sang cận đại, đã chuyển đổi như thế nào.
3.12 Có Bộ Ngoại giao, nhưng không có chính sách đối ngoại
Sau Chiến tranh Nha phiến, nền văn minh phương Đông cổ đại buộc phải bước vào cuộc đại chuyển đổi lần thứ hai. Một chuyển là trăm chuyển, chế độ và cách thức vận hành ngoại giao của chúng ta cũng bị cuốn vào trào lưu chuyển đổi lớn, từ từ dịch chuyển, từ Phủ Tổng đốc Lưỡng Quảng chuyển sang "Tổng lý Giao dịch các nước Thường sự nha môn" (gọi tắt là Tổng lý nha môn) do triều đình thành lập đặc biệt. Cho đến năm 1901, sau khi bại trận trước Liên quân tám nước, triều đình mới buộc phải thiết lập "Ngoại vụ bộ" đầu tiên trong lịch sử hai nghìn năm. Sau đó lại ngựa quen đường cũ, học lại nghề ngoại giao. Hơn một trăm năm qua, kinh nghiệm dò dẫm trong quá trình chuyển đổi này vô cùng gian nan và đau đớn.
Trước hết là trong hơn một trăm năm qua, chính phủ trung ương nước ta dù cũng có Bộ Ngoại giao (Foreign office), nhưng cơ bản lại không có "chính sách đối ngoại" (Foreign Policy). Những gì chúng ta làm hầu như toàn là ngoại giao ứng phó bị động, hoặc ngoại giao chịu đòn; trong các hành vi ngoại giao trên trường quốc tế, chưa bao giờ chúng ta chủ động đưa ra bước đi nào. Sự hình thành điểm yếu này, dù cũng có liên quan đến thế nước, đúng như câu nói nước yếu không có ngoại giao; nhưng sự vô tri của giới triều đình và dân gian nước ta đối với quy luật vận hành mới này cũng là một nguyên nhân chủ yếu! Ngoại giao chịu đòn đầy vết máu nước mắt thời cận đại cuối Thanh đầu Trung Hoa thì không cần phải bàn tới, ngay cả vào thời kỳ cuối Chiến tranh Thế giới thứ hai, chúng ta đã chen chân vào hàng ngũ "Tứ cường", nhưng vẫn bị ức hiếp, bị xẻ thịt đến đẫm máu nước mắt! Đó là kết quả của kỹ thuật lạc hậu, ngu muội vô tri, chứ không liên quan quá nhiều đến "ngoại giao nước yếu".
3.13 Bốn tay bạc trên bàn mạt chược
Vào thời điểm cuối Chiến tranh Thế giới thứ hai, khi chiến thắng đã là cục diện an bài, các cường quốc toàn cầu chỉ còn lại Trung, Mỹ, Anh, Xô, ngồi chung một bàn mạt chược. Sáu mươi năm sau, bàn lại chuyện đánh bài, các nhà sử học không thể không thừa nhận rằng, người thắng lớn nhất và cao thủ bài bạc lớn nhất trong ván mạt chược này thực chất chính là Lão Mao tử Stalin. Ông vốn là đối tượng bị tiêu diệt nguy hiểm nhất khi bị Đức - Nhật kẹp đánh và Anh - Mỹ ngầm mưu hại. Nhưng trước thềm Chiến tranh Thế giới thứ hai, ông đã có thể sắp xếp Trung Quốc "kháng chiến đến cùng" thay mình, qua đó biến sự "kẹp đánh" của Đức - Nhật thành cuộc "đánh đơn" của Đức Quốc xã. Thật là cao tay làm sao! Cuối Chiến tranh Thế giới thứ hai, ông lại bất ngờ thông qua Yalta, Potsdam, không tốn chút sức lực, chẳng những thâu tóm được cái gọi là nửa giang sơn "Xô - Đông - Ba" ở châu Âu, mà ở Đông Á còn nắm trong tay Mãn Châu, Mông Cổ, Bắc Triều Tiên, cuối cùng còn ngầm giúp một tiểu đệ ở Mãn Châu vào chiếm Trung Nguyên. Quả thật là gấm thêu hoa. Sự tan rã sau đó của Liên Xô thực ra là trời diệt Liên Xô cũ, chứ không phải lỗi do chiến tranh.
Trong tứ phương thành, một tay mạt chược khác là Churchill cũng có kỹ thuật phi phàm. Ý định ban đầu của Churchill là trì hoãn việc mở "chiến trường thứ hai" (Second Front) ở châu Âu, nhất định chờ đến khi hai quân Đức và Xô đều chiến đấu đến bờ vực sinh tử, rồi mới tung đòn Biện Trang thích hổ, dùng chủ lực Anh - Mỹ đổ bộ từ bờ biển Hắc Hải ở Đông Âu. Như vậy, con bò mộng John không chỉ thu vén được toàn bộ chiến lợi phẩm của phe phát xít Đức bại trận, mà đồng thời còn có thể đuổi "gấu Bắc Cực" trở lại Bắc Cực để trừ bỏ hậu họa. Nước đi này hiểm hóc biết bao.
Đáng tiếc là Churchill lại bị "cấp trên" của mình là Roosevelt kiềm chế nên không thể phát huy hết sở trường. Roosevelt không chỉ mang theo chủ nghĩa lý tưởng truyền thống của Mỹ, mà với thân hình bệnh tật, ông còn bị kiềm chế bởi những vị tướng vô dụng, đầu óc đầy công trạng quân sự nhưng lại cù mờ về chính trị là Marshall và Eisenhower. Dù sao thì thế kỷ XX rốt cuộc vẫn là thế giới của nước Mỹ. Trong ván mạt chược này, cũng chỉ có duy nhất nhà này là có thể "đánh bài không theo quy tắc". Bởi vì vốn cược vô hạn mà... Bạn ơi, người ta chơi kham nổi chứ! Đây cũng chính là đạo lý vì sao Quản Trọng có thể "cửu hợp chư hầu" vậy! Vốn liếng của người ta là vô hạn, nếu bạn cũng muốn thắng chút tiền lẻ, thì bạn đành phải "dò đá qua sông", mượn oai hùm bên cạnh kẻ bá chủ mà thôi. Thị phi tính là gì chứ? Đây chính là mối quan hệ giữa Roosevelt và Churchill.
Trong ván bài quốc tế vĩ đại này, kẻ vốn liếng vừa ít mà kỹ thuật đánh bài lại kém cõi kỳ lạ, chính là Tưởng công Giới Thạch của chúng ta. Tính khí vị lão nhân gia này quật cường, rất có tấm lòng trung can nghĩa đảm. Quả là một tráng sĩ chịu chết, một liệt sĩ. Khi ông xử lý việc nội bộ, đánh nội chiến, đôi khi cũng có chút trí tuệ và thủ đoạn, có thể khuất phục binh lính đối phương mà không cần giao chiến. Nhưng rốt cuộc không phải đại khí. Đến khi chơi ngoại giao quốc tế, không có một ê-kíp mưu sĩ nào trợ giúp, ông chẳng qua chỉ là một võ phu thô lỗ. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Mỹ và Xô trở mặt thành thù, Trung Quốc nằm ở giữa, trọng lượng vô cùng quan trọng. Nếu vận dụng thỏa đáng, ông vốn dĩ có thể "ngư ngư ngồi thu vàng của hai nước". (Đây là câu nói trong bộ *Chiến Quốc sách* mà Tưởng công thích đọc nhất.) Sau chiến tranh, dù Mao công có trong tay chín mươi vạn quân, thanh thế quả thực không nhỏ, nhưng mưu sinh giữa khe kẹp của Mỹ và Xô, vẫn chỉ là những đồng bạc lẻ nhỏ nhoi. Nguyên nhân có thể càn quét đại lục, là do ngoại giao của họ Tưởng vô năng, cuối cùng vì một người mà đối đầu với hai nước một đảng, kỹ thuật mạt chược quá thô lỗ, nên mới dẫn đến cục diện đó. Do khuôn khổ ở đây quá ngắn, xin phép được bàn lại sau.
3.14 Mao còn nhà quê hơn cả Tưởng
Tưởng đi Mao tới, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, đi một ngày đàng học một sàng khôn, đáng lẽ phải thấu hiểu bài học thất bại của họ Tưởng, rút củi dưới đáy nồi giữa hai cường quốc, để rồi độc chiếm ngư ông đắc lợi. Nào ngờ ngoại giao hang động của Mao còn thua kém cả Tưởng. Ông ta đánh giúp Stalin một trận chiến tranh Triều Tiên, thương vong mấy chục vạn người, lại suýt ăn cả bom nguyên tử, thế mà sau sự việc lại còn phải bồi thường "nợ chiến tranh" cho Khrushchev. Trên đời này còn có chuyện nực cười nào hơn thế nữa không? Có lần tôi ngớ ngẩn trả lời câu hỏi của một sinh viên đại lục: Khoản nợ này có nên trả hay không? Tôi mạo hiểm cực lớn là chống cách mạng, chống tư tưởng Mao Trạch Đông, tự nhận mình là "tên chưởng quỹ huyện Huy Châu" theo chủ nghĩa tư bản, và nói rằng: "Khoản nợ này thề không trả!" Hàng trăm giảng viên và sinh viên nghe xong, vậy mà lại vỗ tay cười ồ lên, cũng thật đáng cười thay.
Thực ra "quét dọn góc kho" (câu cửa miệng của Mao công) bồi thường một chút tiền lẻ, cũng chỉ là chuyện nhỏ. Có đáng gì để nhắc tới chứ? Việc Mao công đánh đấm hai đầu, cuối cùng lại biến thành việc đối đầu với cả hai cường quốc, suýt dẫn đến kết quả là Mỹ - Xô hợp tác, cùng nhau ném bom tiêu diệt Lop Nur. Việc Mao thị cuối cùng có thể tránh được nỗi nhục nhã này, không có lý do gì khác, mệnh lớn mà thôi. Quả thật trên đời không có anh tài, khiến cho hạng tiểu nhân thành danh. Bản thân chúng ta vốn biết, kế hoạch ban đầu của Lầu Năm Góc Mỹ là đơn độc tiêu hủy thiết bị hạt nhân của Trung Quốc (hoàn toàn y hệt như cách họ đối phó với Iraq ngày nay), nhưng vì không nhận được sự ngầm đồng ý của Liên Xô nên không thể thực hiện được. Đến khi Brezhnev cũng có ý định hành động đơn độc, lại bị Nixon - kẻ đang mưu toan liên kết với Trung Quốc để kiềm chế Liên Xô - kiên quyết từ chối, nên không đạt được tâm nguyện. Sự chênh lệch thời gian ngẫu nhiên trong kế hoạch của hai cường quốc lại cứu Trung Quốc khỏi đại kiếp nạn, mà lão Mao đang nằm trong nôi lại chẳng hề hay biết, còn tự đắc vênh váo, há chẳng phải ý trời sao? Sau chuyến thăm Trung Quốc của Nixon, tôi có cơ hội về đại lục thăm mẹ, từ Nam chí Bắc, các cán bộ lớn nhỏ không đâu là không ca tụng "ngoại giao cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Mao", nghe thấy quả thật vô cùng xót xa. Bởi vì tôi hiểu rõ sự xoay chuyển trong quan hệ Trung - Mỹ lần đó, hoàn toàn là do sự sắp đặt một tay của tên Nixon xảo quyệt. Ghế tại Liên Hợp Quốc của Bắc Kinh, hoàn toàn là do Tổng thống Nixon ban ơn, Mao thị đạt được mà không đỏ mặt, còn lớn tiếng khoe khoang "không xưng bá", quả thực cũng quá ư trơ trẽn. Sau đó tôi đọc hồi ký của Nixon và Kissinger, thấy "nữ nhi ngoan" Chu Ân Lai dùng hết tâm cơ, bên trong khuyên can hôn quân, bên ngoài chống đỡ cường khấu, mang thân hình bệnh tật ung thư giữa lúc đèn treo trước gió mà bôn ba thương thảo giữa các bên, "Há chẳng phải đại thần thuở xưa sao?" Thật sự vì ông mà lau nước mắt. (Trước sự kiện 9.13, mỗi bức thư mật Chu Ân Lai gửi Nixon đều bắt buộc phải nói là đã được sự phê chuẩn của Chủ tịch Mao và Phó Chủ tịch Lâm, đủ thấy sự nhọc lòng của ông ấy. Xem phần các chương năm 1972 trong tự truyện của Nixon.)
3.15 Tên lửa không bằng bố già
Chu và Mao đã qua đời, phe Nixon cũng sụp đổ, Tưởng Tiểu thiếu gia đoản mệnh, phái Mân Nam cướp ngôi, quan hệ hai bờ eo biển Trung - Mỹ lại làm lại từ đầu. Ở bờ nam eo biển, quan mới nhậm chức, thực dụng tiền bạc quyền lực, bận rộn không xuể. Mà thành bại lại trông chờ vào Triệu Mạnh, dân có thể sai khiến làm theo, không thể bắt hiểu rõ, nền tảng chính quyền rốt cuộc vẫn không hề thay đổi chút nào. Bờ bắc thụ hưởng lợi ích từ công cuộc mở cửa, khoa học kỹ thuật và kinh tế cùng bay cao, tư bản và xã hội hòa làm một, quy định của Mao được Đặng tuân theo, tiểu triều đình đối bờ không nghe lời, nổ súng theo đúng nghi lễ. Nhưng mấy chục vạn quả đại pháo của Mao còn không đánh sập được Kim Môn, thì vài quả tên lửa của Giang lại có thể làm sao dọa sợ được bố già? Đầu nhẹ chân nặng, dùng ngàn cân bẫy bốn lạng, thảo nào mà trở thành trò cười cho giới chuyên môn vậy.
3.16 Ngoại giao phân liệt và võ lực thống nhất
Thế nhưng lời dạy của các bậc thánh hiền nước ta, cái gọi là "Kiêu mãn chiêu tổn, khiêm tiêm thụ ích" (Kiêu căng mãn nguyện chuốc lấy tổn thất, khiêm tốn nhún nhường nhận về lợi ích), đối với cục diện đối đầu giữa hai bờ eo biển những năm gần đây, quả thực có thể nhìn thấu một câu là rõ. Vấn đề của Lão tổng họ Lý ở bờ nam chính là từ sự "mãn nguyện" mà trở thành kiêu ngạo, coi thường đương thời, mà chí hướng của ông ta chỉ thu hẹp ở một hòn đảo, những thứ khác ông ta không biết tới, thật đáng thở dài thay. Thực ra một hòn đảo nhỏ bé, trơ trọi ngoài góc biển, muốn bứt phá khỏi khốn cảnh, cần phải có những nhà tư tưởng lớn và nhà chính trị lớn chưa từng có trong đời để lãnh đạo quần hùng, dẫn dắt con đường phía trước; ngập ngùi thay hòn đảo báu ngày nay lại chứa đầy những chính trị gia vụ lợi trước mắt, mục tiêu chung cũng chỉ giới hạn ở việc tách đôi độc lập. Điều này tương tự nhưng quy mô kém hơn so với Ngoại giao ly khai (Secessionist Diplomacy) do phe đối thủ của Lincoln thực hiện trong Nội chiến Mỹ. Việc Lincoln trở thành bất tử, nhóm người đó cũng có phần công lao.
Cảm thán của tác giả đối với hòn đảo không có nghĩa là trên đại lục ngày nay đã xuất hiện "nhà chính trị lớn" nào đó. Thực ra, sự khốn đốn đến chết trong một đảng của các chính trị gia Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng giống y hệt như sự khốn đốn đến chết trong một hòn đảo của các chính trị gia Đài Loan, cả hai bên đều không có khí phách để phá kén chui ra. Chỉ là tư bản chính trị của hai bên có sự khác biệt trời vực mà thôi. Thành tựu lớn nhất của chính quyền Mao Trạch Đông, cũng có thể coi là thành tựu duy nhất đi, chính là việc "thống nhất bằng vũ lực" đối với đại lục Trung Quốc, mà "thống nhất bằng vũ lực" lại chính là điều kiện tiên quyết đầu tiên trong vận hành chính trị của Trung Quốc. Kể từ thời Trung Hoa Dân Quốc, những kẻ nắm quyền từ sau Viên Thế Khải như Đoàn Kỳ Thụy, Ngô Bội Phù, Trương Tác Lâm, Tôn Trung Sơn, Tố Giới Thạch, Mao Trạch Đông, không ai là không mơ tưởng đến điều đó, thế nhưng chỉ có một mình Mao Trạch Đông là cuối cùng có thể hoàn thành nó, mà vẫn còn thiếu một gánh củi là thành công.
Bạn ơi, chính trị là thứ hiện thực nhất. Cho nên chính quyền Bắc Kinh ngày nay, nếu có thể duy trì việc "thống nhất bằng vũ lực" của mình không bị suy sụp, thì đó chính là 80% thành công. Đây chính là chân lý của cái gọi là "ổn định là trên hết" mà Đặng Tiểu Bình đã nói. Có nền tảng thống nhất bằng vũ lực này, họ có thể bình đẳng ngồi chung bàn với bất kỳ cường quốc siêu cấp nào trên thế giới, dù là kẻ thù hay bạn bè. Không có nền tảng này, thì không thể làm kẻ thù, càng không thể làm bạn bè, suy cho cùng cũng chỉ là một dạng chư hầu biến tướng mà thôi. Đã làm chư hầu thì Triệu Mạnh có thể tôn vinh, Triệu Mạnh cũng có thể coi thường. Đó chính là địa vị quốc tế thực tế của hòn đảo Đài Loan báu giá ngày nay. Nói thẳng ra, tuy biết sẽ phạm vào cơn thịnh nộ của số đông, nhưng không ai có thể phủ nhận sự thật khách quan này.
3.17 Không đấu lại hắn, thì hợp tác với hắn
Đại lục thì không như vậy. Xét về quan hệ Trung - Mỹ trong gần năm mươi năm qua, trước thời Nixon, cả hai nước Trung và Mỹ đều coi đối phương là kẻ thù truyền kiếp số một thiên hạ (archenemy); sau thời Nixon, dần dần xích lại gần nhau, ngày nay hai nước thậm chí đã trở thành bạn tri kỷ, thậm chí biến thành cái gọi là "đối tác chiến lược" (Strategical Partners). Thật là ngoài sức tưởng tượng. Giờ đây tình cảm mật ngọt ấy, cần gì phải nói nhiều? Mới chỉ cách đây mấy tháng, khi vị tiểu tổng thống háo sắc ở Washington đến cầu hôn (propose) Bắc Kinh, khán giả chúng ta ngồi dưới khán đài không ai là không biến sắc kinh hoàng. Nào ngờ Clinton lại có thể tung ra nước đi kỳ lạ này. Bắc Kinh rõ ràng cũng bị bất ngờ bởi tình yêu đột ngột này, ban đầu còn liên tục phủ nhận, nói rằng chỉ là "đối tác hợp tác", chứ không phải "đối tác chiến lược". Những học giả già cỗi trong lớp học lịch sử ngoại giao Trung - Mỹ chúng tôi nghe thấy vậy, vô cùng ngạc nhiên trước thái độ nửa đẩy nửa nhận của Bắc Kinh. Ngạn ngữ Mỹ chẳng phải đã nói rồi sao: "Không đấu lại hắn, thì hợp tác với hắn" (If you cannot lick him, join him). Lão Giang vốn không đấu lại tiểu Clinton mà, bây giờ tiểu Clinton muốn lão Giang gia nhập đội ngũ, tại sao lại không làm?
Các bậc hiền đạt độc giả, quý vị có biết thế nào là "đối tác chiến lược" không? Đó chính là: Người Mỹ chính là bá chủ thế giới (hegemonist) ngày nay. Vị lão nhân gia đó bây giờ muốn thực hiện "cửu hợp chư hầu, nhất khuếch thiên hạ", đặc biệt là muốn đối phó với Iraq, Iran, Kim Chính Nhật, mấy kẻ tiểu phản loạn này, nếu không có Trung Quốc làm "tay sai số hai" trợ giúp, thì trở ngại khắp nơi, tốn sức gấp đôi mà kết quả chỉ được một nửa. Nếu ông ta có thể kéo Trung Quốc "nhập hội", làm một kẻ "phụ tá bá chủ" (assistant hegemonist), thì việc thống nhất thiên hạ sẽ dễ như trở bàn tay. Mà vị phu nhân lớn tuổi Trung Quốc ngày nay, đối với kẻ bá chủ vừa không có tâm mưu soán ngôi, lại càng không có lực mưu soán ngôi. Bản thân nếu có thể hòa bình ổn định, thì tâm nguyện đã đủ, ngoài Đài Loan ra, không còn cầu mong gì khác, nếulão gia bá chủ có thể thuyết phục Bắc Kinh làm "phụ tá bá chủ", thì đối với bá quyền thế giới của người Mỹ thực sự có trăm lợi mà không một hại. Cho nên vị tiểu tổng thống háo sắc này mới phải tha thiết theo đuổi hòa thân với Bắc Kinh. Phản ứng ban đầu của Bắc Kinh tuy có chút đỏ mặt tim đập, không biết phải làm sao, nhưng may là "bộ đôi Giang - Tiền" đang nắm giữ ngoại giao đại lục ngày nay vốn cũng xuất thân từ chốn bến Thượng Hải, không thể so sánh với ngoại giao hang động của lão Mao. Thế nên chỉ trong vòng vài ngày, họ cũng đã thích ứng nhanh chóng với kiểu hẹn hò tốc độ kiểu Mỹ, cuối cùng đã tâm ý tương thông ngay lập tức.
Bạn ơi, hợp tác với người Mỹ có lợi ích gì nào? Ồ, lợi ích đó thì kể mãi không hết. Phải biết rằng, vị cao bồi (cowboy) da trắng lớn xác, lỗ mãng, gã Lỗ Đề Hợp, "He Man" mang đầy vàng bạc châu báu này đã trở thành bá chủ thế giới rồi. Lấy lương tâm ra mà nói, hắn ta thực sự không có tâm địa hẹp hòi, lương tâm đen tối giống như đảng Bảo thủ Anh quốc, hay tên Béo Bành Đạt Ni khi thì cười giấu dao, mưu kế đa đoan. Huynh đệ cao bồi đi thẳng về thẳng, lại thấy nghĩa dũng là làm, quen đánh kẻ bất bình. Đây là ưu điểm của hắn, nhưng cũng là điểm yếu của hắn. So với những kẻ có tiền hơn hắn, có nền văn minh cao độ hơn hắn, như người Do Thái chẳng hạn, hắn lại có cảm giác tự ti rất nặng, cho nên tâm lý Do Thái của hắn vô cùng nặng nề, nước Mỹ cũng theo đó mà biến thành thiên đường duy nhất của người Do Thái trên thế giới, Washington cũng theo đó mà biến thành thuộc địa của Israel. Mà quốc gia Israel này, vốn dĩ là Tống Giang nước Anh với mưu sâu kế hiểm, bị ép rút khỏi Trung Đông sau Chiến tranh Thế giới thứ hai đã cố ý tạo ra (thủ pháp của nó y hệt như lúc bị ép rút khỏi Hong Kong). Hệ lụy từ thủ pháp này của Anh quốc chính là khiến cho Trung Đông không bao giờ có lấy một ngày yên bình. Cho nên cái kho thuốc súng lớn mang tên Trung Đông này đã trở thành gánh nặng lớn mà nước Mỹ vĩnh viễn không thể vứt bỏ được. Biến lão Lỗ Đề Hợp thành một vị hòa thượng mang túi vải gánh vác gánh nặng cả đời. Thế nhưng mức độ nặng nhẹ của gánh nặng này lại hoàn toàn phụ thuộc vào chút công sức nhỏ bé của "đối tác họ Giang" chúng ta.
3.18 Lời thì thầm bên gối nặng hơn quyền "phủ quyết"
Quý vị không thấy vị cựu Đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Bill Richardson, vì muốn động binh với Iraq, đã từng lấy thân phận "đối tác" để đến thăm riêng Bắc Kinh đó sao? Chỉ cần "đối tác họ Giang" gật đầu một cái, thì nhà máy sản xuất khí độc của Iraq sẽ lập tức chao đảo ngay. "Đối tác chiến lược" có sự "linh nghiệm" đến thế là cùng. Động cơ và mục đích của Bộ trưởng Ngoại giao Tiền Kỳ Sâm khi phong hiệu cho "đối tác Clinton" là vô cùng thông cảm và ủng hộ, chỉ cảm thấy việc bất ngờ động binh sẽ càng gây ra sự bất an trong khu vực, sợ để lại hậu họa về sau, cho nên mới dùng những lời lẽ ân cần mềm mỏng khuyên "đối tác Clinton" suy nghĩ lại, biết đâu có phương pháp hòa bình nào đó có thể đạt được mục đích tương tự. (Xem bài phỏng vấn độc quyền Bắc Kinh của Erik Eckholm trên tờ *The New York Times* ngày 15 tháng 2 năm 1998.)
Bạn ơi, đây chính là lời khuyên bên gối của bạn tình ân ái. Hiệu quả thực tế của nó còn vượt xa quyền VETO chính thức trong Hội đồng Bảo an. Thái độ nhún nhường này của họ Tiền không chỉ khiến Đại sứ Bill Richardson tâm phục khẩu phục, mà giới truyền thông và các nhà bình luận chính trị phương Tây cũng đồng loạt ca ngợi. Đại tổng thống Saddam Hussein của Iraq cảm kích rơi nước mắt trước Bộ trưởng Ngoại giao họ Tiền, còn cần phải nói nữa sao? Gã cao bồi Mỹ này giờ đây ngoại trừ Anh quốc ra, đã trở thành "ma chiến tranh" (warmonger) bị cả thế giới khinh bỉ, lại mang tiền án hiếu chiến tại Liên Hợp Quốc, bị Hội đồng Bảo an chính thức truy nã mà vẫn chưa được giải oan với tư cách là "kẻ xâm lược" (aggressor), thì nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bất ngờ lại biến thành nữ thần hòa bình. Khoảng cách giữa hai nước Trung - Mỹ trong việc cạnh tranh giải Nobel Hòa bình từ nay về sau chắc cũng đủ lớn rồi chứ! Cứ đà này, sau này Đại sứ Bill Richardson còn dám dùng vấn đề Đài Loan ra để uy hiếp họ Tiền nữa không? Các tiểu quốc Á, Phi, Mỹ Latinh sao còn có thể coi Bắc Kinh là kẻ thù, muốn kéo "Trung Hoa Đài Bắc" vào Liên Hợp Quốc nữa chứ? Một lời nói mà an định thiên hạ, một câu nói mà có mười cái lợi, hà tất phải dùng ngàn cân bẫy bốn lạng để đi phóng cái tên lửa quái quỷ gì chứ? Mạnh Tử nói: "Có trí tuệ không bằng thừa thế." Huynh đệ cao bồi nói: "Không đấu lại hắn, thì hợp tác với hắn." Lời lẽ tuy có thanh tao hay thông tục, nhưng trí tuệ thì không có gì khác biệt. Đài Loan từ nay về sau nếu muốn "tạo thế" phản công trong quan hệ quốc tế, sau khi huynh đệ cao bồi đã thay lòng đổi dạ, thực sự là vô cùng gian nan, chẳng vì lý do gì khác, chỉ vì vốn liếng không đủ mà thôi. Cạnh tranh với bờ bắc, nên mở ra một lối đi riêng mới phải.
3.19 Cột mốc mới trong lịch sử ngoại giao Trung Quốc
Thực ra, sự bứt phá trong ngoại giao của Bắc Kinh không chỉ thể hiện ở quan hệ Trung - Mỹ. Phương thức thu hồi và nắm giữ Hong Kong của họ đã mở đầu cho điều đó. Việc thu hồi Hong Kong mà không tốn một viên đạn đã là điều không dễ dàng; màn thể hiện không can thiệp lấy một ngón tay vào chính trị Hong Kong sau khi hồi hương lại càng là điều khó làm hơn. Truyền thông đối lập tại Hong Kong và Trung Quốc ngày nay vẫn đông đảo độc giả như mây, thanh danh vẫn như xưa, sự dung thứ và độ lượng nhường này, tôi vô cùng sợ rằng nếu một khi đám tiểu tử phong trào dân vận lên nắm quyền, chưa chắc đã làm được như vậy. Thế nhưng chính sách trị vì Hong Kong này thì tổn hại gì đến sự hòa bình ổn định của đại lục? Hà tất phải nhát gan như chuột thế chứ?
Triết gia phương Tây từng nói: "Chế độ là đứa con của cơ may và trí tuệ." (System is the child of wisdom and chance.) Sự chuyển đổi xã hội và văn hóa cận đại của Trung Quốc đã đạt đến cơ may của giai đoạn cuối cùng, đang ập đến dồn dập, những người nắm quyền hai bờ eo biển nếu có trí tuệ thích hợp (appropriate wisdom) để phối hợp với nó, thì chính là thời điểm dân tộc chúng ta ngẩng đầu đứng dậy. Đại lục ngày nay đã vươn lên hàng ngũ "phụ tá bá chủ", đứng dưới một người, trên vạn người, nếu có thể thừa thế tích đức hành nhân, tung ra khí phách lớn hơn nữa, coi mọi người trong thiên hạ như người thân, vạn vật như bạn bè, có giáo hóa không phân biệt, từ độc lập Đài Loan cho đến dân vận đều thu nạp tất thảy, nắm giữ chính nghĩa giữa các quốc gia, làm người phát ngôn cho thế giới thứ nhất và thứ hai, lưu danh muôn thuở trên thế giới, điểm này là thứ mà bá chủ Mỹ vĩnh viễn không thể thay thế được. Đối với nội bộ lại càng nên mở rộng chính quyền, với tấm lòng khiêm tốn nhất, dung nạp mọi ý kiến bất đồng ở cả hai bờ eo biển. Sự phát triển lịch sử Trung Quốc đến đây, đã là thời điểm George Washington sắp sửa xuất hiện, kẻ thức thời mới là trang tuấn kiệt. Lãnh đạo thiên hạ một nhà, thúc đẩy sự thống nhất của dân tộc Hoa tộc, trong tương lai khi vận mệnh của "bá chủ" suy yếu mà giao quyền, dân tộc chúng ta đứng lên thay thế, cũng chính là sứ mệnh trời giao phó. Những nhà chính trị lớn có tầm nhìn, có khí phách, sao không mau đứng dậy hưởng ứng đi chứ.
Bạn ơi, đọc sách thánh hiền, là vì mục đích gì? Trong lịch sử cổ đại nước ta, sự thay phiên giao ban lần lượt của Ngũ bá, Thất hùng, trong lịch sử cận đại thế giới, sự trỗi dậy nối tiếp nhau của ba cường quốc Pháp, Anh, Mỹ, chẳng phải đều là như vậy sao? Trong thế giới "hậu hiện đại" (Post-Modern) và "giai đoạn cuối hiện đại" (Late Modern) với sự phát triển khoa học kỹ thuật thay đổi từng ngày từng giờ, ba trăm năm qua gió phương tây thổi sang phương đông, thời kỳ hậu hiện đại ắt phải là lúc gió mùa đông bắc thổi ngược trở lại. Đối với nhiệm vụ lịch sử đang ập đến như vũ bão này, văn hóa dân tộc chúng ta cũng có thực lực không nhường bước trước ai. Bản thân người viết hôm nay đưa ra những lời cuồng ngôn lầm lạc này, tôi biết những kẻ bĩu môi khinh bỉ chắc chắn có rất nhiều. Nhớ lại thời kỳ đầu kháng chiến, bản thân tôi lúc bấy giờ chỉ là một thiếu niên chân đất, từng tận tai nghe lời cuồng ngôn của đại pháo Phùng Ngọc Tường, rằng: "Đánh cho đến khi Nhật Bản đầu nô vô điều kiện." Lúc bấy giờ dù là những đứa trẻ tị nạn nhỏ tuổi cũng cười nhạo sự cuồng ngông đó, nào ngờ tám năm sau, lại trở thành sự thật? Chuyện trên đời có những quy luật phi thường không thể dự đoán trước. Cố gắng hết sức để hướng tới mục tiêu, người có chí cũng sẽ làm được như vậy, có gì là không thể chứ? Chỉ mong rằng, A Di Đà Phật, vạn sự thuận buồm xuôi gió, sự đối đầu hai bờ eo biển từ nay về sau, cuộc tranh chấp này hãy là tranh chấp giữa những người quân tử, đừng sinh thêm chuyện ngoài lề, để rồi công cõi bỏ sông bỏ biển thì mới tốt.
3.20 Công phu cơ bản kiểu Vương Nhĩ Mẫn
Bài viết nhỏ này được viết theo lời dặn dò của người bạn cũ - giáo sư Vương Nhĩ Mẫn, làm lời tựa cho tác phẩm lớn *Vãn Thanh thương ước ngoại giao* của ông. Thế nhưng sau khi cung kính đọc xong tác phẩm lớn của họ Vương, cảm xúc muôn vàn trào dâng trong lòng. Bởi vì những chuyên khảo như thế này, ở các quốc gia phát triển Âu Mỹ, thực sự có thể chạm tay là thấy, không dưới vài trăm loại, hơn nữa đa phần đều bàn luận về thực tế hiện tại, không cần phải chờ đến một trăm năm sau. Nhìn lại thời điểm quốc cộng đổi ngôi ban đầu, "Ai đã làm mất Trung Quốc?" (Who lose China?) đã trở thành câu cửa miệng của các chính trị gia Washington, chính quyền Truman ngay lập tức tung ra "Sách trắng" (White Paper) để giải thích cho trong và ngoài nước biết: Ai đã làm mất Trung Quốc? Trung Quốc tự làm mất đấy chứ. Thật là nhanh chóng và mạnh mẽ. Lúc đó cũng có các mưu sĩ khuyên Tướng tổng thống đã phục chức hãy ăn miếng trả miếng, cũng xuất bản một cuốn Sách đen để tự biện bạch. Nhưng Đại tổng thống Tưởng - người chỉ quen với ngoại giao giang hồ và ngoại giao chịu nhẫn nhục - lại không làm thế. Cuối cùng lão nhân gia ông quyết định tu luyện "đường Roosevelt" tại Đài Loan để tôn vinh Roosevelt và hạ nhục Truman, cũng thật là đáng tiếc thay. [Thực ra lúc đó nếu Tưởng thực sự muốn xuất bản một cuốn Sách đen, e rằng cũng không biên soạn nổi. Thứ nhất, Trung Quốc chúng ta làm ngoại giao không có truyền thống này; thứ hai, sự hiện đại hóa học thuật của Trung Quốc lúc bấy giờ vẫn chưa đạt đến cảnh giới đó. Hệ thống quan liêu (bureaucracy) và tháp ngà (academics) vẫn chỉ là kẻ thổi kèn trống cho nhà họ Vương mà thôi, các ông thổi cứ thổi, ta đánh cứ đánh, chẳng liên quan gì đến nhau. Trước sự việc này, Tưởng công từng xuất bản một cuốn *Trung Quốc chi vận mệnh*. Theo như lời cố giáo sư sử học Tiêu Tác Lương từng kể với tôi khi sinh thời, mấy chương mấu chốt của cuốn sách này là sao chép từ cuốn *Chinese Communism* của tác giả người Mỹ Robert C. North. Tôi tra cứu lại quả thực đúng là như vậy. Đây chính là một ví dụ thực tế vô cùng đáng buồn cho thấy việc nghiên cứu lịch sử ngoại giao cận đại của Trung Quốc không thể phối hợp nổi với hoạt động ngoại giao của chính phủ.]
Phần trước đã nói rồi, bản thân người viết vì để kiếm cơm qua ngày, cũng từng dạy không ít lớp về lịch sử ngoại giao Đông Á và Trung Quốc tại các học viện trong và ngoài nước, mỗi lần đều khốn khổ vì không có sách tham khảo bằng tiếng Trung để làm tài liệu tô điểm. Đầu thập niên 80, tôi lại được Đại học Thành phố New York phân công đến đại lục Trung Quốc làm giáo sư trao đổi, giảng dạy các môn lịch sử nước Mỹ và lịch sử quan hệ quốc tế, đồng thời có cơ hội tham quan tình hình giảng dạy nghiên cứu và bộ sưu tập thư tịch liên quan đến các ngành ngoại giao tại các trường đại học khắp đại lục. Lúc đó thời gian mở cửa chưa lâu, các ấn phẩm và bộ sưu tập liên quan đến ngoại giao trong nước có thể nói là một vùng sa mạc, trong lớp dẫu có những giáo viên và sinh viên thanh niên vô cùng xuất sắc và chịu khó khổ luyện (trong lớp tôi có rất nhiều giảng viên đại học trẻ tuổi xuất sắc), nhưng lại khốn khổ vì "khéo mấy cũng không thể nấu thành cơm khi không có gạo". Nhớ lại vào đầu thập niên 60, khi còn làm việc tại Đại học Columbia, tôi từng thông qua giấy phép đặc biệt do tổ chức văn hóa giáo dục Liên Hợp Quốc và Bộ Ngoại giao Mỹ ban hành để tiến hành trao đổi sách vở số lượng lớn với các cơ quan có liên quan ở Bắc Kinh. Sách trao đổi do cá nhân tôi tự tay lựa chọn và do Liên Hợp Quốc chịu trách nhiệm vận chuyển, bao gồm toàn bộ bộ *Hợp tuyển hồ sơ ngoại giao* (Foreign Relations) do Bộ Ngoại giao Mỹ xuất bản suốt bảy mươi năm không gián đoạn. Trộm nghĩ hai nước Trung - Mỹ dù là kẻ thù hay bạn bè, và những thanh niên Trung Quốc có chí hướng làm ngoại giao, sau này bất kể là học tập (làm giáo viên) hay làm chính trị (làm nhà ngoại giao), thì bộ sách đã tuyệt bản này đều là sách giáo khoa ABC không thể thiếu. Lý do năm xưa tôi dốc hết tâm huyết sưu tầm được một bộ vận chuyển về Trung Quốc, thực chất là do thói quen nghề nghiệp của một trí thức chuyên nghiệp, nhưng đồng thời cũng không phải là không có suy nghĩ "trồng cây cho người đời sau hóng mát" vì kế sách trăm năm của hai nước, chưa từng tính toán đến việc bản thân mình sẽ dùng đến nó trong đời. Nào ngờ các học giả trẻ tuổi đang khao khát tri thức trong lớp học của mình vào những năm 80 lại có nhu cầu cấp bách đến thế. Cho đến khi sang Bắc Kinh thăm dò kỹ hơn, mới biết bộ sách tuyệt bản này trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa đã bị bán đi với giá bèo bảy xu một cân để làm giấy vụn, còn người phụ trách việc trao đổi năm xưa cũng vì bệnh tâm thần phân liệt mà tự sát qua đời. Thật sự khiến người ta kinh hồn bạt vía. (Về chuyện trao đổi sách vở Trung - Mỹ năm xưa, người viết từng có bài viết riêng ghi lại sự việc này, xem bài viết: *Biết mình biết người, thấu hiểu nước Mỹ: Lời tựa cho cuốn sách 'Chiến tranh hải không chiến Thái Bình Dương' của Vương Thư Quân* do Vương Thư Quân viết. Cuốn sách này được Nhà xuất bản Hải dương Bắc Kinh ấn hành năm 1987. Cuốn sách này là sách bán chạy tại đại lục. Sau đó cũng có bản phát hành tại Đài Loan.)
Từ đó có thể thấy, cơ quan quan liêu và tháp ngà mỗi bên làm một việc; dẫn đến tình trạng học thuyết ngoại giao và hành chính ngoại giao cùng lúc lạc hậu, đảng Quốc - Cộng và hai ông Tưởng - Mao quả thật một chín một mười, mà sự lạc hậu của Mao công - người có từng câu nói phát ra ánh vàng - thậm chí còn vượt qua cả đối phương. Lão Tưởng chỉ là tự cho mình là thông minh, đóng cửa làm xe, ra ngoài không khớp đường, kết hợp với việc "ném chuột vỡ bình" (dùng Mông Cổ ngoài hối lộ Liên Xô để ép Mao, nhằm tránh việc bồi thường bảo hoàng mà phò Nhật nịnh Mỹ chống Nga, đều là những nước đi ngu ngốc), hại nước hại mình.
Còn lão Mao thì hôn quân tự đại, không có học thức mà lại có thủ đoạn, vì quyền vị của bản thân mà kéo Trung Quốc quay về thời kỳ đồ đá, thì tội ác không thể dung thứ. May thay lão Chu có thể nhị nhục phụ trọng, tầm nhìn xa trông rộng, lại mưu lược có phương pháp, dù trải qua mười năm đại kiếp nạn, vẫn có thể chết đi sống lại. Ngày nay đại lục không chỉ kinh tế tăng trưởng, dẫn đầu thế giới, ngoại giao dường như cũng bước vào quỹ đạo đúng đắn, cả hai điều này đều là những thứ chưa từng có kể từ sau Chiến tranh Nha phiến, thực ra đều là di trạch của Chu công. Kinh tế không liên quan đến chủ đề chính, nhìn lại lịch sử ngoại giao gần trăm năm nay để nhìn ngắm ngoại giao ngày nay, chúng ta cũng có thể nói rằng, kể từ ngày Hong Kong chính thức hồi hương thuận lợi, chính phủ Trung Quốc trong hơn một trăm năm qua quả thực là lần đầu tiên có "chính sách ngoại giao" của riêng mình, và thực hiện nó một cách suôn sẻ. Bộ đôi Giang - Tiền thời gian gần đây có nhiều điểm đáng khen ngợi, kẻ già nua này không khỏi vỗ tay khen ngợi.
Điều duy nhất đáng lo ngại, chỉ là những gì Bắc Kinh đang làm ngày nay, vẫn là phái ngoại giao thiên tài và ngoại giao thường thức của Lý Hồng Chương và Chu Ân Lai. Những điểm đáng khen ngợi đều là do ngẫu nhiên có được tài nghệ cao siêu. Thế nhưng ngoại giao của một quốc gia hiện đại rốt cuộc vẫn là một chuyên môn. Người ngoại đạo không thể lãnh đạo người trong nghề. Việc bồi dưỡng nhân tài ngoại giao chuyên nghiệp ở Âu Mỹ cũng giống như việc bồi dưỡng ngôi sao thể thao và diễn viên ca vũ ở đại lục ngày nay, thường là bắt đầu ngay từ khi còn học tiểu học và trung học. Về phần đào tạo đội ngũ giảng viên nghiên cứu, tích lũy thành quả nghiên cứu, cùng với việc bổ sung trang thiết bị thư viện (như các khoa viện chuyên ngành được thiết lập đặc biệt trong các trường đại học thuộc Ivy League của Mỹ hiện nay), đều không phải là công việc có thể hoàn thành trong một sớm một chiều. Cho nên một khi có vấn đề ngoại giao quốc tế phát sinh, việc tìm kiếm đối sách, thăm dò nhân tài đều giống như lấy đồ trong túi, mà không đến mức tay chân luống cuống. Nhớ lại từng có vị giáo sư khoa ngoại giao đại lục nói với tôi rằng: "Chúng tôi đều là những kẻ vô dụng, nên mới ở lại trong nước lau bảng; những kẻ giỏi giang đều đã ra ngoài làm nhà ngoại giao hết rồi!"
Tôi bảo vị giáo sư đó rằng, sao lại có chuyện như vậy được? Ngoại giao là chuyên môn, khác với việc làm đảng làm quan, người ngoại đạo không thể lãnh đạo người trong nghề. Ngài chưa nghe nói trong giới luật pháp nước Mỹ nhiều kẻ cãi chày cãi cãi cối có cái gọi là "Luật sư tranh tụng" (Court Lawyer) và "Luật sư nghiên cứu" (Research Lawyer) hay sao? Nếu không "nghiên cứu" triệt để các vụ án kiện tụng (litigation), thì làm sao có thể "ra tòa tranh tụng"? Các văn phòng luật sư lớn, các ông lớn, như Nixon, đều không phải là luật sư tranh tụng. Dù là luật sư tranh tụng lớn, thì phía sau họ cũng nhất định phải có một tập đoàn nghiên cứu hùng hậu làm hậu thuẫn cho họ. Chủ tịch Mao nói rất hay: "Không có nghiên cứu, thì không có quyền phát ngôn." Ngoại giao cũng là chiến trường. Không biết mình biết ta, sao có thể tùy tiện phán xét bừa bãi? Ngoại giao thiên tài, mưu trí ngẫu nhiên có được, không thể dựa dẫm vào được.
Làm ngoại giao và nghiên cứu học thuyết ngoại giao, bắt buộc phải bắt đầu từ gốc rễ. Cuốn sách *Vãn Thanh thương ước ngoại giao* của giáo sư Vương Nhĩ Mẫn này là một tác phẩm cơ bản vô cùng vững chắc về học thuyết ngoại giao. Đáng tiếc là hơn một trăm năm qua, số lượng những kẻ gối thêu hoa nghiên cứu học thuyết ngoại giao và làm nhà ngoại giao ở nước ta quá nhiều. Rất ít người sẵn sàng rèn luyện những công phu cơ bản như thế này. Không có công phu cơ bản mà lại nói suông về học thuyết ngoại giao, làm nhà ngoại giao, thì chỉ là quyền cước hoa mỹ mà thôi. Bước lên chiến trường thực sự, thường sẽ hại nước hại mình. Cung kính đọc tác phẩm lớn của Vương huynh, tôi hy vọng đây là bài đầu tiên trong số ba trăm bài. Mong rằng sẽ có thêm hai, ba trăm cuốn chuyên khảo lớn tương tự xuất hiện theo sau, thì học thuyết ngoại giao của chúng ta mới có thể hoàn toàn hiện đại hóa. Các nhà ngoại giao được đào tạo nghiêm ngặt của nước ta, từ đó cũng sẽ không còn mang ra những trò cười trước mặt thiên hạ nữa.
Cuộc đại chuyển đổi văn hóa hiện đại của Trung Quốc đã bước vào giai đoạn cuối cùng. Một chuyển là trăm chuyển, sự hoàn thành trong việc chuyển đổi học thuyết ngoại giao của chúng ta cũng sẽ theo đó mà đến. Hy vọng tác phẩm lớn của giáo sư Vương chính là sự khởi đầu của hồi kết (beginning of the end) cho quá trình này vậy.