Vãn Thanh Thất Thập Niên 1: Trung Quốc Xã Hội Văn Hóa Chuyển Hình Tổng Luận

Lượt đọc: 18 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
Các Giai Đoạn Của Phong Trào Hiện Đại Hóa Trung Quốc

❊ ❊ ❊

Bài viết này vốn là một bản tài liệu giảng dạy bằng tiếng Anh do tác giả viết vào cuối những năm 50, sau đó được sự khích lệ của tiên sinh Hồ Thích, đã được viết lại bằng tiếng Trung, ban đầu dự định gửi cho tờ "Tự do Trung Quốc" ở Đài Loan để đăng tải. Sau đó, vì tạp chí này liên tục gặp khó khăn, chúng tôi bèn ở hải ngoại tự túc thành lập một nguyệt san tiếng Trung mới mang tên "Diễn đàn hải ngoại", được biên tập tại New York và phát hành ở Hong Kong. Bài viết này sau đó được chuyển cho "Diễn đàn hải ngoại" đăng liên kỳ trong số 1 và số 2 xuất bản năm 1960. Bản thảo này dẫu tính đến nay đã viết từ bốn mươi năm trước, tang thương đổi thay mấy bận, nhưng hôm nay đọc lại, tư tưởng cá nhân vẫn trước sau như một, mà những điều được nói trong bài, so với sự phát triển lịch sử trong suốt bốn mươi năm qua, hình như cũng không có sự mâu thuẫn quá lớn. Thế nên nay tái bản ở đây để xin chỉ giáo từ các bậc cao minh. Toàn bài ngoại trừ việc thêm một câu và sửa nhẹ ba, bốn chữ miêu tả không cần thiết, hoàn toàn giữ nguyên như cũ. Những lời của tiên sinh Tôn Trung Sơn được dẫn trong bài, ở bản gốc đăng trên "Diễn đàn hải ngoại" đã không chú thích xuất xứ. Nay trong bài này xin chú thích thêm, để thuận tiện cho độc giả nghiêm túc đối chiếu. (Tác giả bổ bút vào dịp Tết năm 1998)

Những phong trào đủ mọi hình thức như "cách mạng", "duy tân", "biến pháp", "cải cách" hay "cải lương" diễn ra trong gần một trăm năm qua ở nước ta quả thật đếm không xuể. Sự bùng nổ của các phong trào này nhìn chung phần lớn xuất phát từ nguyện vọng cứu nước cứu dân của các bậc nhân nhân chí sĩ. Để thực hiện những phong trào phát sinh từ nguyện vọng đó, chẳng biết đã có bao nhiêu hiền tài liệt sĩ phải hy sinh xương máu. Thế nhưng cho đến ngày nay những "phong trào" ấy vẫn đang phát triển mạnh mẽ, chúng ta hễ lật giở lịch sử cận đại Trung Quốc ra xem, nhìn thoáng qua liền cảm thấy đây là một cuốn sổ nợ khó lòng giải quyết.

Thế nhưng ngày nay nếu chúng ta quay đầu phân tích kỹ càng dấu vết lịch sử của trăm năm qua, lại cảm thấy trong cuốn sổ nợ này dường như vẫn có manh mối để lần theo. Chúng ta nếu thử nối liền "Đồng Trị trung hưng", "Mậu Tuất biến pháp", "Cách mạng Tân Hợi", "Phong trào Ngũ Tứ", "Bắc phạt", "Kháng chiến" cho đến việc ĐCSTQ càn quét đại lục, cùng với phong trào "dân chủ tự do" đang lớn mạnh ngày nay v.v. thành một mạch, tiến hành một sự phân tích có hệ thống, chúng ta sẽ phát hiện ra những dấu vết lịch sử quan trọng này không hề xảy ra đơn lẻ. Ngược lại, chúng nối tiếp nhau xảy ra, kết nối chặt chẽ với ranh giới rõ ràng tạo thành một tổng phong trào. Mà các phong trào kể trên chẳng qua chỉ là các giai đoạn của "tổng phong trào" này. Tóm lại trong một câu, "tổng phong trào" này chính là "phong trào hiện đại hóa" của Trung Quốc — cũng chính là "phong trào chuyển hình" về chính trị, xã hội và văn hóa của Trung Quốc cận đại.

1.1 Phong trào hiện đại hóa mang tính thế giới

Cần phải biết rằng "phong trào hiện đại hóa" này không phải là hiện tượng độc quyền của nước ta, nó mang tính thế giới. Nói một cách đơn giản, đó là vào đầu thế kỷ XIX, sau cuộc cách mạng công nghiệp ở Tây Âu, văn hóa phương Tây cùng với thương mại và vũ lực hướng ra ngoài phát triển, gây ra một phản ứng mang tính cải cách bên trong các nền văn hóa khác trên thế giới. Mượn danh từ trong triết học lịch sử của Giáo sư Arnold J. Toynbee, đó chính là hiện tượng "thách thức và ứng phó" (challenge-and-response) giữa các nền văn hóa.

Thế nhưng "thách thức" kiểu này của văn hóa phương Tây, tạo ra "ứng phó" trong các nền văn hóa dân tộc lại hoàn toàn khác nhau. Lấy tôn giáo làm ví dụ, hiện nay đối với các dân tộc và văn hóa Trung Đông, Ấn Độ, Châu Phi v.v. nó vẫn mang tính thách thức cực kỳ lớn. Nhưng ở nước ta thì nó đã trở thành đề tài tốt nhất để chúng ta phản thách thức lại văn hóa phương Tây. Tóm lại, do bản chất các nền văn hóa dân tộc khác nhau, nội dung và đặc tính ứng phó của chúng đối với phong trào hiện đại hóa cũng muôn hình muôn vẻ.

1.2 Nội dung và đặc tính hiện đại hóa của nước ta

Nội dung và đặc tính phản ánh trong phong trào hiện đại hóa ở nước ta, rốt cuộc là những gì? Tác giả dẫu tài đức nông cạn, xin tóm tắt thành sáu hạng mục lớn như sau:

Một, hình thức nhà nước "quốc gia dân tộc" (nation-state) độc lập. Hình thức nhà nước này hiển nhiên khác biệt hoàn toàn với hình thức nhà nước mang tính thế giới "dân vô nhị vương" vốn có của nước ta (universal state).

Hai, kinh tế quốc dân công nghiệp hóa và xã hội hóa. Kinh tế quốc dân vốn có của nước ta là kinh tế nông nghiệp, cùng với chế độ phân phối tài sản bất bình đẳng.

Ba, tiêu chuẩn đạo đức và chế độ xã hội phù hợp với lý tính con người, phù hợp với khoa học, đồng thời có thể thích ứng với xã hội công nghiệp hóa. Đạo đức cũ và chế độ xã hội cũ của nước ta, phàm là những thứ không thể phối hợp với ba điểm này (ví dụ như: "tam cương", kết hôn mù quáng, thủ tiết, chế độ tông tộc v.v.) đều dần dần bị vứt bỏ trong quá trình của phong trào hiện đại hóa.

Sử, Nghiên cứu chuyên sâu về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.

Năm, phổ cập giáo dục và các công cụ giáo dục.

Sáu, chính trị dân chủ. Tức là một chế độ chính trị đủ sức bảo đảm các quyền con người cơ bản, áp dụng nguyên tắc đa số quyết định và pháp trị, được sản sinh bằng phương thức bầu cử.

Nêu ra sáu điểm này, chúng ta không có ý nói rằng trong tư tưởng học thuật cổ đại của nước ta không có các học thuyết về mặt này. Ngược lại, cả sáu khái niệm này đều có thể tìm thấy căn cứ trong di sản văn hóa của nước ta. Nhưng những căn cứ đó chỉ là lý tưởng của một số ít học giả. Nó không trở thành nền tảng lập quốc của chúng ta, không hình thành nên được quần chúng tiếp nhận, tạo thành phong trào nhất thời, và trở thành một phong trào "cả nước hưởng ứng".

Chúng ta lại càng không nói rằng cái gọi là "văn minh phương Tây" đã hoàn thành sáu đại hạng mục này. Chúng ta muốn nói rằng trong nền văn minh của họ, sáu hạng mục này đã trở thành chủ đề, xu hướng toàn bộ văn hóa của họ là hướng về hướng này để phát triển. Mà nước ta kể từ sau Đồng Trị trung hưng, dưới sự thách thức của văn hóa phương Tây, cũng từng bước một hướng về hướng này mà phát triển. Chỉ có điều động lực ban đầu của sự phát triển này lại do "thách thức" của văn hóa phương Tây sản sinh ra mà thôi.

1.3 Tính giai đoạn và luận điểm "một lần cách mạng"

Chính vì "phong trào hiện đại hóa" của chúng ta diễn ra dưới sự thách thức của văn hóa phương Tây, nên quá trình "ứng chiến" của chúng ta mới vô cùng gian khổ. Bởi vì muốn hiện đại hóa, chúng ta không chỉ phải "bố tân" (đặt ra cái mới), chúng ta còn phải "trừ cựu" (dẹp bỏ cái cũ). Sự cay đắng đối với công việc trừ cựu bố tân này, người thấu hiểu sâu sắc nhất thực ra chính là tiên sinh Tôn Trung Sơn. Cho nên ông nói: "Sự nghiệp cách mạng, không gì khó bằng phá hoại, không gì dễ bằng kiến thiết." Nhìn lại các sự thật lịch sử của phong trào hiện đại hóa ở nước ta trong gần một trăm năm qua, và các loại phong trào muôn hình muôn vẻ, không có cái nào là không nằm trong công việc "trừ cựu bố tân" này, do "phá hoại" và "kiến thiết" gây ra. Do bản chất của những phong trào này khác nhau, chúng cũng đánh dấu "tính giai đoạn" rõ rệt trong phong trào hiện đại hóa ở nước ta.

Hãy thử đọc các bài phát biểu của các nhà tư tưởng lớn và đạo sư cách mạng đương đại nước ta. Chúng ta liền biết rằng phần lớn họ chỉ nhìn trúng một vài giai đoạn, hoặc một vài đề tài nào đó trong tổng thể "phong trào hiện đại hóa" này, từ đó chỉ chú trọng đến một vài công việc, mà phớt lờ các hạng mục khác. Giống như những người thời kỳ đầu làm "di vụ" hoặc "dương vụ", họ chỉ nhìn trúng chính sách thuyền bè pháo lớn "lấy sở trường của người di để chế ngự người di".

Thế nhưng sau đó cũng có ít số ít "tiên tri tiên giác", nhìn chuẩn trào lưu hiện đại hóa đời nay mà chủ trương hiện đại hóa toàn diện về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa v.v. của nước ta. Chỉ có điều những người này, phần lớn là những người theo chủ trương "một lần cách mạng", họ chủ trương đem đại kế trăm năm "hiện đại hóa" này "thu trọn công sức vào một trận chiến"!

1.4 Tôn Trung Sơn "lòng tro nguội lạnh"

Tiên sinh Tôn Trung Sơn chính là một vị như vậy. Sau Cách mạng Tân Hợi, lão nhân gia ông đã lập ra một "phương lược cách mạng" kế hoạch chín năm. Ông nói nếu làm theo "phương lược" của ông, trong vòng chín năm Trung Quốc sẽ biến thành một quốc gia mới nổi hiện đại hóa toàn diện. Nào ngờ người đầu tiên không tán thành phương lược này của ông không phải ai khác, chính là nhóm tín đồ muôn chết không từ bỏ của ông, những "lão đồng chí" trong Đồng minh hội. Thế nên Tôn tiên sinh cảm thán thở dài rằng:

…… Thế là vào đầu thời kỳ lập quốc Dân Quốc, ta thì hết sức chủ trương thi hành phương lược cách mạng, để đạt được mục đích kiến thiết cách mạng, thực thi Tam dân chủ nghĩa; mà sĩ nhân trong đảng của chúng ta đa số đều cho là tuyệt đối không được. Trải qua ta khuyên bảo dã tràng, tranh luận ba bốn bận, rốt cuộc không thành công. Không ai là không bảo lý tưởng của ta quá cao, biết thì không khó, làm mới khó thay. Than ôi! Đây há phải lý tưởng của ta quá cao ư? Hay là kiến thức của đảng nhân lúc bấy giờ quá thấp nhỉ? Ta từ đó không kìm được mà lòng tro dạ lạnh!

Tại sao nhóm lão đồng chí kia vào lúc sắp thành công lại bỗng nhiên không tin tưởng vào vị đạo sư cách mạng nữa? Các nhà sử học cảm thấy mê muội rồi. Hồ Thích nói: "Những năm đầu Dân Quốc, việc đảng dân không tin tưởng vào kế hoạch của ông (chỉ Tôn Trung Sơn) rất đáng có giá trị nghiên cứu."

Kỳ thực đây cũng chẳng phải chuyện gì khó hiểu. Nhìn từ một góc độ, đảng viên không tin tưởng lãnh tụ đảng, tuy quả thực là đảng viên "kiến thức quá thấp"; nhưng nhìn từ góc độ khác, sao lại không phải là lãnh tụ đảng không nắm bắt được thời đại mà xa rời quần chúng chứ? Đến như các "đảng viên" có nhận thức cao về tri thức hiện đại, vì cách mạng mà xông pha trận mạc vào sinh ra tử còn kiến thức quá thấp, thì "thứ dân nhỏ bé" sao có thể noi theo bám gót đây?

1.5 Không thể tụt hậu, cũng không thể vượt cấp

Cách mạng Tân Hợi do Tôn tiên sinh lãnh đạo, thực ra là một trong những cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới. Nhưng người Quốc dân Đảng và đạo sư của họ lãnh đạo cuộc cách mạng vĩ đại này đến lúc chết vẫn còn nói "cách mạng chưa thành công"! Những người Cộng sản vốn có thành kiến đảng phái thì hoàn toàn phủ nhận "Cách mạng Tân Hợi" là "cách mạng". Sở dĩ họ làm như vậy, chính là vì họ đều là những người theo chủ trương một lần cách mạng. Nhìn lịch sử Trung Quốc giống như một chiếc xe ô tô. Họ muốn lái chiếc xe ô tô này theo tuyến đường đã định trước của họ, chạy đến đích mà họ đã định sẵn. Nói cách khác, họ đều hy vọng biến một dân tộc già cỗi có nền móng văn hóa ba nghìn năm và phương thức sinh sống đặc biệt thành văn hóa mới và hình thức nhà nước mới do họ chỉ định trong một thời gian cực kỳ ngắn.

Nhưng lịch sử cận đại Trung Quốc bảo với chúng ta rằng, nguyện vọng của họ đều thất bại rồi. Nền văn hóa cổ xưa này đang biến đổi, và đang biến đổi từng bước một theo hướng hiện đại hóa. Nhưng nó lại không hề nghe theo sự chỉ dẫn của bất kỳ ai hay vị thần nào để "lột xác trong chớp mắt". Ngược lại, nó đang biến đổi từng giai đoạn một. Bất kỳ thế lực nào cũng không thể ngăn cản nó biến động tiến về phía trước, bất kỳ thế lực nào cũng không thể "nhổ lúa vì sợ không lớn" mà cưỡng ép nó nhảy vọt tiến lên. Nói cách khác, bất kỳ cá nhân hay đoàn thể nào chìm nổi trong phong trào hiện đại hóa gần một trăm năm qua của Trung Quốc, đều không thể tụt hậu, nhưng cũng không thể vượt cấp. Khang Hữu Vi, người vào năm Dân Quốc thứ sáu đi theo Trương bím tóc đến Bắc Kinh làm phong trào phục tích, đã "tụt hậu" rồi. Tụt hậu đến mức ngay cả học sinh trung thành nhất của ông là Lương Khải Siêu cũng phải mắng ông là "mặt dày". Tôn tiên sinh trước thời điểm Tân Hợi đã muốn làm "bình quân địa quyền", đó chính là lão nhân gia ông đã "vượt cấp" rồi. Vượt cấp đến mức ngay cả "lão đồng chí trong Đồng minh hội" cũng mắng ông là "đại pháo" (khoác lác).

1.6 Các giai đoạn và chủ đề của chúng

Sự tụt hậu đáng bi ai thế nào, thì khỏi phải bàn nữa. Tại sao việc dũng mãnh tiến lên nhảy vọt lại cũng gây ra tác dụng ngược? Sự thật lịch sử bảo với chúng ta, phong trào hiện đại hóa của Trung Quốc được hoàn thành theo từng giai đoạn. Mà các giai đoạn đều có chủ đề và một số phụ đề của giai đoạn đó. Chủ đề chính là "việc gấp trước mắt" của từng giai đoạn đó. Mà phụ đề (có lẽ là chủ đề của giai đoạn tiếp theo) trong giai đoạn hiện tại thường là "việc không gấp". Mà phương pháp để hoàn thành chủ đề và phụ đề này có lẽ là mâu thuẫn.

Do đó, tập trung toàn lực hoàn thành chủ đề, có thể làm tăng khó khăn khi giải quyết phụ đề. Thế nhưng những kẻ quên đi chủ đề mà coi trọng phụ đề, thì thường bị giai đoạn đó vứt bỏ. Người xưa nói: "Quân tử vụ bản, bản lập nhi đạo sinh." Lại nói: "Tri sở tiên hậu, tắc cận đạo hĩ." Nếu quên đi chủ đề mà coi trọng phụ đề, thì chính là "bản mạt đảo trí", "bất tri tiên hậu".

Cho nên trong lịch sử cận đại Trung Quốc, ở các giai đoạn, phàm là những thế lực xã hội dấn thân giải quyết chủ đề "việc gấp trước mắt", thường là tiến bộ, thành công. Đồng thời phàm là những kẻ không biết trước sau, coi trọng phụ đề, làm những việc không gấp, thì chưa có cái nào là không thất bại. Những thế lực xã hội làm những việc không gấp gáp này, ở giai đoạn đó tất yếu sẽ gây hại!

Thế nhưng nếu phong trào hiện đại hóa của Trung Quốc bước vào giai đoạn tiếp theo, thì chủ đề và phụ đề đều đồng thời biến động. Phụ đề trước đây có lẽ sẽ biến thành chủ đề. Thế lực xã hội tiến bộ của giai đoạn trước, nếu không thể tiến bộ theo sự biến động của chủ đề, thì thế lực này tất yếu sẽ biến thành thế lực cản trở hiện đại hóa Trung Quốc.

Sự biến động lặp đi lặp lại này cùng với sự thịnh suy của các thế lực xã hội, được phơi bày rõ mồn một trong lịch sử cận đại Trung Quốc. Xin được giãi bày thêm về điều này.

1.7 Dương vụ và biến pháp

Ngày nay chúng ta truy nguyên sự thật lịch sử phong trào hiện đại hóa của nước ta, từ "Đồng Trị trung hưng" cho đến giai đoạn hiện tại "phong trào dân chủ tự do", chúng ta nếu phân chia theo bản chất của các phong trào, nhìn chung có thể chia thành bốn giai đoạn lớn và một số tiểu giai đoạn.

Từ ngày Tổng lý nha môn thành lập vào năm Đồng Trị thứ nhất (1861) cho đến khi ký kết vào năm Quang Hữ thứ 21 (1895), có thể tính là giai đoạn thứ nhất của phong trào hiện đại hóa nước ta. Chủ đề trong giai đoạn này là "Dương vụ". Bởi vì nước ta trải qua bài học thất bại trong Chiến tranh nha phiến và liên quân Anh - Pháp, người trong nước mới bắt đầu nhận thức được khoa học ứng dụng thể hiện trên thuyền kiên pháo lợi của văn hóa phương Tây. Cho nên từ Cung thân vương trở xuống, những bậc thức giả tranh nhau bàn về "Dương vụ". Lúc đó mới có các công cuộc xây dựng hải quân kiểu mới Nam Bắc Dương cùng với các loại đường sắt, mỏ quạt, máy móc, xưởng tàu vào thời kỳ Đồng - Quang. Bất kể lúc bấy giờ phái thủ cựu phản đối thế nào, công cuộc xây dựng "Dương vụ" thời kỳ này đã đạt được những thành tựu nhất định. Bộ lý thuyết "Học vấn của Trung Quốc tinh vi, cương thường danh giáo, cùng với kinh thế **, không gì là không đầy đủ, chỉ lấy cái sở trường chế tạo của người phương Tây để bù đắp cho những điều chúng ta chưa bằng, là đủ rồi" mà Trương Chi Động đã nói trong tác phẩm "Khuyên học thiên" do ông viết sau đó, thực chất chính là "cơ sở triết học" của phong trào "Dương vụ" trong giai đoạn này. Những lời Trương thị nói đều là điều mà đại chúng muốn nói, cho nên luận điệu "Trung học vi thể, Tây học vi dụng" của ông cũng là một học thuyết mới làm mưa làm gió một thời. Đó cũng là "mưu luận" "dùng di biến Hạ" mà phái thủ cựu lúc bấy giờ thề chết phản đối đến cùng.

Thế nhưng sau chiến tranh Trung - Nhật, thuyết trung học vi thể, tây học vi dụng bèn dần dần bị vứt bỏ. Người trong nước tiến thêm một bước mà bàn về "biến pháp". Cần phải biết rằng những người bàn về biến pháp không hề phủ nhận Tây học có thể làm "dụng". Người trong nước đến đây đã ngoan ngoãn chấp nhận khoa học ứng dụng của phương Tây, mà tiến thêm một bước bàn về "biến pháp cải chế" theo kiểu phương Tây. Cho nên, biến pháp cải chế mang tính chính trị chính là chủ đề của phong trào hiện đại hóa nước ta trong giai đoạn từ Giáp Ngọ đến Tân Hợi!

Khang Hữu Vi chủ trương "Quân chủ lập hiến"; Tôn Trung Sơn chủ trương "Kiến lập Dân Quốc". Hai người họ tuy có điểm khác biệt về tiến chậm hay cấp tiến, nhưng thái độ cơ bản đối với biến pháp cải chế thì hoàn toàn nhất trí. Do sự u mê lú lẫn của triều đình nhà Thanh □, đã góp phần thúc đẩy sự thành công của phái cấp tiến, mà hoàn thành giai đoạn thứ hai trong phong trào hiện đại hóa của Trung Quốc.

Khang - Tôn hai vị ngoài việc chủ trương biến pháp cải chế mang tính chính trị ra, đều nhìn thấy các phương diện khác — cải cách triệt để về xã hội, văn hóa, giáo dục, kinh tế v.v. Khang thị còn viết tác phẩm "Đại đồng thư"; Tôn thị cũng viết "Tam dân chủ nghĩa". Nhưng những cải cách ở các phương diện này lúc bấy giờ đều là "phụ đề", không phải là việc gấp trước mắt, cho nên không khơi dậy được sự phản ứng của quần chúng. Giống như bốn chữ cuối cùng trong lời thề của Đồng minh hội "Trừ khửát lỗ, khôi phục Trung Hoa, kiến lập Dân Quốc, bình quân địa quyền", chính là nơi bị những người trong đảng bác bỏ tranh luận nhiều nhất. Chi bộ Đồng minh hội trong nước, có người thậm chí dứt khoát xóa bỏ bốn chữ này. Sự xóa bỏ này tuyệt đối không phải như các nhà sử học Cộng sản nói, là để "bảo vệ lợi ích bản thân của giai cấp tư sản". Nguyên nhân chủ yếu là điều này không phải là "việc gấp trước mắt". Tầm quan trọng của nó đã bị "chủ đề" lúc bấy giờ che khuất, không khơi dậy được phản ứng của cái gọi là "quần chúng cách mạng".

Đới Quý Đào nói: "Còn như từ tư tưởng và tri thức cách mạng mà nói, rất nhiều đảng viên thời đại trước, cũng thực sự cổ hủ đến đáng sợ. Lúc trước khi Tổng lý còn sống, mỗi lần định ra một phương thế tiến, mọi người luôn đem nó bám víu liều mạng kéo lùi về sau!" Đây chính là vì "phương châm tiến lên" ở "thời đại trước" không khơi dậy được phản ứng của quần chúng.

1.8 "Không gì khó bằng phá hoại" của "Phong trào Ngũ Tứ"

Thế nhưng thời đại là tiến lên. "Phương châm tiến lên" đến thời đại sau, phản ứng của quần chúng liền khác rồi. Dân Quốc thành lập đã được tám chín năm, sự hiểu biết của người trong nước đối với thách thức của văn hóa phương Tây lại tiến thêm một bước. Họ cảm thấy chỉ là biến pháp cải chế mang tính chính trị, vẫn chưa đủ để xây dựng nên một quốc gia kiểu mới. Cho nên tiếp tục yêu cầu cải cách tổng thể về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa v.v. Yêu cầu này bèn đẩy phong trào hiện đại hóa của Trung Quốc bước vào giai đoạn thứ ba và bùng nổ cái gọi là "Phong trào Tân văn hóa" quanh thời điểm "Ngũ Tứ".

Một khẩu hiệu tinh tế nhất lúc bấy giờ của các lãnh tụ "Phong trào Tân văn hóa" chính là: "Dùng thái độ phê phán mang tính khoa học, đánh giá lại tất cả mọi giá trị." Quả nhiên trước "thái độ phê phán mang tính khoa học", rất nhiều (chúng ta không nói là "tất cả") món hàng tồn kho trong "tiệm họ Khổng" do một mình kinh doanh suốt hai nghìn năm qua đã biến thành phế liệu vô giá trị. Ngoài ra như Thích Ca Mâu Ni, Chu Hi, Vương Dương Minh, cho đến cả những "tất cả giá trị" của Chúa Jesus mới nhập gần đây đều trở thành vấn đề.

Những sự trói buộc cũ một khi rơi mất, tư tưởng của dân tộc Trung Hoa bỗng nhiên nhận được sự giải phóng lớn chưa từng có trong lịch sử. Cho nên "Phong trào Tân văn hóa" thời kỳ "Ngũ Tứ", thực sự giống như sự nghiệp cách mạng "không gì khó bằng phá hoại" mà Tôn Trung Sơn đã nói, là một "phong trào phá hoại". Thực tế thì nó ngoài việc có thành tựu huy hoàng khác ra trong cải lương văn học, thì thu hoạch ở các phương diện khác cũng chỉ có thế mà thôi. Các đại sư "Ngũ Tứ", nắm giữ thứ vũ khí là "thái độ phê phán mang tính khoa học", đã phá hủy những cái cũ như bẻ cành khô cỏ mục. Nhưng trên đống đổ nát của sự phá hoại này, họ đã kiến thiết nên những gì?

Họ quả thực từng đưa ra hai khẩu hiệu mang tính kiến thiết là "khoa học" và "dân chủ". Nhưng khoa học là gì, mà dân chủ lại là gì? Không chỉ những đứa trẻ hò hét khua chiêng gõ mõ lúc bấy giờ không biết gì; các lãnh tụ lúc bấy giờ cũng không đưa ra nổi một bộ học thuyết hoàn chỉnh để thay thế cho những thứ họ đã phá hủy. Cho nên "hậu quả ngay lập tức" của "Phong trào Ngũ Tứ" chính là "trạng thái vô chính phủ" chưa từng có trong giới tư tưởng!

Hơn nữa, những gì "Ngũ Tứ" phá hoại chỉ là tư tưởng cũ. Mà hệ thống xã hội cũ do tư tưởng cũ sinh ra, lại vẫn sừng sững không động đậy. Cho nên để hoàn thành nốt công sức chưa trọn vẹn của sự phá hoại trong "Ngũ Tứ", để vẽ lại bản thiết kế cho công cuộc kiến thiết mai sau, các loại "chủ nghĩa" bỗng chốc nổi lên tứ phía.

1.9 Lấy một chủ nghĩa làm tiêu chuẩn

Hãy xem cách nói của tiên sinh Tôn Trung Sơn. Ngày 2 tháng 12 năm Dân Quốc thứ 12, tiên sinh Tôn Trung Sơn sau khi đánh lui các quân phiệt như Trần Quý Minh (Trần Quýnh Minh), Thẩm Hồng Anh v.v., trong bữa tiệc chiêu đãi các tướng lĩnh có công cách mạng tại Quảng Châu, đã phát biểu một bài diễn văn. Tôn nói:

Dân Quốc thành lập đến nay đã mười hai năm rồi. Mười hai năm này không ngày nào là không có biến loạn. Nguyên nhân khiến biến loạn này không dứt rốt cuộc nằm ở đâu? Nói đơn giản chính là sự xung đột giữa trào lưu cũ và mới... tư tưởng cũ cản trở tiến bộ; luôn luôn trói buộc quần chúng. Chúng ta yêu cầu quần chúng tự do, phá vỡ rào cản tiến bộ, cho nên không thể không phá vỡ tư tưởng cũ. Ngày hôm nay mời chư quân đến để phá vỡ tư tưởng cũ rốt cuộc dùng tiêu chuẩn gì? Nói đại khái chính là lấy một chủ nghĩa làm tiêu chuẩn.

Những người lúc bấy giờ tin tưởng Tôn Trung Sơn đương nhiên liền lấy "Tam dân chủ nghĩa" làm tiêu chuẩn rồi. Còn những người không tin tưởng Tam dân chủ nghĩa thì sao, tự nhiên sẽ chuyển sang mang các "chủ nghĩa" khác ra rồi. Cho nên trong vòng vài năm ngắn ngủi sau "Ngũ Tứ", các tập đoàn "Đảng Cộng sản", "phái Quốc gia chủ nghĩa", "Đảng Xã hội", tập đoàn "Chủ nghĩa phát xít", tập đoàn "Chủ nghĩa vô chính phủ", cho đến cả những người theo "Chủ nghĩa thực nghiệm" đều tự lập môn hộ mà ra đời. Quốc dân Đảng và Tam dân chủ nghĩa vốn đã sớm bị các đồng chí trong đảng lãng quên, lúc này lại hoạt động trở lại, tiến hành cải tổ.

Những đảng phái mới nổi này, cho đến cả "Trung Quốc Quốc dân Đảng" sau khi cải tổ đều sản sinh ra nối tiếp sau "Phong trào Ngũ Tứ". Bản chất của chúng hoàn toàn khác với "Quốc dân Đảng", "Cộng hòa đảng", "Tiến bộ đảng" v.v. trong những năm đầu Dân Quốc. Đảng những năm đầu Dân Quốc là đảng phái thuần túy kiểu Anh - Mỹ. Đảng sau "Ngũ Tứ" là đảng chú trọng phong trào xã hội và cải cách văn hóa.

Hãy xem quan điểm về việc cải tổ Quốc dân Đảng của Đới Quý Đào thị, người là người khởi xướng Đảng Cộng sản Trung Quốc, sau đó lại trở thành nhà lý luận chống cộng có ảnh hưởng nhất trong Quốc dân Đảng. Ông nói: "Sau năm Dân Quốc thứ 8 (cũng tức là sau "Ngũ Tứ"), thanh niên trong nước... dần dần thức tỉnh, từ phong trào thanh đàm văn hóa, tiến lên thành phong trào xã hội một phần, lại tiến lên nữa thành phong trào cách mạng quốc dân cụ thể. Khớp nối với khí vận cải tổ trong đảng từ năm Dân Quốc thứ 6 trở lại đây, mà sự cải tổ của Trung Quốc Quốc dân Đảng, từ đó mà được thực hiện."

1.10 ĐCSTQ bản mạt đảo trí

Nhìn ngược lại ĐCSTQ xem! ĐCSTQ trong thời kỳ Quốc dân Đảng dung nạp cộng sản lúc đầu, số lượng đảng viên thực tế chẳng qua chỉ mấy chục người. Nó lớn lên nhờ ăn bám trong Quốc dân Đảng. Đến thời kỳ Bắc phạt, nó đã biến thành thế lực phá hoại nghiêm trọng "Cách mạng Quốc dân". Lúc bấy giờ nó vứt bỏ hai chủ đề của giai đoạn đó — đánh đổ quân phiệt, đánh đổ đế quốc chủ nghĩa — mà tập trung toàn lực đi làm cái "phụ đề" không gấp — cách mạng ruộng đất, cách mạng xã hội. Làm cho hậu phương của quân Bắc phạt nháo nhào ô uế. Có người con đang ở tiền tuyến chiến đấu đẫm máu với quân phiệt, cha lại ở hậu phương bị "Hội nông dân" đội mũ giấy diễu phố. Khi trong khu vực thống trị của quân phiệt và đế quốc chủ nghĩa vẫn ca múa thái bình; nơi quân Bắc phạt giải phóng lại xảy ra đấu tranh giai cấp, ĐCSTQ làm loạn thế này, một mặt triệt tiêu lực lượng cách mạng quốc dân, mặt khác cũng làm sụp đổ đảng quyền của Quốc dân Đảng, dọn đường cho quân nhân độc tài.

Kết quả thì sao? Đảng Cộng sản đã bị "lọc" sạch một cách đẫm máu khỏi Quốc dân Đảng. Nó không phục, vẫn tiếp tục bạo động, kết quả là chạy trốn bôn ba hai vạn năm nghìn dặm. Nếu không phải quân phiệt Nhật Bản xâm lược Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã sớm thành cái tên trong lịch sử rồi. Sau khi may mắn thoát chết, lại còn phải hô vạn tuế với "quân phiệt mới", "kẻ thù chung của nhân dân" mà nó từng tuyên án tử hình. Sở dĩ như vậy, chính là vì chúng nhầm lẫn coi "phụ đề" thành "chủ đề", không biết trước sau. Nó gần như phá hoại Bắc phạt, cản trở kháng chiến. Nó là thế lực xấu xa của giai đoạn đó, là kẻ phản cách mạng đích thực không chút nào sai sót của giai đoạn đó.

1.11 Chủ đề mới sau kháng chiến

Thế nhưng sau khi kháng chiến thắng lợi, cục diện liền thay đổi hoàn toàn. Hai chủ đề lớn của cách mạng quốc dân trước đây cơ bản đã hoàn thành. Do đó "phụ đề" trước đây bây giờ lại biến thành "chủ đề". "Chủ đề" mới này chính là "cải cách ruộng đất" và "cải cách xã hội". Giai đoạn này cũng có một "phụ đề", đó chính là phong trào "dân chủ tự do" do các "nhân sĩ dân chủ" tiến hành. Về chủ đề này, Đảng Cộng sản là kẻ khởi nghiệp bằng trò này, kinh nghiệm phong phú; về "phụ đề" này nó cũng đã khôn ra. Hơn nữa còn ngụy trang một gương mặt "dân chủ tự do", làm cho "mặt trận thống nhất" vô cùng rộn ràng sống động. Quốc dân Đảng hoàn toàn bị cô lập.

Còn như Quốc dân Đảng thì sao? Bản thân nó là một đảng cách mạng, nhưng bây giờ lại chẳng thể tìm được đối tượng cách mạng nữa. Nó đã hoàn thành hai chủ đề lớn của thời kỳ trước; mà chủ đề mới sau kháng chiến thì nó lại không tài nào nắm bắt được. Các lãnh tụ cao cấp của bản thân nó vừa thiếu tầm nhìn xa, bản thân đảng cũng bệnh nặng khó đổi, không gánh vác nổi trách nhiệm ứng phó với giai đoạn mới chủ đề mới. Cho nên một đảng cách mạng có công lao trùm trời, lúc này ngược lại đã thành đối tượng cách mạng của người ta. Người đọc lịch sử không khỏi cảm thán ngậm ngùi!

1.12 Đại lục đang làm những trò gì?

ĐCSTQ thống trị đại lục đã tròn mười năm, rốt cuộc nó đang làm những trò gì trên đại lục? Khẩu hiệu cũ "dân chủ tự do", nó đã vứt bỏ hoàn toàn. (Tình hình của nó cũng giống như việc Quốc dân Đảng vứt bỏ "chính sách công nông".) Bởi vì đó vốn là thứ để lừa gạt người thời kỳ "mặt trận thống nhất" mà thôi.

Còn như "cải cách ruộng đất" và "cải cách xã hội" thì sao? Hai điểm này, nó đã làm thật một cách đẫm máu. Nhưng những gì nó làm được cũng chỉ là sự phá hoại triệt để đối với chế độ cũ. Những anh hùng "Ngũ Tứ" trước đây đã phá hoại "tư tưởng cũ" của nước ta như bẻ cành khô cỏ mục; bây giờ những hảo hán "Thập nhất" lại phá hủy "chế độ cũ" của nước ta một cách vơ đũa cả nắm không phân biệt ngọc đá. Cho nên "xã hội nhiều trung tâm" (multi-centered society) trước đây của nước ta trong vòng vài năm ngắn ngủi đã biến thành sự chuyên chế của ĐCSTQ; biến thành một xã hội đơn thuần do "giai cấp mới" (dùng danh từ mới của MilovanDjilas người Nam Tư) thống trị. Nói cách khác, tất cả các thế lực ổn định xã hội vốn có của nước ta như "cha anh", "thân đổng", "thầy giáo", "đại long đầu" v.v., thảy đều bị phá hủy, thay vào đó là cảnh sát mật vụ và súng lục của giai cấp thống trị mới này.

Hệ thống xã hội vốn có của nước ta, dẫu đã không còn phù hợp với yêu cầu "hiện đại hóa", đáng lý ra nên thay đổi. Nhưng xã hội do cảnh sát mật vụ và súng lục kiểm soát, có thực sự phù hợp với văn minh hiện đại của thế kỷ XX hay không? Điểm này có lẽ không cần phải nói nhiều nữa!

Cho nên chúng tôi nói nhiệm vụ lịch sử của Đảng Cộng sản Trung Quốc là phá hoại mang tính xã hội, hoàn thành nốt công sức chưa trọn vẹn của sự phá hoại trong "Ngũ Tứ". Nhiệm vụ phá hoại kết thúc, bản thân nó cũng sẽ chấm dứt!

Hãy nhìn trong thời gian ĐCSTQ "trăm hoa đua nở", trào lưu giận dữ phản □ của "phái hữu", cùng với phong trào "dân chủ tự do" ở hải ngoại và Đài Loan đang phát triển mạnh mẽ hiện nay, lịch sử đã nói rõ với chúng ta rằng phong trào hiện đại hóa đã bước vào một giai đoạn lớn khác.

1.13 Giai đoạn hiện tại, chủ đề mới

Giai đoạn hiện tại "phái hữu" tranh đấu cho "dân chủ tự do" trên đại lục, ĐCSTQ chỉ gọi họ là "mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân", không dám gọi họ là "phản cách mạng". Bởi vì "phái hữu" này quả thực phát sinh từ nội bộ ĐCSTQ, phần lớn thành phần nòng cốt của họ là những người có "công với nhân dân". Không phải là "đặc vụ Mỹ - Tưởng" có thể chém giết không tha.

Đài Loan thì sao? Nó hiện nay cũng vì vấn đề này mà rơi vào mâu thuẫn cực kỳ đau đớn. Một mặt nó muốn giương cao ngọn cờ "dân chủ tự do" để chống cộng; mặt khác nó lại muốn áp bức phong trào quần chúng sản sinh từ khẩu hiệu này.

Tất cả những điều này đều đủ để giải thích rằng "phụ đề" của giai đoạn trước trong phong trào hiện đại hóa Trung Quốc, nay đã biến thành "chủ đề" của giai đoạn này. "Chủ đề" này là không thể chối bỏ. Nó mười năm, tám năm, ba mươi năm, năm mươi năm sau tất yếu sẽ thịnh hành lớn ở Trung Quốc. Lịch sử cận đại Trung Quốc bảo với chúng ta, các chủ đề của các giai đoạn trước đều phải trải qua muôn vàn khó khăn gian khổ rồi mới hoàn thành.

Lịch sử văn hóa thế giới cũng bảo với chúng ta, thách thức của văn hóa là không thể phớt lờ không quan tâm. Lịch sử văn hóa Trung Quốc cũng từng bảo với chúng ta, văn hóa Trung Quốc không chỉ có thể hấp thụ ưu điểm của văn hóa ngoại lai, mà còn có thể phát huy rộng lớn khiến nó vượt quá mức độ vốn có trong văn hóa mẹ đẻ. Phật giáo Trung Quốc chính là một ví dụ. Tư tưởng và chế độ "dân chủ tự do" vốn là một đề tài chủ chốt trong thách thức của văn hóa phương Tây đối với văn hóa nước ta, văn hóa của chúng ta tuyệt đối sẽ không u mê cứng nhắc mà làm ngơ không ứng phó. Ngược lại, trước khi chúng ta chưa thể tiêu hóa và phát huy nó, sự chấn động do thách thức này gây ra đối với văn hóa của chúng ta sẽ không dừng lại.

1.14 Công nghiệp hóa của ĐCSTQ và nút thắt chết

Ma chướng lớn nhất phản ứng theo hướng này của văn hóa nước ta trong giai đoạn hiện tại chính là Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nó cam tâm tình nguyện kéo văn hóa Trung Quốc vào ngõ cụt của văn hóa Slav. Nhìn theo tiến trình tiến hành hiện đại hóa của Trung Quốc gần một trăm năm nay, ĐCSTQ đã đi trên con đường hướng về nhà trưng bày cổ vật rồi. Sở dĩ ngày nay nó vẫn có thể vô pháp vô thiên, làm oai làm phúc, chính là vì nó vẫn nắm giữ một đề tài quan trọng mang tính kiến thiết hiện đại hóa — công nghiệp hóa của Trung Quốc. Điểm duy nhất trên báo chí chính thống của ĐCSTQ ngày nay thực sự có thể lớn tiếng khoác lác chỉ có điểm này. Kiều bào hải ngoại sau khi căm thù tận xương tủy đối với ĐCSTQ, đôi khi cũng khó tránh khỏi nhắc đến điểm mà ĐCSTQ khoe khoang với người phương Tây cũng chính là điểm này. Nó là "thang thuốc kéo dài mạng sống" ngày nay của ĐCSTQ.

Công nghiệp hóa Trung Quốc, vốn là đại sự mà bất kỳ chính quyền nào cũng nên làm. Vương A Cẩu nhà bên cạnh nếu làm "chủ tịch" thì cũng phải thực hiện công nghiệp hóa. Chỉ là phương thức công nghiệp hóa có lẽ khác nhau mà thôi, nhưng quá trình gian khổ của nó thì không ai có thể tránh khỏi. Nước Mỹ trong quá trình công nghiệp hóa, các đại tư bản chèn ép tiểu tư bản đến mức tự sát. Các nhà đầu tư cũng từng làm náo loạn những trò hề kiểu "Ngày thứ Sáu đen tối". Nhưng trong quá trình công nghiệp hóa của Liên Xô há chẳng phải cũng từng bỏ đói phụ nữ trẻ em chết đói hàng triệu người, cứng nhắc đem lương thực xuất khẩu để đổi lấy vật tư ngoại hối hay sao?

Thứ mà ĐCSTQ áp dụng ngày nay chính là chính sách tự sát này. Vì công nghiệp hóa độ cao, nó biến Trung Quốc lớn lao thành trại lao nô lớn nhất thế giới. Nó muốn những người lao nô hy sinh tự do, thắt lưng buộc bụng, như vậy Trung Quốc có thể "mười lăm năm đuổi kịp nước Anh" hoặc "hai mươi năm sau qua ngày tháng tốt đẹp". Sau một thời gian dài suy yếu tụt hậu ở Trung Quốc, hai khẩu hiệu này nghe rất lọt tai; có sức thuyết phục cao. Ma lực của nó không kém gì "đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Nhật Bản" thời kỳ kháng chiến!

Nhưng trò lừa bịp này của nó nhiều lắm chỉ có thể duy trì từ mười lăm đến hai mươi năm. Qua thời gian này nhân dân không những muốn nới lỏng thắt lưng, mà còn muốn khôi phục toàn bộ tự do. Đến lúc đó kẻ thống trị có tự động khôi phục tự do cho nhân dân hay không? Thưa rằng không! Bởi vì điều đó vi phạm quy luật phát triển của chính quyền ĐCSTQ. Người không thấy sắc mặt của kẻ thống trị trong thời gian "trăm hoa đua nở" hay sao? Trong khu vực của ĐCSTQ sẽ không còn "trăm hoa đua nở" xuất hiện nữa. Nếu có thì cũng không phải do kẻ thống trị tự động hô hào nữa.

Cho nên dù không bàn đến yếu tố bên ngoài, chỉ chọn phương thức "lấy kinh giải kinh" để phân tích chính quyền ĐCSTQ, các hảo hán trên Thiên An Môn nhiều lắm còn mười lăm năm ngày tháng yên ổn để sống.

1.15 Đài Loan trong mười lăm năm tới

Có người bảo rằng cách mạng Nga từ đó đến nay đã hơn bốn mươi năm, cớ sao vẫn chưa dao động. Kỳ thực văn hóa Trung - Nga không thể đem ra so sánh với nhau. Văn minh Nga vốn là vùng rìa của văn minh phương Tây, cho nên nó chỉ có thể phát triển dị hình bên trong văn hóa phương Tây, chứ không đủ để phản thách thức lại văn hóa phương Tây. Cho nên người Nga trắng sau khi ra nước ngoài, chẳng bao lâu liền bị quốc gia sở tại đồng hóa. Không giống như "người Đường" chúng ta ở hải ngoại mấy đời rồi vẫn không thể biến thành người nước ngoài, cho nên văn hóa Trung Quốc không thể Xô viết hóa hoàn toàn, người Trung Quốc cũng không thể đỏ hóa hoàn toàn, đó là thứ nhất. Trung Quốc từ thời Na Lã Hách đến Mao Trạch Đông trải qua bốn mươi năm, nước Nga từ Nikolai đến Lenin chỉ có mấy tháng, cho nên nước Nga ngày nay thiếu vắng những chiến sĩ đấu tranh vì tự do dân chủ thuộc tầng lớp trung kiên từ ba mươi đến năm mươi tuổi mà chúng ta đang có, đó là thứ hai. Nước ta vẫn bảo lưu được một Đài Loan không bị đỏ hóa, có thể làm "khu thí nghiệm chính trị dân chủ" cho chúng ta. Kerensky của Nga và những người Nga chống cộng khác đều không có chỗ dựa, đó là thứ ba.

Có ba điểm này, thì cục diện Trung - Nga hoàn toàn khác biệt. Trong ba điểm này, điểm thứ ba là quan trọng nhất. Phàm là chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của Đảng Cộng sản đều tự thành một thể thống nhất. Muốn "thay thế" Đảng Cộng sản, thì nhất định phải dùng một thể thống nhất hoàn thiện hơn tiến bộ hơn để thay thế nó. Thể thống nhất này không phải là một chủ nghĩa hay tôn giáo trống rỗng nào đó. Thể thống nhất này nhất định phải là chế độ mới về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa tiến bộ đã qua thực nghiệm phù hợp với quốc tình Trung Quốc.

Mượn câu danh ngôn của người theo chủ nghĩa thực nghiệm: "Chân lý không phải là thứ có thể phát hiện ra, chân lý là thứ không ngừng được tạo ra." Cho nên công việc trong mười lăm năm tới của Đài Loan, nên là vứt bỏ bất kỳ chủ nghĩa mang tính giáo điều nào, dùng "phương pháp phòng thí nghiệm khoa học" dưới các nguyên tắc dân chủ chính trị, bình đẳng kinh tế, tự do thân thể, thực nghiệm ra một chế độ chính trị, kinh tế và xã hội mới, để thay thế cho thể chế phản động này của Đảng Cộng sản. Nếu Đài Loan có thể trong vòng mười lăm năm tạo ra một chân lý mới, đến lúc đó sự phản động của Đảng Cộng sản đã đạt đến đỉnh cao, như vậy mới có thể nước chảy thành sông đưa bộ phận kia của Đảng Cộng sản ném thẳng xuống Bắc Băng Dương bằng sức mạnh phá hoại như cành khô cỏ mục.

Tương lai của văn hóa Trung Quốc buộc chặt vào sự phát triển trong mười lăm năm tới của Đài Loan. Mà điểm khởi đầu của sự phát triển này, chính là xem Đài Loan có nắm bắt được chủ đề của giai đoạn hiện tại trong phong trào hiện đại hóa Trung Quốc hay không!

1.16 Giai đoạn cuối cùng và phản thách thức văn hóa

Thế nhưng, nắm bắt chủ đề của giai đoạn hiện tại thực sự không phải chuyện dễ dàng. Trong quá trình văn hóa phương Tây thách thức nước ta, hạng mục "dân chủ tự do" này từ lâu vào cuối thời nhà Thanh đã là một trong những khẩu hiệu chính trong các phong trào "cải cách" hoặc "cách mạng" ở nước ta. Nhưng nó lại trước sau không hề biến thành "chủ đề" của bất kỳ giai đoạn nào. Bởi vì trong bất kỳ giai đoạn nào trước đây, thực tế nước ta vẫn chưa hoàn thành các điều kiện chính trị và xã hội cho hạng mục này. Cho nên khẩu hiệu này chúng ta hô suốt mấy chục năm, cho đến ngày nay mới trở thành chủ đề của giai đoạn hiện tại. Điều này cũng giải thích rằng nó là hạng mục khó khăn nhất trong phong trào hiện đại hóa của Trung Quốc. Sau khi các hạng mục khác lần lượt được hoàn thành, mới đến lượt nó có cơ hội biến thành "chủ đề". Thực tế thì việc hoàn thành các hạng mục khác, vốn dĩ cũng là điều kiện tiên quyết để biến nó thành chủ đề.

Hơn nữa, ngoài chủ đề hiện có của giai đoạn hiện tại, chúng ta thực sự không tìm ra nổi "phụ đề" nào cả. Cho nên nội dung của "phong trào dân chủ tự do" trong giai đoạn hiện tại vô cùng đơn thuần; chiến tuyến cũng vô cùng rõ ràng. Quần chúng ủng hộ "ông Đê" (Democracy - Dân chủ) thời kỳ "Ngũ Tứ" vô cùng phức tạp. Mọi người đồng sàng dị mộng, thế nhưng lại giương cùng một tấm biển, kết quả rơi vào cái bẫy "mặt trận thống nhất" của Đảng Cộng sản. Hiện tượng này hiện nay không còn nữa. Chính vì mục tiêu của nó đơn thuần, chiến tuyến rõ ràng, cho nên không có phụ đề làm chủ đề cho giai đoạn tiếp theo xen lẫn vào giữa. Cho nên "phong trào dân chủ tự do" trong giai đoạn hiện tại, thực sự là giai đoạn cuối cùng của "phong trào hiện đại hóa Trung Quốc". Văn hóa dân tộc Trung Quốc nếu có thể vượt qua ải này, thì đó chính là sự hoàn thành triệt để của phong trào hiện đại hóa Trung Quốc. Đến lúc đó văn hóa mới của dân tộc chúng ta mới có thể tiến hành một cuộc phản thách thức toàn diện đối với văn hóa phương Tây ở các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục. Sở trường của họ chúng ta đều có đủ; các mâu thuẫn về chính trị kinh tế ở các phương diện của họ, chúng ta đều có thể điều hòa mà hóa giải đi. Nếu được như vậy, thì dân tộc chúng ta với số dân sáu trăm triệu người, đứng ở một đại quốc phú cường an định, xuất hiện trước thế giới với chế độ mới hoàn mỹ nhất là chính trị dân chủ, bình đẳng kinh tế, tự do thân thể, đến lúc đó chúng ta dẫu không muốn làm minh chủ duy trì hòa bình thế giới và lãnh tụ tiến hóa của nhân loại, e rằng cũng không thể được nữa!

Thế nhưng ải hiện tại này thực sự là điểm mưu chốt sống còn của văn hóa dân tộc chúng ta. Các dân tộc Slav, German, Latinh đều gục ngã trước ải này. Chúng ta có thể bình an qua ải hay không, đành trông chờ vào kết quả thực nghiệm của dân tộc chúng ta tại Đài Loan trong mười mấy năm tới. Nghĩ đến đây, không kìm được mà hướng về đó với tất cả tâm tư.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.