Vãn Thanh Thất Thập Niên 1: Trung Quốc Xã Hội Văn Hóa Chuyển Hình Tổng Luận

Lượt đọc: 18 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
Bàn Về Chủ Nghĩa Đế Quốc Và Họa Ngoại Xâm Cuối Thời Thanh

❊ ❊ ❊

Trong bài viết nông cạn trước bàn về "Sự chuyển hóa của đế quốc và dân quốc", người viết từng cả gan phát biểu rằng, nhìn từ góc độ lịch sử kinh tế xã hội, lịch sử Trung Quốc trước chiến tranh Nha phiến hầu như "hàng nghìn năm không đổi"; trong khi sau chiến tranh Nha phiến, lại hầu như "mười năm đổi một lần". Vì sao về mặt kinh tế xã hội, lịch sử truyền thống của chúng ta lại "tĩnh như thiếu nữ", mà hiện đại lại "động như thỏ chạy" như vậy? Xin phép nói ngắn gọn, biến cục chưa từng có trong hai nghìn năm này thực chất là kết quả do "chủ nghĩa đế quốc" từ phương Tây kéo đến thúc đẩy.

"Chủ nghĩa đế quốc" (Imperialism) rốt cuộc là thứ gì? Vấn đề này đối với thế hệ nam nữ người Hoa sinh ra vào nửa đầu thế kỷ XX chúng ta, còn cần phải giải thích nữa sao? Bộ "lịch sử chủ nghĩa đế quốc xâm lược Trung Quốc" đẫm máu ấy, chính là phần chính trong kinh nghiệm sống thực tế cả đời của chúng ta, khỏi phải nhắc đến thì thôi, nhắc đến là mạch giận nổi phồng, nghiến răng nghiến lợi.

Cảm xúc dân tộc trên đây là điều không ai có thể phủ nhận. Đây là những gì chúng ta tự mình trải nghiệm ra, có gì mà phải phủ nhận chứ? Thế nên các nhà sử học thông thường nước ta cùng giới chức chính quyền Quốc - Cộng đều sẽ khẳng định "chủ nghĩa đế quốc" là cội nguồn muôn tội của Trung Quốc cận đại. Các nhà sử học phái Mác - Lênin lại càng khái niệm hóa nó mà rằng: Chủ nghĩa đế quốc sao lại là cội nguồn muôn tội? Bởi vì nó là "giai đoạn cao nhất của chủ nghĩa tư bản". Phía trên cội nguồn muôn tội, vẫn còn một tổng nguồn là "chủ nghĩa tư bản".

Thế nhưng những lời bàn này lại không được nhiều bậc uy quyền Hán học phương Tây chấp nhận. Trong số họ có rất nhiều nhà lịch sử học kỳ cựu, thậm chí là những cây đại thụ có uy quyền nhất, ví như Giáo sư Fairbank - tông sư khai sơn lập ra trường phái Cambridge ngày nay v.v., lại cho rằng "chủ nghĩa đế quốc phương Tây" vốn cơ bản không hề tồn tại ở Trung Quốc. Nó chỉ là một loại ảo giác được khắc sâu vào tâm lý dân tộc chúng ta do sự tuyên truyền liên tục của những người cách mạng (bao gồm cả hai đảng Quốc - Cộng), — mặc dù họ cũng không phủ nhận cuộc xâm lược Trung Quốc của người Nhật đúng là một thứ "chủ nghĩa đế quốc" không hơn không kém.

Còn người Nhật thì sao? Vào lúc mới thất bại, họ ngược lại từng có tâm lý sám hối khá sâu sắc. Thế nhưng những năm gần đây, họ lại dần dần biến những hành vi cướp bóc, hãm hiếp, đốt phá, tàn sát trần trụi của họ trên đại lục Trung Quốc thành "ra vào Trung Quốc" rồi. Chỉ là công lực dẫn kinh chứng điển của nhóm "những người luận bàn chuyện ra vào" này của Nhật Bản không thể đem ra so sánh với "những người luận bàn về ảo giác" của phương Tây mà thôi.

Bạn tôi ơi, thời gian là thứ đáng sợ. Viết lịch sử bằng tình cảm cũng là điều không đáng tin cậy. Bạn không thấy nam nữ trung thanh niên sinh ra vào nửa sau thế kỷ XX (nhất là ba mươi năm gần đây), phản ứng tình cảm của họ đối với "Thảm sát Nam Kinh", đối với "Phòng thí nghiệm vi khuẩn Cáp Mộc Tư" v.v. sẽ không còn bi thống thấu xương như thế hệ cha anh của họ nữa sao? Bạn không thấy, trong thời kỳ kháng chiến, một số đồng bào người Hoa đứng ở các trận tuyến khác nhau, chẳng phải họ cũng có tâm lý lượng hình đối với tội phạm chiến tranh Nhật Bản vô cùng khác biệt hay sao... Thêm vài năm nữa, e rằng dẫu là sinh viên người Hoa cũng phải dựa vào bách khoa toàn thư lịch sử thì mới có thể mơ hồ biết được định nghĩa của "chủ nghĩa đế quốc".

Mục đích viết lịch sử là để bảo tồn chân tướng của một giai đoạn lịch sử nào đó, truyền lại cho đời sau, cảnh tỉnh tương lai. Nhà sử học nên cầu thị thực tế, tâm bình khí hòa. Họ không nên bị giới hạn bởi hỉ nộ ái ố của một thời đại nào đó mà ngòi bút luôn mang theo tình cảm. Cho nên đối với một vấn đề chưa ngã ngũ (debatable subject) như "chủ nghĩa đế quốc", chúng ta nên dùng lời lẽ cô đọng súc tích để truy tìm gốc rễ của nó, rồi mới đưa ra luận đoán.

7.1 "Chủ nghĩa bành trướng" và "chủ nghĩa đế quốc"

Nếu bàn về nguồn gốc của "chủ nghĩa đế quốc", chúng ta không thể không ngược dòng tìm về "chủ nghĩa bành trướng" (Expansionism) trong lịch sử. Chủ nghĩa bành trướng là một danh từ phương Tây. Từ đồng nghĩa trong văn hóa của chúng ta đại khái có thể nói là "lớn hiếp yếu, đông hiếp cô". Nó là một mặt tồn tại tuyệt đối trong "bản tính con người" (human nature); đồng thời cũng là mặt xấu xa nhất. Nó cũng là "thực tại khách quan" được các nhà khoa học xác thực trong "hành vi xã hội loài người" (social behavior), thậm chí là "hành vi xã hội động vật" (animal social behavior) bị "chủ nghĩa Darwin xã hội" (Social Darwinism) phơi bày.

Động lực của "chủ nghĩa bành trướng" trong lịch sử loài người là rất nhiều mặt. Nó bao gồm cương thổ, kinh tế, chính trị, tôn giáo, văn hóa, hư vinh, sắc dục, đố kỵ cho đến chuyện ăn mặc ở đi lại hàng ngày, thất tình lục dục. Bất kỳ một mặt, nhiều mặt hoặc toàn diện nào trong số đó, đều có thể khơi nguồn cho hành vi xã hội hướng ngoại bành trướng của con người sống quần cư. Nếu xét đến những sự vụ lớn lao có ghi chép trong lịch sử, thì "người Hán" chúng ta hóa ra cũng là ông tổ của ngành này. Hành vi "bành trướng" thời kỳ đầu của chúng ta nhắm vào những kẻ "không phải giống nòi ta" mà "lòng dạ ắt khác" cũng là điều trời người cùng giận — thế nhưng các bậc thánh hiền sử gia đế vương tướng lĩnh của chúng ta, há chẳng từng coi những cuộc xâm lược hướng ngoại, mở mang bờ cõi, san bằng sào huyệt không lấy gì làm vẻ vang nhất này là những di tích lịch sử dân tộc vẻ vang nhất kiểu như vương hóa lan xa hay sao? Các nhà sử học dân tộc (bao gồm cả kẻ tiểu nhân là tôi), nào đã từng nói đây đều là nỗi nhục của dân tộc đâu?

Lấy ví dụ cách chúng ta đối phó với tộc Hung Nô đi!

Tộc Hung Nô là nạn nhân có tư liệu lịch sử rõ ràng có thể tra cứu được sớm nhất của chủ nghĩa bành trướng tộc Hán chúng ta. Tộc này nguyên tên là "Hung" (Hun), chính là chữ Hung trong "Hungary" (Hưng Gia Lợi). Chữ "nô" có lẽ là do chủ nghĩa bành trướng tộc Hán chúng ta thêm vào đó. Giống như tổ tiên của người Nhật vốn tự gọi mình là "Oa" (Wa), chữ "nô" trong cái tên xui xẻo "Oa nô" ấy, cũng có lẽ là do người Hán chúng ta thêm vào cho họ. Các nhà sử học và Hán học châu Âu thời kỳ đầu từng hoài nghi về việc liệu người Huns có phải chính là Hung Nô hay không, chỉ vì họ không biết chữ "nu" này rất có thể là trò mèo mà "chủ nghĩa phân biệt chủng tộc" (racist) Trung Quốc chúng ta giở ra.

Dân tộc Hung đã bị các đại tướng xâm lược Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bính, Đậu Hiến của chúng ta "bành trướng" ra ngoài. Họ vứt bỏ mồ mả tổ tông, quê cũ của vua cha, chạy trốn sang Trung Á và Đông Âu. Ở đó, họ lại "bành trướng" thổ dân bản địa tơi bời khói lửa. Cuối cùng vào khoảng thế kỷ IV, V, họ làm cho cả châu Âu đảo lộn trời đất; để rồi cuối cùng tạo ra một cuộc "Đại di cư của các dân tộc" (The Great Migration) chưa từng có trong lịch sử. Không có đại di cư dân tộc thì làm sao có châu Âu trung cổ và hiện đại được? Cho nên nếu nhà sử học cho rằng chỉ có người Âu châu hiện đại xâm lược phương Đông mới mang ảnh hưởng "chưa từng có trong lịch sử", thì đó là kẻ mù quáng về cổ sử.

Châu Âu thế kỷ IV, V vì sao lại náo loạn trời đất đến thế? Thưa rằng: Đó là hậu quả của việc "chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc" tiến về phương Tây. "Chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc" là vật gì? Chính là cái mà Giáo sư Wells (H.G.Wells) gọi là "Chinese Imperialism". Cho nên "chủ nghĩa bành trướng" và "chủ nghĩa đế quốc", đại khái có thể coi là "từ đồng nghĩa". Còn về việc người Mông Cổ Tây chinh thế kỷ XIII, cũng có thể coi là "Chinese Imperialism", bởi vì triết học chính trị phương Đông lúc bấy giờ hãy còn chưa có khái niệm bình đẳng quốc tế (equality of nations), thứ mà người Mông Cổ tuân thủ vẫn là quốc gia vũ trụ theo truyền thống Nho giáo (universal state). Họ lấy một dân tộc thiểu số biên cương vào làm chủ Trung Nguyên, lập ra nhà nguyên, bản chất của nó cũng giống như nhà Thanh do người Mãn Châu thiết lập, chẳng qua cũng chỉ là một triều đại chủ chung của thiên hạ mà thôi.

"Chủ nghĩa đế quốc" phương Tây hiện đại, do đó cũng khởi nguồn từ "chủ nghĩa bành trướng" của châu Âu cận đại. Điểm này, bất kỳ quốc gia nào, nhà lịch sử học thuộc phái nào, đại khái đều hoàn toàn có thể đồng tình.

Thế nhưng các dân tộc châu Âu vốn là "nạn nhân" (victims) của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc, tại sao vào thời cận đại lại đột nhiên bành trướng dữ dội như vậy? Mà chủ nghĩa bành trướng châu Âu cận đại lại mang bản chất gì? Vì sự thuận tiện của độc giả tiếng Trung nói chung, tốt nhất chúng ta vẫn nên đối chiếu sử sách Trung và Tây với nhau, kể lại một cách đơn giản toàn bộ câu chuyện lịch sử này từ đầu, rồi mới bàn đến các vấn đề khác.

7.2 Phong trào giải phóng cuối thời kỳ phong kiến

Người viết từng sơ lược nhắc đến ở chương trước: Sự sụp đổ của "chế độ phong kiến" (Feudalism) Trung - Tây tuy cách nhau hơn một ngàn bảy trăm năm, nhưng về bản chất và hình thức thì khá tương đồng. Trung Quốc vào "thời kỳ Chiến Quốc" mạt vận phong kiến, vương cương tan rã, năm bá tranh hùng; kết quả dẫn đến trăm nhà đua tiếng, chư tử dấy lên. Cuối cùng nó đã hoài thai ra một "Phong trào giải phóng" triệt để từ tư tưởng học thuật, chính trị kinh tế, quân sự ngoại giao, đời sống xã hội... — đây cũng là một đoạn sử tích hào hùng rực rỡ nhất của văn minh phương Đông chúng ta. Tiếc thay phong trào hào hùng rực rỡ này cuối cùng lại kết thúc bằng cách thức "đốt sách chôn Nho" bi thảm nhất. Kể từ đó trở đi, trí tuệ của dân tộc chúng ta đã bị các bậc đế vương tướng lĩnh và thánh hiền Nho giáo dắt mũi, dắt suốt hai nghìn năm. Cho nên Đại sư Toynbee mới nói rằng, văn minh Trung Quốc kể từ đó không bao giờ gượng dậy nổi nữa.

Lại nhìn sang phương Tây xem, văn minh Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại vốn dĩ cũng hào hùng rực rỡ. Bất hạnh thay vào khoảng thế kỷ IV, V, họ bị "cuộc đại di cư của các dân tộc" đánh úp ngang hông, rốt cuộc bị các tộc rợ xâm lược (cũng giống như "Ngũ Hồ loạn Hoa" trong lịch sử nước ta), khiến cho chia năm xẻ bảy. Thế nhưng những tộc rợ phương Tây này, một mặt tuy hủy hoại văn minh La Mã, nhưng mặt khác lại tự mình "La Mã hóa" — tình cảnh ấy cũng giống như người Hán hóa của Ngũ Hồ nước ta vậy. Nhân lúc nhiễu nhương này, "Giáo hội Cơ Đốc" vốn là tà đạo bàng môn thời kỳ La Mã bèn thừa hư nhập thế. Tình hình ấy cũng giống như Phật giáo hưng thịnh ở thời Nam Bắc hướng nước ta vậy. Trải qua mấy trăm năm hỗn loạn, toàn bộ châu Âu cuối cùng đã bị đạo Cơ Đốc chinh phục để hình thành nên một "Thế giới Cơ Đốc" (Christendom) khổng lồ. (Ở phương Đông, Phật giáo không có được cái phúc này.)

Trong thế giới Cơ Đốc này, những tộc rợ lang thang lưu tán (tổ tiên của người da trắng châu Âu ngày nay) dần dần định cư. Những tù trưởng đã được La Mã hóa và Cơ Đốc hóa của họ cũng dần dần thực thi việc cai trị bộ tộc của mình và biến thành các chư hầu phong kiến (tương tự như thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc ở nước ta). Họ ai nấy chiếm cứ đất đai, nuôi dưỡng nông nô, tổ chức trang viên, không ngừng gia tăng sản xuất để làm giàu cho bản thân. Mà "Giáo hội Cơ Đốc" phát triển song song với họ ngoài việc chiếm đoạt đất đai ra, còn hưng biện giáo dục, xây dựng nhà thờ, chuẩn hóa văn hóa, bao biện Thượng Đế để tự tôn. Cứ như vậy hình thành nên "văn minh trung cổ" (medieval civilization) cường thịnh cả hai đầu "chính" (state) và "giáo" (church).

Do đó, xét về bản chất của văn minh trung cổ, nếu không có chư hầu phong kiến và chế độ sản xuất phong kiến thì xã hội tộc rợ không thể an định, nông nghiệp nguyên thủy không thể gia tăng sản xuất. Không có giáo hội và Thượng Đế, thì các tộc rợ kẻ "bái" này người "bái" nọ, tiểu bái bái đại bái bái, cũng không thành nổi tôn giáo, không thành nổi văn hóa. Cho nên chư hầu phong kiến và các vị linh mục giáo hội thời Trung cổ cũng đều có sứ mệnh văn hóa và công huân lịch sử của riêng họ. Hai bên phối hợp vừa độ, cũng có thể khiến cho thứ dân được năm được mùa cả đời no đủ, năm mất mùa tránh được cái chết. An cư lạc nghiệp, tiếng đàn tiếng hát khắp nơi, ôn hòa ấm áp, quả thực cũng có phong vị của thời Tam Đại. Cố sư phụ tôi, giáo sư Austin P.Evans — bậc uy quyền về sử trung cổ, luôn coi đời sống xã hội trung cổ là cảnh giới lý tưởng của đời sống xã hội loài người, quả không phải là lời khen hão huyền. Bạn không thấy Martin Luther đó sao? Luther đối với sự hủ bại của giáo hội tuy hận không thể cùng chết với nó, mà đối với chư hầu phong kiến lại khá có thể thấu hiểu châm chước, cũng có kiến giải trác việt của riêng ông.

Thế nhưng lịch sử suy cho cùng vẫn vận động theo thời gian. Cái gọi là "thời nào thức nấy". Chế độ phong kiến, chế độ trang viên, chế độ phường hội tuy đều có sứ mệnh lịch sử của nó, nhưng khi sứ mệnh đã hoàn thành, thời thế đổi thay; thời thế thay đổi mà chế độ không đổi thì chúng sẽ trở thành vật cản đường của tiến hóa, là kẻ phản cách mạng của lịch sử. Đây cũng chính là lý do vì sao người bạn Nghiêm Gia Kỳ của tôi sau khi du ngoạn Rome tham quan "Tòa án dị giáo" (Inquisition Court hoặc Holy Office) gần đây xong, liền không đội trời chung với nó.

Văn minh phong kiến trung cổ, nhờ tự bồi dưỡng tốt mà đạt đến trạng thái bão hòa, một "Phong trào giải phóng" (như "trăm nhà đua tiếng, chư tử dấy lên" thời cổ đại Trung Quốc) bèn ứng vận mà sinh. Thế nhưng sự sụp đổ của xã hội phong kiến Trung - Tây lại đồng nguyên mà khác đường. "Chư tử dấy lên" của nước ta cuối cùng kết thúc bằng việc chư tử cùng chung một hố. Phương Tây thì vì không xuất hiện được một Tần Thủy Hoàng, không thể thu cục diện "kẻ sĩ ẩn dật bàn luận ngang phè" này vào một mối, cho nên châu Âu hiện đại vì chống lại hai thứ gông cùm "chính" và "giáo" mà giống như một tổ ong, nổ tung ra khắp bốn hướng. Hình thức xuất hiện của nó như "cải cách tôn giáo", "cách mạng thương mại", "văn học thổ ngữ", "nghiên cứu khoa học kỹ thuật trái với giáo lý", "khôi phục và thi hành nghiên cứu "luật La Mã" vốn không được tín đồ Cơ Đốc ưa thích" v.v... Nói chung là một "Phong trào Phục hưng" theo nghĩa rộng, bấy giờ giống như lửa đồng cỏ cháy, lan ra không thể kìm chế. Trời đất châu Âu quá nhỏ bé, những tia lửa của chúng bắn tung tóe, nhanh chóng thiêu đốt khắp năm châu. Chúng chấm dứt "Thời kỳ tăm tối" của châu Âu, đẩy văn minh loài người từ "trung cổ" bước vào "hiện đại". Do đó, một bộ "Lịch sử thế giới cận đại" ba trăm năm, đã biến thành lịch sử của "chủ nghĩa bành trướng châu Âu".

7.3 Tính hai mặt của "chủ nghĩa bành trướng"

Cho nên sự bành trướng hướng ngoại của châu Âu hiện đại mang tính hai mặt thiện ác. Mặt "thiện" của nó bao trùm sự lan truyền hướng ngoại ở các mặt khác nhau (various aspects) của "văn minh hiện đại" bắt nguồn từ Tây Âu. Các mặt hình nhi thượng của nó đại khái có thể khái quát thành "ông Đệ" (dân chủ và các quan niệm liên quan); còn mặt hình nhi hạ của nó chính là "ông Xái" (khoa học).

Mà mặt ""của "chủ nghĩa bành trướng", chính là việc các quốc gia dân tộc da trắng Tây Âu lợi dụng thành quả khoa học kỹ thuật tiên tiến của mình, hãm hiếp đốt phá tàn sát các khu vực lạc hậu, tiến hành cướp bóc, xâm lược và lăng nhục trần trụi.

Do đó, chủ nghĩa bành trướng Tây Âu hiện đại này, sự lan truyền của mặt "thiện" tuy không phải là "động lực" ban đầu của nó, nhưng "kết quả" của nó thì không phải là không có điểm đáng lấy. Ví dụ như ví dụ nhỏ về đời sống hàng ngày "đánh răng" được nêu ở trên. Không có "gió Tây thổi đông", để chúng ta "Tây hóa" một phen, sáng ngủ dậy không đánh răng, chẳng phải sẽ rất khó chịu sao? Điểm này chúng ta đành phải bái tạ ơn huệ của những kẻ xâm lược vậy.

Thế nhưng sự truyền bá mang tính "chủ nghĩa bàn chải đánh răng" kiểu "vô tình ban đầu" này, rốt cuộc không thể địch lại những hành vi tội ác mang tính "cố ý làm ác" như đại bác bắn lửa đốt, buôn lậu buôn ma túy, "Người Trung Hoa và chó" v.v. Mặt "ác" này, chính là "chủ nghĩa đế quốc" và "chủ nghĩa thực dân" (Colonialism) không hơn không kém.

Cho nên nếu chúng ta muốn thảo luận về những thứ như "chủ nghĩa bành trướng", "chủ nghĩa thực dân" và "chủ nghĩa đế quốc" xuất phát từ phương Tây, bản chất đại đồng tiểu dị ấy, thì chúng ta phải nhìn nó từ các góc độ khác nhau. Nếu chúng ta chỉ bị tình cảm sai khiến, mà coi "chủ nghĩa đế quốc" là "cội nguồn muôn tội" của Trung Quốc cận đại, điều này ít nhiều cũng đi ngược lại sử thực. Bởi vì đằng sau nòng súng, khói thuốc phiện, nó rốt cuộc vẫn còn có một số điều tốt đẹp. Bạn không thấy những thứ như dân chủ, nhân quyền, giải phóng phụ nữ... v.v. mà ngày nay chúng ta đang làm rầm rộ, chẳng phải đều cùng chung một thuyền với "chủ nghĩa đế quốc" mà đến đó sao? Bằng không thì chúng ta chẳng phải vẫn đang làm cái trò "Tam tòng... (Sách gốc thiếu trang 171)

của quá trình chuyển hóa chiều sâu của nó. Thời điểm này có thể coi là đại ác của nó, thời điểm khác vì nhu cầu lợi ích của chính nó, hoặc cũng có dăm ba quả ngọt, phàm những điều này đều không thể vơ đũa cả nắm, hay lấy phiến diện thay cho toàn thể.

Thông tính của chủ nghĩa đế quốc phương Tây hiện đại là gì? Nói một cách đơn giản, đó là: Lạm dụng bạo lực, mưu cầu siêu lợi nhuận, bất chấp thủ đoạn, tuyệt tình quả nghĩa. Quy tắc chung này có thể nói là từ năm 1493 khi hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha chiếu theo Sắc lệnh Giáo hoàng (Papal Edict) chia đôi trái đất bắt đầu, cho đến khi Nhật Bản đầu hàng sau Thế chiến II năm 1945 kết thúc, được áp dụng chung cho tất cả các chủ nghĩa đế quốc trong hơn bốn trăm năm rưỡi mà không có sai lệch quá lớn.

Vào khoảng thế kỷ XV, XVI, khi hai nước Tây - Bồ bắt đầu bành trướng ra hải ngoại, chính là lúc họ lạm dụng bạo lực, mưu cầu siêu lợi nhuận. Nạn nhân thời bấy giờ chính là thổ dân da đỏ Trung Nam Mỹ và người da đen ven biển châu Phi. Người Tây Ban Nha vì cướp bóc thổ dân, tìm kiếm vàng bạc, từng có ghi chép đáng sợ là "ăn thịt người". Người Bồ Đào Nha ở ven biển châu Phi, bắt cóc người da đen bản địa, buôn bán làm nô lệ. Hành vi của họ nào đâu chỉ là "tuyệt tình quả nghĩa" mà thôi! Đến khi Vasco da Gama vòng qua mũi Hảo Vọng vào năm 1497, đi thẳng đến Ấn Độ và trở về hai năm sau đó, thu được siêu lợi nhuận gấp sáu mươi lần, quả thực khiến triều dã Tây Âu thèm thuồng đố kỵ.

Hai nước Tây - Bồ là những kẻ khởi xướng chủ nghĩa bành trướng Tây Âu. Thế nhưng trái đất suy cho cùng quá lớn, hai nước thực sự lại quá nhỏ. Hai nước phát triển theo hai hướng ngược nhau, làm chủ ba đại dương (Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương), rốt cuộc đến năm 1521 khi Magellan vòng quanh trái đất và hội sư tại Đông Nam Á, thì gánh nặng đã quá đà. Sau đó thổ dân địa phương và Hoa kiều Đông Nam Á, tuy chịu tai họa vô cùng sâu sắc — năm 1602 người Tây Ban Nha từng tàn sát hai mươi bốn ngàn Hoa kiều một lúc tại núi Đại Lôn (San Pablo del Monte) ở Philippines; năm 1631 lại giết hơn hai vạn kiều bào người Hoa của chúng ta tại Calamba — thế nhưng đối với bản thổ đại lục Trung Quốc thì từ đầu đến cuối họ chưa từng dám có ý đồ quá đáng. Người Bồ Đào Nha tuy vào năm 1557, lén lút vào Ma Cao dựng kho hàng nhỏ, và nhìn ra hòn đảo báu ở vùng biển ngoài khơi Đài Phổ rồi kinh ngạc trước vẻ "Formosa" (tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là "tươi đẹp"), nhưng bị giới hạn bởi quốc lực, cũng không cách nào cưỡng chiếm.

Đến khi người Hà Lan vào năm 1602 (năm Vạn Lịch thứ 30 nhà Minh) tổ chức "Công ty Đông Ấn" Hà Lan (Dutch East India Company) phát triển cùng "Quần đảo Đông Ấn" (Indonesia ngày nay), từng có lúc nhân cơ hội chiếm lĩnh một góc Đài Loan, nhưng cuối cùng vào năm 1660 (năm Thuận Trị thứ 17 nhà Thanh) đã bị Trịnh Thành Công đuổi đi.

Cho nên dẫu cho một hai tiểu bang hải quyền kể trên trong khoảng từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII từng làm cho toàn bộ Đông Nam Á (hầu hết cũng là phiên thuộc cũ của Trung Quốc) đảo lộn trời đất, sóng gió kinh hoàng, thế nhưng từ đầu đến cuối họ lại chưa từng dám xâm lược đại lục Trung Quốc, cho nên hai triều Minh Thanh trên đại lục của chúng ta kể từ sau khi Trịnh Hòa bảy lần giương buồm (1405 ~ 1433) thu buồm lại, liền co cụm ở chốn Thần Châu, ngủ giấc ngủ say sưa. Đối với những tên hải tặc phương Tây ngoài cửa lớn, hoàn toàn không biết gì, cũng không hề hỏi han. Giống như chuyến "Tàu thư tín Manila" (Manila Galleon, 1565 ~ 1815) do Tây Ban Nha thao túng, lấy thủy thủ gốc Hoa làm nền tảng, độc chiếm tuyến hàng hải trực thăng Thái Bình Dương nối liền hai châu Mỹ Á trong suốt hai trăm rưởi năm, quan thư nước ta vậy mà không có lấy một mảnh giấy ghi chép, giấc ngủ say sưa ấy, thật cũng đủ khiến người ta kinh ngạc!

Triều dã hai đời Minh Thanh nước ta, giấc mộng Hoàng lương bốn trăm năm (1433 ~ 1839), đến khi nha phiến thành dịch, bọn buôn thuốc độc từ phương Tây đến bắt nạt người ta, giật mình tỉnh giấc thì cảnh vật đã hoàn toàn đổi thay rồi!

7.4 Kẻ buôn bán thuốc phiện lớn nhất trong lịch sử loài người

Nếu xét về thứ tự trước sau của các nước Tây Âu hướng đông bành trướng, nước Anh thực ra ra đời rất muộn. Thế nhưng nước Anh lại là chủ nghĩa đế quốc toàn diện nhất, bền bỉ nhất, biết tùy cơ ứng biến, không câu nệ một khuôn phép, trăm hoa đua nở và vượt lên trước ở thời cận đại trong lịch sử thế giới. Trên thực tế, một bộ lịch sử ngoại giao Trung Quốc thời cận đại, chính là một "bộ lịch sử ngoại giao Trung - Anh". Nga, Pháp, Nhật chẳng qua chỉ là nước chư hầu phụ thuộc; còn nước Mỹ thì chẳng khác nào cái đuôi của Anh.

Người Anh tiến hành xâm lược phương Đông có kế hoạch bắt đầu từ việc thành lập "Công ty Đông Ấn" (East India Company, England) của Anh vào năm 1600. Công ty này là một tổ chức thương mại tư doanh. Thế nhưng tinh thần dân tộc đặc hữu của người gốc Anglo-Saxon là biết hòa hợp cùng nhau, trong nhà không đấu đá, đã có thể khiến cho công ty này sở hữu quyền lực chính trị kết hợp với vũ lực quốc gia của Anh, toàn diện bành trướng hướng ngoại. Mục tiêu đầu tiên của họ chính là "Vương triều Mông Cổ" (Mogul Empire, hoặc dịch là vương triều Mông Ngột, vương triều Mạc Ngọa Nhĩ) của Ấn Độ. Vương triều Mông Cổ lúc bấy giờ đã lộ rõ điểm yếu, các chư hầu dưới quyền mọc lên như nấm, nội hận không dứt, bèn tạo cơ hội cho Công ty Đông Ấn của Anh thừa cơ trục lợi. Thời kỳ đó việc xâm lược Ấn Độ ngoài người Bồ Đào Nha đã suy vi ra, vốn có hai cường quốc Anh - Pháp. Thế nhưng hai hùng tranh đấu, người Pháp rốt cuộc không phải là đối thủ. Người viết nay vẫn nhớ lại vài chục năm trước khi còn học cấp hai trên đại lục, giáo viên dạy lớp lịch sử thế giới từng bàn rất nhiều về câu chuyện lịch sử "tiểu tướng Anh Robert Clive đại bại lão soái Pháp Duplex (Dupleix)"; vô cùng sinh động có hồn, đến nay vẫn không quên. Dupleix vào năm 1757 đã bị Robert Clive đuổi khỏi Ấn Độ. Ấn Độ bấy giờ bị nước Anh độc chiếm, một nuốt là hai trăm năm, cho đến sau Thế chiến II mới khôi phục độc lập.

Mục tiêu chính thứ hai trong cuộc xâm lược phương Đông của người Anh chính là Trung Quốc. Thế nhưng thời điểm đó lại đang rơi vào thời thịnh thế Càn Long của nước ta. Quyền lực trung ương đang lúc đậm đặc, các tỉnh ven biển cũng không có chỗ sơ hở. Giao lưu Trung - Anh bấy giờ chỉ giới hạn trong thương mại quốc tế. Chỉ là nước Anh lúc bấy giờ hãy còn ở giai đoạn tiền cách mạng công nghiệp, ngoại trừ đồng hồ, vải nỉ và một số ít hàng hóa chế tạo ra, không có quá nhiều hàng hóa đủ cung cấp, trong khi lụa, trà, đồ sứ của nước ta lại có thể xuất khẩu vô hạn. Cho nên giai đoạn đầu thương mại Trung - Anh, "thâm hụt" phía Anh cực kỳ trầm trọng, hoàn toàn phải dựa vào tiền xu vàng bạc để bù đắp.

Bất hạnh thay, thương mại "thặng dư" của nước ta chẳng mấy chốc đã nhanh chóng đảo chiều. Đến năm 1773 (năm Càn Long thứ 38), sau khi Công ty Đông Ấn giành được độc quyền nha phiến (monopoly), thặng dư của nước ta chớp mắt biến thành thâm hụt, đến mức đổ ào ào như thác lũ, không thể kìm chế.

Nha phiến vốn sản xuất ở Nam Dương, Ấn Độ, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ v.v. mà Ấn Độ là tốt nhất và nhiều nhất. Đời nhà Minh được liệt vào "cống phẩm" phiên thuộc. Bởi vì nha phiến vốn là một loại thuốc cực kỳ hiệu quả. Đầu đời Thanh ở vùng ven biển phía nam mới thấy thói hư "hút thuốc bằng ống trúc", cũng là truyền từ hải ngoại sang, nha phiến bấy giờ mới biến thành thuốc độc.

Thời Thuận Trị, Khang Hi (1644 ~ 1722) người Mãn Châu vào làm chủ chưa lâu, khí thế bừng bừng; mà Trung thổ sau đại loạn, nhân dân giảm lớn, vật chất phong phú nhân dân giàu có. Chính phủ cũng có thể cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn quốc phục tùng Bắc Kinh; chính lệnh triều đình có thể thực hiện thông suốt từ trên xuống dưới. Độc tố nha phiến mới xuất hiện, chính phủ liền ban bố lệnh nghiêm cấm, cho nên cũng chưa đủ thành họa lớn. Nào ngờ đến thời kỳ Gia Khánh, Đạo Quang (1796 ~ 1850), thịnh thế của nhà Thanh đã xa vời, chu kỳ suy kiệt sắp đến, chính sự triều đình lỏng lẻo, tệ nạn tham nhũng của quan lại địa phương lại càng không thể kìm chế, lệnh cấm nha phiến bấy giờ dần dần trở thành tờ giấy lộn.

Điều càng không thể cưỡng lại hơn, chính là việc Đại Anh đế quốc cậy vào dư uy nuốt chửng Ấn Độ của mình, quan thương một thể, kéo buồm xuôi Đông, chở theo nha phiến cao cấp của Ấn Độ, tiến hành buôn lậu vũ trang ở vùng ven biển nước ta. Những chiếc tàu gom chứa nha phiến buôn lậu ấy, có khi thậm chí còn đậu ngay tại Hoàng Phố ở ngoại ô thành phố Quảng Châu! "Lạm dụng bạo lực, mưu cầu siêu lợi nhuận" không gì hơn thế. Mấy năm trước người viết du lịch Hoàng Phố, người hướng dẫn viên nói với tôi: "Đây là di tích của 'Trường Quân sự Hoàng Phố' trong thời kỳ Quốc - Cộng hợp tác lần thứ nhất." Tôi cũng nói với anh ta rằng: "Sớm hơn trường quân sự một trăm năm, đây cũng là di tích của việc người Anh buôn lậu bán thuốc độc, kho chứa nha phiến." Hướng dẫn viên ngạc nhiên sững sờ.

Những năm gần đây từng có các nhà sử học Trung - Tây kiên trì học thuyết "Chiến tranh Nha phiến không phải vì nha phiến mà đánh". Họ cho rằng "nha phiến" chỉ là một loại hàng hóa, do thương nhân Anh chở đến một hòn đảo nhỏ ở biển Linh Tinh ngoài khơi miền Nam Trung Quốc. Việc tiêu thụ nó vào nội địa Trung Quốc hoàn toàn do chính những thương nhân buôn lậu cực kỳ hiệu quả của bản thân Trung Quốc tiếp vận, không phải là trách nhiệm của người Anh. Học thuyết này quả thực là một kỳ đàm quái luận của giới học thuật lịch sử.

Người viết định cư tại thành phố New York hơn bốn mươi năm, những chuyện hậu trường buôn bán ma túy của thành phố này có thể nói là nắm rõ như lòng bàn tay. Những kẻ buôn ma túy cá thể đã biết, lớn thì đến những tên trùm ma túy tỷ phú, nhỏ đến những đứa trẻ tám, chín tuổi đi bán dạo "bột trắng" ngoài đường, có thể nói là "đã gặp rất nhiều người". Với cơ quan bài độc hiện nay của Mỹ cùng phương pháp khoa học mới mẻ — ngẫu nhiên đọc được báo cáo bài độc chính thức của họ, trực tiếp giống như tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, thế nhưng rốt cuộc vẫn không thể cấm được. Thậm chí tình hình ngày càng tồi tệ hơn, đô thị lớn nhất thế giới nay rốt cuộc lại bị bọn tội phạm ma túy chinh phục. Hiện nay chính phủ liên bang trong tình huống bó tay hết cách ở trong nước, chỉ đành cầu cứu bạn hữu, hy vọng có thể trực tiếp đánh vào sào huyệt "Tam Giác Vàng", cũng chưa thấy mang lại hiệu quả ra sao. Ôi chao, sự khó khăn của việc bài độc, há lại là chuyện mấy vị giáo sư ngồi ghế bóp da, lớn tiếng bàn luận trong tháp ngà có thể biết được dù chỉ một phần vạn?!

Kẻ tiểu nhân đọc sử xong, thường hay có những tưởng tượng viển vông: Giả sử có chủ nghĩa đế quốc siêu cấp, lấy pháo laser, bom nguyên tử làm hậu thuẫn, cưỡng ép chở một ngàn tấn "bột trắng Trung Quốc" (China White) tinh khiết nhất ngày nay, thả neo tàu tại "Đảo nhỏ Ellis" (Ellis Island) bên trong cảng New York để cung cấp cho các trùm buôn ma túy lớn nhỏ trong thành phố, thì thành phố New York vĩ đại sẽ thành thế giới gì? Nước Mỹ lại sẽ thành quốc gia gì? Phản ứng của Nhà Trắng Washington đối với kẻ buôn ma túy siêu cấp này sẽ ra sao đây? Điều này chẳng phải chính là Trung Quốc của hoàng đế Đạo Quang năm xưa hay sao?!

Hiểu được điều này, chúng ta phải biết rằng nước Anh thế kỷ XIX chính là kẻ buôn bán thuốc độc lớn nhất, chưa từng có và không bao giờ có lại trong lịch sử loài người! Hiểu được điều này, thì những người theo học thuyết hàng hóa nha phiến, cũng sẽ rất khó tự biện hộ được.

7.5 "Chiến tranh Nha phiến" và "Chiến tranh Trà"

Một số học giả có lẽ vẫn còn muốn biện luận rằng: Chuyện nha phiến gây họa là một chuyện. Việc nha phiến biến thành ngòi nổ của chiến tranh Trung - Anh lại là một chuyện khác. Với sự hồ đồ ngu muội (ignorance), bế quan tỏa cảng (seclusion), chống thương mại (anti-commercialism), bài ngoại (anti-foreignism) của chính phủ nhà Thanh bấy giờ, cho dù không có nha phiến, thì bất kỳ một loại "phiến" nào khác — bánh mì lát, cơm lát, tã lót, tã tè — cũng đều có thể làm ngòi nổ cho "Chiến tranh Bánh mì lát"..."Chiến tranh Tã lót" chứ đâu chỉ riêng gì nha phiến nữa? Cuộc chiến Trung - Anh là điều sớm muộn gì cũng bùng nổ, không phải lỗi của nha phiến.

Lời này thực sự là một lời hồ đồ khác mờ mịt về mặt sự thật lịch sử.

Sử sách Trung - Tây liên quan đến "Chiến tranh Nha phiến, 1839 ~ 1842" có không dưới vài trăm loại. Các nhà sử học ngày nay đối với diễn biến của chiến tranh, đại khái đều đã nghe nhiều thành quen, không cần phải tranh cãi. Tác phẩm của người viết bị giới hạn bởi độ dài, cũng không cách nào kể lại sự thật lịch sử (ở phần chú thích sẽ lược thuật lại thêm). Thế nhưng bản chất cơ bản của cuộc chiến đó, những chỗ cần phải nghiên cứu thảo luận thì lại rất nhiều.

Phải biết rằng "nha phiến" là "hàng hóa" không thể thay thế của phía Anh trong cuộc chiến tranh Trung - Anh năm đó — lợi nhuận thu được phong phú vô cùng (đọc giả cứ thử nhìn những kẻ buôn ma túy ngày nay thì sẽ rõ), thiên hạ vô song; sự đóng góp của nó vào thu nhập quốc khố của nước Anh năm đó (national revenue), cũng là thứ không thể thiếu; sự đóng góp của nó đối với sự phồn vinh của London, sự tăng trưởng của "thu nhập quốc dân", cùng với việc nâng cao mức sống của các quý ông quý bà, cũng vượt quá tưởng tượng — hãy nhìn những tòa cao ốc được xây dựng vào thế kỷ XIX ở London, Hong Kong... mà ngày nay vẫn đứng sừng sững, có mấy tòa là không liên quan đến nha phiến? (Bạn có biết không? Những kiến trúc loại này ở New York và Boston thỉnh thoảng cũng có. Người Anh độc quyền nha phiến cao cấp Ấn Độ; còn hàng thứ phẩm sản xuất ở Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ thì do thương nhân Mỹ kinh doanh.)

Nói tóm lại, "buôn bán nha phiến" (opium trade) là thương mại quốc tế có liên quan sống còn đến vận mệnh quốc gia và sinh kế dân chúng của triều dã London năm đó, không thể thiếu được. Nữ hoàng và Quốc hội đều không tiếc chiến đấu vì nó. Thế nhưng hồ sơ Quốc hội Anh chẳng phải có thể hiện rõ ràng hay sao, những nghị sĩ Anh phản đối chiến tranh há chẳng phải có rất nhiều hay sao? Đây chính là thấy cây mà không thấy rừng, cái nhìn của nhà sử học nhỏ nhen. Nước Anh cũng giống như nước Mỹ, suy cho cùng là một quốc gia dân chủ có tự do ngôn luận mà! Sau sự kiện Trân Châu Cảng, bên trong Quốc hội Mỹ chẳng phải vẫn có người phản đối tuyên chiến với Nhật Bản đó sao!

Cho nên chúng ta dám khẳng định: "Cả hai bên Trung - Anh trong Chiến tranh Nha phiến đều chiến đấu vì nha phiến." Bằng không thì nó đã không được gọi là "Chiến tranh Nha phiến". "Chiến tranh giành độc lập nước Mỹ" bắt đầu năm 1776, là do trà Ô Long của Trung Quốc châm ngòi. Cuộc chiến đó không chiến đấu vì trà, cho nên nó không được gọi là "Chiến tranh Trà".

Thế nhưng cuộc chiến tranh Trung - Anh giữa thế kỷ XIX liệu có giống như mô tả của một số nhà sử học trong và ngoài nước, dù là "nha phiến" hay "tã lót" thì cũng "buộc phải đánh" hay không?

Đáp rằng: Phải mà không phải. Sao lại thế? Thưa rằng: Nếu không có chính sách tay sắt "vào cửa là trừng phạt theo pháp luật, thuyền và hàng hóa thuộc về quan phủ" của đại thần Lâm Văn Trung, thì "Chiến tranh Nha phiến" sẽ không bùng nổ! Bởi vì triều đình nhà Thanh đến lúc này, việc cấm hút thuốc đã được hơn một trăm năm. Thế nhưng họa nha phiến càng cấm càng liệt, buôn bán nha phiến càng cấm càng lớn. "Chiến tranh Nha phiến" vốn dĩ chiến đấu vì nha phiến mà! Nếu lệnh cấm nha phiến từ đầu đến cuối chỉ là một tờ giấy lộn, thì nước Anh tội gì phải phát động cuộc chiến tranh nha phiến nào chứ? Khổ nỗi họa nha phiến, đến giữa đời Đạo Quang đã đến mức không thể kìm chế. Bất kỳ quốc gia nào có quyền tự chủ trên thế giới, vì sự sinh tồn của chính mình, đều buộc phải cấm.

Chúng ta ngày nay nếu thử đọc lại nguyên văn bản tấu 〈Xin nghiêm bịt lỗ hổng để bồi dưỡng gốc rễ quốc gia〉 của Hồng lô tử khanh Hoàng Tước Tư năm 1838 (năm Đạo Quang thứ 18 nhà Thanh), thì sẽ biết rằng lợi nhuận kinh doanh của thương nhân xuất nhập khẩu chính đáng, "so với lợi nhuận của nha phiến, không bằng mấy phần chục". Cho nên "ý đồ của người di, không ở chỗ kia mà ở chỗ này". Lại còn nói đến việc phạt nhẹ nghiện nặng, người hút ma túy "không thể chậm trễ... Xét theo lệ cũ: Người hút nha phiến, tội chỉ mang gông đeo trượng. Kẻ không chỉ ra người bán, tội trượng một trăm, lưu đày ba năm. Nhưng đều là tội sống. Nỗi khổ cai nghiện còn đau đớn hơn gông trượng và lưu đày. Cho nên thà phạm hình phạt rõ ràng chứ không chịu đoạn tuyệt. Nếu khép tội chết, thì sự thảm khốc lúc hành hình, còn khổ hơn sự sống lất lưởng lúc cai nghiện... Ta biết họ thà tình nguyện cai nghiện mà chết ở nhà, nhất định không chịu chịu hình phạt mà chết ở pháp trường...". Sự tường thuật chân thực này, đem đối chiếu với thảm họa ma túy ở New York ngày nay, đều hoàn toàn khớp với nhau. Còn về câu nói nổi tiếng về việc cấm hút thuốc rằng, nếu nha phiến không được cấm, thì tương lai "không những không có bổng lộc để trù tính, mà đồng thời cũng không có binh lính để sử dụng". Trung Quốc nếu suy sụp đến bước đường đó, thì "Chiến tranh Nha phiến" sẽ không còn cần thiết phải "buộc phải đánh" nữa. Cảnh giới này lại chính là điều mà nước Anh — kẻ buôn ma túy lớn này — hằng mong đợi ở Trung Quốc trước Chiến tranh Nha phiến! Điều nằm ngoài dự liệu của họ chính là hoàng đế Đạo Quang lại phái ra một Lâm Tắc Từ có năng lực giữ gìn và dám làm dám chịu. Lâm Tắc TừKý nhiên thật yếu cấm khởi yên lai,thật đích means business, thì cuộc chiến này mới thực sự "buộc phải đánh". Đánh nhau suốt bốn năm, Trung Quốc đại bại thua lỗ, rốt cuộc mang lại kết quả "năm cảng thông thương", "nhượng địa Hong Kong", trong phần chính văn của chương này, không cần phải nói chi tiết nữa.

Quyền đánh hay không đánh của "Chiến tranh Nha phiến" nằm trong tay Thủ tướng và Quốc hội Đại Anh đế quốc. Khâm sứ họ Lâm chỉ là bị động ứng biến mà thôi. Ông nếu muốn nghiêm túc cấm hút thuốc, mặc kệ vị khâm sứ quý hóa là Lâm Tắc Từ hay Trương Lâm Tắc Từ, thì cũng đều phải ăn đòn. Đúng hay sai?

7.6 Từ "Ấn Độ thứ hai" đến đứng đầu kinh tế

Nước Anh vào cuối thời nhà Thanh đã đánh tổng cộng ba trận với Trung Quốc — một trận "toàn trận" ("Chiến tranh Nha phiến", 1839 ~ 1842), hai trận "bán trận" đánh chung với các liệt cường khác ("Chiến tranh Nha phiến lần thứ hai", còn gọi là "Liên quân Anh - Pháp", 1858 ~ 1860; và "Liên quân tám nước", 1900 ~ 1901, các sử học gia còn gọi là "Loạn Quyền phái", "Nghĩa Hòa Quyền", loạn phù Thanh diệt ngoại).

Đoạn trước đã nói rồi, nước Anh là chủ nghĩa đế quốc biết tùy cơ ứng biến, mười môn đều giỏi nhất trên thế giới hiện nay, cho nên tính chất và phương thức của ba cuộc chiến tranh mà họ đánh với chúng ta cũng có sự khác biệt rất lớn.

Bá tước Disraeli (Earl Benjamin Disraeli, 1804 ~ 1881) — người từng hai lần làm Thủ tướng Anh (1868, 1874 ~ 1880) từng có câu nói nổi tiếng rằng: "Đại Anh đế quốc không có kẻ thù vĩnh hằng, cũng không có bạn bè vĩnh hằng, chỉ có lợi ích vĩnh hằng." Cho nên ba cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc kể trên, tuy phương thức khác nhau, tính chất khác nhau, nhưng việc chiến đấu vì "lợi ích vĩnh hằng" của Đại Anh đế quốc thì là một.

Nói một cách khái quát, cuộc chiến nha phiến Trung - Anh, mục tiêu và phương thức của nước Anh đều lấy lịch sử xâm lược Ấn Độ của họ làm mô hình. Tận năm Càn Long thứ 57 (1792), khi vua Anh George III phái Bá tước Macartney (Earl George Macartney, 1737 ~ 1806) đi sứ Trung Quốc, ông ta đã sớm biết hỏa khí của quân Thanh lạc hậu thế nào, về mặt quân sự hoàn toàn không phải là đối thủ của nước Anh. Trước Chiến tranh Nha phiến, người Anh không chỉ thấy rõ quân Thanh không đủ sức địch nổi, mà sự hủ bại của chính quyền nhà Thanh lại càng bị phía Anh coi thường. Cho nên chỉ cần một hạng mục nha phiến xâm nhập, là có thể không đánh mà khuất phục người ta, biến Trung Quốc thành "Ấn Độ thứ hai". Các bậc lão bối Hán học phương Tây đọc tác phẩm nông cạn của người viết có lẽ sẽ vu oan là nói quá lời. Kỳ thực việc người Anh khuất phục Ấn Độ nào có kế hoạch toàn diện nào đâu? Bọn họ chỉ là nhân đà xâm lược, được đằng chân lân đằng đầu, cuối cùng tạo thành sự đã rồi mà thôi. Việc xâm lược Trung Quốc cũng vậy. Sau Chiến tranh Nha phiến, thì tâm địa của Tư Mã Chiêu cũng được những người đồng minh da trắng máu mủ liền ruột của họ đồng thuận.

Parker vốn là nhà truyền giáo người Mỹ, trước Chiến tranh Nha phiến đã có quan hệ thân mật với những kẻ buôn lậu nha phiến. Sau chiến tranh vì sốt sắng muốn đi sâu vào nội địa tự do truyền giáo, mà ủng hộ chính sách xâm lược Trung Quốc tích cực của nước Anh. Đến khi Parker từ đại biện quán viên Mỹ thăng chức lên làm công sứ đời thứ năm, vậy mà lại khẩn cầu Washington "chiếm lấy Đài Loan", lúc bấy giờ mới bị Tổng thống James Buchanan bãi nhiệm.

Thế nhưng nước Anh suy cho cùng là một chủ nghĩa đế quốc có tu dưỡng. Không lâu sau Chiến tranh Nha phiến, chính phủ Anh đã sớm hiểu rõ việc độc chiếm Trung Quốc là không dễ dàng. Bởi vì Trung Quốc là một đại đế quốc thống nhất tập trung quyền lực cao độ, rất khó chia để trị giống như cách người Anh ngự trị Ấn Độ. Hơn nữa, sau Chiến tranh Nha phiến, các cường quốc Nga, Pháp, Mỹ cũng nối gót kéo đến; quần hùng cùng nhau xâu xé Trung Quốc to lớn yếu ớt; mỗi kẻ chia một miếng bánh suy cho cùng là xu thế tất yếu, mà một nước nuốt trọn thì đã quá muộn rồi. Cho nên sau cuộc khởi nghĩa Kim Tấn của "Quân Thái Bình" (1850), chính sách đối với Trung Quốc của nước Anh bấy giờ có sự thay đổi rất rõ rệt.

Trong giai đoạn này, người Anh không còn ôm mưu đồ theo mô hình Ấn Độ nữa. Mà chuyển sang liên minh với hai nước Pháp - Mỹ dùng vũ lực ép buộc chính phủ nhà Thanh dưới các điều kiện hiệp ước bất bình đẳng, tiến hành mở cửa toàn diện ven biển và trong nội địa. Lúc bấy giờ các cường quốc Pháp - Mỹ tuy cũng theo gót người Anh thọc chân vào đại lục Đông Á, thế nhưng sức mạnh kinh tế của họ so với thương nhân Anh thì nhỏ bé không đáng kể. Nếu chính phủ Anh có thể xúi giục các liệt cường cùng ép triều đình nhà Thanh mở cửa toàn diện, thì kẻ thực thu lợi ích rốt cuộc vẫn chỉ có một mình Đại Anh đế quốc mà thôi. Lời mời này của nước Anh, chính phủ Mỹ vì hoài nghi động cơ của nó nên không muốn tham gia, còn nước Pháp thì vui vẻ sập bẫy, đây chính là toàn bộ đầu đuôi kinh vĩ của việc liên quân Anh - Pháp công chiếm Bắc Kinh vào năm 1860.

Bắc Kinh đã thất thủ, Viên Minh Viên bị thiêu rụi, mà hoàng đế Hàm Thử nhà Thanh cũng chết ở Thừa Đức, dẫn đến chính biến trong cung, các góa phụ thùy liêm. Triều đình nhà Thanh đến lúc này đối với chủ nghĩa đế quốc phương Tây đã hoàn toàn mất đi năng lực kháng cự. Đối với mọi đòi hỏi của các liệt cường, quả thực là răm rắp nghe theo. Cho nên những hiệp ước mà chính phủ nhà Thanh ký kết với các liệt cường tại hai nơi Thiên Tân và Bắc Kinh, có thể nói đều là những hiệp ước dưới thành áp đảo một chiều dựa trên cơ sở các điều kiện do người Anh yêu cầu. Kẻ mạnh tùy ý đòi hỏi, kẻ yếu cúi đầu nghe lệnh — đó chính là cái gọi là quá trình thực tế thúc đẩy Trung Quốc gia nhập "hội đoàn thế giới", áp dụng "thể chế hiệp ước" theo một số nhà sử học phương Tây ngày nay.

Dưới "thể chế hiệp ước" này, triều đình nhà Thanh sau đó đã ký một loạt các hiệp ước, không những vâng lệnh mở cửa toàn bộ các cảng biển quan trọng của Trung Quốc, mà việc người nước ngoài đi lại trên sông nội địa, làm đường khai mỏ, truyền giáo biện học, thuê đất cư trú cũng đều được hiệp ước bảo vệ. Người Anh giám sát hải quan nước ta, thay biện bưu điện cũng đều được thực hiện đầy đủ, mà một trong những điều khoản độc ác nhất trong 〈Hiệp ước Bắc Kinh Trung - Anh〉 (1860) chính là "buôn bán nha phiến là thương mại hợp pháp".

Trong 〈Hiệp ước Nam Kinh Trung - Anh〉 (1842), việc buôn lậu nha phiến đã được lấp liếm cho qua, không nhắc đến một chữ. Thế nhưng 〈Hiệp ước Vọng Hạ Mỹ - Trung〉 (1844) lại quy định rõ ràng nha phiến là "hàng cấm" (contraband), buôn bán là buôn lậu, thương nhân Mỹ không được tham gia. Năm 1858, Hiệp ước Thiên Tân Mỹ - Trung gia hạn, công sứ Mỹ William B.Reed (William B.Reed) vốn định gia hạn điều khoản này, thế nhưng bị công sứ Anh Lord Elgin át vía, bèn xóa bỏ điều khoản này, từ đó khiến cho người Anh không tốn một lời mà biến buôn bán nha phiến thành hợp pháp. (Xem báo cáo số 23 gửi Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 23 tháng 6 năm 1858 từ Thiên Tân của William B.Reed. Bản gốc lưu trữ tại "Cục Quản lý Hồ sơ Quốc gia" Mỹ.)

Đã được hợp pháp hóa rồi, thì hàng hóa "nha phiến" nhập khẩu vào Trung Quốc mỗi năm một nhiều, cuối cùng vào cuối thời Thanh chiếm hơn sáu mươi phần trăm tổng kim ngạch ngoại thương toàn Trung Quốc; mà việc vận chuyển thương mại xuất nhập khẩu của Trung Quốc lúc bấy giờ, hầu như cũng do thương nhân Anh tổng thầu bao trọn. Sự phát triển hướng Trung Quốc của chủ nghĩa đế quốc Anh đến đây cũng có thể gọi là đạt đến đỉnh cao.

Nhà cao cửa rộng, mũ cao áo dài, thần dân của Đại Anh đế quốc lúc bấy giờ quả thực ngạo nghễ muôn nước, coi thường toàn cầu. Hàng ức con người nghèo hói bẩn thỉu, mặt vàng da cam, dốt nát vô tri những tên "John Chinamen" (người Trung Quốc), ngước nhìn "Công viên Bến Thượng Hải" hào nhoáng thanh lịch, thì cũng đành chịu cảnh "không được cùng chó vào" vậy.

Bạn tôi ơi, đây chính là hiện thực của đại lược xâm lược Trung Quốc của "chủ nghĩa đế quốc phương Tây" lấy nước Anh làm trục chính vào buổi mạt vận nhà Thanh và hậu quả nghiêm trọng của nó. Mặc dù giới Hán học Trung - Tây hiện nay đều có những luận điệu khác, nhưng sử liệu vẫn rành rành ở đó. Đợi đến khi mọi người đều có thể sử dụng cùng một sử liệu để khai quật sự thật lịch sử, thì phải trái cuối cùng sẽ sáng tỏ. Tổng thống Lincoln nói rất hay: "Bạn có thể lừa dối tất cả nhân dân trong một lúc; lừa dối một phần nhân dân mãi mãi; nhưng bạn không thể lừa dối toàn thể nhân dân mãi mãi." Đây chính là tín điều của nhà sử học công tâm.

Cho nên khi 〈Hiệp ước Bắc Kinh Trung - Anh〉 được ký kết, nguyện vọng đối với Trung Quốc của người Anh có thể nói là đã đạt được toàn bộ. Đại Anh đế quốc dẫu nương tay, về mặt chính trị không biến Trung Quốc thành Ấn Độ thứ hai, nhưng lại giành lấy mọi quyền lợi kinh tế để đánh gục Trung Quốc thành thuộc địa của Đại Anh. Thế nhưng Trung Quốc suy cho cùng vẫn chưa trở thành thuộc địa. Các liệt cường ùa kéo đến, thì làm thế nào để Đại Anh đế quốc duy trì được những lợi ích đã có ở Trung Quốc, làm thế nào để duy trì "hiện trạng" (status quo) và từ đó thúc đẩy nó, liền trở thành trọng tâm trong chính sách đối với Trung Quốc của nước Anh ở giai đoạn tiếp theo.

7.7 Sự chuyển hóa trong chính sách của Đế quốc Anh và "mô hình châu Phi" của Đế quốc Pháp

Nói ngắn gọn. Từ 〈Hòa ước Bắc Kinh〉 năm 1860 cho đến năm 1901 khi ký kết 〈Hiệp ước Tân Tự〉 chấm dứt "Liên quân tám nước", trong khoảng thời gian bốn mươi năm, sự phát triển chiều sâu của chính sách Đại Anh đế quốc đối với Trung Quốc, vậy mà dần dần từ một mụ dạ xoa mặt mày dữ tợn, hút máu ăn tủy, biến thành một vú em hùng mạnh bảo vệ "độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ" của Trung Quốc! Mặc dù trong khoảng thời gian này họ vẫn cướp đoạt Myanmar (1885), "thuê" chiếm Uy Hải Vệ và Cửu Long (1898), nhưng so với sự tham lam hung ác của Nga, Pháp, Nhật thì quả thực là "đạo cũng có đạo". Chín mươi năm sau mấy ai biết rằng cái hòn đảo nhỏ Hong Kong ban đầu từng chứa chấp nha phiến, bao che buôn lậu ấy, lại biến thành thánh địa để hàng triệu nhân dân bảo vệ nhân quyền dân chủ; con chó săn mặt mày đáng ghét của chủ nghĩa đế quốc ngày nay lại biến thành vị quan thanh liêm được người dân Hong Kong níu áo bái biệt, rơi lệ trước bia đá? Chúng ta đối với tu dưỡng chính trị và nghệ thuật thống trị của dân tộc nói tiếng Anh, quả thực phải ngả mũ cúi chào. Đây cũng là căn cứ lý luận mạnh mẽ nhất của những kẻ luận bàn về ảo giác chủ nghĩa đế quốc của họ phải không nào?!

Sự diễn biến trong chính sách đối với Trung Quốc của nước Anh dĩ nhiên đều lấy "lợi ích vĩnh hằng của Đại Anh đế quốc" làm điểm xuất phát. Nhưng dù tiến hay lùi, họ đều có thể phát huy trúng mực, đúng như lời Churchill đã nói: "Giết người cũng phải giết cho thật lịch sự chứ!" Không giống như các chủ nghĩa đế quốc khác, đặc biệt là tác phong tồi tệ như nước Nga và nước Nhật.

Lại nói về nước Pháp. Vai trò mà chủ nghĩa đế quốc Pháp đóng vai ở Trung Quốc cuối đời Thanh hoàn toàn là một "chủ nghĩa thực dân" một trăm phần trăm. Mô hình của nó chính là sự tiếp nối của mô hình châu Phi sau khi bị chia cắt. Ở châu Phi thế kỷ XIX, các quốc gia đế quốc chủ nghĩa châu Âu lần lượt thiết lập thuộc địa của mình. Sau khi chia chiếm xong, các bên lập rào lũy kiên cố, không nhường bước cho nhau, tình thế giống như nước thù địch. Một khi nội bộ châu Âu có mâu thuẫn, thì châu Phi cũng mâu thuẫn theo. Đây chính là ý đồ hướng về Quảng Tây, Vân Quý sau khi người Pháp cưỡng chiếm An Nam (1885) và vịnh Châu Giang / Quảng Châu Loan (1898). Sau đó việc người Đức chiếm lĩnh vịnh Giao Châu, chiếm Thanh Đảo (1898), lấy Sơn Đông làm "vùng ảnh hưởng" (sphere of influence) cũng thuộc loại này.

Còn về nước Nga, phương thức và tính chất xâm lược Trung Quốc của họ lại là một hình thái khác.

7.8 Nước Nga của chủ nghĩa đế quốc cương thổ

Đoạn trước đã nói "chủ nghĩa bành trướng châu Âu" vốn là hiện tượng thời đại trong "giai đoạn hiện đại" (The Modern Era) của lịch sử loài người. Chủ nghĩa bành trướng châu Âu hướng đông phát triển vốn có hai con đường biển và đất liền. Các đoạn trên đều lấy hai nước Tây - Bồ làm tiên phong, hai nước Anh - Mỹ làm hậu thuẫn là "chủ nghĩa đế quốc trên biển"; mà chủ nghĩa đế quốc tiến hành con đường đất liền xâm lược phương Đông, thì chỉ có duy nhất một nước Nga mà thôi.

Nước Nga thời trung cổ lấy Kiev làm trung tâm, vốn là một quốc gia nhỏ bé cực kỳ lạc hậu ở Bắc Âu với thành phần chủ thể là người Slav. Năm 1340 (năm Gia Tế thứ tư nhà Nam Tống), Kiev bị quân viễn chinh Mông Cổ phá hủy. Sau đó, nơi này rơi vào cảnh làm chư hầu cho đế quốc Mông Cổ suốt hai trăm bốn mươi năm. Đến năm 1480 (năm Thành Hóa thứ mười sáu nhà Minh) mới thoát khỏi sự thống trị của người Mông Cổ và giành lại độc lập. Thế nhưng, trong suốt hai trăm bốn mươi năm bị Mông Cổ thống trị đó, tiểu quốc vốn không ra Đông không ra Tây này lại học được một số thủ đoạn thống trị vừa mang tính Đông phương lại vừa mang tính Tây phương. Quan trọng nhất trong số đó chính là chính phủ chuyên chế cực đoan dưới thời Mông Cổ. Do đó, vị Sa hoàng đầu tiên sau khi Nga quốc khôi phục độc lập là "Ivan Bạo chúa" (Ivan The Terrible), chính là nhà cai trị khủng bố tàn ác nhất thời bấy giờ trên thế giới đến mức tự tay giết cả Thái tử. Người Nga lúc bấy giờ cũng vì lâu ngày chịu sự thống trị khủng bố của Mông Cổ, một khi khôi phục độc lập liền hùa theo nhà cai trị khủng bố của mình, tạo ra sự phản kháng mang chủ nghĩa bành trướng kinh hoàng nhất. Do phía Tây bị cản trở bởi các cường quốc Tây Âu hùng mạnh và văn minh hơn, Đế quốc Nga đành phải điên cuồng tiến về phía Đông.

Người Slav vốn là một dân tộc nhỏ yếu ở Bắc Âu. Ai ngờ một khi dã tính bùng phát, chỉ trong vài chục năm lại vượt qua dãy núi Ural (Ural Mountains) là ranh giới giữa Á và Âu, trở thành tai tinh số một ở Trung Á và Siberia. Siberia chính là âm chuyển của chữ Tiên Ti Lợi Á, quê hương của các dân tộc thiểu số vùng biên ải Tây Bắc nước ta. Những "dân tộc thiểu số" này vốn dĩ là các dân tộc du mục sống theo nguồn nước và bãi cỏ, di chuyển theo mùa, mỗi năm di dời nam bắc hơn ngàn cây số. Bản thân tuy cực kỳ hung hãn, nhưng nếu không có đại thủ lĩnh đứng ra thống nhất thì cũng mạnh ai nấy sống; thậm chí còn ghen ghét lẫn nhau, tạo cơ hội cho kẻ xâm lược từng bước đánh bại.

Khi người Nga xâm lược phương Đông, vũ lực của họ tuy chỉ có từ vài trăm đến vài ngàn người, nhưng lại sở hữu hỏa khí hiện đại, vì thế thực lực "đánh từng bộ phận" rất mạnh. Mà sự tàn khốc lúc người Nga bành trướng có lẽ còn vượt lên trên cả các quốc gia cướp biển Tây Âu. Hành vi giết người diệt tộc, cưỡng hiếp cướp bóc, đốt phá, thậm chí nướng thịt người để ăn kèm, cũng từng lưu lại ghi chép và có án tích để tra cứu. Thúc phụ của tác giả là tiến sĩ Đường Thịnh Hạo tinh thông tiếng Nga, ông đã đọc qua các tư liệu lịch sử liên quan trong kho lưu trữ của Sa hoàng được công bố sau Cách mạng Nga, đọc lên quả thực khiến người ta kinh hãi đến mức khó mà tưởng tượng nổi. Cho nên Sa Nga xâm lược phương Đông hơn trăm năm, Siberia thực sự bị chúng tàn sát thành một biển máu.

May mắn thay, vào thế kỷ XVII và XVIII, nhà Thanh của Trung Quốc trỗi dậy, mà bản thân ba triều đại Khang Hì, Ung Chính, Càn Long (1662~1795) vốn dĩ cũng là một đế quốc chủ nghĩa trên bộ hùng mạnh. Do đó vào cuối thế kỷ XVII, khi quân Nga xâm lược tiến đến sườn phía Tây của dãy Ngoại Hưng An Lĩnh, thì đã bị quân Thanh hùng mạnh chặn lại. Sau một trận chiến, lục quân thất bại, từ đó mới có việc ký kết điều ước giữa Trung và Nga (năm Khang Hì thứ 28 nhà Thanh, công nguyên 1689). Khoản chính của hiệp ước ấy là hai cường quốc lấy dãy Ngoại Hưng An Lĩnh làm ranh giới, phân định lãnh thổ mà cai trị. Cuộc xâm lược đường bộ hướng Đông của người Nga đến đây mới chấm dứt một giai đoạn lớn; hai bên sống hòa bình yên ổn với nhau trọn vẹn một trăm bảy mươi năm. Cho đến năm 1860 (năm Hàm Phong thứ 10), Liên quân Anh Pháp công phá Bắc Kinh, người Nga liền xé bỏ điều ước , tiến chiếm vùng Đông Bắc nước ta, chiếm đoạt trái phép Hải Sâm Uy, đổi tên thành "Trấn Đông Cảng" thuộc Nga (tiếng Nga là Vladivostok, chính là sự kết hợp của hai chữ Trấn Đông), từ đó trở thành tai họa ở phương Bắc cho đến nay vẫn chưa dứt.

Thế nhưng nước Nga từ thời Sa Nga cho đến Xô Nga đều là quốc gia sản xuất lạc hậu, buôn bán với Trung Quốc thời nhà Thanh, ngoài số lượng lớn da thú ra, cũng không có nhiều hàng hóa nhập khẩu, cho nên họ không có mấy hứng chí với thương mại Trung Hoa, mà thứ họ coi trọng là lãnh thổ. Vì vậy, Đế quốc Nga vào buổi hoàng hôn cuối đời nhà Thanh là một chủ nghĩa đế quốc đất đai thuần túy (territorial imperialism), so với sự toàn diện mười môn của nước Anh thì kém xa lắm. Thế nhưng trong trận chiến Liên quân Anh Pháp, chúng lại có thể đục nước béo cò, không tốn một viên đạn mà chiếm sạch vùng Đông Bắc nước ta, cùng toàn bộ Siberia ở phía đông dãy Ngoại Hưng An Lĩnh; lại nhân thế vượt qua eo biển Bering mà chiếm sạch Alaska, trực tiếp giáp mặt với chủ nghĩa đế quốc Đại Anh từ Canada đi tới. Người Nga tự biết không thể giữ nổi, bèn đút lót Thượng viện và Hạ viện Mỹ, với giá rẻ mạt là 7,2 triệu đô la Mỹ (khoảng năm xu một mẫu) để bán cho nước Mỹ sau nội chiến, thế nhưng lãnh thổ toàn cảnh Đông Bắc nước ta mà chúng dùng vũ lực phi pháp chiếm đoạt thì một tấc cũng không trả lại.

Khi đọc của hai triều Hàm Phong và Đồng Trị, thấy văn bản kêu cứu của các viên quan biên ải mãn thanh gửi về triều đình Bắc Kinh, ngay cả trong lúc tiếng đại bác của Liên quân Anh Pháp tiến đánh Bắc Kinh đang dồn dập, thì các bài văn được gửi đến từ Thịnh Kinh vẫn chiếm số lượng nhiều nhất, đủ thấy sự gấp gáp đục nước béo cò của Đế quốc Nga đến nhường nào.

Việc Đế quốc Nga thôn tính lãnh thổ Trung Quốc, từ thời Phê-trơ Đại đế (Peter The Great, cai trị nước Nga bốn mươi ba năm, 1682~1725) cho đến Stalin (cai trị Xô Nga ba mươi năm, 1924~1953), thoạt đầu không hề thay đổi mảy may. Từ Hải Sâm Uy phía Đông cho đến Y Lê phía Tây, biên giới hai nước kéo dài năm ngàn dặm, người Nga luôn hổ rình mồi, chớp thời cơ để hành động. Tham vọng của họ là thôn tính toàn bộ Mãn Mông và Tân Cương, chứng cứ rành rành. Các nhà sử học cận đại nước ta mỗi khi nhắc đến các tiểu khu như đảo Đường Lỗ, Lương Hải, Đạo Khỏa Sáu Mươi Truân và Y Lê làm ví dụ, thì thật là đã xem thường người hàng xóm phương Bắc rồi. Đại chí của người láng giềng phương Bắc vốn dĩ là toàn bộ Mãn Mông và Tân Cương ở phía bắc Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc.

Tầm nhìn xâm lược Trung Quốc này của Đế quốc Nga, bên chịu tai họa lớn nhất tất nhiên là Đại Thanh Đế quốc, thế nhưng triều đình nhà Thanh đến lúc này nếu có thể giữ được Cấm thành Bắc Kinh thì đã là quá sức, còn về biên cương hay các nước phiên thuộc thì đành chịu thua không thể lo xuể. Đế quốc Nga nhòm ngó biên cương, nhà Thanh vô năng, càng khích lệ sự xâm lược của tên láng giềng phương Đông là Nhật Bản.

7.9 Xã hội Âu-la-ba của Nhật Bản

Sự trỗi dậy của Nhật Bản ở phương Đông cận đại là một kỳ tích trong lịch sử. Sau khi trỗi dậy, nước này lại có thể nối gót các cường quốc Âu Mỹ, xâm lược Trung Quốc, trở thành đế quốc chủ nghĩa da vàng đầu tiên và cũng là duy nhất, mà sự tàn ác của nó lại còn vượt qua cả các đế quốc da trắng, đạo lý này quả thực rất khó lý giải.

Hơn nữa, văn minh Nhật Bản vốn là phần rìa của văn hóa tộc Hán trên đại lục hướng ra bên ngoài, thế mà nền văn hóa vùng rìa này trong trăm năm gần đây lại có thể phản phệ lại cội nguồn của nó, trong khi văn minh cội nguồn lại tỏ ra hồ đồ vô phương cứu chữa như thế, thì lại càng khiến các nhà sử học cảm thấy mù mịt.

Tại sao lại như vậy chứ? Trong vô số lời giải thích, có lẽ thuyết hình thái xã hội là đáng tin cậy hơn cả, xin hãy để tôi thử giải thích cho độc giả nghe. Hóa ra văn minh Nhật Bản cổ đại vốn rất lạc hậu, sau thời Tùy Đường, các tăng lữ học giả rủ nhau sang Trường An thăm viếng, chế độ xã hội Nhật Bản mới bắt đầu Hán hóa. Thế nhưng các văn vật điển chương của Hán Đường như chế độ quan văn tập quyền trung ương, chế độ khoa cử, chế độ trưng binh, chế độ gia tộc... chưa chắc đã thích hợp cho một tiểu quốc đảo quốc. Lâu ngày biến chất nên đã đi lệch hướng với chế độ gốc của Trung thổ. Ví dụ như chế độ quan văn và chế độ trưng binh của Trung Quốc, vốn dĩ đều được thiết kế để thay thế chế độ thế tập, Nhật Bản mang ra thử nghiệm, tập quyền trung ương chưa thành hình, trái lại còn tiếp tay cho các chư hầu thế tập, quân nhân hóa nghề nghiệp, từ đó làm rỗng ruột trung ương, cái gọi là phiên mạc chính là thế.

Người bàn luận cho rằng cấu trúc xã hội của Nhật Bản trước thời Minh Trị Duy Tân thực ra rất giống với cấu trúc xã hội cuối thời phong kiến Tây Âu; mà cấu trúc tương đồng này lại chính là chiếc nôi của "Cuộc cách mạng công nghiệp" (Industrial Revolution) ở châu Âu. Nhật Bản đã có sẵn chiếc nôi này, tích lũy thế năng chực chờ bùng nổ, cho nên một khi tiếp xúc với Tây Âu, các khớp nối ăn khớp với nhau, một cuộc cách mạng công nghiệp phương Đông liền theo đó mà ra đời. Thuyết "cấu trúc xã hội Âu-la-ba" này rất có thể nói lên được thời cơ then chốt của nó, cho nên tôi xin thuật lại cho độc giả nghe. Còn như cấu trúc xã hội truyền thống của nước ta vốn là "xã hội kiểu châu Á" (Asiatic society) thuần túy, cho nên rất chọi nhau với sự phát triển kinh tế kiểu châu Âu, ví như đục vuông thò tròn không tài nào nhét vừa. Tác giả đã giải thích tường tận ở phần trước. Mong các bậc hiền đạt độc giả xem xét và rộng lượng chỉ giáo.

Nhật Bản vốn dĩ nhờ sự trùng hợp về hình thái xã hội, lại được bồi đắp thêm bởi tinh thần khai quốc thời Minh Trị, tinh thần vật chất đều tráng kiện, chẳng bao lâu sau liền trỗi dậy thành đế quốc chủ nghĩa xâm lược Trung Quốc muộn nhất. Sau "Chiến tranh Giáp Ngọ" (1894~1895) giữa Trung và Nhật, cắt đất Đài Loan của ta, nô dịch bán đảo Triều Tiên, dòm ngó Nam Mãn, họa ngoại xâm của Trung Quốc do đó càng trở nên phức tạp, mà chính sách "Duy trì hiện trạng" của nước Anh trên đại lục Đông Á lại càng khó mà "duy trì" hơn nữa.

7.10 Nguyên nhân kết quả của cái gọi là "vạm vi thế lực"

Nếu chúng ta hồi tưởng lại một chút về chính sách của nước Anh đối với Trung Quốc vào cuối thời nhà Thanh, thì sẽ thấy chính sách "phát triển chiều sâu" này của nước Anh vốn có ba giai đoạn mang tính chất khác nhau (không giống như chính sách xâm lược Trung Quốc của hai nước Nga-Nhật trước sau như một, đi đến cùng một mạch).

Giai đoạn thứ nhất chính là sau khi thống trị Ấn Độ, nước Anh liền xem Trung Quốc là Ấn Độ thứ hai. Sự phát triển của giai đoạn này đạt đến đỉnh điểm bằng việc ký kết năm 1842 và vài năm sau đó. Trong giai đoạn này, nước Anh căm ghét cực độ đối với tất cả các cường quốc Mỹ, Pháp, Nga, và các liệt cường khác cũng ăn miếng trả miếng, coi Anh như kẻ thù chung. Đây cũng là dư chấn của những tranh chấp ở châu Âu phản chiếu sang châu Á.

Giai đoạn thứ hai thì bắt đầu từ "Sự kiện tàu Arrow" (The Arrow Incident) năm 1858 châm ngòi cho "Chiến tranh Nha phiến lần thứ hai", cho đến khi kết thúc bằng sự nổi dậy quậy phá của phong trào "Nghĩa Hòa Đoàn" năm 1898. Trong bốn mươi năm này, quan hệ giữa nước Anh tại Trung Quốc và các liệt cường chính là sự thỏa hiệp chính trị, kinh tế dẫn đầu, thậm chí độc chiếm (như nha phiến, như hàng hải). Cho nên trong giai đoạn này, "duy trì hiện trạng" thực sự là tư tưởng cốt lõi trong chính sách đối với Trung Quốc của nước Anh. Thế nhưng tư tưởng này đến năm 1898 cuối cùng cũng tan thành mây khói.

Bởi vì vào lúc này, Đại Thanh Đế quốc đã "hết khí số", cả nước tê liệt, uể oải không có sức vực dậy; trong khi chủ nghĩa bành trướng của các cường quốc Âu Mỹ lại đang ở giữa ban trưa.——Nước Mỹ vốn dĩ khoanh tay đứng nhìn cảnh tượng từ bên kia đại dương, thế mà vào năm này lại vô tình đánh bại Tây Ban Nha và thu giữ được Philippines, trong chớp mắt cũng biến thành một kẻ bá chủ tham lam ở Viễn Đông. Trùng hợp thay, vị đồng hương ưa thích trò "dùng người rợ trị người" của tác giả là Lý Hồng Thượng, đã bí mật cấu kết với Sa Nga để chống lại Nhật Bản, cũng chính trong năm này đã đem cho nước Nga thuê hai cảng Lữ Thuận và Đại Liên. Đế quốc Nga có được hai cảng này liền thâu tóm Mãn Mông, bèn ôm mộng bá quyền đầy tham vọng, tuyên bố lãnh thổ Trung Quốc ở phía bắc Vạn Lý Trường Thành là "phạm vi thế lực" của nước Nga, không cho phép các nước khác nhúng tay vào. Việc nước Nga làm thế xâm phạm chủ quyền Trung Quốc thì vấn đề không lớn, thế nhưng nó lại xâm phạm cả lợi ích kinh tế của nước Anh, khiến cho nước Anh ở miền bắc Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc không làm được đường, không khai thác được mỏ, nha phiến cũng không bán được, tổn thất vô kể, như vậy thì chuyện này lớn lắm rồi.

Lại càng trùng hợp hơn nữa là người đồng hương Sơn Đông vốn từ trước đến nay hiếu chiến ưa bạo lực nổi tiếng cả nước với danh hiệu "thổ phỉ đánh cướp" của chúng ta, cũng vào lúc này đã đập nát một nhà thờ của Đức. Thật là một cái cớ tuyệt vời, nước Đức vừa lao vào vịnh Giao Châu, chiếm lấy Thanh Đảo, tuyên bố tỉnh Sơn Đông là "phạm vi thế lực" của nước Đức. Đức là láng giềng của Pháp, Pháp há chịu thua kém người sau, cũng vù một tiếng chiếm lấy Vịnh Quảng Châu, Trung Quốc vùng Tây Nam thế ra lại biến thành "phạm vi thế lực" của nước Pháp. Phúc Kiến đối mặt với Đài Loan, Nhật Bản cũng đương nhiên không nhường bước.

Cứ như thế này, nước Anh vốn lấy toàn bộ Trung Quốc làm phạm vi thế lực của mình, không khỏi hoảng hốt cuống cuồng. Nó vội vã chiếm lấy Cửu Long, để củng cố sào huyệt cũ ở Hương Cảng; rồi tiến thêm một bước chiếm lấy Uy Hải Vị để chống lại Sa Nga. Thế nhưng Uy Hải Vị lại nằm trong "phạm vi thế lực của Đức", để liên minh với Đức phòng ngừa Nga, nó lại không dám mạo phạm nước Đức, phủ nhận "phạm vi thế lực" của Đức ở Sơn Đông. Bản thân nó cũng muốn tuyên bố lưu vực sông Trường Giang là "phạm vi thế lực của Anh", thế nhưng lưu vực sông Trường Giang từ lâu đã có dân Hoa dân Tây ở lẫn lộn, có biên giới mà không có vùng khoanh vùng. Hơn nữa so với toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc thì phạm vi quá nhỏ, tổn thất quá lớn, trong lòng không đành lòng. Cho nên nước Anh năm 1898 thực sự hoảng loạn như chó nhà có tang, không biết phải làm sao cho phải. Cuối cùng bỗng nhiên lóe lên một ý, tìm ra được một cách, đó là dứt khoát không thừa nhận sự tồn tại của khái niệm "phạm vi thế lực". Thế nhưng những lợi ích trong phạm vi thế lực của chính mình thì lại không dung cho kẻ khác xâm phạm. Mâu thuẫn chồng chất biết tính sao đây?

May mắn thay các chính trị gia nước Anh đều có "được huấn luyện theo lối quốc hội" (Parliamentarian training) xuất sắc, giỏi về từ ngữ, tinh thông biện luận. Cho nên Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Joseph Chamberlain mới có luận điểm tinh tế sâu sắc mặt không đỏ tai không hồng, chém đinh chặt sắt rằng: "Phạm vi thế lực, chưa từng thừa nhận; phạm vi lợi ích, chưa từng phủ nhận." (Sphere of influence, We have never admitted; sphere of interest, we had never denied.)

Do đó, nước Anh để duy trì "phạm vi lợi ích" của chính mình, thì bắt buộc phải phá vỡ "phạm vi thế lực" của các liệt cường khác. Nguyên tắc này đã định, các chính trị gia giỏi ăn nói liền đặt cho nó một cái tên gọi là chính sách "Môn hộ khai phóng" (Open door Policy). Cho nên chính sách "Môn hộ khai phóng" mà hai nước Anh Mỹ làm ở Trung Quốc hồi chín mươi năm trước và chính sách "Môn hộ khai phóng" mà Đặng Tiểu Bình đang làm hiện nay, hoàn toàn khác nhau một trời một vực. Việc mở cửa của lão Đặng là do Mao Trạch Đông "đóng cửa tạo xe" khiến dân nghèo nước cạn, nên mới bất đắc dĩ phải mở cửa đón khách, nghênh đón tư vốn và viện trợ nước ngoài. Còn chính sách "Môn hộ khai phóng" hồi chín mươi năm trước thì hầu như chẳng dính dáng gì đến chính phủ Trung Quốc. Trung Quốc có muốn quản, người ngoại quốc cũng chẳng thèm đếm xỉa. Chính sách mở cửa của họ là không cho phép các chủ nghĩa đế quốc xâm lược Trung Quốc được phân chia phạm vi thế lực ở Trung Quốc, chơi trò phong trào chia cắt kiểu châu Phi, cho nên Trung Quốc dưới điều kiện cân bằng lực lượng này, cũng nhận được chút ít ân huệ nhỏ nhoi. Ít nhất có thể tránh khỏi việc trở thành thuộc địa thực sự.

Thế nhưng nước Anh lúc bấy giờ muốn đề xuất "Môn hộ khai phóng", ít nhiều gì cũng có chút chột dạ đỏ mặt. Chột dạ là vì, đối với các thuộc địa của chính nó ở Trung Quốc như Hương Cảng, Cửu Long, đối với phạm vi thế lực của chính nó ở Trung Quốc như Tây Tạng, thì có mở cửa hay không đây? Đỏ mặt là vì, giả sử nước Anh chủ động đưa ra (Open Door Notes), người nhận văn bản phản vấn lại như thế này, thì có đỏ mặt hay không vậy?!

Cho nên câu chuyện nổi tiếng trong lịch sử cận đại thế giới gọi là "Môn hộ khai phóng" này. Kẻ khởi xướng thực chất là nước Anh, mà các chính trị gia nước Anh lại không muốn, và cũng không có cái mặt dày để thi hành nó, thế là hắn liền tính toán mưu tính nhờ vả người Mỹ.

Các nhà ngoại giao Mỹ kể từ khi lập quốc đến nay vẫn luôn là kẻ chí lớn khoác lác, hành động nhanh nhẹn, đầy ắp lý tưởng mà chưa từng thâm mưu viễn lự. Cộng thêm lúc bấy giờ nước Mỹ ở Trung Quốc cũng không có "phạm vi thế lực", lại càng có thể vô trách nhiệm, tha hồ phóng khoác bàn cao luận lớn. Cho nên một khi đã được Luân Đôn xúi giục, Tổng thống William McKinley cùng Ngoại trưởng John Hay liền vui vẻ đồng ý, và gánh vác trọn gói. Từ đó chính sách đối với Trung Quốc này của nước Anh đã biến thành chính sách đối với Trung Quốc của nước Mỹ. Nó phục vụ cho lợi ích của nước Anh mà nước Anh vẫn còn phải ra vẻ ta đây, đối với "chính sách của Mỹ" này, ấp a ấp úng đưa ra sự bảo lưu có điều kiện cơ!

Tác giả viết đến đây, không khỏi cảm thán ngậm ngùi. Tôi nghĩ các nhà ngoại giao Trung Quốc, đặc biệt là những lão Bát Lộ từ Đặng Tiểu Bình trở xuống, thực sự cần phải đọc thêm một chút lịch sử nước Anh, thì mới xứng tầm bước lên đài để đánh canh bạc quốc tế này chứ!

Những thủ pháp xuất sắc mấy chiêu vừa rồi của nước Anh được mô tả ở trên, chính là giai đoạn thứ ba trong chính sách đối với Trung Quốc của nước này vào cuối thời nhà Thanh.

7.11 Trò hề "Môn hộ khai phóng" của John Hay

John Hay kể từ khi gánh vác trọng trách lớn lao từ trên trời rơi xuống này, ông ta liền nghiêm túc phác thảo ra một bản , vào mùa xuân năm 1899 đã chính thức một cách khéo léo lần lượt gửi đến các liệt cường. Bản công hàm này nhấn mạnh ba điểm trọng yếu: một là, toàn vẹn lãnh thổ Trung Quốc (territorial integrity); hai là, độc lập chủ quyền (state sovereignty); ba là, các liệt cường chia sẻ đều lợi ích (equal opportunity).

Bản công hàm này sau khi được phát đi, các liệt cường liên quan chẳng bao lâu sau cũng đã phê chuẩn, hoặc phê chuẩn có điều kiện, để sự kiện lịch sử này lưu danh muôn thuở. Mặc dù nó chẳng hề giải quyết trực diện bất kỳ vấn đề gì. Nguyên nhân là vì người đưa ra đề nghị hóa ra cũng chính là kẻ làm trái đề nghị (như nước Anh), người chấp pháp hóa ra cũng chính là kẻ phạm pháp (như nước Mỹ). Anh và Mỹ còn như vậy, thì sự nói một đằng làm một nẻo của các liệt cường khác lại càng không cần phải bàn tới.

Tại sao nước Mỹ lại vừa chấp pháp vừa phạm pháp chứ? Hóa ra John Hay lúc mới gánh vác trọng trách lớn, chỉ biết rằng nước Mỹ vốn dĩ không có phạm vi thế lực ở Trung Quốc, cho nên mới mạnh miệng cứng cổ. Thế nhưng John Hay lúc đầu không hề nghĩ tới, sau khi nước Mỹ chiếm đóng Philippines, bản thân nó cũng biến thành một trong những tên đế quốc chủ nghĩa dơ bẩn ích kỷ rồi. Nếu ông ta lấy ba nguyên tắc môn hộ khai phóng làm cái cớ, không cho phép tên tuổi mới nổi lên, đầy tham vọng là Nhật Bản xâm lược Triều Tiên và Nam Mãn, thì tiểu quỷ Nhật Bản sẽ kéo quân xuống Manila mất thôi. Nghĩ đến đây không khỏi mồ hôi vã ra như tắm. Để bảo vệ Philippines, chủ nhân Nhà Trắng bèn nghiến răng một cái rồi ký lại hiệp ước mật với phía Nhật Bản, thế là đã bán đứng toàn bộ phong trào môn hộ khai phóng rồi.

Cho nên vị tiên sinh "Môn hộ khai phóng" này, trong lịch sử tuy đại danh đỉnh đỉnh, nhưng từ đầu đến chí cuối chỉ là một vở kịch hề mà thôi, chẳng làm nên trò trống gì. Cộng thêm một mụ già họ Diệp Hnah Lạp hồ đồ vô tri, vào thời khắc then chốt này, ngoài việc giam cầm vị hoàng đế bù nhìn ra, lại còn dựng lên một vở kịch hề còn hoang đường hơn nữa mang tên phong trào Nghĩa Hòa Đoàn với khẩu hiệu "đao thương bất nhập", "phù Thanh diệt Dương", tình thế lúc đó lại càng không thể tưởng tượng nổi. Bốn năm sau, hai nước đế quốc chủ nghĩa Nhật và Nga lại tập trung binh lực nặng tới hàng chục vạn, đánh nhau một trận tưng bừng ở Đông Bắc nước ta mang tên "Chiến tranh Nga-Nhật". Một trận đánh này xảy ra thì cái gọi là "toàn vẹn lãnh thổ", "độc lập chủ quyền", "chia sẻ đều lợi ích", liền chẳng còn cái gì sất, chủ nghĩa môn hộ khai phóng cũng từ đó mà thọ chung.

Thế nhưng sự đời trên thiên hạ luôn luôn có hai mặt của nó. Môn hộ khai phóng tuy thất bại, thế nhưng nó lại phản ánh ra được cục diện "cân bằng quyền lực" (balance of power) giữa các liệt cường ngay trong nội bộ bọn chúng. Bất kỳ cường quyền nào dưới sự kiềm chế lẫn nhau giữa các liệt cường, muốn làm điều càn quấy thì đều phải suy nghĩ ba lần rồi mới hành động. Chính quyền nhà Thanh đã dựa dẫm vào điểm cân bằng lực lượng này, mà sống thêm được mười năm nữa. Bằng không, nếu Trung Quốc thực sự bị các liệt cường chia cắt, thì phong trào cách mạng do Tôn Trung Sơn lãnh đạo cũng chẳng thể nào phát động nổi!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.