Bài này trước đây từng được thầy Cố Tịch Cương gửi thư dặn giao cho "Văn sử tạp chí" đăng tải. Sau vì rời Dũ vội vã, nên đành phụ lòng gởi gắm. Nay lục lại trong rương hành lý, lại tìm được bản thảo cũ, khói lửa chiến tranh vô định sợ lại thất lạc, bèn dùng để in ở cuối sách, cũng là tự quý tiếc chiếc chổi cùn của mình vậy.
Chính trị địa phương nước ta, hệ thống quận huyện thực chất là chế độ hai cấp. Từ đời Tần thực hiện cho đến hệ thống chính trị địa phương ngày nay vẫn không thoát khỏi phạm vi đó. Về phần sự sáng lập ra chế độ quận huyện, người đời sau đều cho rằng Tần Thỉ Hoàng phế bỏ phong kiến, đặt ra quận huyện; hoặc có người truy nguyên đến trước thời Chiến Quốc, cho rằng đã thấy manh mối của nó, điều này sử sách đều có thể chứng thực, các bậc tiền hiền bàn về nó rất tường tận. Thế nhưng về việc quận huyện hình thành như thế nào thì rất ít người bàn đến. Chúng ta dám khẳng định rằng sự thành lập của chế độ quận huyện tuyệt đối không phải do một vài nhà lý luận chính trị tiên tri tiên giác lập thuyết sáng chế từ trước, rồi sau đó mới có quận huyện. Nói cách khác, nguồn gốc của quận huyện tất yếu là kết quả của sự diễn biến dần dần trong đời sống xã hội loài người, nay xin thử bàn luận một lượt về quá trình diễn biến đó.
5.1 Người và đất thời kỳ đầu xã hội nông nghiệp
Trộm nghĩ sự hình thành của xã hội phong kiến với việc xác lập chế độ quận huyện, có thể khẳng định chắc chắn là nó phải phát sinh sau khi quan niệm tư hữu ruộng đất xuất hiện. Phải chăng loài người đã dần thoát khỏi đời sống du mục mà tiến hóa đến xã hội nông nghiệp thì ruộng đất mới dần được coi trọng. Nhưng vào thưở ban đầu, lưu vực Hoàng Hà đồng bằng ngút ngàn, mà dân cư thưa thớt, chỉ cần tốn chút công khai khẩn thì đâu đâu cũng thành ruộng tốt. Bất kỳ tù trưởng bộ tộc nào cũng có thể chọn vùng đất phì nhiêu rộng lớn nhất để dẫn dắt nhân dân của mình cày cấy ở đó. Về phần chia thành ruộng tỉnh điền cũng tự nhiên không có gì là không được, hơn nữa do giá trị biên tế của ruộng đất (marginal value) quá thấp, con người đối với ruộng đất cũng không sinh ra quan niệm tư hữu. Các bộ lạc chia đất mà cày cấy, giữa họ với nhau không có xung đột lợi ích. Dù có kẻ mạnh cũng không cần thiết phải xâm chiếm ruộng đất của kẻ yếu. Cho dù có kẻ ỷ mạnh hiếp yếu, thì người bị áp bức cũng có thể di chuyển đi nơi khác chứ không nhất thiết phải kháng tranh với hắn. May là không gian sinh tồn không phát sinh vấn đề; nhân dân chỉ cần không quá lười biếng thì năm được mùa cả đời được no đủ, năm mất mùa vẫn tránh được cái chết.
Hãy xem "Cổ Công Đản Phụ lại sửa sang sự nghiệp của Hậu Tắc, Công Lưu, tích lũy đức nghĩa, người trong nước đều kính trọng. Huân Y Cợt Địch đem quân đánh, muốn lấy tài vật của ông, ông bèn cho chúng. Lại đánh tiếp, muốn lấy đất đai và nhân dân, nhân dân đều giận muốn đánh. Cổ Công nói: 'Có dân lập vua là để làm lợi cho chúng, nay Huân Y Cợt Địch sở dĩ gây chiến đánh nhau, là vì đất đai và nhân dân của ta, dân ở với ta hay ở với họ thì có khác gì? Dân muốn vì ta mà giao chiến; giết cha con người ta để làm vua họ, ta không nỡ làm'." Bèn cùng thân thuộc liền rời đất Bân, vượt sông Tất, qua núi Lương, dừng chân ở dưới núi Kỳ. ("Sử ký - Chu bản kỷ") Cổ Công vốn dĩ là một vị trưởng giả không thích gây chuyện, nhưng sở dĩ ông dám hào phóng như vậy, nguyên nhân chủ yếu vẫn là vì có vùng dưới núi Kỳ để chuyển dời. Không cầu mong nổi danh ở đời, vẫn có thể tự cày tự ăn, không phải cầu cạnh người khác.
Ruộng đất vốn dĩ không gây ra vấn đề, thì đối tượng cạnh tranh chủ yếu giữa các bộ lạc lúc bấy giờ không nằm ở "đất" mà nằm ở "dân". Ai có thể sở hữu đông đảo nhân dân, người đó có thể xưng hùng một cõi; ai có thể giàu có nhất thiên hạ. Cổ Công là một vị trưởng giả, ông nhìn thấu "dân ở với ta hay ở với họ thì có khác gì", mà những vị tù trưởng đầy dã tâm thông thường thì phải nỗ lực thu giữ một đại bộ phận nhân dân làm thuộc hạ cho chính mình. Thế nhưng lúc bấy giờ vừa không có giới hạn quốc tịch, nhân dân lại không có thứ tài sản cố định nặng nề nào, ruộng cày ở đâu cũng có, do đó họ có thể tùy ý muốn, di chuyển bất cứ lúc nào, đối với bộ tộc mình trực thuộc cũng không có sự ràng buộc nào lớn, muốn đi hay ở đều được. Nếu có tù trưởng nào không được lòng nhân dân, thì bộ thuộc của họ có thể dắt díu nhau trốn đi. Cho nên Cổ Công đến dưới núi Kỳ mà "Người đất Bân cả nước lại dắt già dìu trẻ, đều quy thuận về với Cổ Công ở dưới núi Kỳ." (xem chú thích trên) Huân Y chẳng thể làm gì được. Hơn thế nữa, "Các nước láng giềng nghe tiếng Cổ Công nhân đức, cũng phần lớn quy thuận." (như trên) Những điều này đều có thể tưởng tượng ra được, hiểu rằng không phải là lời nói mò của Tư Mã Thiên. Do đó tù trưởng bộ tộc thời bấy giờ tuyệt đối không dám đắc tội với nhân dân, trái lại để thu hút nhân dân, họ còn phải làm vừa lòng người dân, vì thế mới có cái gọi là "nhân trị" sinh ra. Ai có thể thi hành "nhân trị" giành được thiện cảm của nhân dân, ai có thể được tiếng thơm muôn nơi người người hướng về, người đó có thể trở nên phú cường. Thói cũ này cho đến thời Chiến Quốc vẫn chưa hoàn toàn mai một, tâm lý của Ngụy Huệ Vương chính là như thế. Ông ta hỏi Mạnh Tử rằng: "Quả nhân đối với nước, đã hết lòng lắm rồi; vùng Hà Nội mất mùa, thì chuyển dân của nó sang Hà Đông, chuyển thóc ở Hà Đông sang Hà Nội. Vùng Hà Đông mất mùa cũng làm như vậy. Quan sát chính sự các nước láng giềng, không ai dồn tâm sức như quả nhân cả, nhưng dân nước láng giềng không vì thế mà giảm thêm, dân của quả nhân không vì thế mà tăng thêm, tại sao vậy?" ("Mạnh Tử - Lăng Huệ Vương thượng") Ông ta đây là đang lợi dụng "nhân trị" làm thủ đoạn để tranh giành nhân dân đấy!
Lại xem "Khổng Tử đi qua bên cạnh núi Thái Sơn, có người phụ nữ khóc ở bên mộ mà bi ai. Khổng Tử vịnh tay lên xe nghe ngóng, sai Tử Lộ đến hỏi rằng: 'Tiếng khóc của bà, trông giống như có nỗi buồn chồng chất'." Bà đáp rằng: "Đúng vậy, xưa kia cha chồng tôi chết vì hổ, chồng tôi lại chết vì hổ, nay con tôi lại chết vì hổ." (Khổng Tử) hỏi: "Sao không đi nơi khác?" Đáp rằng: "Vì không có chính sách hà khắc." ("Lễ ký - Đàn Cung") Có thể thấy vào thời kỳ Xuân Thu, vấn đề "đi" - di cư - vẫn còn rất đơn giản, chủ yếu vẫn là tùy thuộc vào chính trị.
Cho nên tù trưởng bộ tộc thượng cổ, con đường duy nhất để tự mưu cầu phát triển thế lực chính là tranh giành nhân dân, mà "nhân trị" chính là thủ đoạn để tranh giành nhân dân. Cạnh tranh giữa các bộ lạc, cũng chỉ có cách đua nhau thực thi nhân trị. Ai thi hành đạt hiệu quả nhất, sở hữu đông dân nhất, người đó có thể làm thiên tử. Hãy xem con cháu các đời Tam đại, đều có thể kể ra một bộ lịch sử tổ tiên họ đã "thi hành nhân trị" như thế nào. Cho đến sau này con cháu bất tiếu quên mình, đánh mất thiện cảm của nhân dân, cho nên bộ thuộc của họ lại dắt díu nhau bỏ chạy, thế lực của họ do đó ngày càng suy vi, kết quả là bị một vị tù trưởng thi hành nhân trị đắc lực nhất thay thế. Cho nên Chu Vũ Vương đánh Trụ, lúc mới hội họp ở Mạnh Tân, chư hầu đều nói: "Trụ có thể đánh được rồi." Vũ Vương nói: "Các người chưa biết thiên mệnh, chưa được đâu." Cho đến khi "Trụ giết vương tử Tỷ Can, giam Cơ Tử, Thái sư Tì, Thiếu sư Cường ôm lấy nhạc cụ của mình mà trốn sang nhà Chu." ("Sử ký - Chu bản kỷ") Chúng bạn quay lưng, bộ hạ trốn gần hết, thế là Chu Vũ Vương một trận tiêu diệt nhà Thương, thay thế làm thiên tử.
Cho nên thi hành nhân trị là đặc sắc chính trị thời kỳ đầu xã hội nông nghiệp. Thời đại đó mới là xã hội chủ nghĩa dân bản thực sự, nhân dân có đời sống tuyệt đối tự do, ý chí tuyệt đối tự do, họ mặt trời mọc thì đi làm, mặt trời lặn thì nghỉ ngơi, mỗi người vì cuộc sống hạnh phúc của mình mà lao động; họ không cầu cạnh ai cũng không hại ai. Có thể tưởng tượng khi ánh ban mai vừa lên, vác cuốc, hát ca dao, đó là một thế giới tự do hạnh phúc biết bao, đó đích thực là xã hội nguyên thủy rất đáng để chúng ta hoài niệm. Lưu truyền cho đến sau này, đến khi nhà Nho cảm thán thế đạo suy đồi, nhân dân lầm than, không khỏi càng dâng trào mối hoài cổ, cho nên mở miệng ra là Nghiêu, Thuấn, Tam đại, tôn sùng thánh hiền đời trước mà chê bai vua đời sau, cố gắng hết sức nịnh bợ người xưa, khiến họ trở thành những nhân vật lý tưởng hóa, mà muốn khôi phục sự thịnh trị của Tam đại. Có thể thấy họ không hiểu được quá trình phát triển đời sống kinh tế của loài người, không nắm bắt được thời đại, kết quả bôn ba cả đời cũng chỉ là "biết không thể làm mà vẫn cứ làm" để dốc trọn tấm lòng mà thôi. Chẳng lẽ bản chất của vua đời sau lại xấu hơn vua đời trước hay sao? Hãy xem đại sư tuyên truyền nhân trị mạnh nhất ở Trung Quốc là Mạnh Kha nào có phải không được chư hầu nhiệt liệt chào đón; thế nhưng nhân trị của ông rốt cuộc vẫn không thể thi hành được. Thành thật mà nói, đến thời Chiến Quốc, thời đại "thi hành nhân trị" sớm đã trở thành quá khứ, còn kết quả là "thiên hạ không ai không quy thuận", hay là vì thế mà bị nước láng giềng xâm lược tiêu diệt, lại rất có điều cần phải hoài nghi.
5.2 Ruộng đất tư hữu và phong kiến
Nhưng về sau sinh sản ngày càng nhiều, kỹ thuật cày cấy cũng theo đó mà tiến bộ, từ gieo trồng tự nhiên thô sơ tiến dần đến phát minh ra cày; từ người cày tiến hóa thành trâu cày. Ruộng đất được khai thác số lượng lớn, đất hoang ngày càng ít. Do đó việc sử dụng ruộng đất dần dần cảm thấy không được tự do. Nhân dân mỗi người chọn đất màu mỡ để ở, cuối cùng tuy núi hoang đầm lớn cũng dần được khai thác, ai có thể nhanh chân đến trước chiếm được một mảnh đất màu mỡ thì quả thực là con cưng của trời. Cho đến sau này dù cầu xin một mảnh đất cằn cỗi cũng không phải là chuyện dễ. Do đó nhân dân bèn coi ruộng đất là một trong những tài sản cố định mà an cư lạc nghiệp. Ruộng đất dần dần cảm thấy không đủ phân phối, cộng thêm sự hạn chế của địa hình, chế độ tỉnh điền không thể tiếp tục thực thi nữa, cũng là chuyện nằm trong dự liệu.
Đến lúc này hễ có ruộng đất thì không lo không có người cày cấy, cho nên các vị tù trưởng đầy dã tâm không còn lo ít dân mà lo nước nhỏ. Đối tượng tranh giành lẫn nhau chuyển dịch lên ruộng đất. Quốc gia do đó từ chỗ lấy nhân dân làm chủ thể biến đổi thành lấy ruộng đất làm chủ thể. Quốc quân - cũng chính là tù trưởng bộ tộc, vì để mở rộng lãnh thổ, không tiếc tước đoạt tự do của nhân dân để phối hợp với dã tâm mở cõi của hắn; kẻ bạo ngược vô đạo lại càng không tiếc nô dịch nhân dân để phục vụ cho sự dâm lạc của riêng mình. Vốn dĩ đã không cần phải lấy lòng nhân dân nữa, mà nhân dân tuy hơi cảm thấy sự ngược đãi của chính sách hà khắc, cũng không dám dễ dàng bàn chuyện di cư. Từ đây về sau bèn không còn có nhân trị nữa.
Cho nên ruộng đất bèn dần dần biến thành tư hữu. Nói nhỏ là nhân dân tư hữu, nói lớn là quốc quân tư hữu. Quan niệm ruộng đất tư hữu một khi đã thành lập, chế độ phong kiến thực sự bèn tiếp đó nổi lên. Những kẻ dã tâm kiêu căng hách dịch bèn nghĩ đến chuyện xâm chiếm ruộng đất của người khác để làm đầy túi tham của mình; hoặc chia đất để phong cho công thần thân thích, bắt nhân dân trên đất đó làm nô lệ. Đến đầu thời nhà Chu, đã bước vào thời kỳ trưởng thành, Chu Vũ Vương bèn tập đại thành của phong kiến. "Tuân Tử - Nho hiệu phẩm" nói: "Nhà Chu kiêm chế thiên hạ, lập ra bảy mươi mốt nước, họ Cơ một mình chiếm năm mươi ba người." Thái sử công ước tính chư hầu họ Cơ có năm mươi lăm người ("Sử ký - Hán hưng dĩ lai chư hầu niên biểu"), xét vị trí đất phong của họ, phần lớn ở vùng đất màu mỡ gần kinh đô nhà Chu. Việc phong chư hầu khác họ phần lớn thuộc về bất đắc dĩ, những kẻ có hậu duệ của các bậc thánh vương đời xưa như phong hậu duệ Thần Nông ở Tiêu; hậu duệ Hoàng Đế ở Chúc; hậu duệ vua Nghiêu ở Kế; hậu duệ vua Thuấn ở Trần; hậu duệ Đại Vũ ở Kỷ; hậu duệ nhà Ân ở Tống... v.v. Sử sách nói là "Vũ Vương truy nhớ các bậc thánh vương đời trước", thực chất chẳng qua chỉ là một loại thủ đoạn ngụy trang che đậy lỗi lầm để dạo tiếng oan mà thôi. Ngoài ra chính là những công thần có công lao hãn mã trong việc bình định thiên hạ cũng không thể không phong. Thế nhưng chư hầu khác họ được phong phần lớn ở vùng biên ải, thậm chí chỉ định một mảnh đất chưa được chinh phục nào đó, mở một tấm séc khống phong cho họ, lệnh cho họ tự mình đi khai thác, như phong cho nước Tề thì nói: "Năm hầu chín bá, các người hãy đi chinh phạt." ("Kinh Thi - Tề phong") Mặc cho họ tự mình phát triển. Việc Triệu Công Sảng được phong ở nước Yên cũng là như thế. Về phần nhà Tần sau này thì lại càng không phải bàn. Người nhà Chu bị người Khuyển Nhung đuổi đánh, Bình Vương dông dời sang phía Đông đã nói với Tần Tương Công rằng: "Quân Nhung vô đạo xâm chiếm đoạt mất đất Kỳ Phong của ta, Tần có thể đánh đuổi quân Nhung, thì sở hữu đất đó." Bèn thề phong tước vị cho. ("Sử ký - Tần bản kỷ") Sau đó Tần Văn Công đuổi quân Nhung, bèn thu giữ phần dân số còn lại của nhà Chu mà làm của mình. Đất đến Kỳ, vùng phía Đông núi Kỳ dâng cho nhà Chu. Họ đều là những kẻ tự lực phát triển mà thành nước lớn.
Một loại chư hầu khác họ nữa, chính là vốn dĩ đã có quốc gia của mình, thực lực cũng tương đối hùng mạnh, người nhà Chu với tay không tới, làm gì được họ, đành phải nhân vùng đất đó mà gia phong cho, như nước Sở, nước Việt đều là vậy. Thiên tử ban cho Sở hầu chén thịt cúng rằng: "Trấn áp loạn Di Việt phương Nam của các ngươi, không được xâm phạm Trung Quốc." ("Sử ký - Sở thế gia") Đất Sở ngàn dặm, Chu Vũ Vương đành chịu thua chứ biết làm sao.
Trước nhà Chu có thể tưởng tượng rằng, tất cả các bộ tộc đều độc lập với nhau, chỉ có điều nhà Thương tương đối hùng mạnh nên được tôn làm minh chủ. Những nước còn lại vẫn tự làm vua nước mình, Chu Vũ Vương đánh Trụ vẫn gọi là nước Thương, Vũ Vương đến nước Thương, bách tính nước Thương đều ra nghênh đón ở vùng ngoại ô, vốn dĩ không có cái gọi là vương kỳ. "Khắp dưới gầm trời không đâu là đất của vua" ("Kinh Thi - Tiểu Nhã - Bắc Sơn") là chuyện sau khi Vũ Vương quét sạch thiên hạ. Chu Vũ Vương đã chinh phục toàn bộ ruộng đất trong thiên hạ, rồi sau đó phân phối lại cho con cháu mình và một số ít công thần thân thích, khỏi phải nói là tám trăm chư hầu từng hội họp ở Mạnh Tân cùng giơ cao đại nghĩa đều chịu chung số phận nấu thịt chó săn. Ông ta quét sạch chư hầu trong thiên hạ, mới bắt đầu tiến hành phong kiến quy mô lớn. Phong kiến diễn biến đến đây đã đạt đến thời kỳ trưởng thành, mà Chu Vũ Vương chính là vị anh hùng kiêu căng hách dịch xuất hiện theo thời vận. Việc ông ta bình định thiên hạ thi hành phong kiến quy mô lớn, với việc Tần Thỉ Hoàng thống nhất thiên hạ thi hành quy mô lớn chế độ quận huyện cũng giống như một cử động mang tính bước ngoặt thời đại. Ông ta và Tần Thỉ Hoàng có thể coi là hai vị dã tâm gia sánh vai nhau trước sau, họ đều ích kỷ và kiêu căng hách dịch như nhau. Nhưng con cháu ông ta rốt cuộc cũng được hưởng ơn huệ không nhỏ. Đời đời không dứt ca tụng tổ tiên họ không ngừng. Trong miếu bảy đời, Văn Vũ nhị miếu vĩnh viễn là thần thánh. Tôn sổng ông ta thành vị thánh nhân tiêu chuẩn trong lý tưởng, cho nên các nhà Nho mấy trăm năm sau cũng bị sự tuyên truyền của ông ta che mờ, lại đem Văn Vũ đặt cùng hàng với Nghiêu Thuấn. Kỳ thực dùng quan điểm đạo đức của nhà Nho để đo lường, thì ông ta và Tần Thỉ Hoàng là những kẻ có tội như nhau. Mặc dù trong lịch sử phát triển dân tộc, họ đều chiếm giữ những công trạng không thể phai mờ.
5.3 Cặn bã của phong kiến — Huyện
Chu Vũ Vương đã dẹp yên chư hầu, chiếm đoạt ruộng đất thiên hạ làm của riêng mình, đương nhiên ông ta có thể tùy ý cắt xẻ, thế là ông ta ngoài việc cắt ra một phần ruộng đất tốt nhất làm vương kỳ; số còn lại đều đem phong cho người ta, nhưng để đề phòng chư hầu quá lớn không chế ngự nổi, đất phong không thể quá lớn, lại không muốn phong nhiều người khác họ. Hơn nữa để đề phòng tranh chấp "không thể đứng cùng hàng với lính cũ", người có tư lịch vọng trọng không đủ thì không thể phong bừa. Kết quả đất có thể phong thì nhiều mà người có tư cách thụ phong thì ít, do đó có rất nhiều nơi vừa không phải vương kỳ lại không có người thích hợp để phong. Thì những vùng đất chờ phong này tạm thời là chưa quyết định. Hãy xem vùng đồi núi Hà Đông thời bấy giờ — Đường, chính là một trong những nơi chưa được quyết định. Vả lại tình hình hiểm yếu của vùng Đường lại giáp ranh vương kỳ. Lúc bấy giờ vừa không có người thích hợp để phong cho vùng Đường, chi bằng cứ để treo đó còn hơn, cho đến khi Thành Vương lên ngôi mới phong cho người em trai là Thúc Ngu. Thế nhưng trước khi người em trai nhỏ tuổi yếu ớt chưa được thụ phong, thì vùng Đường không thể ở trong tình trạng vô chính phủ. Tất yếu phải có người tạm thời chịu trách nhiệm cai quản vùng đất đó. Vùng đất đã được chinh phục này, sẽ phong cho ai, vẫn chưa được quyết định, cho nên gọi là "treo đó". Đó hẳn chính là nguồn gốc của chữ "huyện". Điều này vào đầu thời nhà Chu chẳng qua chỉ là tạm thời không có người thích hợp để thụ phong, tạm thời treo đó, cuối cùng thế nào cũng sẽ phong cho người, chỉ là kế sách tùy cơ ứng biến nhất thời mà thôi; diễn biến đến đời sau, bèn trở thành chế độ cố định, mà chữ "huyện" bèn trở thành danh từ trừu tượng về mặt chính trị.
◎ Giải thích chữ "huyện"
Xét các danh từ trừu tượng dùng làm khu phân chia chính trị địa phương của nước ta, hình dáng chữ của chúng đều theo bộ ấp. Như các chữ "bang", "quận", "đô", "hương", "bỉ", "giao", "quách", "lân"... đều theo bộ ấp làm chữ hình thanh. Người xưa gọi thành là ấp, giáp cốt bốc từ ghi chép có "Vương tác ấp, đế nhược" ("Khỉ hư thư khỉ hậu thiên - Quyển hạ thập lục"). Lại nói "Đại ấp Thương." "Kinh Thi - Đại Nhã" nói: "Đã đánh vùng Sùng, làm ấp ở Phong." Đó đều là gọi thành tên là ấp, sau mới dùng chung để chỉ địa danh, sách "Tả truyện" phàm gọi người là nước lớn, tự gọi mình là bỉ ấp; lại phàm ấp có tông miếu miếu chủ của tiên quân thì gọi là đô, không có thì gọi là ấp. Đó đều là không có tên gọi cố định. Bỉ ấp chính là chỉ chung nước hẻo lánh hoặc đất đai hẻo lánh vậy. Sách "Thuyết văn": "Ấp, quốc dã" thực chất là dùng chung để gọi địa phương vậy. Cho nên phàm là danh từ trừu tượng của khu phân chia chính trị địa phương đều theo bộ ấp.
Chỉ có chữ "huyện" thì không như vậy, sách "Thuyết văn": "Huyện, hệ dã. Từ hệ trì huyện." Huyện chính là chữ "huyện" cổ. Vốn là chữ hội ý. Đoạn Ngọc Tài chú sách "Thuyết văn" nói rằng: "Từ khi chuyên dùng chữ huyện làm châu huyện, thì chế tạo riêng chữ treo theo bộ tâm, phân biệt âm của nó, huyện đi thanh huyền bằng, cổ kim không có hai âm." Cho nên không có bất kỳ liên quan gì đến nghĩa quận huyện của chữ huyện, việc nó dùng làm chữ huyện của quận huyện thì thuần túy là chữ giả mượn, vốn dĩ không phải dùng làm danh từ trừu tượng trên chính trị. Giáp cốt từ đời Ân Khư từ vua Bàn Ganh đến vua Trụ hơn hai trăm năm, chưa từng thấy có chữ huyện nào dùng làm danh từ trên chính trị. Cho nên có thể khẳng định "huyện" bắt đầu từ Tây Chu, nghĩa là "treo đó", không phải là chế độ cố định. Người xưa cũng có người giải thích nghĩa của chữ huyện vốn là "treo". Đoạn chú sách "Thuyết văn" dẫn sách "Thích danh" nói rằng: "Huyện, huyện dã; huyện vu quận dã." Đây là lời nói mò của các nhà nho đời trước. Huyện treo ở quận, là chuyện sau thời Tần Thỉ Hoàng, mà chế độ huyện sớm đã xuất hiện từ thời Xuân Thu, tuyệt đối không thể vì treo ở quận mà bắt đầu gọi tên là huyện. Hoặc có người giải thích huyện là vùng hẻo lánh; vì đô thành của nước thời xưa là trung tâm, bên ngoài đô gọi là bỉ hoặc là huyện, treo ở trên lãnh thổ bản địa vậy. Lời giải thích này cũng hơi gượng ép. Như nước Sở "thực huyện Thân Tức" ("Tả truyện - Ai công thập thất niên"), "nhân huyện Trần" ("Tả truyện - Tuyên công thập nhất niên"), như nước Tần "đánh bỉ Quýnh Nhung ban đầu đặt huyện" "ban đầu đặt huyện Đỗ Trịnh" ("Sử ký - Tần bản kỷ") v.v., các chữ huyện này đều dùng làm động từ, nếu đem nó giải thích đồng nghĩa với chữ bỉ thì quả là hơi gượng ép vậy.
◎ Huyện thời Xuân Thu
Đến thời Xuân Thu các nước chư hầu mạnh yếu thôn tính lẫn nhau, lãnh thổ ngày càng rộng lớn. Họ tiêu diệt nước nhỏ của người ta nhưng trừng phạt lỗi lầm phong kiến của nhà Chu là không muốn dùng đất đó để chia phong cho nước phụ dung. Thế nhưng lãnh thổ ngày càng rộng lớn, thì cơ cấu thống trị cũ dần dần cảm thấy không linh bén. Do đó cũng học tập di chế của vương thất, tiêu diệt nước nhỏ của người ta thì cũng đặt thành huyện. Sai người tạm thời cai trị vùng đất đó, gọi quan lại của chúng là "huyện doãn" hoặc "huyện lệnh" hoặc "huyện công" hoặc "huyện đại phu". Treo đó rốt cuộc không quyết định, quan lại đứng đầu huyện thay phiên thay đổi mà huyện vẫn như cũ, lâu ngày huyện bèn thành chế độ cố định. Cho nên huyện thời Xuân Thu chỉ các nước lớn mới có. Phần lớn là hủy hoại quốc gia của người ta mà đặt làm huyện, như năm Trang công thứ 18 nước Lỗ "Sở Vũ Vương đánh chiếm Quyền, sai Đấu Mân làm doãn." Lại năm Tuyên công thứ 11 "(Sở Trang Vương) bèn vào nước Trần; nhân đó đặt huyện Trần." Năm Chiêu công thứ 8 "Công tử Khí Tật nước Sở suất quân diệt Trần; sai Xuyên Thú phong làm Trần công." Năm Chiêu công thứ 11 "Sở tử diệt Thái; sai Khí Tật làm Thái công." Năm Ai công thứ 17 "Bành Trọng Sưởng là tù binh nước Thân; (Sở) Văn Vương cho làm lệnh phu, thực chất đặt huyện Thân Tức." ("Tả truyện") Đó đều là sự thật việc vua Sở diệt xã tắc nước người ta mà đặt làm huyện; lấy người nhà hoặc tù binh làm quan đứng đầu huyện của họ. Nước Doanh Tần cũng lại như vậy "(Tần Vũ Công) năm thứ 10 đánh Quýnh Nhung ban đầu đặt huyện." "Năm thứ 11 ban đầu đặt huyện Đỗ Trịnh." ("Sử ký - Tần bản kỷ") Đều là tiêu diệt quốc gia của người Di rồi đặt làm huyện, huyện đó rốt cuộc không quyết định nữa. Về phần nước Tấn bá chủ Trung Trung Nguyên, lại còn có chuyện đoạt ruộng đất của đại phu làm huyện, "Ngụy Hiến Tử chấp chính, chia ruộng đất của Kỳ thị làm bảy huyện, ruộng đất của Dương Thiệt thị làm hai huyện." ("Tả truyện - Chiêu công nhị thập bát niên") Thế nhưng nước Tấn tuy đặt huyện nhưng vẫn có thể ban thưởng cho người ta; Tấn Tương Công từng "ra lệnh lấy ruộng đất Tiên Mao ban thưởng cho Tư Thần." ("Tả truyện - Hi công tam thập tam niên") "Lại ban thưởng huyện Cô Diễn cho Sĩ Bá." ("Tả truyện - Thập ngũ niên") Sau đó Tiêu Cử trốn sang nước Tấn, Tấn hầu (Bình công) cũng "sẽ ban cho huyện để sánh với cố quốc của Thúc Hướng." ("Tả truyện - Tương công nhị thập lục niên") Huyện của nước Tấn hãy còn bảo lưu thói cũ thời cổ đại. Nhưng sau đó lục khanh lớn mạnh, cuối cùng chia cắt nước Tấn, việc này bản thân nó có mối liên hệ nhân quả.
Nước Tề cũng có huyện, chỉ có điều khu phân chia của nó vô cùng nhỏ, cho nên việc nó phong huyện cho người ta động một tí là tính bằng trăm. Nay có thể khảo cứu được như văn khắc "Tề hầu chung" (Thúc Di chung) ghi rằng: "Công viết, Di... ngươi có công lớn với việc chinh chiến, ta ban cho ngươi huyện Ly Đô..., huyện ba trăm." Lại như Tề Cảnh Công bảo Án Tử rằng: "Xưa tiên quân Hoàn Công của ta, ban cho Quản Trọng và Cốc, mười bảy huyện, để làm ấp phong cho con cháu." ("Án tử xuân thu") Thế thì thời kỳ Hoàn Công nước Tề đã có huyện. Khổng Tử cũng nói Quản Trọng "Cướp của người ta ba trăm ấp Biện của họ Bá, ăn cơm rau suốt đời không oán giận." ("Luận ngữ - Hiến vấn") Lại như văn khắc "Tử Trọng Khương bảo hoả" ghi rằng: "Đào Cách Thúc lại lập công rạng rỡ ở nước Tề. Hầu thị ban cho hai trăm chín mươi chín ấp." Thế thì cái gọi là ấp đều chỉ chung huyện vậy. Quan sát chế độ huyện của nước Tề đã khác với ba nước trên rồi.
Đến khi nước Ngô lớn mạnh, định tiến lên miền Bắc tranh bá với chư hầu Trung Nguyên thì cũng đã có chế độ huyện. "Năm Ngô vương Dư Tế thứ ba, tướng nước Tề Khánh Phong có tội từ Tề trốn sang Ngô. Nước Ngô ban cho Khánh Phong huyện Chu Phương làm ấp phụng dưỡng, giàu có hơn ở nước Tề." ("Sử ký - Ngô thế gia") Xem thế thì huyện của nước Ngô cũng có thể dùng để phong cho người ta.
Tổng quan huyện thời Xuân Thu, chỉ các nước lớn như Tấn, Chu, Tần, Tề, Ngô mới có, phần lớn là xâm chiếm tiêu diệt các nước nhỏ bốn phía rồi đặt làm huyện. Về phần nước nhỏ tuy cũng có thôn tính nước láng giềng, nhưng chưa từng nghe có chuyện đặt huyện cho nó. Tóm lại là vì lãnh thổ chư hầu ngày càng lớn, sự xâm chiếm ngày càng nhiều, vốn không muốn dùng nó để chia phong cho nước phụ dung, thế nhưng đất đai ngày càng mở rộng, cơ cấu thống trị trực tiếp của trung ương cũ dần dần cảm thấy bất tiện, do đó đành phải thiết lập thêm quan lại địa phương để cai trị họ. Cho nên mới có việc đặt ra huyện doãn, huyện lệnh, huyện công, huyện đại phu, khiến chúng trở thành đơn vị chính trị địa phương độc lập mà trực thuộc trung ương. Cho nên việc thiết lập huyện thời Xuân Thu có thể coi là sự bắt đầu của chính trị địa phương Trung Quốc có cơ cấu độc lập. Về phần nước nhỏ đất đai vốn hẹp hòi, thôn tính ấp khác mở rộng một chút, về mặt thống trị cũng không có gì bất tiện, vốn dĩ không cần phải bắt chước nước lớn mà vẽ rắn thêm chân.
Lại xem chế độ huyện thời Xuân Thu đầu thời chư hầu đã có, nhưng huyện các nước cùng tên mà khác chế độ, có thể biết rằng nó không phải do một nước độc sáng mà các nước khác bắt chước theo, thì việc lập ra chế độ huyện là có nguyên nhân của nó. Cho nên có thể truy nguyên đến đầu thời Tây Chu, khẳng định nó là cặn bã của phong kiến. Trăm năm diễn biến, sông Tương sông Quế chia dòng mà các nước mỗi nước có một chế độ riêng vậy.
Giải thích chữ Quận
Quận, huyện trước khi Thỉ Hoàng thống nhất Trung Quốc rõ ràng là hai việc khác nhau. Mỗi bên trở thành một đơn vị chính trị, tuyệt đối không có mối liên hệ. Chữ "huyện" diễn biến từ chữ "huyện" trước đây đã bàn rất tường tận. Về phần chữ quận thì không như vậy. Sách "Thuyết văn": "Quận, từ ấp quân thanh." Là chữ hình thanh. Giống như chuyên chế tạo ra chữ này để gọi khu phân chia chính trị, đây có lẽ là lập ra vì nhu cầu đúng lúc vậy.
Quận trước thời Thỉ Hoàng, hình như đều liên quan đến quốc phòng quân sự. "Tần có Lũng Tây, Bắc Địa, Thượng quận, xây vạn lý trường thành để chống rợ Hồ." ("Sử ký - Hung Nô liệt truyện") "Ngụy có Hà Tây, Thượng quận, để làm biên giới giáp ranh với rợ Nhung." (như trên) "Triệu Vũ Lệnh Vương phá Lâm Hồ Lâu Phiền ở miền Bắc, xây vạn lý trường thành từ Đại gộp chân núi Âm Sơn, đến Cao Khuyết làm cửa ải mà đặt ra Vân Trung, Nhạn Môn, Đại quận." (như trên) "Yên cũng xây vạn lý trường thành từ Tạo Dương đến Tương Bình, đặt ra Thượng Cốc, Ngư Dương, Hữu Bắc Bình, Liêu Tây, Liêu Đông quận." (như trên) Xem thế thì quận của các nước Tần, Ngụy, Triệu, Yên hình như đều chuyên dùng để chống Hồ mà đặt ra.
Về phần quốc gia không có rợ Hồ để phòng thủ thì quận của họ cũng chuyên dùng để phòng ngừa sự xâm lược của cường lân mà thiết lập. "Xuân Thân Quân nói với vua Sở rằng: 'Đất Hoài Bắc giáp ranh nước Tần, sự việc vô cùng khẩn cấp, xin được đặt làm quận'." Lại "Lại lấy phía Tây 15 ấp ven sông mà Tần đã chiếm của ta để làm quận chống Tần." ("Sử ký - Sở thế gia") Thì quận của nước Sở chuyên dùng để chống Tần mà thiết lập.
Về phần Ngô vương Hạp Lư cứu nước Lỗ cũng là "xuất quân chín quận đi đánh Tề." ("Sử ký - Trọng Ni đệ tử liệt truyện") Có thể biết quận trước thời Thỉ Hoàng đều liên quan đến quân sự. Phải chăng việc đặt quận phần lớn ở vùng biên ải, để phòng ngừa sự xâm lược của nước láng giềng thì cần phải có phòng thủ biên giới thường xuyên và lệnh cho đại tướng đóng giữ. Vì sự tiện lợi về mặt quân sự, thì tướng lĩnh đóng giữ biên giới phải nắm giữ đại quyền quân sự, chính trị, tài chính của vùng biên giới trong một tay, có như vậy mới vận dụng linh hoạt, tùy thời ứng biến. Quốc quân đem dải đất dọc theo biên cương giao cho sĩ quan phòng thủ biên giới. Khiến họ có cơ cấu độc lập, ngoài việc nghe theo hiệu lệnh của trung ương ra không chịu bất kỳ sự kiềm chế nào. Dùng thuật ngữ cận đại để nói rõ thì có thể gọi là "đặc khu quân sự". Loại đặc khu quân sự này chính là nguồn gốc của quận. Thái thú của quận chính là tướng lĩnh đóng giữ biên giới, ruộng đất tuy không trực tiếp phong cho hắn, mà hắn lại có thể nắm giữ đại quyền trong một tay, đường hoàng là một vị hoàng đế thổ địa ở vùng biên cương. Ở thời đại chưa có chế độ hành chính địa phương có cơ cấu độc lập đó, đây đích thực là một chế độ đáng để người ta coi trọng. Nếu cho phép tôi chiết tự theo nghĩa đen, thì chữ quận đại khái có thể coi là chữ vừa hình thanh vừa hội ý, bổ sung cho thuyết của họ Hứa có thể nói là: "Quận, từ ấp từ quân, quân cũng là thanh."
Mối quan hệ giữa quận và quận
Quận và huyện vốn dĩ là hai việc hoàn toàn khác nhau, nhưng lại là hai đơn vị chính trị độc lập như nhau. Thế nhưng quận luôn ở vùng biên ải, cách xa trung ương, lại thường xuyên có giặc giã quấy nhiễu. Còn huyện thì sao? Hoặc là lấy từ nước láng giềng đặt làm huyện, hoặc là đoạt ruộng đất của đại phu mà thành, so sánh hai bên với nhau khỏi phải nói huyện quả thực là tốt hơn quận, làm quan ai mà không muốn mưu cầu một chiếc "huyện" được ăn ngon ngủ yên? Cái "quận" có khói lửa bập bùng vô thường đó tự nhiên là kém hơn một bậc, cho nên Triệu Ưởng thề quân từ bỏ rằng: "Kẻ nào lập công đánh giặc, đại phu thượng nhận huyện, đại phu hạ nhận quận." ("Tả truyện - Ai công nhị niên") Thế là không phải định cao thấp bằng kích thước khu vực.
Hơn nữa quận đặt ra để phòng thủ biên giới, không phải võ tướng thì không thể đảm nhận chức thái thú; lại thêm chinh chiến không lúc nào ngơi, thì thái thú lại nắm giữ binh quyền. Gạt bỏ việc làm quan tốt ăn lộc hậu không bàn tới, thì quan đầu tỉnh của quận tự nhiên lộng lẫy hơn lệnh doãn của huyện và cũng có thực quyền hơn. Hơn nữa việc mở mang bờ cõi đã lấy được nước giặc làm huyện lại đặt ra huyện lệnh doãn, nhưng khói lửa phong tuyền chưa dứt, huyện mới lập lại nằm ở vùng biên khu, vì sự tiện lợi quân sự cho nên đôi khi huyện lệnh doãn cũng phải chịu sự tiết chế của quan đầu tỉnh của quận, hơn nữa thư sinh tay trói gà không chặt cũng có thể lãnh chức huyện lệnh doãn, mà thái thú thì không phải là đại thần trọng thần lâu năm thì không thể đảm nhận. Phần lớn đều lập được chiến công biên ải, biết đâu huyện mới lập chính là do công lao hãn mã của họ đổi lấy, thì vị văn quan mới được thả về làm huyện lệnh doãn, về mặt tư lịch về mặt thực lực đều không thể vượt trội hơn thái thú, so sánh hai bên với nhau tự nhiên là kém hơn một bậc.
Thời gian trôi qua đến thời Chiến Quốc, chinh chiến càng thêm thường trực, địa vị của võ tướng đương nhiên cũng theo đó mà nâng cao, dần dần địa vị của quận liền vượt lên trên huyện. Đến khi Thỉ Hoàng thống nhất thiên hạ, bèn quy định rõ ràng huyện treo ở trong quận, bèn thành chế độ hai cấp của chính trị địa phương sau này, là kết quả của sự diễn biến tự nhiên vậy.
5.4 Kết luận
Nói tóm lại, vào thời thịnh trị của nhà Tây Chu, Hầu nước Mật không thần phục, bèn tiêu diệt nước Mật, U Vương nổi giận đem Tề Ai Hầu ngâm nước mắm. Thế lực của thiên tử cũng gọi là thịnh trị. Cho đến khi Bình Vương dông dời sang phương Đông, vương kỳ ngàn dặm nửa chìm vào tay địch; vội vã chạy trốn về phương Đông, nhờ cậy sự phò tá của Tấn và Trịnh, thoi thóp qua ngày ở Thành Châu. Thế nhưng thấm thoắt đã đến lúc Chu và Trịnh đem con làm tin, Sở Trang Vương hỏi vạc, vương thất suy vi và kỷ cương phong kiến sụp đổ rồi. Sự tôn nghiêm của Thiên vương lại phải nhờ cậy đại quốc bảo vệ, chư hầu kiêu căng hách dịch cũng mượn việc ép thiên tử để tự trọng. Do đó chính sự nhà vua mất mối, mà cục diện tranh bá khởi sự; mạnh yếu chênh lệch, mà thế lực thôn tính hưng thịnh lên. Nước nhỏ sức yếu bèn vứt bỏ thiên tử mà ngửi hơi thở của bá chủ; thế lực của chư hầu hùng mạnh, tiêu diệt tông xã của người ta bèn cũng thành thói quen.
Thế nhưng chư hầu quay đầu nhìn lại sự lớn mạnh của mình, trừng phạt lỗi lầm phong kiến của nhà Chu, cược được ruộng đất của người ta, không còn đem nó ra để chia phong cho nước phụ dung nữa. Việc mở mang thuộc địa ngày càng rộng, bèn học tập di chế của nhà Chu mà đặt thành huyện, huyện mãi không quyết định bèn thành chế độ cố định. Lại thêm chinh chiến lâu dài mà có chế độ lập quận điều này đã bàn rất kỹ rồi; cho nên nói huyện là do phong kiến biến đổi mà thành; còn quận là kết quả của chiến tranh qua nhiều năm. Đến thời Hán chư hầu họ Cơ đã hết, Trần Thái đã đặt thành huyện; mà người Sở tiến lên phương Bắc, người Tần tiêu diệt Ba Thức ở phương Nam, rồi xuất quan Ải, nước nhỏ làm bộ đệm đã hết, cục diện xung đột trực tiếp giữa các nước lớn liền khởi sự. Trải qua kết quả diễn biến của thời kỳ đặt quân sự lên hàng đầu suốt mấy trăm năm, địa vị của quận bèn vượt lên trên huyện. Thỉ Hoàng đã thống nhất thiên hạ, triệt để phế bỏ phong kiến, bèn theo tên cũ của quận huyện, quy định rõ ràng chế độ hai cấp của chính trị địa phương, ngàn năm từ đó về sau, bèn thành chế độ cố định.
5.5 Bạt
Bài này, vốn dĩ là bài tập cuối kỳ của tác giả vào mùa thu năm Dân Quốc thứ 30 (1941), khi đang theo học năm thứ ba khoa Lịch sử Đại học Trung ương Quốc lập, học môn "Sử Thương Chu" do tiên sinh Cố Tiết Cương giảng dạy. Lúc tiên sinh Cố phát lại, từng dùng bút chu sa phê duyệt, lại kèm theo một bức thư dài, chỉ bảo những chỗ có thể bàn luận và có thể lấy làm gương trong bài rất tường tận, khen ngợi động viên rất nhiều, lại dặn sau khi đọc xong hãy gửi trả lại bản thảo gốc, "sẽ biên tập đưa vào Văn sử tạp chí" v.v. Thế nhưng lúc đó tác giả đang bận viết một bài trường thiên về sử xã hội cổ đại nước nước ta, định lấy bài này làm phần đầu cuốn sách, cho nên không vội đem in ấn. Nào ngờ toàn bộ bản thảo chưa hoàn thành mà đại học đã tốt nghiệp, bèn gửi bản thảo tích lũy cho bạn bè, vội vã thu xếp hành lý quay về quê nhà thăm người thân. Vốn hy vọng năm sau quay lại thủ đô cùng học ở viện nghiên cứu lịch sử của trường mẹ. Nào ngờ về An Huy chưa lâu, quân địch đã xâm lược Trung Trung Nguyên, Đại Bế Sơn phút chốc trở thành vùng sau lưng địch. Quay về Dũ tiếp tục học là điều vô vọng, bạn Quách Bỉnh Hữu học chung đại học với tôi bèn đem khoảng hơn mười vạn chữ bản thảo cũ gửi ký ở Lập Hoàng, nào ngờ lúc bưu kiện đi qua vùng địch khu bản thảo gửi đi phần lớn đã thất lạc, mà bài này may mắn được còn sót lại. Sau đó làm giáo viên ở Học viện An Huy Lập Hoàng, ban biên tập san vật của học viện đó đòi bản thảo, bèn lấy bài này để lấp đầy, thế nên được biên tập đưa vào kỳ đầu của san vật đó. Cho nên lời tựa nhỏ trước bài có câu "sợ lại thất lạc". Đây là chuyện vào mùa đông năm Dân Quốc thứ 33 (1944).
Sau khi đại lục đổi màu, tác giả ở Mỹ đứt lương thực. Bèn nộp đơn xin công việc biên dịch đến "Kế hoạch nghiên cứu sử Trung Quốc" trực thuộc Đại học Columbia để tự mưu sinh, người chủ trì hy vọng có thể giao ra một hai tác phẩm cũ để làm tài liệu tham khảo, muốn để chứng minh người xin việc "có thể đọc thông sách cổ Trung Quốc". Cực chẳng đã bèn dâng lên từ mẫu ở cố hương Hợp Phì, cầu xin cắt gửi một hai bài trong tác phẩm cũ, để thuận tiện cho việc xin việc. Ban đầu chỉ thử gửi thư nhà, không ôm hy vọng xa vời, nào ngờ từ mẫu lại có thể trong tro tàn cải cách ruộng đất của ĐCSTQ, cắt gửi bài này, nâng niu thủ dụ của mẹ, tựa như từ trời rơi xuống vậy.
Bài này vốn in ở vùng du kích sau lưng địch thời chiến, việc in ấn hiệu đính đều cực kỳ thô sơ, san vật lại càng không thể bàn đến chuyện lưu thông. Tác giả từng thử tra "Mục lục liên hợp các kỳ san tiếng Trung toàn quốc 1833~1949" được xuất bản ở đại lục. "Thế giới nguyệt san" do ban biên dịch Học viện An Huy xuất bản tuy cũng được liệt kê (xem trang 299), thế nhưng kỳ đầu của san vật đó các thư viện đều thiếu, mới biết những gì lưu giữ trong tay, rốt cuộc lại thành quả ngọt cuối cùng. Mơn trớn thẻ tre cũ, tưởng nhớ tình cảnh nước nhà ba mươi năm qua, không khỏi trăm mối cảm xúc dâng trào. Bèn xin phu nhân Ngô Chương Thuyên chép lại thành bản sạch, gửi dâng huynh Tống Húc Hiên đem đi khắc in lại lần nữa, nguyên văn ngoài việc loại bỏ hai chữ tiếng Anh không thông thuận, cùng với việc sửa chữa lại văn khắc "Thúc Di chung" và "Sơ Mệnh hoả" mà người thợ in nhầm lẫn lúc ban đầu ra, còn lại đều giữ nguyên như cũ, tuy vì bận việc, không có thời gian sửa đổi, cũng thấy sự bi thảm của việc lưu lạc xứ người, học hành không tiến bộ chút nào trong suốt ba mươi năm qua vậy.