Vãn Thanh thất thập niên 1: Trung Quốc xã hội văn hóa chuyển hình tổng luận

Vãn Thanh Thất Thập Niên 1: Trung Quốc Xã Hội Văn Hóa Chuyển Hình Tổng Luận

Lượt đọc: 17 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tự Tự: Cáo Biệt Đế Chế Năm Ngàn Năm

❊ ❊ ❊

Bộ sách mọn này được tác giả chấp bút biên soạn sau khi đã về hưu. Là một giáo viên lấy lịch sử làm chuyên ngành, cá nhân tôi từ năm hai mươi tư tuổi bắt đầu dạy lịch sử ở đại học, tính đến nay đã hơn bốn mươi năm. Trong sự nghiệp giảng dạy gần nửa thế kỷ này, phần lớn (mười phần thì chín phần) là trải qua tại hai trường đại học ở New York, Mỹ. Ở Viện cao học Đại học Columbia, tôi chuyên dạy hai môn, dạy ròng rã suốt bảy năm. Một môn có thể gọi là phần tổng quan Hán học bao gồm kinh sử tử tập, thi từ ca phú, môn còn lại chính là môn sử liệu học bao gồm lịch sử cận đại và hiện đại Trung Quốc. Khi lên lớp, thường là phải đẩy cả xe sách “sử liệu” vào phòng học. Tại Đại học Thành phố New York (CUNY), tôi dạy trước sau gần bốn mươi năm. Hai mươi năm đầu dạy thỉnh giảng ở các phân hiệu khác nhau của Thành Đại, hai mươi năm sau thì làm giảng viên chính thức tại Học viện Thành phố (City College) thuộc trụ sở chính của Thành Đại. Trong đó, mười hai năm kiêm nhiệm chủ nhiệm Khoa Nghiên cứu Châu Á, đồng thời chịu trách nhiệm thiết kế và giảng dạy nhiều loại môn học. Trong các lớp huấn luyện giáo viên trung học do Chính phủ Thành phố New York và Chính phủ Liên bang chủ trì, tôi cũng từng đảm nhận giảng dạy nhiều môn học. Nói tóm lại, trong bốn mươi năm, các môn học do tôi thiết kế và giảng dạy tại Thành Đại New York lên tới gần hai mươi môn. Với tư cách là người chịu trách nhiệm “thiết kế môn học” (course proposal), dù bạn không trực tiếp lên lớp, nhưng đối với nội dung giảng dạy cũng phải nắm bắt một cách triệt để. Thêm vào đó, sinh viên và phụ huynh của Thành Đại New York đều đến từ khắp nơi trên thế giới, bối cảnh chủng tộc, tôn giáo và chính trị đều vô cùng phức tạp. Là một giáo viên môn lịch sử, đặc biệt là người thiết kế, mọi vấn đề có thể phát sinh đều phải tính đến chu toàn. Lâu ngày rồi không biết từ lúc nào, lại biến thành một kẻ cái gì cũng biết mà không có cái gì biết quá nhiều, đúng là một thứ tạp gia vô dụng. Bỏ bê công việc, lỡ làng sự nghiệp, không gì bằng cái này.

Thế nhưng, trong môi trường giảng dạy không thể do mình quyết định ấy, tác giả đã cố gắng kiên trì một điều: trong số hơn mười môn học không thể rũ bỏ, tôi luôn kiên trì môn Lịch sử cận đại và hiện đại Trung Quốc phải do chính mình đứng lớp; bốn mươi năm chưa từng thiếu sót lần nào. Do bối cảnh sinh viên phức tạp, trình độ chênh lệch, cho nên việc sàng lọc sử liệu giảng dạy, không thể không luôn chú ý, giáo trình của mỗi năm học đều được sửa đổi theo tình hình xuất bản hiện hành. Vì vậy, bốn mươi năm qua, ngu dốt không lo học, không thể có tác phẩm nhiều ngang thân người, nhưng bản thảo bài giảng thì chất đầy nhà.

Nhớ lại những năm xưa ở Đại học Columbia, vì đảm nhiệm chức vụ quản lý thư viện, tôi từng có sự sưu tập và biên soạn có hệ thống đối với các tư liệu lịch sử quốc gia. Công việc tuy là làm áo cưới cho người khác, nhưng bản thân gánh vác trọng trách ấy, quen tay hay việc, tài năng lệch lạc hay điển tích khó hiểu, mỗi khi tra cứu đều có thể tìm được ngay. Bè bạn thỉnh thoảng có thắc mắc đến hỏi, những nan đề mấy năm không giải quyết được, thường chỉ một câu là gỡ rối được ngay. Sau đó, tại Thành Đại, vì trường này không có trang thiết bị sách chữ Trung Quốc, tôi từng ký trình lên nhà chức trách Thành phố New York và Thành Đại, dự định do Thư viện Thành phố và Thư viện Thành Đại cùng thiết lập một Thư viện tiếng Trung, một mặt để thuận tiện cho việc giảng dạy của Thành Đại, mặt khác làm dịch vụ cho cộng đồng người gốc Hoa. Phàm là chính phủ thành phố có kinh phí này, có lập pháp này, mà cộng đồng và giới học thuật cũng đều có nhu cầu này. Vì việc này, tác giả từng hội nghị vô số lần với các quan chức chính phủ thành phố và nhà chức trách Thành Đại, cuối cùng vì sự ủng hộ của cộng đồng người gốc Hoa quá ít, sự nhận thức của chính phủ chưa đủ mà chết yểu, thật đáng thở dài thay. Gánh vác một học phủ lớn, lấy Hán học làm trọng tâm, là một Khoa Nghiên cứu Châu Á mà không có cơ sở tàng thư Hán học, thì dẫu là người khéo cũng khó nấu cơm không có gạo. May thay, tôi phục vụ ở Đại học Columbia đã nhiều năm, hai trường cách nhau trong gang tấc, về tư liệu nghiên cứu, vẫn có thể có qua có lại bù đắp cho nhau. Còn như việc dạy và nghiên cứu văn sử Hán học hàng ngày, thì tác giả vẫn hằng lấy sự sưu tập cá nhân của mình làm vật bổ trợ cho thầy trò trong khoa. Các tư liệu liên quan, một mảnh giấy cũng không dám vứt bỏ. Tích tiểu thành đại, mấy mươi năm trời, căn nhà tranh rốt cuộc biến thành nhà kho.

Thế nhưng, ở thời đại công nghệ cao này, sự sưu tập sử liệu nhiều đến mức mỏi cả trâu chở, rốt cuộc không phải là việc mà một nhà Nho nghèo đơn độc có thể đảm đương nổi. Tự coi là báu vật cỏn con, chung quy cũng chỉ như muối bỏ biển. May mà ở lại New York lâu ngày, gom cái chí thiện và cái chí ác của thiên hạ vào một thành, nếu có chỗ nào cần, vẫn có thể tìm ra ngay lập tức. Mấy năm trước, sau khi về hưu từ Thành Đại New York, thân phận làm áo cưới cho người khác nay mới được tự do, bạn bè trong giới văn hóa xuất bản không chê mà có người đến đòi bản thảo, cũng có thể gắng sức đáp lời. Bản thảo bài giảng lớp học ngày xưa cùng những tác phẩm cũ viết bậy lúc rảnh rỗi, từ trường vận chuyển về tầng hầm, vẫn chất đống như núi lộn xộn, thỉnh thoảng tự mình sắp xếp, rút ra biên tập để đáp ứng yêu cầu, ban đầu hoàn toàn không ngờ rằng những độc giả tri âm hiền đạt cùng bè bạn thầy trò lại có được sự đón nhận khá nghiêm túc. Sau khi đón nhận tình cảm sâu nặng của thầy trò, bản thân tác giả vốn cũng không dám tự vứt bỏ mình. Rốt cuộc gửi thân trong tháp ngà mấy mươi năm, dẫu là kẻ ngu nhất, há có thể không có chút thu hoạch nào hay sao? Cho nên mỗi khi vào những buổi sáng sương giá hay đêm trăng đẹp, trong mấy chục thùng bản thảo cũ, sơ lược kiểm tra những bản còn có thể dùng được, biên soạn thành bài, phần lớn gửi đến chỗ tiên sinh Lưu Thiệu Đường ở tạp chí "Truyền ký văn học" để tùy ý châm chước sử dụng. Tùy tiện viết bậy gửi bưu điện, qua mấy năm, rốt cuộc thành ra hơn một triệu chữ. Ngày tích tháng lũy, dần dà thành sách lớn, cũng hoàn toàn ngoài dự liệu.

Vào đầu những năm sáu mươi, tôi từng ký hợp đồng với nhà xuất bản MacMillan của Mỹ để viết, tổng quan về thế kỷ XX của Trung Quốc, bản thảo tiếng Anh "Toàn sử Trung Hoa Dân Quốc" dài hơn ngàn trang (một số chương từng được công bố bởi quý bản "Chinese Studies in History" do giáo sư Lý Hựu Ninh chủ biên, xem các số năm 1988). Sau đó lại được Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Xã hội Mỹ (Social Science Research Council) hào phóng trợ cấp để đảm nhận vai trò chủ biên "Annotated Bibliography of Republican China" ("Tịch chú Dân Quốc sử tư liệu hội biên"), bản thảo tích lũy cũng mấy chục thùng, tuy biết rõ kinh phí có hạn, không phải sức một người có thể hoàn thành toàn bộ, nhưng chuyện Ngu Công dời núi, cổ nhân có lời răn dạy rõ ràng, biết không thể làm mà vẫn làm, chưa từng nản lòng thoái chí. Chỉ là từ khi chuyển nghề khỏi Đại học Columbia, chức vụ mới gánh vác nặng về quản lý hơn là nghiên cứu, chuyển một vòng trăm vòng, khiến cho công sức trước đây đổ sông đổ biển, thật sự không phải là điều mong muốn. Thời gian cách trở, thế cùng cõi cấm, đi ăn mày ở xứ người, không còn cách nào khác, nghĩ đến thật bi thương. Nay sau khi đã về hưu, tuy dần cảm thấy già nua, nhưng đàn kiếm hãy còn, bỏ đi thì đáng tiếc, vuốt ve tập sách cũ, rốt cuộc vẫn thấy khó an lòng, ngựa già chốn chuồng ngựa, vẫn nuôi chí dũng mãnh còn thừa, làm cho trọn vẹn sự việc và lấy bài này làm khúc dạo đầu. Trời cho sống thêm năm nữa, không dám tự vứt bỏ mình vậy.

Sự thăm dò về sử học mới trong thời đại máy tính

Trong bài này, điều mà tác giả phải đặc biệt bày tỏ với quý độc giả hiền minh là, "Truyền ký văn học" do tiên sinh Lưu Thiệu Đường biên soạn không phải là tạp chí kiểu "tập san học thuật". Bản thân tôi cũng không có tâm trí viết nhiều bài báo học tập. Cái gọi là bài báo học tập là văn phong không ngại khô khan, mà nói năng ắt phải có căn cứ, đúng như cái gọi là "có một phần bằng chứng nói một phần lời; có chín phần bằng chứng không thể nói mười phần lời" mà thầy Hồ Thích Chi từng nói. Lời dạy của bậc thầy tựa núi, tôi sao dám vi phạm. Chỉ là cảm thấy bài viết học thuật, không nhất thiết phải hành văn khô khan. Nói năng có căn cứ, cũng không nhất thiết câu nào cũng phải thêm chú thích, để tự khoe khoang sự bác học. Giới văn sử học Mỹ vì chịu ảnh hưởng bởi phương pháp trị học của khoa học tự nhiên, nên các tác phẩm viết về khoa học xã hội phần lớn cũng rắc rối khó hiểu, mỗi khi đọc rất khó kết thúc. Người nghiên cứu lịch sử vốn dĩ không cần phải như thế. Thời còn là nghiên cứu sinh tiến sĩ, bản thân tôi đối với thứ mốt này của nước Mỹ đã sớm có sự phản cảm sâu sắc, thế nhưng người thấp cổ bé họng, trong cái khoa cử của phương Tây, làm một ông tú già thì sao dám làm phản? Nào ngờ nếu làm phản là có lý, thực ra không lo không có ai làm phản. Người giương ngọn cờ đầu trong hàng ngũ này, ngờ đâu lại chính là một trong những người thầy nghiệp sư mà tôi sùng bái nhất ở Đại học Columbia - Dean Jacques Barzun (Kiệt Khắc Tư Ba Tôn). Tiên sinh Barzun từng giữ chức giáo vụ trưởng và viện trưởng viện văn học của Đại học Columbia nhiều năm, sau đó về hưu với chức giáo sư giảng tọa đại học (University Professor). Trong thời gian tôi thụ nghiệp, tiên sinh Barzun không lúc nào là không phê bình nghiêm khắc trong các giờ lên lớp đối với thói khoe khoang của người đời nay, coi thứ sử học rườm rà kiểu Mĩ Vĩ Sức (Muisvism) lấy chú thích (footnote) làm học vấn là điều không đúng đắn (tiên sinh Barzun là người gốc Pháp), đến những năm sáu mươi lại càng viết thành bài đăng trên san uyên của Đại học Columbia để kịch liệt bàn luận về điều đó. Chỉ tiếc là thói tệ đã sâu dày, dẫu là bậc học rộng tên cao như Barzun cũng không thể xoay chuyển phong tục thay đổi thói quen được. Sau đó tôi đọc các bài luận văn Hán học của thầy trò xứ này, trong đó thường có những tác phẩm nông cạn hoang đường khó mà nói hết, thế nhưng những chú thích tra cứu được liệt kê ra lại vô cùng đồ sộ. Những lúc ấy thường ném sách thở dài, thở dài cho dòng tệ hại trong khoa cử phương Tây không kém gì lối văn bát cổ của Trung Quốc, còn nói gì được nữa?! Ngờ đâu sự phát triển của máy tính trong những năm gần đây đã đạt đến mức độ không thể tưởng tượng nổi, ngày nay Viện Trung ương ở Đài Bắc đã đưa Nhị thập ngũ sử và Thập tam kinh v.v. vào mạng lưới; đại lục thậm chí đã số hóa toàn bộ Tứ khố toàn thư. Bản thân tôi từng được sự hướng dẫn của các chuyên gia điện tử Viện Trung ương Nam Cảng ở Đài Bắc thử tra cứu các điển tịch Nhị thập ngũ sử và Thập tam kinh, bấm nút dò tìm, sử liệu cần dùng đơn giản là nhiều đến mức không thể chống đỡ nổi. Mấy tháng trước, chiếc máy tính "Deep Blue" (Thâm Lam) do các chuyên gia như tiến sĩ gốc Hoa Đàm Sùng Nhân thiết kế cho hãng IBM của Mỹ đã đánh cờ với kỳ vương thế giới Garry Kasparov (Khố Tư Ba Lỗ Phu), Kasparov đã phải thua trận, từng gây chấn động thế giới. Kỳ thực việc này hoàn toàn không có gì đáng kinh ngạc. Phàm là tốc độ tính toán nước cờ tính bằng "giây" của Thâm Lam là hai trăm triệu bước, kho lưu trữ thế cờ trên vạn loại, hơn nữa đổi mới từng ngày, mãi mãi không ngừng cải tiến trong đó, sự tích lũy trí tuệ trong bộ não con người, rốt cuộc có giới hạn của nó. Cổ nhân nói lấy cái hữu hạn đuổi theo cái vô hạn thì nguy lắm thay. Kỳ vương bại trận, có gì là lạ. Hơn nữa, chiếu theo tình thế phát triển của khoa học máy tính hiện nay mà suy đoán, thì tốc độ tính giây của máy tính trong thế kỷ tới sẽ có năng lực tra cứu mười tỷ chữ, thẳng tay có thể đem Thư viện Quốc hội Mỹ với các giá sách sắt dài hơn sáu mươi dặm hiện nay, toàn bộ sưu tập gom lại vào trong một cỗ máy, đặt vào trong túi áo mà vẫn còn thừa, thật là thể thống gì chứ?! Quý độc giả hiền đạt xem qua bài viết mọn, có lẽ sẽ nghi ngờ tôi đang viết tiểu thuyết khoa học viễn tưởng. Bạn tôi ơi, không phải đâu, không phải đâu! Việc tưởng tượng này trở thành sự thực, chỉ là chuyện của mười năm, hai năm sau mà thôi. Cách mạng máy tính hiện nay đã ập đến như vũ bão, chúng ta sống trong núi này, há lại tự giác được đâu.

Bây giờ quay trở lại vấn đề chính. Nếu bàn về ảnh hưởng của cách mạng máy tính đối với sử học, quả thực khiến người ta không nỡ nhẫn tâm nói ra. Những năm xưa, tôi thường khuyên tiên sinh Hồ Thích không nên tiếp tục nghiên cứu cuốn "Thủy kinh chú" của ông nữa. Ý định ban đầu là thầy Hồ là nhà tư tưởng lớn đời nay, sao có thể vì nghẹn mà bỏ ăn, mê mẩn vào con đường nhỏ khảo cứu huấn cổ chứ? Thế nhưng người thầy Hồ có "thói quen" khảo cứu từ lâu lại không lọt tai. Nào ngờ bước vào thời đại máy tính ngày nay, khảo cứu huấn cổ thực sự đã trở thành kỹ nghệ vặt của thợ thủ công rồi, công sức hai mươi năm của tiên sinh Thích Chi, sau này nếu dùng máy tính tra cứu, chỉ là chuyện mấy tuần lễ mà thôi. Lãng phí thời gian hai mươi năm của Hồ Thích, trí tuệ dân tộc của chúng ta làm sao gánh nổi sự lãng phí này? ... Thực ra, ngay cả trước khi máy tính đời này xuất hiện, sự kháng cự của giới sử học Mỹ đối với thứ sử học rườm rà lấy chú thích làm trọng, lan tràn thành tai họa này đã ầm ĩ khắp nơi, những người bàn luận cho rằng việc dung thứ cho một chú thích có thể dài tới ba trăm trang của sử học bát cổ Mỹ hiện nay thực sự là hoang đường. Từ nay về sau dưới sự bao trùm của máy tính, thì lại càng không cần phải bàn tới nữa. Mùa thu năm ngoái, tờ "The New York Times" ("Nại ước thời báo") đối với cuộc cách mạng học thuật này, từng có bài báo cáo khá tỉ mỉ. (Xem William H. Honan. "Footnotes Offering Fewer Insights: Scholars Desert an Old Tradition in a Search for Wider Appeal." The New York Times. EDUCATION. August 14, 1996. p. B9.)

Có cảm xúc như thế, cho nên khi tôi thử viết bài này, vừa để lo lắng cho sự thiếu kiên nhẫn của độc giả nói chung đối với chương cú; đồng thời để thăm dò định hướng nên có của sử học mới trong thời đại máy tính, bèn không viết theo kiểu sách giáo khoa. Những sử kiện chung đã sớm định án, đều được liệt kê theo kiểu "kỷ sự bản mạt thể" và "đại sự niên nhật chí" trong sử học truyền thống nước ta ở phần cuối quyển. Như vậy, thì độc giả có thể nhìn qua là rõ ngay, không cần tác giả phải lải nhải. Mà những chỗ có thể bàn cãi, có thể kinh ngạc, có thể thở dài trong sử kiện thì được thuật lại chi tiết trong chính văn, đồng thời thử nghiệm giảm bớt chút hơi hướng tập san học thuật, may sao độc giả nói chung có thể đọc cho đến hết quyển. Kiến thức của các bậc danh gia đủ để lưu truyền ngàn đời, thì bao quát rộng rãi mà thu nhận lấy; hoặc có chỗ chưa đủ, thì dùng chút ít kiến thức cỏn con của kẻ ngu ngốc này để bù đắp vào. Dù chỉ là một chút ý kiến thô thiển, cũng tạm thời chuẩn bị cho ý kiến của một nhà, để chờ đợi sự bổ sung và minh chứng nhiều hơn từ những người tri âm. Còn như chú thích thông thường, ngoài những chú thích mang tính then chốt ra thì những chú thích có thể tìm thấy ngay lập tức đều được lược bỏ. Phàm là chuyên gia tra cứu, vốn không phải là việc khó, độc giả đọc cho vui cũng biết tác giả không nói càn. Tạm lấy bài viết mọn làm sự thực hành cho hướng đi mới, dẫu không thể đạt tới, nhưng trong lòng hướng về điều đó. Vô cùng khẩn khoản mong độc giả bất cứ lúc nào hãy sửa sai cho!

Ba giai đoạn lớn, hai lần chuyển đổi

Hơn thế nữa, tôi đọc sử, dạy sử, viết sử mấy mươi năm, người nhọc nhằn tự hát, cũng thường lấy chút ít thu hoạch ngàn vàng, tự mình quyết đoán, đối với việc giải thích bốn ngàn năm lịch sử quốc gia, một mạch xuyên suốt. Đó chính là luận điểm mọn không rời miệng mấy mươi năm nay, cái gọi là "Ba giai đoạn lớn, với hai lần chuyển đổi". Ý tôi cho rằng lịch sử quốc gia có ghi chép đáng để chứng minh kể từ sau khi Hạ Vũ gia thiên hạ, tổng cộng hơn bốn ngàn năm (khoảng năm 2200 TCN – năm 2000). Trong bốn ngàn năm, nếu phân tích theo trình tự phát triển hình thái xã hội vốn có của dân tộc ta (typological approach to societal development), thì sự phát triển hình thái xã hội chính trị của dân tộc ta trong bốn ngàn năm qua, đại khái có thể tổng hợp thành ba giai đoạn lớn, tức là phong kiến, đế chế và dân trị vậy. Từ phong kiến chuyển sang đế chế, xảy ra vào khoảng giữa Thương Ưởng và Tần Hoàng Hán Vũ, kéo dài khoảng ba trăm năm. Từ đế chế chuyển sang dân trị thì xảy ra sau cuộc Chiến tranh Nha phiến, là giai đoạn lịch sử cận đại và hiện đại Trung Quốc mà chúng ta trực tiếp trải qua và nhìn thấy. Kiến giải nông cạn của tác giả cho rằng sự chuyển đổi này ít nhất cũng phải từ hai trăm năm trở lên mới thấy rõ hiệu quả nông cạn. Nói cách khác, những đau khổ mà dân tộc ta gánh chịu ở Trung Quốc cận đại, ít nhất cần phải đến giữa thế kỷ sau, mới có thể hơi thấy sự nới lỏng. Đây chính là cái gọi là hai lần chuyển đổi của người không học vậy.

Hợp lưu lịch sử chủ nghĩa Mác hiện vẫn đang thống trị giới sử học đại lục, căn cứ theo giáo điều của chủ nghĩa Mác, thì chia lịch sử nước ta thành năm giai đoạn, tức là xã hội công xã nguyên thủy, xã hội nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa (bao gồm cái gọi là "giai đoạn cuối" của xã hội cộng sản chủ nghĩa) vậy. Nay do việc đẩy lùi hai chế độ trên đại lục và sự sụp đổ của Liên Xô, chủ nghĩa xã hội đã thành con chuột chạy qua đường, hiếm có kẻ nào tâm phục khẩu phục nữa. Thế nhưng nơi không nghi ngờ vốn cũng có chỗ có thể nghi ngờ của nó. Nhìn toàn cục sử học các nhà danh gia hơn trăm năm qua, tính khoa học của thuyết giai đoạn phát triển xã hội của phái Mác, vốn không thể trách cứ quá đáng. Chỉ là học giả người German quá độc đoán, mỗi khi thích vơ đũa cả nắm; mà văn nhân khai sáng nước ta sau phong trào Ngũ Tứ, sùng bái ngoại quốc quá mức, trong thời kỳ chuyển đổi học thuật đã tiêu hóa không nổi đồ ngoại. Dẫn đến sai lại càng sai. Phàm là sự phát triển của xã hội loài người tuy có tính phổ thông của nó, nhưng sự phát triển xã hội của các dân tộc lớn cũng có tính đặc thù riêng của mỗi dân tộc, hai bên tác động qua lại lẫn nhau mới hình thành nên hình thái khác nhau và giai đoạn khác nhau của lịch sử các dân tộc. Trên lục địa Á - Âu, kinh nghiệm phát triển xã hội của dân tộc Hoa Hạ chúng ta đủ để sánh ngang ngất với các dân tộc da trắng [bao gồm các dân tộc Semitic (Semitic Peoples)]. Sử học phái Mác tổng kết, thực chất là hiện tượng của dân tộc da trắng, đem nó ra để giải thích sự phát triển của dân tộc ta, thì đục vuông gọt tròn hoàn toàn không khớp nhau. Mộng mộng lớn nhỏ khác nhau mà cứ cưỡng ép ghép lại với nhau, thì chết hàng ức người rồi. Nghĩ đến thật bi thương!

Không có xã hội nô lệ cũng chẳng có chủ nghĩa tư bản

Trong thời cổ đại nước ta có nô lệ (slaves), mà không có chế độ nô lệ (slavery), tác giả từng dùng sức chứng minh trong các tác phẩm mọn khác nhau, giới Hán học quốc tế cũng có công luận. (Xem "Bách khoa toàn thư Britannica bản mới" ("The new Encyclopaedia Britannica in 30 volumes"), bản năm 1977, tập 16, trang 858). Đã không có giai đoạn xã hội nô lệ, thì chế độ phong kiến trong lịch sử nước ta, thực ra diễn biến trực tiếp từ công xã nguyên thủy (Primitive Commune). Kỳ thực cái gọi là công xã nguyên thủy trong sử học phái Mác, chính là đời sống bộ lạc (tribal life) của người nguyên thủy vậy. Phàm là đời sống của người nguyên thủy vốn có khá nhiều điểm tương đồng với hành vi xã hội của các loài động vật sống bầy đàn như khỉ, ngựa, bò, dê — đặc biệt là loài vượn khỉ. Động vật sống bầy đàn, ở không rời bầy. Đời sống người nguyên thủy ắt cũng lấy bộ lạc làm đơn vị, mà đời sống bộ lạc ắt có thủ trưởng của nó hình thành một cách tự nhiên, có sự phân chia lớn nhỏ mạnh yếu, cũng có sự giao lưu giữa các bộ lạc với nhau, cùng với sự cạnh tranh và đấu tranh giữa đôi bên với nhau. Thậm chí thói quen giữ đất và việc vạch định biên giới, cũng là những thứ có sẵn từ khi sinh ra. Những năm gần đây, nhà sinh vật học từng phát hiện tinh tinh (chimpanzee) ở châu Phi, giữa các bầy đàn với nhau cũng thường vì tranh giành lãnh thổ mà xảy ra hỗn chiến, tình hình của nó hệt như chiến tranh bộ lạc giữa những người nguyên thủy. Bọn họ dẫu không có vũ khí để dùng, nhưng vừa cào vừa cắn, móng vuốt dùng cả, vì bảo vệ lãnh thổ của tộc quần, cũng thường đến mức chết bị thương chồng chất, đôi khi thậm chí cả tộc cùng tuẫn tiết, sự thảm liệt của nó cũng không kém gì cuộc nội chiến tàn sát lẫn nhau của chúng ta. Vượn khỉ còn như thế, huống chi là con người? Cho nên thói quen thuộc địa của xã hội người nguyên thủy, cùng với sự hình thành tự nhiên của tầng lớp lớn nhỏ mạnh yếu, thực ra chính là hình thức ban đầu của phong kiến. Tiếp theo đó, giữa các bộ lạc đông đúc, mạnh hiếp yếu, đông hiếp ít, lớn nuốt nhỏ, tôn giả ngự ty... kết quả của sự diễn biến và tiến hóa ngàn năm, bèn hình thành vương triều phong kiến cấp cao thời Tây Châu vậy. Ngày trước khi tôi đọc lịch sử thổ dân châu Mỹ, thường kinh ngạc vì nó quá giống lịch sử Tam đại của nước ta. Gần đây đọc lịch sử "đế quốc" thổ dân da đỏ xây dựng quốc gia ở vùng Virginia (Vi Cát Ni Á) quanh thế kỷ XVII, lại càng tin rằng chế độ phong kiến bắt nguồn từ đời sống bộ lạc không phải là giả. Phàm là vùng đất mà quốc gia này chiếm giữ lúc thịnh trị đại khái rộng gấp khoảng một lần Đài Loan, vị quân chủ của họ là Powhatan (Bảo Ha Thản) dưới quyền có lớn nhỏ ba mươi chư hầu. Mỗi nhà đều có lãnh thổ lớn nhỏ khác nhau; mỗi nhà cũng đều sở hữu chiến binh từ hai mươi người đến ba mươi người không đều. Quyền lợi và nghĩa vụ giữa quân chủ và chư hầu của họ cũng đều ước định thành thói quen, khá là đáng kể. Powhatan có cô con gái rất đẹp, sau này gả cho người Anh, có tiếng là hiền đức. Nhẫm đọc cuốn sách này, suýt ngỡ đó là bản dịch tiếng Anh của "Tả truyện". (Xem Helen C. Rountree, The Powhatan Indians ofVirginia: Their TraditionalCulture. University of Oklahoma Press, 1989. pp. 114 ~ 125.)

Về đặc trưng của xã hội phong kiến, chúng ta có thể nói có hai điểm là quan trọng nhất. Một là đất đai thuộc về thiên tử hoặc chư hầu, đại quý tộc có thể "phong" đất cho tiểu quý tộc, nhưng không được mua bán, trăm họ lê dân càng không được tư hữu. Hai là quý tộc thuộc giai cấp thống trị thực hiện chế độ thế tập, trăm họ lê dân ngoại trừ mối quan hệ váy vóc (thông gia) hoặc kết bè làm phản ra, tuyệt đối không thể bước vào giai cấp thống trị. Chế độ phong kiến kiểu phương Đông này phát triển đến cuối thời Tây Châu vào thế kỷ VIII TCN, có thể nói đã đạt đến đỉnh cao. Duy vật cực tất phản, đợi sau khi Bình Vương đông thiên (năm 771 TCN), nó liền bắt đầu trượt dốc cho đến sụp đổ. Ghi chép cổ đại có thể nói rõ ràng đơn giản nhất về quá trình từ trượt dốc, sụp đổ đến cải chế này, thực ra không gì bằng một đoạn ghi chép trong "Hán thư - Địa lý chí". Xin chép lại như sau:

Chức nhà Châu có năm bậc, mà đất có ba bậc: công, hầu trăm dặm; bá bảy dặm; tử, nam năm mươi dặm. Không đủ thì làm phụ dung, phỏng chừng ngàn tám trăm nước. Mà con cháu Thái Hạo, Hoàng Đề, hầu bá đời Đường, đời Ngu vẫn còn, sách vở hình vẽ đời đế vương nối tiếp nhau mà có thể biết được. Nhà Châu đã suy, lễ nhạc chinh phạt do chư hầu phát ra, quay sang thôn tính lẫn nhau, trong mấy trăm năm, liệt quốc hao cạn. Đến thời Xuân Thu, vẫn còn mấy chục nước, năm bá lần lượt nổi lên, tổng hợp các hội minh của chúng. Suy đồi đến thời Chiến Thượng, thiên hạ chia làm bảy, hợp tung liên hoành, trải qua mấy năm. Tần bèn thôn tính bốn hải, vì chế độ nhà Châu nhỏ yếu, cuối cùng bị chư hầu làm cho tiêu vong, cho nên không lập một tấc đất phong nào, chia thiên hạ thành quận huyện, càn quét tiêu diệt con cháu các bậc thánh nhân đời trước, không sót lại một mống nào. (Xem "Hán thư - Địa lý chí" bản nhà xuất bản Trung Hoa, tập 6, trang 1542.)

Đoạn ghi chép này trong "Hán thư", nhà lịch sử học có muốn bới lông tìm vết trong trứng, thì cũng tìm không hết. Thế nhưng trình tự sụp đổ của phong kiến được tác giả thuật lại, nhìn chung là có lý có lẽ. Thế nhưng sự xuất hiện của chế độ quận huyện lại không phải là công sức trong một sớm một chiều, nó là thứ trải qua mấy năm chậm rãi chuyển biến mà ra. Đại khái mà nói, sự khởi đầu của sự sụp đổ phong kiến là, đất đai mà chư hầu dùng các phương pháp khác nhau thôn tính được, không còn "phong" cho người khác nữa, mà là tạm thời "treo lơ lửng mà không quyết định" hoặc "treo lơ lửng mà không phong". Đây chính là nguồn gốc của "huyện". Trong văn cổ, chữ "huyện" và chữ "huyền" vốn là một chữ. Phát âm cũng giống nhau. Không giống như đời sau đọc thành huyện (thanh khứ), huyền (thanh bằng) vậy. Treo mà không phong, treo mà không quyết định, vốn là một biện pháp tạm thời. Sau này vĩnh viễn "huyện (huyền) mà không phong", huyện bèn biến thành một chế độ chính trị.

Đem chữ "huyện" của quận huyện hoặc châu huyện mà giải thích thành chữ "huyền", Đoàn Ngọc Tài (1735 – 1815) trong tác phẩm nổi tiếng "Thuyết văn giải tự chú" của ông cũng nói là "huyện giả huyền dã"; chỉ có điều ông nói tiếp theo là "huyện (huyền) vu quận dã", thế thì nói sai rồi. (Xem tác phẩm đó bản Vạn hữu văn khố, tập 3, trang 34). Thời trẻ khi theo học tại Khoa Lịch sử Đại học Trung ương Quốc gia ở Trùng Khánh, tôi theo thầy Cố Cật Cương nghiên cứu lịch sử Thương Châu thì từng chỉ ra điểm giải thích sai của họ Đoàn, cho rằng đó là "huyện giả huyền dã. Huyền nhi vị quyết hoặc huyền nhi vị phong", chứ không phải là "huyện vu quận giả dã". Soạn thành bài tập kết thúc "Ngã quốc quận huyện khởi nguyên khảo", sau đó còn được thu làm phần mở đầu của "Luận văn tốt nghiệp", khá được người thầy nghiệp sư khen ngợi quá lời. Nay nửa thế kỷ đã trôi qua, lại càng thấy phán đoán thời trẻ không sai lầm. Phàm là sự "treo mà không phong" đối với đất phong ở thời kỳ cuối vương triều phong kiến, nước Nhật Bản cổ và một số quốc gia dân tộc Ấn - Âu cũng có, chỉ là kết quả của nó không quan trọng bằng việc Trung Quốc rốt cuộc phát triển thành chế độ văn quan quận huyện (civil service) độc đáo mà thôi.

Sự hưng khởi và phát triển của chế độ quận huyện thực ra chính là chìa khóa của cuộc chuyển đổi lớn thứ nhất về mặt xã hội chính trị (sociopolitical) nước ta. Chuyển một vòng trăm vòng, đợi đến khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, "phế phong kiến, lập quận huyện", từ chế độ phong kiến chuyển sang chế độ quận huyện, phương thức sinh sống của nhân dân toàn quốc (lifeways) liền không có gì là không chuyển. "Phế tỉnh điền, khai sThiên Mạch" cũng là việc tất yếu. Cái gọi là "phế tỉnh điền, khaiThiên Mạch" đó, chính là mở cửa đất đai quốc hữu hoặc công hữu để nhân dân tự do cày cấy, nhằm gia tăng sản xuất. Tác giả soạn bài viết mọn này vào thời kỳ giữa cuộc kháng chiến, ban đầu không biết lịch sử sẽ lặp lại, sau đó rốt cuộc lại có sự hiện đại hóa như phế bỏ công xã nhân dân, làm khoán sản lượng đến hộ gia đình... kiểu "phế tỉnh điền, khaiThiên Mạch". Cho nên tác giả không lường sức nông cạn, cũng đem tác phẩm cũ thời trẻ hơn năm mươi năm trước thu vào bài này, để xin thỉnh giáo các bậc phương gia.

Nhớ lại giữa những năm thập niên 50, khi tôi vừa làm vừa học tại Đại học Columbia, từng làm công tác biên dịch tại "Bộ nghiên cứu lịch sử Trung Quốc" của trường này. Lúc ấy, bộn lớn "Đông phương chuyên chế luận" (Oriental Despotism: A Comparative Study of Total Power) của giáo sư Karl A. Wittfogel (Ngụy Phục Cổ, 1896 – 1988) – người chủ trì bộ môn lúc bấy giờ – đang trong giai đoạn hoàn thành (cuốn sách này do Đại học Yale xuất bản năm 1957, những năm gần đây từng được Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc ở Bắc Kinh dịch thành chữ Hán xuất bản), ông Ngụy dặn tôi hiệu đính toàn bộ bản thảo và chú sớ kiến giải mọn của mình. Kẻ bất tài từng ca thán công lực của ông thật kinh ngạc, mà kết luận của ông thì nguyên nhân kết quả đảo lộn. Phàm là ông Ngụy sửa đổi học thuyết chưa trọn vẹn của Marx, cái gọi là "phương thức sản xuất kiểu châu Á" (Asiatic Mode of Production), đồng thời sáng lập lý luận của riêng mình, cho rằng "xã hội kiểu châu Á" thực ra là một loại "xã hội thủy lợi" (hydraulic society). Nhà nước vì nâng cao sản xuất nông nghiệp mà hưng kiến các công trình thủy lợi quy mô hoành tráng, bèn dẫn đến việc các quốc gia châu Á (đặc biệt là Trung Quốc) dần dần thiết lập nên bộ máy nhà nước chuyên chế cực quyền. Lời lẽ của ông rất biện minh, mà ý kiến hèn mọn của tôi thì hoàn toàn ngược lại. Phàm là sự hoàn thành bộ máy nhà nước của nước ta, thực sự bắt đầu sau khi Thủy Hoàng đế "phế phong kiến, lập quận huyện", thiết lập "thể chế quan lại chuyên nghiệp" (professional bureaucracy). Sự phát triển chế độ chính trị nước ta, thực ra là bộ máy nhà nước chế độ quận huyện được thiết lập trước, mà các công trình quy mô lớn (như Đô Giang Yển, Vạn lý Trường thành và kênh đào v.v.) thì được xây dựng sau. Lý Băng – người xây dựng công trình thủy lợi quy mô lớn như Đô Giang Yển – chính là "Thái thú Thục quận" của vương quốc Tần (đại lục ngày nay gọi là "Bí thư ủy ban tỉnh Tứ Xuyên"). Lý Băng nếu không lợi dụng quyền lực bí thư tỉnh ủy của mình, thì công trình Đô Giang Yển của ông (khoảng tương đương với công trình đập Tam Hiệp do Lý Bằng chủ trì ngày nay), là không thể thi công được. Cho nên kiến giải mọn về truyền thống nước ta "nhà nước mạnh hơn xã hội" mà tác giả mấy mươi năm qua hết mực tin tưởng (bắt đầu từ sự xuất hiện của chế độ văn quan quận huyện), là đặc điểm lớn nhất trong chế độ chính trị nước ta, thoạt nhìn thì có vẻ rất gần gũi với thuyết của ông Ngụy, mà bản chất thì vốn có sự khác biệt về trước sau gốc ngọn.

Trăm đời vẫn theo pháp chính nhà Tần

Cuộc chuyển đổi lớn về mặt xã hội chính trị (sociopolitical transformation) thứ nhất trong lịch sử nước ta bắt đầu từ nước Tần này, phát xuất từ Thương Ưởng (390 – 338 TCN), đạt đến đỉnh cao ở Thủy Hoàng (thống nhất Trung Quốc năm 221 TCN), mà hoàn thành ở Hán Vũ (trị vì từ 140 – 87 TCN). Sau loạn chư Lã đầu đời Hán, phi Lưu bất vương, từng có một thời gian quận quốc cùng tồn tại, làm một nước hai chế độ. Đợi sau loạn bảy nước Ngô Sở vương vẹn (năm 154 TCN), "quốc" của phong kiến chỉ còn cái tên chứ thực chất không còn, sự chuyển đổi chế độ "phế phong kiến, lập quận huyện" của Tần Thủy Hoàng mới chính thức hạ màn, cho đến nay vẫn chưa thay đổi. Những sự chuyển biến liên quan khác, như chế độ kinh tế trọng nông ức thương, chế độ quan lại chuyên nghiệp độc tôn nho thuật, sự phân chia giai cấp sĩ nông công thương, phong tục hôn tang đời sống thường nhật vv, chuyển một vòng trăm vòng hướng tới định hình. Đặc biệt là chế độ văn quan ba cấp tập trung quyền lực trung ương, từ sau Tần Hán đến Tấn, Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, thậm chí chính phủ Bắc Dương và chính phủ Quốc Dân thời kỳ Dân Quốc, đều không ngừng củng cố nó. Đợi sau khi Chính phủ Nhân dân được thành lập, Mao thị chấp chính đối với truyền thống chế độ văn quan ba cấp tập trung quyền lực trung ương này, có thể nói lại càng dành trọn tình cảm đặc biệt. Trong các bài thơ từ qua lại giữa ông với Quách Mạt Nhược, bèn có thể nghe thấy tiếng lòng của ông. Nay xin chép lại toàn văn một bài thất luật của ông như sau:

"Phong luận" – tặng lão Quách

Khuyên quân bớt mắng Tần Thủy Hoàng, việc đốt sách chôn Nho phải bàn bạc.

Thần long dẫu chết Tần vẫn còn, tiếng tăm học thuyết Khổng thực ra là cám bã.

Trăm đời vẫn theo pháp chính nhà Tần, "Mười bài phê bình" không phải là bài văn hay.

Đọc kỹ "Phong luận" của người đời Đường, chớ từ Tử Hậu quay lại với Văn Vương.

Bài thơ này làm vào năm nào, những người bàn luận không đồng nhất. Nhưng sau "sự biến 913", khi Mao ra sức giúp cho bè lũ bốn tên trong phong trào phê Lâm phê Khổng, nhắc lại bài thơ này, có thể biết rằng ông ta vẫn niệm niệm không quên. Tóm lại, sự hiểu biết của Mao thị đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, từ đầu đến cuối không thoát khỏi giai đoạn khẩu hiệu, mà sự nhận thức đối với đế chế truyền thống, thì đi sâu vào xương tủy. Điểm bất hạnh của Mao là ông ta đã dùng nhầm cả hai lý thuyết cực đoan. Khi ôn lại chính trị học đế vương truyền thống, ông ta không thể lĩnh hội được tầm quan trọng của các kinh nghiệm lịch sử như "có giáo hóa không phân biệt", "cải thổ quy lưu"... trong truyền thống nước ta, cưỡng ép cái không biết thành cái biết, tự cho là đúng, bừa bãi trích dẫn giáo điều Mác - Lênin, sáng tạo chế độ mới. Đoạn trước từng nói thời đầu nhà Châu có một ngàn tám trăm nước, bao gồm vô số các dân tộc lớn nhỏ (cho đến tận ngày nay toàn quốc vẫn có tới năm mươi bảy tộc). Cho nên kinh nghiệm lịch sử nước ta, tộc quần không phải là từ ít biến thành nhiều, mà là theo kiểu quả cầu tuyết từ nhiều biến thành ít, hình thành một đại dân tộc đa văn hóa (racial regrouping under cultural pluralism). Điều này trong kinh nghiệm của nước Mỹ hiện đại, thì được gọi là "nồi nấu chảy dân tộc" (racial melting pot). Thêm vào đó, trong thời đại giao thông phát triển, tính lưu động xã hội (social mobility) cực kỳ cao ngày nay, các dân tộc thiểu số trong một nước làm sao có thể vĩnh viễn quần tụ ở một nơi chứ?... Lấy việc di cư sang Mỹ của người gốc Hoa chúng ta mà nói đi, những năm gần đây số lượng người gốc Hoa của chúng ta rất nhanh sẽ vượt qua tổng dân số Ngoại Mông và Tây Tạng (theo ước tính của chuyên gia: thế kỷ sau, kiều bào ở Mỹ có thể lên tới một vạn vạn người, Mông Tạng cộng lại có lẽ không đến con số này. Hạn ngạch di dân kiều bào, ngoài đại lục, Đài Loan, Hồng Kông ra, trong hạn ngạch của Singapore, Malaysia, Philippines, Thái Lan đều có người gốc Hoa, có người ước tính, giữa thế kỷ sau, người Hoa có thể gần một vạn vạn), Chinatown (tên cũ là Phố người Hoa, tức Đường Nhân Nhai) cái gọi là phố người Hoa ở Mỹ ngày nay, ở New York có tới ba cái liền. Lối thoát chính trị của chúng ta thực ra chỉ có con đường cắm rễ và tham chính tại chỗ mà thôi. Ngày nay chúng ta đã xuất hiện một vị thống đốc bang, ai có thể nói thế kỷ sau chúng ta không thể xuất hiện một vị tổng thống chứ? Người gốc Hoa chúng ta nếu bỏ đại đạo thênh thang này mà không đi, lại đến để làm cái "độc lập ở phố người Hoa" hay "tự trị ở phố người Hoa", há chẳng phải là một trò cười lớn của thế kỷ XXI hay sao? Đại đế quốc Mỹ biển rộng trời cao, muốn chúng ta chen chúc trong Chinatown để làm "độc lập", không những con cháu có tài của người gốc Hoa chúng ta không muốn làm; một kẻ già nua từng làm chân khuân vác ở Chinatown thời trẻ như ta đây cũng không thèm làm. Lẽ rất rõ ràng mà! Ngoài người gốc Hoa ra, như người gốc Phi vượt qua con số ngàn vạn, người gốc Do Thái vượt qua sáu triệu, người gốc Ba Lan vượt qua hai triệu, họ không làm độc lập, chính là có nỗi đau cùng cảnh ngộ vậy. Cho nên nước Mỹ có thể phát triển từ mười ba bang thành năm mươi bang, thực ra chính là bản phiên bản châu Mỹ của cái gọi là "cải thổ quy lưu" mà Trung Quốc chúng ta đã làm từ ngàn năm nay. Bạn tôi ơi, hiện nay ở Đài Loan và Philippines vẫn có rất nhiều người, muốn tham gia vào việc cải thổ quy lưu của nước Mỹ, làm bang thứ năm mươi mốt của nước Mỹ đấy! Cải thổ quy lưu có gì không tốt?

Tôn Trung Sơn hồi đầu thời Dân Quốc rốt cuộc vẫn là một nhà chính trị có tầm nhìn thế giới. Khi ông làm Đại tổng thống lâm thời, liền phản đối cái học thuyết sai lầm gọi là Ngũ tộc cộng hòa. Ông chủ trương áp dụng triết lý nồi nấu chảy dân tộc kiểu Mỹ, mà mở rộng xây dựng một dân tộc Trung Hoa bao trùm tất cả các dân tộc và nhiều loại văn hóa (xem bản thảo chữ Hán cổ của "Tam dân chủ nghĩa", thu trong "Quốc phụ toàn tập" bản Đài Loan, trang 180 – 181). Kỳ thực trong thời đại Đại Thanh đế quốc, triều đình đổi Mãn Châu và Tân Cương thành tỉnh; thời đại Dân Quốc đổi Nội Mông thành tỉnh, điều mà những người đương quyền áp dụng chính là triết lý nồi nấu chảy lớn này. Không may đến thời kỳ Chính phủ Nhân dân, công gia Mao vì chịu ảnh hưởng của chế độ Liên Xô nên đã đi ngược lại hoàn toàn con đường đó. Ông ta đem sự thụt lùi hiểu nhầm thành tiến bộ, phế lưu phản thổ, đem Tân Cương, Nội Mông, Quảng Tây vốn dĩ đã được xây dựng thành tỉnh nay lại toàn bộ hóa thành khu tự trị của dân tộc thiểu số, mà lại chỉ cho phép dân tộc thiểu số dưới sự tập trung quyền lực của trung ương, hưởng chút ít sự tự trị mang tính tượng trưng, như vậy thì gián tiếp cổ vũ những kẻ chủ nghĩa chia rẽ trong dân tộc thiểu số và những phần tử phản Trung Quốc giữa các quốc gia, công khai hoặc ám muội tiến hành các hoạt động chia rẽ của họ. Cái chế độ quân tử dỏm không bằng tiểu nhân thật này, sau này liền để lại mối họa vô cùng. Nguồn loạn ở Tân Cương ngày nay chính là ở đây.

[Phụ chú] Trong các bản "Mao tuyển" trước đây, Mao Trạch Đông từng chủ trương dân tộc thiểu số có quyền độc lập, đến các bản sau thì họ chỉ có thể "tự trị" mà thôi. Tư tưởng của chính Mao cứ lật đi lật lại, liền biểu thị đầy đủ rằng ông ta không nắm vững tính nguyên tắc đối với vấn đề này, tùy tiện làm theo mèo đen mèo trắng, mà rơi vào cái khuôn khổ Đại Hán tộc chủ nghĩa vốn dĩ không có trong lịch sử Trung Quốc, thực sự là rất oan uổng, cũng rất đáng cười.

Trong tình huống tương tự, Mao Trạch Đông đối với chủ nghĩa dân trị hiện đại và chủ nghĩa xã hội, sự nhận thức cũng chưa đủ. Cho nên dưới sự thách thức (challenge) của văn minh phương Tây hiện đại, "Pháp chính nhà Tần" với câu "trăm đời vẫn theo" đã không thể kéo dài được nữa, thế nhưng ông già ấy cứ khăng khăng muốn tiếp tục kéo dài trong sự đắc ý vênh váo, chuyện không xảy ra sơ hở, sao có thể được chứ? Bạn tôi ơi, Chủ tịch Mao của chúng ta trong lịch sử chuyển đổi cận đại Trung Quốc (cuộc chuyển đổi lớn thứ hai trong lịch sử nước ta), vốn chỉ là một lãnh tụ dân tộc trong thời kỳ giữa của sự chuyển đổi. Cá tính, kiến thức, tu dưỡng, sự huấn luyện và thời đại của cá nhân ông, đều chỉ có thể đúc tạo ông làm một Tần Thủy Hoàng trong cao trào của sự chuyển đổi, chứ không thể làm một Hán Vũ Đế hoàn thành sự chuyển đổi. Điều này gọi là thế lực mạnh hơn con người. Mao Trạch Đông tự coi mình là bậc thánh triết bẩm sinh, kỳ thực ông ta cũng giống như quý độc giả và tôi ở dưới đây, cũng chỉ là một động vật có xương sống nhỏ nhoi, hoàn toàn không thể xoay chuyển cái gọi là "tựa khách quan" mà những người theo chủ nghĩa duy vật của họ luôn miệng không rời được! Ông ta là anh hùng tạo thời thế; thế nhưng vị anh hùng cái thế ấy lại không thể tạo ra thời thế. Còn nói gì được nữa?

Cuộc chuyển đổi lớn thứ hai mà chúng ta trực tiếp trải qua và nhìn thấy, có điểm khá khác biệt so với cuộc chuyển đổi lớn thứ nhất. Ở cuộc chuyển đổi thứ nhất, do sự phát triển xã hội bên trong chúng ta đến một giai đoạn nào đó, thúc đẩy cấu trúc xã hội chính trị của chúng ta không chuyển đổi không được, đó là sự chủ động. Cuộc chuyển đổi thứ hai thì không giống thế, nó hoàn toàn xuất phát từ sự thách thức dồn dập từng bước của người phương Tây sau khi họ đi về phía đông – đặc biệt là thách thức quân sự. Sự thách thức này đã vén màn cho khúc dạo đầu của quốc nhục quốc nạn và sự chuyển đổi lớn về mặt xã hội chính trị của Trung Quốc cận đại, từ đó có cuộc Chiến tranh Nha phiến đáng xấu hổ ấy (1839 – 1842) và nối tiếp theo sau đó là "Hiệp ước Nam Kinh Trung - Anh" (ký ngày 29 tháng 8 năm 1842)... Sự xấu hổ của Chiến tranh Nha phiến là cả hai bên đều có phần. Sự xấu hổ của kẻ thắng, là hắn buôn bán ma túy có vũ trang, vậy mà không lấy làm xấu hổ; sự xấu hổ của kẻ bại, là hắn ngu muội hủ hóa, chính phủ vô năng, nhân dân mê muội, một đế quốc lớn như thế lại bị mấy ngàn tên thủy binh Anh đánh cho đại bại một trận.

Trước chiến tranh ngàn năm không đổi, sau chiến tranh mười năm đổi thay

Tầm quan trọng của Chiến tranh Nha phiến trong lịch sử nước ta, nói ngắn gọn, chính là nó đã thúc đẩy sự chuyển đổi từ giai đoạn đế chế sang giai đoạn dân trị đã nói ở trên. Giữa hai giai đoạn lớn này, nó là một đường phân thủy. Trước chiến tranh, chế độ xã hội chính trị nước ta (Pháp chính nhà Tần mà Mao Trạch Đông nói) là ngàn năm chưa từng thay đổi; Trung Quốc sau chiến tranh thì mười năm đổi thay, thậm chí thay đổi đến mức diện mạo hoàn toàn khác lạ. Quá trình chuyển biến này dẫu muôn vàn phức tạp, nhưng sau khi quay đầu nhìn lại, lại thấy các giai đoạn vô cùng rõ rệt. Trong các giai đoạn ấy, những nhà cách mạng, nhà biến pháp, nhà quan sát hay thậm chí là trí giả và lê dân bách tính gánh chịu đầu sóng ngọn gió, đều không biết tại sao lại như vậy. Nguyên nhân chính là vì "sống trong núi này", không thể nhận ra đầu mối của nó. Thế nhưng cũng có một số ít trí giả (như Hồng Tú Trò, Khang Hữu Vi, Mao Trạch Đông v.v.) thường hay tự cho là đúng, một khi ngồi ở vị trí đó, đạt được thế lực đó, khó tránh khỏi việc ép người theo ý mình mà làm lỡ làng thương sinh.

Nhà lịch sử học buổi sớm, dẫu không lúc nào là không quay đầu nhìn lại, thử tiến hành phân tích lịch sử. Chỉ tiếc là cuộc chuyển đổi lần này, nếu cuối cùng có thể chuyển ra được một định hình thái bình lâu dài, căn cứ vào tiền lệ trong lịch sử Trung và Tây, nó ít nhất cần mất thời gian hai năm mới có thể có được một kết quả sơ bộ. Cho nên trong giai đoạn đầu và giữa của sự chuyển đổi, như thời kỳ Mậu Thúy biến pháp năm 1898, và thời kỳ "Phong trào Ngũ Tứ" năm 1919, nhà phân tích đối với những biến số về tương lai của Trung Quốc, quả thực không thể nắm bắt. Phàm là ngã rẽ phía trước quá nhiều, rẽ nhiều lạc mất cừu, sao biết được con cừu đi về hướng nào chứ? Thế nhưng ngày tháng trôi qua, ngã rẽ dần ít đi, cừu ở ngã đường nào không khó theo dấu vết, viễn cảnh tương lai của Trung Quốc trông ra sao cũng lờ mờ có thể thấy được. Tục ngữ nói: "Con gái lớn mười tám thay đổi." Đứa con gái nhỏ mới đổi thay ba, năm lần, sao bạn có thể nhìn ra sự biến dạng của nó chứ? Thế nhưng đợi đến khi cô thiếu nữ ấy đã thay đổi mười lăm lần rồi, sau này cô ấy sẽ trở thành một phu nhân như thế nào, chúng ta cũng không khó để dự đoán trước. Đây chỉ là vấn đề thời gian; không phải là người đến sau vượt trội hơn người hiền trước đâu.

Căn cứ theo sự quan sát táo bạo của tác giả, cuộc chuyển đổi lớn về mặt xã hội chính trị lần thứ hai trong lịch sử nước ta, thực ra là bị ép phải bắt đầu từ sau sự kiện cắt nhượng Hồng Kông. Nay Hồng Kông đã được thu hồi rồi, năm mươi năm năm tháng đau khổ cũng lướt qua một cách lặng lẽ. Từ Lâm Tắc Từ cho đến ngày nay, dân tộc ta ít nhất cũng truyền được năm đời rồi. Cổ ngữ nói: "Năm đời cùng thịnh." Vua Đạo Quang năm xưa cũng từng nói: "Lâu khuất ắt có đại duỗi, lý vốn dĩ là thế." (Xem "Di vụ sự mạt" thượng dụ của Đạo Quang ban cho Lâm Tắc Từ). Ngày nay Hồng Kông quy án, quốc nạn kết thúc, có lẽ cũng là sự bắt đầu của việc hoàn thành cuộc chuyển đổi lớn về mặt xã hội chính trị lần thứ hai trong lịch sử nước ta. Tác giả không lường sức nông cạn, nhìn lại đằng sau hướng về phía trước, dự kiến dân tộc ta thêm bốn mươi năm nữa, ắt có thể hoàn thành nhiệm vụ lịch sử vĩ đại của cuộc chuyển đổi lớn về mặt xã hội chính trị lần thứ hai trong lịch sử quốc gia. Quốc gia có định hình, nhân dân có sự đồng thuận, đem tiềm năng lớn nhất của quốc gia ta, dân tộc ta, tài năng ta, trí tuệ ta, bước vào thời đại mới của chủ nghĩa dân trị trong lịch sử loài người, mở ra vận hội mới năm trăm năm từ nay về sau của lịch sử dân tộc ta. Cửu hợp chư hầu, nhất khuếch thiên hạ, bỏ ta thì còn ai vào đây nữa? Tác giả suốt đời nghiên cứu lịch sử, trải qua quốc nạn quốc nhục, gian khổ nếm đủ, canh giữ đến sáng mới thấy đêm dài, cuối cùng cũng có thể thấy sơ qua ánh rạng đông, cũng vì thế mà vô cùng phấn khích. Cẩn đem cuốn sách nhỏ này, kẻ dã nhân dâng hiến bọt nắng, đi theo sau độc giả, bày tỏ một chút sự chúc mừng của cá nhân đối với việc Hồng Kông quy án, vô cùng khẩn khoản mong các bậc hiền đạt phương gia không tiếc lời chỉ giáo.

Bài viết này có thể được ấn hành, thực sự nhờ vào sự hướng dẫn không ngừng của hai vị Lưu Thiệu Đường, Trần Hoành Chính, cùng với sự cổ vũ nhiệt tình của vô số bạn cũ và độc giả mà thành, lòng mang ơn sâu sắc, không lời nào nói hết. Giám đốc Vương Vinh Văn cùng các vị chấp sự từ anh em trở xuống của Nhà xuất bản Viễn Lưu đã trợ giúp rất lớn, lòng biết ơn vô cùng khó diễn tả hết bằng lời, xin nhân đây gửi lời cảm ơn.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.