Thương Vụ Kinh Doanh Của Polly

Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
Cuộc Đột Kích Vào Mỏ Choko’s Find

❊ ❊ ❊

“Em có nhớ hồi tất cả chúng ta cùng ra miền Đông vào tháng Sáu năm ngoái để dự đám cưới của John và tiễn em đi châu Âu không?” Tom hỏi.

Polly gật đầu lia lịa nhưng không nói gì để ngắt lời anh.

“À, chúng anh ở lại lâu hơn dự định ban đầu khi rời Pebbly Pit. Mấy người bạn ở New York nhiệt tình khoản đãi chúng anh quá, nên thời gian cứ thế trôi đi vèo vèo trước khi chúng anh nhận ra mình đã ở lại lâu hơn mười ngày so với dự tính ban đầu.

“Giờ thì quay lại thời điểm hai tên bịp bợm đó định chiếm đoạt quyền khai mỏ của em, lúc bố em và Mike dẫn đoàn người khi tất cả các em leo Đường mòn Da Đỏ lên vách đá Grizzly Slide.

“Hóa ra gã nhân viên gian xảo từng sao chép bản đồ nháp của mỏ mà em đã cắm mốc ở Flat Top rồi đem nộp ở Oak Creek, chưa bao giờ từ bỏ hy vọng có ngày vơ vét được một số vàng đủ để cao chạy xa bay và sống sung sướng đến cuối đời bằng số tiền ấy.

“Khi hay tin toàn bộ gia đình ở Pebbly Pit sẽ ra miền Đông vài tuần, và mỏ sẽ do Mike cùng các nhân viên khác trông coi, hắn lập tức tụ tập vài tên đâm thuê chém mướn rồi vạch ra kế hoạch.

“Sau khi bị phát hiện bộ mặt bội bạc vì tội sao chép giấy tờ mỏ rồi mưu đồ chiếm đoạt khu mỏ đã cắm mốc, hắn đã bị sa thải khỏi văn phòng ở Oak Creek, và từ đó không một người đàng hoàng nào chịu thuê mún hắn nữa. Thế là hắn cứ la cà ở quán rượu, dành thời gian cờ bạc với mấy tay thợ mỏ từ Up-Crest, phía sau trạm Oak Creek. Hắn dễ dàng tìm được những kẻ đồng lõa trong đám người gốc Slav này – những kẻ mừng rỡ trước lời rủ rê trộm một số vàng đủ để chúng hồi hương châu Âu và làm vương làm tướng.

“Toàn bộ âm mưu được giữ kín một cách bất thường đối với hạng người ngoại quốc ấy, nên chẳng ai ở Oak Creek hay biết gì về cuộc đột kích dự định. Thế nhưng, Mike cưỡi ngựa vào Oak Creek vào buổi sáng trước đêm mà đám tiểu nhân đó định hành động, và với trực giác nhạy bén khác thường, anh cảm nhận có điều gì đó đang ngấm ngầm diễn ra trong đầu những gã có vẻ mặt gian xảo mà anh bắt gặp đang thì thầm bên chiếc bàn nhỏ ở một góc quán rượu.

“Mike la cà ở đó mấy tiếng đồng hồ để dò la xem có âm mưu nào đang nhắm vào Rainbow Cliffs trong lúc các ông chủ vắng nhà hay không; hoặc biết đâu đám người này đang tính toán đánh úp mỏ trong lúc anh và chỉ vài người nữa đang canh gác. Nhưng chẳng phát hiện được gì. Tuy nhiên, nhìn những nét mặt xảo quyệt và đầy ác ý của đám người quanh bàn khi chúng liếc nhìn Mike – lúc bấy giờ đang ngồi ở góc khác và giả vờ gà gật – anh chắc mẩm rằng Hank đang giở trò gì đó để gây khó dễ cho mình và các cộng sự. Nhận định đó đã khiến người da đỏ có những phán đoán và hành động vô cùng sáng suốt trong ngày hôm đó.

“Anh mượn con chó săn dòng máu thuần chủng của viên Biện lý, đồng thời yêu cầu thêm vài người đi cùng mình đến hang động và ở lại đó cho đến khi các chủ nhân quay về, hứa trả họ mức lương cao hơn bất kỳ công việc nào ở Oak Creek hay các trang trại lân cận. Để che đậy sự nghi ngờ, anh một mình cưỡi ngựa rời thị trấn, nhưng đã hẹn sẽ đợi nhóm người tăng cường tại Pine Tree Blaze.

“Mỗi người rời thị trấn vào những thời điểm khác nhau để tránh điều tiếng hay sự chú ý của mấy kẻ rảnh rỗi quanh quán rượu, và tất cả hội ngộ tại điểm hẹn vào chiều hôm đó. Mike liền dẫn đường theo lối mòn dốc đứng, và khi trời tối, họ đã cắm trại xong xuôi.

“Đó là ngày thứ hai sau khi chúng tôi rời Pebbly Pit. Mike cũng đã cảnh báo Jeb về những mối nghi ngờ của mình, và gã lùn ranh mãnh ấy lập tức có hành động bảo vệ vách đá bằng cách ra lệnh cho tất cả công nhân làm việc ở đó tránh xa Oak Creek cho đến khi Sếp về nhà. Gã bảo rằng dạo này phải hết sức cẩn thận, canh gác ban đêm và ngăn không cho kẻ lạ bén mảng vào ban ngày vì sợ bọn cướp phá.

“Đêm đầu tiên cắm trại trên núi, Mike không chợp mắt lấy một phút, cứ lặng lẽ di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác, mọi giác quan đều căng ra để tìm kiếm dẫu chỉ một dấu hiệu của bọn tiểu nhân. Thế nhưng, đêm đầu tiên ấy đã trôi qua trong yên bình. Nhóm người tăng cường dành cả buổi tối để hút thuốc và đánh bài, rồi họ cuộn tròn trong chăn và ngáy o o suốt đêm.

“Hôm sau, Mike mỉm cười một mình khi đám đông cười nhạo mối hoài nghi của anh. Họ ở quá xa bất kỳ khu dân cư nào, núi non lại vô cùng hùng vĩ và tĩnh lặng, điều đó mang lại cho họ sự yên tâm tuyệt đối về một cuộc sống hòa bình với tất cả mọi người.

“Đêm thứ hai, họ lại tụ tập đánh bài gần đống lửa trại. Mike ngồi trên mỏm đá trước cửa hang với con chó săn nằm dài trên phiến đá ngay dưới chân. Chiếc máng gỗ khổng lồ mờ ảo hiện lên qua làn khói lửa và làn khói tẩu thuốc của đám đàn ông, cách mấy cỗ máy vận hành nó chưa đầy hai mươi bước chân.

“Đột nhiên, con chó ngẩng đầu lên và dựng đứng đôi tai. Mike chồm người tới trước, mặt hướng về phía chiếc máng gỗ, lắng tai nghe. Rồi anh đặt chiếc tẩu xuống phiến đá, bò đi bằng cả hai tay và hai chân, bám sát phía sau là con chó săn.

“Em còn nhớ chiếc máng gỗ khổng lồ mà chúng ta dự định dùng để dẫn dòng nước ngầm chảy bên dưới không? Cái máng mà Nolla và em đã thả ngọn đuốc xuống ngày hai đứa tìm thấy hang động ấy?”

Polly lặng lẽ ra hiệu rằng cô vẫn nhớ, và Tom tiếp lời: “À, chúng anh đã dùng chiếc máng đó trong suốt quá trình khai thác và đãi đất đá quặng, nhưng vào ban đêm, khi không cần nước chảy qua nữa, chúng ta chuyển hướng dòng chảy sang phía bên kia sườn núi.

“Mike lặng lẽ bước qua mỏm đá và dòm xuống vực thẳm đen ngòm bên dưới để xác định xem những âm thanh khả nghi có phát ra từ cái hố đó không. Thế nhưng con chó lại lặng lẽ bò qua mỏm đá tiến về phía máng nước, và nó đứng đó với cơ thể căng cứng. Tai dựng đứng, đuôi chổng thẳng ra phía sau, nó đứng sững và trừng trừng nhìn chằm chằm vào chiếc máng gỗ.

“Vì con chó được huấn luyện vô cùng bài bản, Mike không mảy may nghi ngờ bản năng của nó, anh bèn bò sang bên cạnh, đứng chờ và lắng nghe.

“Nếu không giữ hoàn toàn im lặng, âm thanh mơ hồ của thứ gì đó đang dịch chuyển bên trong chiếc máng kia hẳn đã lọt thỏm và biến mất trước những tiếng động bên ngoài. Nhưng Mike cũng nhạy bén chẳng kém gì con chó săn của anh, và cả hai đều cảm nhận rõ ràng rằng có thứ gì đó chẳng dính dáng gì đến nước đang bò qua chiếc máng đó.

“Đi kèm với âm thanh lạ lùng, nghẹt mũi phát ra từ bên trong máng cách vài khoảnh khắc, lại có thêm một tiếng động khác, tựa như thứ gì đó sắc nhọn đang được nện vào gỗ để làm điểm tựa. Mike phỏng đoán rằng lòng máng đã bị mài mòn trơn tuột bởi những dòng nước lũ, cát sỏi cứ cuồn cuộn trôi qua, khiến bất kỳ ai leo lên đoạn đường hiểm trở này buộc phải dùng đến gậy đầu sắt và móng vuốt leo núi.

“Ngay khi chắc chắn rằng có kẻ đang giở trò mới để chiếm đoạt mỏ, Mike liền bò trở lại đống lửa trại và kể cho mọi người nghe về những âm thanh phát ra từ bên trong máng. Họ cười ha hả chế giễu Mike, quả quyết rằng anh đã phát điên vì sự cẩn trọng thái quá kể từ khi các chủ nhân giao quyền quản lý cho anh.

“Tuy nhiên, Mike vẫn ra lệnh cho vài thợ mỏ đáng tin cậy nhất canh gác cửa hang phía trước, trong khi những người khác được cử vượt qua đỉnh dãy núi để túc trực ở lối vào phía bên kia của mỏ. Em hẳn còn nhớ chứ, Polly, đó là phía mà cái hố cắt đôi hang động. Chúng ta đã bắc cầu qua vực thẳm đó, em biết đấy, và thường xuyên sử dụng lối tắt này, dẫu quặng vẫn được đưa ra qua ngõ Choko’s Find.

“Sau đó, Mike chọn ra vài tay đấm lực lưỡng nhất và lặng lẽ dẫn đầu hướng về phía miệng máng nơi đặt cửa xả nước. Nhờ di chuyển trên mặt đất nhanh hơn đám người đang lom khom bò ngược lên bên trong ống gỗ trơn trượt, Mike cùng đồng đội đã đến cửa xả nước trước khi nghe thấy những âm thanh khả nghi phát ra từ trong lòng máng.

“Anh ra hiệu cho mọi người giữ tuyệt đối im lặng, rồi rón rén trèo ra thanh xà ngang của cửa cống, bám thật chặt vào cần gạt. Chẳng ai kịp đoán ra ý đồ của anh lúc đó, và thoạt trông anh có vẻ như đang thay đổi ý định, bởi anh lại bò ngược trở lại và vừa đến chỗ ba kẻ tò mò đang đứng thì một tiếng thở phào nhẹ nhõm vang lên rõ mồn một từ bên trong máng.

“Rồi tiếng thì thầm vang lên nhưng nghe không rõ lời. Chỉ ít phút sau, tiếng cọ xát vang lên như thể ai đó đang dùng công cụ sắc nhọn. Mike đoán rằng chúng đang tìm cách phá một lỗ thủng trên cánh cửa gỗ để chui ra ngoài.

“Không chần chừ thêm nữa, Mike giật phăng nắp đậy ở đỉnh máng nước và thét lệnh cho những kẻ đột nhập phải chui ra.

“Bên trong hoàn toàn im lặng, chẳng có lời đáp lại cũng chẳng có âm thanh nào vang lên sau khi Mike mở nắp. Thế nên anh lại cất giọng gọi: ‘Mầy hông ra là tao xả nước dòng sông qua ống này à.’

“Vẫn không có tiếng đáp hay âm thanh nào lọt ra, Mike bèn nháy mắt ra hiệu với đồng đội, rồi hô lên một mệnh lệnh giả vờ: ‘Mở cửa xả nước ra!’

“‘Khoan đã! Đợi một phút!’ một giọng nói hốt hoảng vang lên từ trong máng.

“Một giọng khác chửi rủa bằng những từ ngữ vô cùng khủng khiếp, nhưng chẳng lâu sau khi Mike ra lệnh xả nước, bốn kẻ liền chật vật bò ra khỏi ống và ngồi vắt vẻo trên đó.

“Thấy chỉ có bốn đối thủ để giao đấu, tên đầu sỏ ra hiệu, và bọn cướp gan lỳ liền lao vào tấn công để hạ gục Mike cùng ba người cộng sự. Nhưng chúng đã tính sót con chó sói săn đang ẩn mình trong bóng tối. Ngay khi chúng nhào xuống để chiến đấu, con chó liền lao vọt ra, cắm ngập hàm răng sắc nhọn vào cổ họng một tên khốn. Hắn sẽ mang theo những vết sẹo đó cho đến tận cuối đời. Thật là kỳ lạ khi hắn không bỏ mạng tại chỗ.

“Cú tấn công ấy giúp Mike được giải vây và anh quay sang hỗ trợ các đồng đội tự giải thoát. Con chó chiến đấu cực kỳ dũng mãnh, và sau một trận chiến ngắn ngủi nhưng dữ dội, những kẻ đột nhập đã bị trói giật cánh trói tay và nằm la liệt trên mặt đất suốt đêm hôm ấy.

“‘Mày tính mần gì với chúng nó đây, Mike?’ một trong các thuộc hạ cất tiếng hỏi.

“‘Thảy tụi nó xuống máng nước đi Mike, y như cách tụi nó bò lên ấy,’ một người khác cười hô hố.

“‘Tao cũng muốn rứa, nhưng Mike vô tù vì tội giết người đấy,’ người đàn ông da đỏ đáp.

“Dẫu vậy, những người khác vẫn kịch liệt tán thành cách xử lý công minh ấy, và Mike đã phải rất vất vả mới ngăn được họ làm theo ý muốn là tống cổ những kẻ tội đồ trôi tuột theo máng nước thẳng xuống sông Bear Forks ở chân núi.

“Hôm sau, Mike và đồng đội lùa đám cướp đi xuống con đường mòn dốc đứng và giao nộp chúng cho viên cảnh sát trưởng ở Oak Creek để chờ ngày hầu tòa án Quận. Thế nhưng, những tên ác ôn bị bắt giữ vốn có rất nhiều chiến hữu keo sơn tại Oak Creek, và khi hay tin bốn tên trong băng đảng đang ngồi tù, chúng liền nổi loạn.

“Chúng bôi hắc ín và nhồi lông vũ lên người tội nghiệp Jeb vào lần tiếp theo gã lái xe vào Oak Creek để lấy thư từ và nhu yếu phẩm, rồi vài ngày trước khi chúng tôi về đến nhà, chúng thực hiện một vụ đột kích được lên kế hoạch kỹ lưỡng vào các mỏ dung nham ở Rainbow Cliffs. Không một cỗ máy nào còn nguyên vẹn, và những túi châu báu lớn mà chúng tôi để dành đợi ngày chuyển đi đã bị bọn phá hoại vứt tung tóe khắp nơi.

“Nhưng viên cảnh sát trưởng hay tin về chuyến viếng thăm có chủ đích tới Pebbly Pit, liền dẫn một đội tuần tra truy đuổi theo đám thợ mỏ say xỉn đến tận vách đá Cliffs. Một trận chiến ác liệt đã diễn ra, vượt quá sức miêu tả vụng về của tôi. Viên cảnh sát trưởng kể lại cho chúng tôi nghe khi về đến nhà, nhưng cách dùng từ của ông ấy không mấy sinh động cũng chẳng ly kỳ, thế nên chúng tôi chỉ được nghe những sự thật trần trụi về trận chiến đó.

“Nhưng này Polly, em phải dùng trí tưởng tượng phong phú của chính mình để bù đắp những chi tiết còn thiếu trong câu chuyện của anh. Khi anh nói rằng bọn phá hoại bị ép lùi dần khỏi vách đá Cliffs và cuối cùng bị dồn vào khe núi phía sau hẻm núi Devil’s Causeway – nơi hai kẻ nọ từng bị nuốt chửng trong trận sạt lở vào cái ngày chúng đến phỉnh phờ bố em ký giấy tờ nhượng lại Cliffs – em có thể hình dung ra sự kinh hoàng của chúng khi mép vực vách đá khổng lồ bắt đầu sạt lở đổ sụp xuống. Chúng không thể rẽ phải hay trái vì bị kẻ địch bao vây tứ phía, và chúng cũng chẳng dám đứng yên một chỗ vì sợ bị nuốt chửng bởi thứ cát lún đang cuồn cuộn trôi tuột xuống dưới. Thế là chúng đành đầu hàng cảnh sát trưởng và nộp lại vũ khí. “Đó là một vụ việc tồi tệ, vì một thuộc hạ của cảnh sát trưởng đã bị thương nặng và người ta lo sợ anh ấy không qua khỏi. Toàn bộ máy móc giá trị của chúng tôi bị phá hủy hoàn toàn và mọi đơn đặt hàng giao trang sức dung nham đều phải hủy bỏ hoặc hoãn lại một năm. Thế nên mỗi kẻ phạm tội đều lãnh án hai mươi năm tù giam, và Oak Creek từ nay đã yên bình hơn rất nhiều, bởi hơn hai mươi tên tội phạm tồi tệ nhất của nó đã được cất giữ an toàn trong ngục tối.”

Khi Tom dứt câu chuyện, Polly buông hai bàn tay vốn đang siết chặt đầy căng thẳng trong suốt quá trình nghe kể về những cuộc đột kích nhắm vào tài sản quý giá của cô.

“Ôi, Tom! Em chưa bao giờ dám nghĩ tới việc tất cả mọi người lại gặp nhiều rắc rối đến thế chỉ vì những mỏ vàng quý giá ấy, kể từ cái ngày Nolla và em nộp giấy tờ ở Oak Creek,” Polly thốt lên đầy nghẹn ngào.

“Chẳng ai lường trước được những chuyện này đâu – họ chỉ nhìn tương lai qua lăng kính màu hồng thôi,” Tom đáp lại.

“Và nghĩ đến khối lượng công việc cùng bao nỗi lo toan mà John và anh phải gánh chịu để gầy dựng nên cơ đồ lớn lao này, trong khi em lại đang rong chơi ở châu Âu, tận hưởng cuộc sống và tiêu tiền mà chẳng màng đến việc nó được làm ra ở nhà như thế nào!” Polly thở dài.

“Mọi chuyện vốn dĩ nên là như thế, Polly. Em có phải đang phung phí tiền bạc đâu, mà là dùng chúng theo những cách mang lại lợi ích cho tương lai của chính em. Ngay khi bắt đầu mạo hiểm dấn thân vào lĩnh vực khai mỏ này, John và anh đều biết rằng con đường ấy sẽ không trải đầy hoa hồng, mà trái lại, nó có thể buộc chúng ta phải vượt qua đủ thứ chông gai trước khi chạm tay tới thành công.”

“Ừm, anh thật tuyệt khi nói được những lời này, Tom,” Polly cảm kích thừa nhận. “Nếu không có các anh quan tâm lo lắng cho công việc, chắc em cũng đành nói lời ‘vĩnh biệt’ với đám vàng ngọc ấy rồi.”

Tom phì cười. “Polly, đây chỉ là một việc vô cùng nhỏ nhặt mà anh có thể làm cho em thôi — chẳng qua là quan tâm đến mỏ của em chút đỉnh. Có một ngày nào đó, anh hy vọng sẽ chứng minh theo một cách lớn lao hơn nữa những gì anh muốn và có thể làm cho em.”

Thái độ và ánh nhìn của Tom lại lần nữa làm Polly hoang mang, cô bèn khéo léo chuyển chủ đề. “Tom, anh có thích nhà ở Pebbly Pit không? Chẳng phải nó khác xa với cuộc sống thành thị ở những căn hộ chung cư này sao?”

Tom mỉm cười bởi anh hiểu ý cô. “Ừ, tuyệt lắm chứ, Polly. Đó mới là một mái ấm thực sự — có người mẹ kính yêu của em ở trang trại. Em biết đấy, anh từng sống trong những căn nhà gạch bùn ở Arizona, hay giữa chốn hoang mạc cát trắng ở New Mexico, nên so ra thì Pebbly Pit đúng là thiên đường.”

“Mẹ có kể cho em nghe việc có Anne và anh ở bên cạnh bầu bạn suốt cả mùa hè trong lúc em ở nước ngoài thật là tuyệt vời,” Polly nói sau một khoảng lặng ngắn. “Em cảm thấy việc mình sang châu Âu vui chơi cũng không đến nỗi quá nhẫn tâm, chừng nào mẹ và bố vẫn không cảm thấy cô đơn hay nhớ nhà vì thiếu vắng em.”

“Nhưng mẹ em từng nhiều lần bảo với anh rằng, nếu không có Anne ở cùng, thể nào bà cũng đánh điện giũa kêu em về nhà rồi. Bà đã mong ngóng biết bao được cùng em trải qua kỳ nghỉ này tại Pebbly Pit,” Tom nhận xét.

“Trời ơi! Hóa ra em lại may mắn hơn cả những gì mình từng tưởng tượng,” Polly cười vang. “Em sẽ tiếc đứt ruột nếu phải bỏ dở Eleanor ở châu Âu với một chuyến hành trình tuyệt vời như thế trước mắt, rồi quay lủi thủi về nhà mà chưa đi trọn vẹn chuyến đi.”

Tom chẳng mảy may hứng thú nghe thêm về chuyến du lịch vui vẻ ấy hay việc hai cô gái có khả năng đã làm quen với những chàng trai độc thân danh giá mang tước hiệu kêu kỳ nào đó. Thế nên anh lái câu chuyện sang việc mình sắp sửa lên đường trở về miền Tây.

“Anh đã nói chuyện với Bố và ông Dalken hôm nay, và họ nghĩ tốt nhất là anh nên quay lại các mỏ mà không cần chần chừ thêm nữa. Những trận bão tuyết trên núi sẽ sớm quét qua các đỉnh cao, và công tác chuẩn bị chống chọi với mùa đông ở Hang động cùng Mảng nước phải được hoàn tất trước thời điểm đó; thế nên anh nghĩ mình sẽ khởi hành trong một hoặc hai ngày tới.”

Polly lẩm bẩm vài lời nuối tiếc đầy thân thiện trước việc anh đi quá sớm.

“Nhưng nhu cầu có mặt ở các mỏ để chuẩn bị đón mùa đông không phải là nguyên nhân chính khiến anh phải rời New York sớm đến vậy,” Tom bắt đầu, giọng đầy tâm trạng. “Anh ra miền Đông với một hy vọng chắc chắn trong đầu, nhưng quá nhiều biến cố không ngờ đã xảy ra kể từ khi anh gặp lại em, khiến anh chẳng thể vun đắp cho những dự định của mình kể từ khi rời Pebbly Pit.” Tom ngập ngừng chờ đợi sự khích lệ từ phía Polly.

Tuy nhiên, Polly không hề đả động đến vấn đề đó mà thay vào đó lại nói: “À, mùa đông này, em đã lên kế hoạch để thực sự lao vào công việc đấy!”

“Anh cứ tưởng em bảo mình đã làm việc tất bật kể từ khi đặt chân đến New York rồi cơ chứ,” Tom cười trêu.

“Vâng, ở trường và bằng nhiều cách khác; nhưng giờ đây, em dự định sẽ đến làm việc tại cửa hàng của ông Ashby. Anh biết đấy, ông ấy có một cơ ngơi tuyệt vời trên Đại lộ Fifth, nơi bày bán đủ mọi loại mặt hàng cần thiết cho việc trang hoàng hay trang trí nội thất. Đó chính là nơi Eleanor và em đã tích lũy được những kinh nghiệm vô cùng quý giá về hàng dệt may cùng các vật dụng quen thuộc khác dành cho nhà thiết kế nội thất.

“Bây giờ em dự tính sẽ làm việc cho ông ấy với một mức lương cố định, và dành trọn vẹn mọi buổi sáng trong năm nay cho công việc đó. Buổi chiều em sẽ được rảnh rang đi tham quan các buổi triển lãm, bảo tàng, săn lùng đồ cổ, hay đơn giản chỉ là đi chơi cho thỏa thích. Bốn buổi tối mỗi tuần chúng em sẽ tới trường dự các lớp học và bài giảng, anh biết đấy, thế nên sẽ chẳng còn nhiều thời gian rảnh rỗi để viết thư từ đâu.”

“Chưa bao giờ thấy em chịu khó viết thư cả,” Tom mỉm cười nói.

“Vâng, và mùa đông này thời gian dành cho chúng lại càng ít hơn nữa. Mấy người bạn của em đành phải bằng lòng với những tấm bưu ảnh hay điện thoại thôi,” Polly cười lớn, hy vọng câu trả lời đó sẽ dập tắt mọi mong đợi về việc duy trì thư tín.

“Thế à,” Tom nói, “anh chỉ viết thư cho những người mà anh thực sự muốn nghe tin tức thôi. Và anh cũng chẳng bao giờ đòi hỏi ai phải viết thư cho mình trừ khi anh tìm thấy niềm vui lớn lao khi đọc những dòng thư của họ. Anh đã bao giờ xin em viết thư cho anh chưa nhỉ?”

“Chư-ư-a, chắc là chưa,” Polly đáp, có chút bối rối trước tuyên bố này. Cô cứ đinh ninh rằng anh sẽ nài nỉ cô viết thư cho anh thường xuyên nhất có thể, và giờ thì sự thật lại trái ngược hoàn toàn!

“Anh nghĩ là chưa rồi! Em thấy đấy, sở thích và chí hướng của chúng ta vốn dĩ khác nhau. Ngay cả sự khác biệt trong lối sống hiện tại của chúng ta — em chìm đắm trong nghệ thuật xa hoa ở New York, còn anh gắn liền với cuộc sống gai góc của một gã thợ mỏ nơi miền núi Rocky — đã tạo ra một khoảng cách vô hình giữa những lý tưởng của đôi bên. Lý tưởng của anh là khai thác thứ vàng vốn là nền tảng cho phần lớn thành công ở cõi trần này, còn của em lại là khát vọng và lý tưởng nghệ thuật vượt tầm khỏi công việc và sự nghiệp tầm thường của anh. Thế nên chúng ta có biết phải nói gì với nhau qua những bức thư đâu, phải không nào? Em chắc chắn chẳng buồn nói chuyện vàng mỏ, và anh thì mù tịt về nghệ thuật hay những lý tưởng của nó.”

Chẳng ai biết Tom đã phải nén chịu những gì để thốt ra ngần ấy lời, nhưng cuối cùng anh cũng bị khơi dậy lòng tự ái, thế nên anh đã hoàn thành xuất sắc vai diễn của mình; và anh mãn nguyện khi nhận thấy Polly thực sự cảm thấy chạnh lòng trước những lời nói đó.

“Tom, em vẫn luôn đinh ninh trong sâu thẳm con người anh là một kẻ mộng mơ. Nghe tin anh chẳng còn giữ lại chút lý tưởng nào như thế khiến em cảm thấy vô cùng tiếc nuối.”

Tom nói lời tạm biệt với Polly mà chẳng hề để lộ một chút biểu cảm luyến tiếc nào ra bên ngoài, và thế là cô cứ ngồi đó ngẩn ngơ suy ngẫm về sự thật khác thường ấy tận lâu sau khi anh đã rời đi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.