“Nhưng hẳn giờ anh đã nhận ra,” Kẻ Vô Hình cất lời, “những bất lợi toàn diện trong hoàn cảnh của tôi. Tôi chẳng có nơi nương thân, chẳng có mảnh che thân; muốn có quần áo mặc thì phải đánh đổi mọi lợi thế, biến mình thành một sinh vật kỳ dị và đáng sợ. Tôi đang phải nhịn đói; bởi vì nếu ăn vào, nhét đầy những vật chất chưa qua chuyển hóa vào bụng, tôi sẽ lại hiện hình một cách quái đản.”
“Tôi chưa từng nghĩ đến điều đó,” Kemp nói.
“Tôi cũng vậy. Và tuyết đã cảnh báo tôi về những mối nguy khác. Tôi không thể đi lại trong trời tuyết—nó sẽ bám lấy tôi và làm tôi lộ diện. Cả mưa nữa, mưa sẽ biến tôi thành một bóng hình nước nôi, một bề mặt lấp lánh của con người—một chiếc bong bóng. Còn sương mù—tôi trông sẽ giống như một chiếc bong bóng mờ nhạt trong làn sương, một lớp bề mặt, một ánh lấp lánh nhờ nhờ của nhân loại. Hơn nữa, khi tôi đi lại—giữa bầu không khí Luân Đôn—tội lại gom cả bụi bẩn quanh cổ chân, những hạt bồ hóng bay lơ lửng và bụi bám lên da thịt. Tôi không biết mình sẽ phải chịu đựng cảnh đó bao lâu trước khi bị lộ diện vì nguyên nhân ấy. Nhưng tôi thấy rõ là thời gian chẳng còn nhiều.”
“Dù sao thì không thể ở Luân Đôn.”
“Tôi rẽ vào khu ổ chuột hướng về phía phố Great Portland, rồi thấy mình đã ở cuối con phố nơi tôi từng thuê trọ. Tôi không đi theo lối đó vì có đám đông đang tụ tập ở giữa phố, đối diện với đống đổ nát vẫn còn bốc khói của ngôi nhà tôi đã đốt. Vấn đề cấp bách nhất của tôi lúc bấy giờ là kiếm quần áo. Việc phải làm gì với khuôn mặt khiến tôi đau đầu. Rồi trong một cửa hàng tạp hóa nhỏ bán đủ thứ—báo chí, kẹo bánh, đồ chơi, văn phòng phẩm, quà vặt Giáng sinh lỗi thời, v.v.—tôi thấy bày la liệt những chiếc mặt nạ và mũi giả. Tôi nhận ra vấn đề đã được giải quyết. Trong chớp mắt, tôi đã vạch ra hướng đi cho mình. Tôi quay đầu lại, không còn lang thang vô định nữa, và cất bước—đi vòng vánh để tránh những con đường đông đúc, hướng về những con phố phía sau nằm ở phía bắc khu Strand; bởi vì tôi nhớ ra, dẫu không nhớ rõ lắm là ở đoạn nào, có một số cửa hàng chuyên bán trang phục biểu diễn kịch ở khu vực đó.”
“Hôm đó trời lạnh, với những cơn gió buốt rít qua các con phố chạy hướng bắc. Tôi bước nhanh để tránh bị ai bắt kịp. Mỗi ngã tư đều là một hiểm họa, mỗi người qua đường đều là một đối tượng phải dè chừng quan sát. Ngay lúc tôi sắp đi lướt qua một gã ở đầu phố Bedford, hắn bỗng quay phắt lại và đâm sầm vào người tôi, hất tôi văng xuống lòng đường và suýt ngầm bị cuốn vào bánh chiếc xe ngựa hansom đang chạy tới. Nhóm tài xế xe ngựa ở bến phỏng đoán rằng hắn vừa bị đột quỵ gì đó. Cuộc chạm trán ấy khiến tôi hoảng loạn đến mức phải rảo bước vào Chợ Covent Garden rồi ngồi nghỉ một lúc ở góc khuất cạnh một sạp hoa violet, thở hổn hển và run rẩy. Tôi nhận ra mình đã bị nhiễm lạnh, và lát sau đành phải đứng dậy kẻo những cái hắt xì của tôi lại thu hút sự chú ý.”
“Cuối cùng tôi cũng đến được nơi cần tìm, một cửa hàng nhỏ nhem nhuốc, chi chít vết ruồi bầu nằm ở một con hẻm nhỏ gần phố Drury Lane, với ô cửa kính trưng bày nào áo choàng kim tuyến, ngọc giả, tóc giả, giày khiêu vũ, áo choàng thụt và ảnh nghệ sĩ kịch. Cửa hàng trông cổ kính, thấp lè tè và tối tăm, bên trên là tòa nhà cao bốn tầng cũng ảm đạm không kém. Tôi dán mắt qua ô cửa kính, không thấy ai ở bên trong nên liền bước vào. Tiếng cửa mở vang lên những hồi chuông lanh lảnh. Tôi để nguyên cửa mở, đi vòng qua một giá treo đồ trống trơn để vào góc khuất sau chiếc gương soi toàn thân. Khoảng một phút trôi qua chẳng có ai xuất hiện. Sau đó, tôi nghe tiếng bước chân nặng nề sải dài qua một căn phòng, và một gã đàn ông xuất hiện ở đầu cửa hàng.”
“Lúc này các kế hoạch của tôi đã vô cùng rạch ròi. Tôi định sẽ lẻn vào trong nhà, ẩn nấp trên gác, rình thời cơ, và khi mọi thứ đã yên tĩnh, sẽ lục tìm một bộ tóc giả, mặt nạ, kính và trang phục để đàng hoàng bước ra đời, dẫu có hơi quái đản nhưng vẫn là một hình hài đáng tin. Nhân tiện, dĩ nhiên tôi cũng có thể vơ vét bất kỳ số tiền nào có sẵn trong nhà.”
“Gã vừa bước vào cửa hàng là một tên lùn tịt, gầy gò, lưng gù, lông mày rậm xếch, tay dài và đôi chân vòng kiềng ngắn cũn cỡn. Có vẻ như tôi đã cắt ngang bữa ăn của hắn. Hắn đảo mắt nhìn quanh cửa hàng với vẻ mặt đầy mong đợi. Vẻ mặt đó nhanh chóng chuyển thành ngạc nhiên, rồi giận dữ khi thấy cửa hàng trống không. ‘Mấy thằng ranh con chết tiệt!’ hắn lẩm bẩm. Hắn đi ra cửa ngó nghiêng ra ngoài phố một lúc. Lại một phút sau hắn bước vào, dùng chân hằn học đá sập cửa lại, rồi lầm bầm đi giật lùi về phía cửa buồng trong.”
“Tôi bước lên định theo chân hắn, nhưng tiếng động do chuyển động của tôi phát ra khiến hắn khựng lại chết trân. Tôi cũng đứng im bặt, giật mình trước thính giác nhạy bén của hắn. Hắn sập mạnh cửa buồng ngay trước mũi tôi.”
“Tôi đứng ngập ngừng. Bất chợt, tôi nghe tiếng bước chân nhanh nhẹn của hắn quay lại, và cánh cửa mở ra lần nữa. Hắn đứng ngó quanh cửa hàng như một kẻ vẫn chưa hết hoài nghi. Rồi vừa lẩm bẩm một mình, hắn vừa săm soi phía sau quầy hàng và dòm ngó sau mấy món đồ đạc. Kế đó hắn đứng đần mặt ra vì phân vân. Hắn đã để ngỏ cửa ra vào và tôi nhân cơ hội lách vào căn phòng phía trong.”
“Đó là một căn phòng nhỏ kỳ quái, trang trí nghèo nàn với mấy chiếc mặt nạ lớn nằm xó góc. Trên bàn là bữa sáng hãy còn dang dở của hắn, và quả thực là một điều bực bội đến phát điên cho tôi, hỡi Kemp, khi cứ phải ngửi mùi cà phê của hắn và đứng chôn chân nhìn hắn quay lại tiếp tục bữa ăn. Đã thế cách hành xử trên bàn ăn của hắn cũng thật chướng tai gai mắt. Có ba cánh cửa dẫn vào căn phòng nhỏ này, một lên gác và một xuống dưới, nhưng tất cả đều đang đóng kín. Tôi không tài nào thoát khỏi căn phòng chừng nào hắn còn ở đó; tôi hầu như chẳng dám động đậy vì sự cảnh giác của hắn, lại thêm luồng gió lùa lạnh ngắt sau lưng. Hai lần tôi phải cố nín nhịn những tiếng hắt xì suýt nữa thì bật ra đúng lúc.”
“Khía cạnh ngoạn mục từ những cảm giác của tôi lúc đó thật kỳ lạ và mới mẻ, nhưng dẫu vậy, tôi đã vô cùng mệt mỏi và tức tối từ lâu trước khi hắn ăn xong xuôi. Cuối cùng thì hắn cũng đứng lên, gom đống bát đĩa rẻ tiền đặt lên chiếc khay sắt màu đen từng dùng để đựng ấm trà, nhặt hết vụn bánh mì trên tấm khăn trải bàn dính đầy vết mù tạt, rồi bê tất cả theo mình. Sức nặng của đống đồ đạc đã cản trở hắn đóng cửa lại đằng sau—lẽ ra hắn đã làm thế; tôi chưa từng thấy ai cuồng đóng cửa đến thế—và tôi bám theo hắn xuống một căn bếp và phòng rửa chén ngầm vô cùng dơ dáy. Tôi được dịp chứng kiến hắn bắt đầu cọ rửa, rồi nhận thấy việc cứ lì lợm ở dưới đó chẳng ích gì, lại thêm nền gạch lạnh buốt đôi chân, tôi liền quay lên lầu và ngồi vào chiếc ghế của hắn bên lò sưởi. Lửa đang tàn dần, và chẳng kịp nghĩ ngợi nhiều, tôi bỏ thêm chút than vào. Tiếng động phát ra từ việc này lập tức lôi cổ hắn chạy lên, mắt trừng trừng giận dữ. Hắn đảo mắt sục sạo khắp phòng và suýt chút nữa là chạm phải tôi. Ngay cả sau màn kiểm tra đó, hắn hình như vẫn chưa thỏa mãn. Hắn dừng lại ở ngưỡng cửa, liếc nhìn tổng thể lần cuối trước khi đi xuống.”
“Tôi mòn mỏi chờ đợi trong phòng khách nhỏ bé cả một thời gian dài, và cuối cùng hắn cũng quay lên mở cánh cửa dẫn lên gác. Tôi vừa khéo léo lách qua người hắn được.”
“Trên cầu thang, hắn đột ngột khựng lại khiến tôi suýt chút nữa thì va đầu vào người hắn. Hắn đứng quay lưng nhìn thẳng vào mặt tôi và chăm chú lắng nghe. ‘Ta thề là có tiếng động,’ hắn lẩm bẩm. Bàn tay dài và nhiều lông của hắn cấu cấu vào môi dưới. Ánh mắt hắn đảo lên đảo xuống dọc cầu thang. Rồi hắn hừ một tiếng rồi lại tiếp tục đi lên.”
“Tay hắn đang đặt lên nắm đấm cửa, rồi hắn lại khựng lại với vẻ mặt ngạc nhiên lẫn tức tối y như cũ. Hắn đã bắt đầu nhận ra những âm thanh nhỏ nhoi từ các chuyển động của tôi xung quanh mình. Gã này chắc hẳn phải sở hữu thính giác nhạy bén đến mức quái quỷ. Hắn đột ngột nổi đóa lên. ‘Nếu có kẻ nào dám bén mảng vào cái nhà này—’ hắn gầm lên kèm theo một lời nguyền rủa, rồi bỏ lửng câu đe dọa. Hắn thọc tay vào túi, không tìm thấy thứ mình muốn, liền lướt qua tôi, hùng hổ bước xuống cầu thang với vẻ hung hăng và đầy tiếng động. Nhưng tôi không đuổi theo hắn. Tôi ngồi ngay bậc trên cùng của cầu thang chờ hắn quay lại.”
“Chẳng mấy chốc hắn lại đi lên, miệng vẫn lầm bầm rủa xả. Hắn đẩy cửa phòng ra, và trước khi tôi kịp bước vào, hắn đã sập cửa cái rầm ngay trước mặt tôi.”
“Tôi quyết định đi thám thính ngôi nhà, và tốn không ít thời gian để thực hiện việc đó một cách kín đáo nhất có thể. Ngôi nhà quá cổ kính và mục nát, ẩm thấp đến mức lớp giấy dán tường ở các phòng áp mái đang bong tróc từng mảng, và lúc nhúc chuột. Một số tay nắm cửa bị cứng khiến tôi không dám vặn. Vài căn phòng tôi vào kiểm tra thì trống hoác, số khác thì ngổn ngang những món đồ đạo cụ sân khấu cũ kỹ, trông bề ngoài thì tôi đoán là hàng mua lại đồ second-hand. Trong một căn phòng nằm sát phòng hắn, tôi tìm thấy rất nhiều quần áo cũ. Tôi bắt đầu bới móc đống đồ đó, và vì quá háo hức nên lại quên mất sự thính nhạy rõ mười mươi của đôi tai hắn. Tôi nghe tiếng bước chân rón rén và ngẩng đầu lên vừa lúc thấy hắn đang dòm vào đống quần áo lộn xộn, tay lăm lăm một khẩu súng lục kiểu cổ. Tôi đứng chết trân trong khi hắn trố mắt nhìn xung quanh với vẻ ngờ vực và há hốc miệng. ‘Chắc lại con mụ đó rồi,’ hắn lẩm bẩm chậm rãi. ‘Mụ khốn kiếp!’”
“Hắn lặng lẽ đóng cửa lại, và ngay lập tức tôi nghe tiếng chìa khóa xoay trong ổ. Kế đó là tiếng bước chân khuất dần. Tôi sực nhận ra mình đã bị khóa nhốt bên trong. Trong một phút, tôi chẳng biết phải làm gì. Tôi đi từ cửa ra sổ rồi quay lại, đứng chết trơ đầy hoang mang. Một cơn giận dữ bỗng trào lên trong tôi. Nhưng tôi quyết định phải kiểm tra đống quần áo trước khi làm gì tiếp theo, và cú vồ đầu tiên của tôi đã làm rơi cả một chồng quần áo từ trên kệ cao xuống. Tiếng động này lại kéo hắn quay trở lại, trông còn gớm ghiếc hơn trước. Lần đó hắn thực sự chạm phải tôi, giật nảy mình kinh ngạc và đứng sững sờ giữa căn phòng.”
“Lát sau hắn bình tĩnh lại đôi chút. ‘Lũ chuột thôi,’ hắn lẩm bẩm trong cổ họng, ngón tay đặt lên môi. Hắn có vẻ hơi sợ hãi. Tôi lặng lẽ lách người ra khỏi phòng, nhưng một tấm ván sàn lại kêu cót két. Thế là gã quái vật khốn kiếp đó bắt đầu sục sạo khắp nhà, tay lăm lăm súng lục, khóa hết cửa này đến cửa khác rồi đút chìa khóa vào túi. Nhận ra ý đồ của hắn, cơn thịnh nộ trong tôi lại bùng phát—tôi suýt không kìm chế nổi bản thân để mà chờ đợi thời cơ. Đến lúc này thì tôi biết chắc hắn chỉ có một mình trong nhà, thế là tôi chẳng chần chừ gì nữa, giáng cho hắn một cú vào đầu.”
“Giáng cho hắn một cú vào đầu ư?” Kemp thốt lên.
“Đúng vậy—đánh cho hắn bất tỉnh—khi hắn đang đi xuống cầu thang. Tôi dùng chiếc đẩu đặt ở chiếu nghỉ đánh lén hắn từ phía sau. Hắn ngã lăn xuống cầu thang trông như một bao tải chứa đầy giày cũ vậy.”
“Nhưng—này! Những chuẩn mực thông thường của loài người—”
“Chỉ đúng với những kẻ tầm thường mà thôi. Nhưng vấn đề là, Kemp, tôi buộc phải chuồn khỏi cái nhà đó trong một lớp cải trang mà không để hắn trông thấy. Tôi chẳng nghĩ ra cách nào khác khả dĩ hơn. Rồi sau đó tôi nhét chiếc áo ghi-lê kiểu Louis Quatorze vào mồm hắn để bịt miệng và trói gô hắn lại trong một tấm ga giường.”
“Trói gô hắn lại trong một tấm ga giường!”
“Biến nó thành một cái túi kiểu như vậy. Quả là một ý kiến hay ho để giữ cho tên ngốc đó sợ hãi và im re, hơn nữa việc chui ra khỏi đó thực sự là một cực hình—với phần đầu quay ngược về hướng buộc dây. Kemp thân mến, anh có trừng mắt nhìn tôi như thể tôi là một kẻ sát nhân thì cũng chẳng ích gì đâu. Việc đó buộc phải làm. Hắn có súng lục trong tay. Chỉ cần hắn nhìn thấy tôi một lần thôi là hắn sẽ có thể phác họa lại diện mạo của tôi—”
“Nhưng dẫu sao đi nữa,” Kemp nói, “ở nước Anh—vào thời buổi này. Hơn nữa người ta đang ở trong chính nhà mình, còn anh thì lại đang—chà, đang đi trộm cắp.”
“Trộm cắp! Chết tiệt thật! Sắp tới chắc anh gọi tôi là kẻ trộm mất thôi! Chắc chắn rồi, Kemp, anh không ngốc đến mức cứ bấu víu vào mấy cái lý lẽ sáo rỗng ấy chứ. Bộ anh không nhìn rõ hoàn cảnh của tôi sao?”
“Và cả hoàn cảnh của hắn nữa chứ,” Kemp nói.
Kẻ Vô Hình đứng phắt dậy. “Ý anh là thế nào?”
Khuôn mặt Kemp đanh lại đôi chút. Anh định nói gì đó rồi lại thôi. ‘Tôi đoán là suy cho cùng,’ anh đổi giọng đột ngột, ‘việc đó cũng phải làm thôi. Anh đã rơi vào bước đường cùng. Nhưng dẫu sao thì—’”
“Dĩ nhiên là tôi rơi vào bước đường cùng rồi—một hoàn cảnh tồi tệ đến phát điên. Lại thêm hắn cứ làm tôi phát điên lên—sục sạo khắp nhà lùng sục tôi, múa may cái khẩu súng lục, khóa với chả mở cửa. Hắn đích thực là kẻ làm người ta phát bực. Anh không trách tôi chứ, đúng không? Anh không trách tôi chứ?”
“Tôi chẳng bao giờ trách cứ ai cả,” Kemp đáp. “Chuyện đó lỗi mốt lắm rồi. Thế anh đã làm gì tiếp theo?”
“Tôi đói bụng. Dưới nhà, tôi tìm thấy một ổ bánh mì và một ít phô mai hăng—dư sức để lấp đầy chiếc bụng đói. Tôi uống một chút rượu mạnh pha nước, rồi đi ngược lên qua cái túi bất đắc dĩ của mình—hắn vẫn đang nằm bất động—để đến căn phòng chứa quần áo cũ. Căn phòng này nhìn ra mặt phố, với hai tấm rèm ren đã ngả sang màu nâu bẩn thừng che chắn khung ô cửa. Tôi bước tới và dòm qua những khoảng hở giữa các thớ vải. Bên ngoài trời sáng rực—nếu so với những bóng râm màu nâu sẫm của ngôi nhà ảm đạm mà tôi đang đứng, thì ánh sáng ấy chói lóa đến nhức mắt. Dòng phương tiện đang hối hả chuyển động qua lại, nào xe chở hoa quả, nào xe hansom, một chiếc xe bốn bánh chất đầy những thùng các-tông, xe của hàng cá. Tôi quay người đi, trước mắt lóa lên những đốm màu sặc sỡ quay cuồng để hướng về phía những món đồ đạc tối tăm phía sau. Sự hào hứng ban nãy đang dần nhường chỗ cho một cảm giác âu lo rõ mệt mỏi về tình cảnh hiện tại của mình. Căn phòng sực nức mùi dung dịch benzoline dịu nhẹ, chắc là thứ được dùng để tẩy rửa quần áo.”
“Tôi bắt đầu một cuộc lục soát có hệ thống khắp căn phòng. Tôi đoán gã gù đã sống thui thủi một mình trong ngôi nhà này được một thời gian. Hắn là một kẻ kỳ cục. Mọi thứ có thể hữu dụng cho tôi đều được gom lại trong phòng chứa quần áo, và rồi tôi bắt đầu cẩn trọng lựa chọn. Tôi tìm thấy một chiếc túi xách tay mà tôi cho là phù hợp, cùng một ít phấn trang điểm, má hồng và băng dán cá nhân.”
“Tôi từng nghĩ đến việc bôi phấn và tô son lên mặt cùng những phần da thịt bị lộ ra ngoài của mình nhằm khiến bản thân hiện hình trở lại, nhưng điểm bất lợi của cách này nằm ở chỗ tôi sẽ cần đến dầu thông cùng các dụng cụ khác và mất khối thời gian trước khi có thể biến hình tàng hình trở lại. Cuối cùng, tôi chọn một chiếc mặt nạ loại tốt, hơi quái đản nhưng cũng chẳng quá lố bịch so với nhiều con người bằng xương bằng thịt khác, cặp kính râm, bộ ria mép ngả màu xám và một mái tóc giả. Tôi chẳng tìm được món đồ lót nào, nhưng đành mua bù sau vậy, còn lúc ấy tôi quấn quanh người những tấm vải domino bằng vải calico và vài chiếc khăn choàng bằng vải cashmere trắng. Tôi không tìm thấy đôi tất nào, nhưng đôi bốt của gã gù hơi rộng một chút nên vẫn xỏ tạm được. Trong chiếc bàn giấy ở cửa hàng có ba đồng vàng chủ quyền cùng số bạc trị giá khoảng ba mươi shilling, và trong cái tủ có khóa mà tôi đã cạy tung ở căn phòng bên trong có tám bảng Anh bằng vàng. Tôi đã có thể đàng hoàng bước ra thế giới ngoài kia, đầy đủ trang bị.”
“Rồi một sự ngập ngừng kỳ lạ kéo theo. Liệu diện mạo của tôi trông có thực sự đáng tin không? Tôi tự soi mình trước chiếc gương nhỏ trong phòng ngủ, quan sát bản thân từ mọi góc độ để tìm xem có sơ hở nào bị bỏ sót không, nhưng mọi thứ trông có vẻ ổn thỏa. Trông tôi quái đản chẳng khác nào nghệ sĩ kịch, một gã hà tiện trên sân khấu, nhưng chắc chắn tôi không phải là một dị dạng phi vật lý. Lấy lại sự tự tin, tôi mang chiếc gương nhỏ xuống cửa hàng, kéo rèm che cửa lại và tự ngắm nghía mình từ mọi góc độ với sự trợ giúp của chiếc gương soi toàn thân ở góc phòng.”
“Tôi mất vài phút để xốc lại tinh thần, rồi mở khóa cửa hàng và hiên ngang bước ra phố, mặc cho gã đàn ông nhỏ thó kia tự bươn chải thoát khỏi tấm ga giường khi nào hắn muốn. Năm phút sau, tôi đã đi qua mười khúc rẽ cách xa cửa hàng trang phục ấy. Chẳng ai tỏ ra chú ý đến tôi một cách quá mức. Khó khăn cuối cùng của tôi xem chừng đã được tháo gỡ.”
Hắn lại dừng lời.
“Và anh không mảy may bận tâm gì đến gã gù nữa sao?” Kemp hỏi.
“Không,” Kẻ Vô Hình đáp. “Tôi cũng chẳng hay số phận hắn ra sao sau đó. Chắc là hắn tự cởi trói hoặc đạp tung ra được thôi. Mấy nút thắt đó cũng khá chặt đấy.”
Hắn im lặng, bước đến bên cửa sổ và đờ đẫn nhìn ra ngoài.
“Chuyện gì đã xảy ra khi anh bước ra khu Strand?”
“Ồ!—lại một lần nữa vỡ mộng. Tôi cứ ngỡ những rắc rối của mình đã chấm dứt. Về cơ bản, tôi nghĩ mình có đặc quyền muốn làm gì thì làm, mọi thứ—ngoại trừ việc để lộ bí mật. Tôi đã nghĩ thế đấy. Bất cứ điều gì tôi làm, bất kể hậu quả ra sao, đối với tôi đều vô nghĩa. Tôi chỉ cần vứt bỏ đống quần áo là lại tàng hình. Chẳng ai có thể tóm được tôi. Tôi có thể vơ vét tiền bạc ở bất cứ đâu mình tìm thấy. Tôi quyết định tự thưởng cho mình một bữa tiệc thật thịnh soạn, rồi thuê một khách sạn tử tế để ở, và sắm sửa một loạt tài sản mới. Tôi cảm thấy tự tin đến kỳ lạ; giờ nghĩ lại việc lúc ấy mình ngốc nghếch thế nào thì chẳng mấy dễ chịu gì. Tôi bước vào một nhà hàng và đang gọi món ăn trưa thì chợt nhận ra mình không thể ăn uống gì nếu cứ giấu nhẹm cái khuôn mặt vô hình đi. Tôi gọi món xong xuôi, bảo phục vụ rằng tôi sẽ quay lại sau mười phút, rồi bực bội bước ra ngoài. Tôi không biết anh đã bao giờ bị hụt hẫng đến chán ngán cơn thèm ăn của mình chưa.”
“Không đến mức tồi tệ thế, nhưng tôi có thể tưởng tượng được,” Kemp nói.
“Tôi suýt đập nát mấy gã ngốc nghếch đó ra rồi. Cuối cùng, vì quá khao khát được thưởng thức một bữa ăn ngon miệng, tôi bước vào một quán khác và đòi một phòng riêng. ‘Tôi bị tàn phé,’ tôi nói. ‘Nặng lắm.’ Họ nhìn tôi với ánh mắt tò mò, nhưng dẫu sao đó không phải chuyện của họ—và cuối cùng tôi cũng được ăn bữa trưa. Món ăn chẳng được phục vụ tươm tất cho lắm, nhưng thế cũng đủ rồi; và khi ăn xong, tôi ngồi ngậm xì-gà, cố lên kế hoạch cho những bước tiếp theo của mình. Còn ở ngoài trời, một trận bão tuyết đang bắt đầu kéo đến.”
“Càng ngẫm nghĩ, hỡi Kemp, tôi càng nhận ra một Kẻ Vô Hình bất lực và ngớ ngẩn đến nhường nào—khi sống ở một xứ sở lạnh lẽo, bẩn thỉu và một thành phố văn minh đông đúc. Trước khi thực hiện thí nghiệm điên rồ này, tôi từng mơ mộng về hàng ngàn thứ lợi thế. Buổi chiều hôm đó, mọi thứ chỉ toàn là sự thất vọng não nề. Tôi điểm lại những thứ mà một người đàn ông khao khát. Không nghi ngờ gì nữa, sự tàng hình giúp người ta dễ dàng có được chúng, nhưng lại tước đi khả năng tận hưởng chúng khi đã đạt được. Tham vọng—niềm kiêu hãnh về địa vị có ích gì khi anh chẳng thể đường đường chính chính xuất hiện ở đó? Tình yêu của phụ nữ có ích gì khi tên của cô ấy cứ mãi mang bóng hình của nàng Delilah? Tôi chẳng có chút hứng thú nào với chính trị, với thứ danh tiếng nhơ nhớp, với công tác từ thiện hay thể thao cả. Tôi phải làm gì đây? Và vì những thứ này mà tôi đã biến thành một bí ẩn được quấn bọc kín mít, một gã hề được băng bó và quấn giẻ từ đầu đến chân!”
Hắn dừng lại, tư thế của hắn cho thấy cái nhìn đảo quanh ra hướng cửa sổ.
“Nhưng làm thế nào mà anh lại đến được Iping?” Kemp hỏi, vốn đang lo lắng muốn giữ vị khách của mình tiếp tục câu chuyện.
“Tôi đến đó để làm việc. Tôi còn một tia hy vọng. Đó mới chỉ là một ý tưởng manh mún! Và giờ tôi vẫn còn giữ nó. Nó đã trở thành một ý tưởng hoàn thiện. Một lối thoát để quay trở lại! Để khôi phục những gì tôi đã gây ra. Khi tôi muốn. Khi tôi đã hoàn tất mọi việc cần làm trong trạng thái tàng hình. Và đó chính là điều tôi chủ yếu muốn bàn với anh lúc này.”
“Anh đi thẳng đến Iping ư?”
“Đúng vậy. Tôi chỉ cần lấy ba tập tài liệu ghi chép cùng cuốn séc của mình, hành lý và quần áo lót, đặt mua một lượng hóa chất để thực hiện ý tưởng này của mình—tôi sẽ cho anh xem các tính toán ngay khi lấy được sách vở—rồi tôi lên đường. Chúa ơi! Giờ tôi vẫn nhớ trận bão tuyết ngày hôm đó, cùng với sự phiền phức quái gở khi phải giữ cho tuyết không làm ẩm chiếc mũi bằng bìa cứng của tôi.”
“Cuối cùng thì,” Kemp nói, “hôm kia, khi họ phát hiện ra anh, anh có vẻ như—nhìn qua các tờ báo thì—”
“Đúng vậy. Khá là dữ dội. Tôi đã giết gã cảnh sát ngốc nghếch đó chứ?”
“Không,” Kemp đáp. “Hắn dự kiến sẽ hồi phục.”
“Thế thì hắn còn may chán. Tôi đã hoàn toàn mất kiểm soát, lũ ngốc ấy! Sao chúng cứ không để mặc tôi yên cơ chứ? Cả gã thợ tạp hóa khốn kiếp đó nữa?”
“Không có ai tử vong,” Kemp nói.
“Tôi không chắc về gã lang thang của tôi đâu,” Kẻ Vô Hình cười nhạt một cách khó chịu.
“Nhân danh Chúa, Kemp, anh chẳng thể hiểu được cơn thịnh nộ là gì đâu! ... Đã tốn bao năm trời lao động, lên kế hoạch và mưu tính, để rồi bị một gã ngu ngốc vô tích sự quờ quạng nào đó ngáng đường! ... Hết thảy những sinh vật ngớ ngẩn vô tích sự từng được tạo ra trên đời đều được cử đến để ngáng chân tôi.”
“Nếu tôi còn phải chịu đựng cảnh này nhiều thêm nữa, tôi sẽ phát điên mất—tôi sẽ bắt đầu càn quét sạch chúng nó.”
“Dẫu vậy, chúng đã làm mọi chuyện phức tạp gấp ngàn lần.”
“Chắc chắn là bực bội rồi,” Kemp đáp khô khốc.