Ngã Đích Đại Học

Lượt đọc: 51 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3

❊ ❊ ❊

Chẳng bao lâu sau, tôi nhận được thư của một người bạn. Trong thư kể lại rằng, ngày mà ba cô gái nhận được thư tôi, cả ba đều đang họp ở tiểu ban. Họ chuyền tay nhau đọc bức thư của tôi, không ai nói gì cả, cũng chẳng biểu lộ thái độ gì. Họp xong, bức thư cứ nằm lại trên bàn. Không ai thu nhận. Cứ để trên bàn mấy ngày liền, sau đó không biết đã đi đâu mất. Chắc là bị đem đi đốt như giấy vụn rồi.

Thư còn cho biết, ba cô gái nay đã có người trong mộng, chuyện tình cảm đều rất viên mãn. Họ thực lòng quan tâm đến tôi, cũng giống như trước kia tôi từng là một thành viên trong "đại gia đình" tiểu ban tuyên truyền vậy. Họ còn kiến nghị với tổ trưởng tiểu ban, vận động tôi nhân kỳ nghỉ đông hoặc nghỉ hè hãy về "nhà" thăm đoàn một chuyến, chi phí đi lại sẽ do họ "thanh toán" giúp...

Tôi ngẩn người ra ngây dại một lúc lâu.

Đọc lại những bức thư của họ, những lời lẽ tràn ngập tình bạn, chan chứa sự quan tâm, hiền dịu mà ấm áp ấy, ngỡ như không phải được viết trên giấy, mà là họ đang đứng trước mặt tôi, nhẹ nhàng thủ thỉ. Đều là những lời nói mà trước kia tôi đã quen nghe khi ở bên họ. Nếu người rời bỏ họ để đi học đại học không phải là tôi, mà là một người khác trong "gia đình thanh niên trí thức" tiểu ban tuyên truyền của chúng tôi, thì họ vẫn sẽ viết những bức thư như thế, trong thư vẫn sẽ viết những lời lẽ ấy. Họ trân trọng tình bạn đến vậy, giống như người nuôi ong trân quý mật ngọt, ấy là bởi bản tính của họ vốn dĩ như vậy. Phẩm đức của họ vốn dĩ như vậy. Nguyên tắc làm người của họ vốn dĩ như vậy. Kẻ đa tình tự đa tình là tôi. Kẻ tơ tưởng hão huyền là tôi. Kẻ mang tâm địa đen tối là tôi. Kẻ bôi nhọ tình bạn cũng chính là tôi. Trước khi chưa làm như thế, tôi không hề biết trong tâm hồn mình lại ẩn náu một con quỷ. Đến khi tôi làm thế, con quỷ ấy liền hóa thân thành chính tôi. Cho nên tôi không thể nhận ra bản thân mình xấu xa đến nhường nào. Sau khi sự việc này đã không thể vãn hồi, tôi bắt đầu căm hận chính mình.

Trước đây tôi cũng từng làm những chuyện có lỗi với người khác, nhưng đều là làm trong hoàn cảnh không hề có tâm địa đen tối nào. Cũng từng tự trách. Nhưng chưa từng coi rẻ bản thân. Chưa từng căm hận bản thân. Còn lần này thì khác. Bản chất của nó chứng minh sự quỷ quyệt, gian xảo và giả dối trong cách làm người. Đã dùng đến tâm cơ. Hơn nữa lại dùng với ba cô gái từng chân thành quan tâm đến mình. Kẻ nào từng dùng tâm cơ đê hèn, kẻ đó sẽ nhận lại sự báo ứng tương đương. Đã dùng hay không dùng tâm cơ, đó chính là lằn ranh của việc có nên được tha thứ hay không.

"Lương Hiểu Thanh, Lương Hiểu Thanh, mày đúng là đồ con hoang, mày thực sự không bằng cầm thú, mày đúng là mất hết nhân tính rồi!..."

Tôi chỉ có thể thầm nguyền rủa bản thân trong lòng.

Buổi chiều hôm đó, tôi không nói một lời nào...

Ngày thứ ba của học kỳ mới, toàn khoa tập trung họp đại hội. Nội dung gì tôi đã không còn nhớ rõ, chỉ nhớ rằng rất nhiều vị giáo sư lớn tuổi bình thường chẳng mấy khi gặp đều có mặt đầy đủ.

Đầu tiên theo lệ thường là đội trưởng đội tuyên truyền công nhân của khoa kiêm bí thư tổng chi phát biểu. Ông ta nói những gì, tôi cũng không thể nhớ hết, chỉ nhớ mỗi câu nói thế này: "Phúc Đán là nơi ngọa hổ tàng long, cũng là hang hùm ổ sói. Học viên công nông binh không nên chỉ mang theo chiếc túi đỏ đến trường đại học để gom nhắp kiến thức, mà còn phải tích cực tham gia phong trào đấu, phê, cải của Phúc Đán, triệt để chiếm lĩnh thượng tầng kiến trúc..."

Những lời này nhắm vào các tân sinh viên. Và rõ ràng cũng nhắm vào các vị giáo sư lớn tuổi kia. Biểu cảm thờ ơ, lạnh nhạt phổ biến của họ lúc bấy giờ đã nói cho tôi biết điều đó. Tiếp theo là đại diện sinh viên các chuyên ngành, các năm học lên phát biểu bình luận và sáng tác.

Tôi là đại diện phát biểu của tân sinh viên chuyên ngành sáng tác. Tôi trở thành đại diện phát biểu là kết quả của việc "tự tiến cử". Các bạn học đùn đẩy lẫn nhau. Có người là đùn đẩy thật, có người là đùn đẩy giả. C thực ra rất muốn nhận trọng trách này, mọi người cũng đều cho rằng cô ấy nên nhận. Bởi vì cô ấy là phó bí thư chi bộ, thế nhưng vừa rất muốn, lại vừa làm bộ ngượng ngùng, hy vọng tạo ra một cục diện mọi người ép cô ấy trở thành đại diện phát biểu. Tôi nhìn thấy gai mắt liền nói: "Nếu cô ấy thực sự không muốn, tôi có thể đại diện mọi người phát biểu." Tôi chủ động xin gánh vác, thì chẳng ai tiện nói không đồng thế là đại diện phát biểu chính là tôi. C vô cùng khó chịu, cái mặt bạnh xị ra.

Thực ra tôi cũng chẳng phải muốn đối đầu với C. Trong bảnn tính của tôi, lắng đọng một khát khao mãnh liệt, bị kìm nén lâu ngày, đó là thói ưa thể hiện. Sống đến hai mươi lăm tuổi rồi, xã hội vẫn chưa từng trao cho tôi nổi một cơ hội ra trò nào. Để tôi có thể ra trò và thỏa mãn thể hiện bản thân một phen. Lẽ ra "Cách mạng Văn hóa" ít ra cũng phải được tính là một cơ hội chứ, xuất thân trong sạch, ngũ loại hồng. Đại phong đầu không thể hiện được, thì tiểu phong đầu vẫn có thể thể hiện chút ít chứ. Dấy cờ khởi nghĩa, thành lập cái tổ chức Hồng vệ binh nào đó, không phải là không làm nổi. Ở trường trung học của chúng tôi, ban đầu có ít nhất hơn ba mươi tổ chức Hồng vệ binh. Tổ chức Hồng vệ binh nhỏ nhất chỉ có bảy, tám người. Thế nhưng tôi lại thấy thứ phong đầu kiểu ấy quá mức mất mặt. Một thủ lĩnh phái "Pháo oanh" ở Hắc Long Giang, sinh viên Học viện Quân sự Cáp Nhĩ Bính, sau khi từ Bắc Kinh đàm phán trở về Cáp Nhĩ Bính với các thủ lĩnh phái "Hãn liên tổng", đứng trên thang máy bay trả lời phỏng vấn của phóng viên các chiến báo phe phái, phong thái tiêu sái cùng tài năng diễn thuyết ấy khiến tôi ngưỡng mộ vô cùng. Lúc ấy tôi mười chín tuổi, vị thủ lĩnh đó hai mươi bốn, hai mươi lăm tuổi, đúng bằng tuổi tôi khi đến Phúc Đán. Tôi của năm mươi chín tuổi đến sân bay xem náo nhiệt, chứng kiến cảnh tượng tựa như trong phim ảnh, lúc ấy đã thầm nghĩ, cho tôi một cơ hội thế này, tôi có chết cũng cam lòng!

Đại hội đại biểu liên hiệp tổ chức Hồng vệ binh học sinh trung học toàn thành phố triệu tập, tôi cũng đến xem náo nhiệt. Một nữ thủ lĩnh Hồng vệ binh trung học đứng trên sân khấu, đối mặt với hàng ngàn người, giống như Anna trong "Thép đã tôi thế đấy", vung tay lên một cái, hàng ngàn con người đang sục sôi khí thế bỗng chốc im phăng phắc, sau đó dùng giọng điệu đanh thép lớn tiếng diễn thuyết: "Chôn vùi đế-tu-phản toàn thế giới là sứ mệnh lịch sử của Hồng vệ binh chúng ta, chúng ta phải phục hồi Moscow! Giải phóng Washington! San bằng Paris! chiếm lĩnh Luân Đôn..." Thế là dưới đài bùng lên từng đợt cuồng phong khẩu hiệu: "Phục hồi Mos-! Giải phóng Washington!..." Tôi thầm nghĩ dưới đài, dẫu cho tôi có là kẻ chỉnh đài phát thanh cho nữ thủ lĩnh Hồng vệ binh trung học ấy đi nữa, thì cũng đủ để tự hào lắm rồi!

Sau khi xuống nông thôn, dần dần tôi trở nên chán ghét mọi thứ rình rang rầm rộ, thế nhưng lại càng thích thể hiện hơn nữa. Mở cái đại hội mừng kỷ niệm nào đó, thể nào cũng phải ngứa tay viết dấy dăm câu thơ tồi để ngâm nga trước đám đông. Nếu có ai nịnh hót: "Thơ làm khá đấy chứ!" thì thế là đủ đắc ý mấy ngày liền. Về sau rốt cuộc cũng cảm thấy chưa đã ghiền, rồi lại chán ngán. Lại chờ đợi trên con đường đời của mình sẽ có cơ hội huy hoàng hơn đến, để thể hiện một cách huy hoàng hơn.

Hai mươi lăm tuổi, hai mươi lăm tuổi, đây thực sự là lứa tuổi khao khát thể hiện bản thân nhất của người trẻ tuổi! Ngẫm lại cho kỹ, thói ưa thể hiện của người trẻ tuổi, đại khái đều là vì sự tồn tại của các cô gái. Giống như chẳng thấy chim công cái, cũng chẳng chịu sự kích thích của màu sắc tươi thắm nào, chim công đực lười chẳng buồn xòe đuôi. Chỉ có các chàng trai tụ tập với nhau, thì cho dù là chàng trai thích thể hiện nhất, cũng chẳng có mấy hứng thú để thể hiện. Ngược lại, chỉ có các cô gái tụ tập với nhau, thì cho dù là cô gái thích chưng diện nhất, cũng chẳng có mấy hứng thú chưng diện bản thân. Thể hiện bản thân thực ra là phương thức đặc biệt để các chàng trai "chưng diện" mình trước các cô gái.

Tôi coi việc đại diện cho tân sinh viên chuyên ngành phát biểu là một lần "ra mắt" công khai trước mặt thầy trò toàn khoa. Được phát biểu một bài thật đặc sắc giữa các sinh viên đại học của trường đại học danh tiếng, trước mặt các giáo sư, giảng viên của trường đại học danh tiếng, tôi cho rằng cái phong đầu này rất đáng để thể hiện. Đó là một cơ hội đủ huy hoàng.

Bài phát biểu đã được viết sẵn từ trước, nhưng lại nói với bạn bè và thầy cô là chưa viết xong. Bản thảo phát biểu nhét trong túi áo, bước ra khỏi trường, đi đi lại lại dưới bức tường bao phía sau khuôn viên trường, học thuộc lòng bài phát biểu.

Tôi muốn đạt được hiệu quả xuất khẩu thành chương khi phát biểu.

Tôi muốn sau bài phát biểu sẽ gợi lên tiếng vỗ tay và những lời xì xào bàn tán.

Tôi muốn lúc tan hội sẽ nghe thấy sinh viên, giáo sư và các giảng viên hỏi thăm lẫn nhau: "Cậu ta tên gì thế?"

"Chuyên ngành nào? Mấy năm rồi?"

Lại còn phải nghe được những lời tán dương thế này: "Bài phát biểu có tầm vóc quá!"

"Đơn giản là xuất khẩu thành chương!"

"Bình tĩnh thản nhiên!"

"Có khí chất của nhà diễn thuyết!"

Lại còn phải khơi dậy sự ghen tị của các nam sinh.

Lại còn phải từ nay về sau trong bất cứ dịp nào cũng thu hút ánh nhìn của các nữ sinh.

Lại còn phải từ nay đặt nền móng cho bản thân một địa vị ưu tú trong chuyên ngành, trong khoa...

Trải qua trọn vẹn một học kỳ cô quạnh trong "phòng cách ly viêm gan" của trường và bệnh viện bệnh truyền nhiễm, khát khao được thể hiện một lần gần như đã trở thành nhu cầu tinh thần.

Ngày họp, tôi mặc một chiếc áo Trung Sơn vải Kaki màu xám sắt mới tinh. Mua sau khi xuất viện. Thượng Hải lúc bấy giờ đang thịnh hành cổ áo lót, bèn mua một cái cổ áo lót trắng tinh, khiến cho lớp áo xám sắt hở ra một vòng trắng tinh. Mũ lưỡi trai từ lâu đã không đội nữa. Tóc từ lâu đã mọc dài. Soi mình qua cửa sổ ký túc xá, thấp thoáng phản chiếu ra một "Mã Lập Bổn" có vẻ tri thức hơn một chút, cảm thấy bản thân mình cũng khá có phong độ của đại diện phát biểu, rất tự tin.

Bài phát biểu của bí thư tổng chi khoa, đội trưởng đội tuyên truyền công nhân đã làm rối tung bài phát biểu mà tôi đã học thuộc lòng. Tôi thấy những gì ông ta nói quá mức hoang đường. Bất kể là ai, nói ra những lời tôi không tán thành, bất kể ở hoàn cảnh nào, tôi cũng sẽ đứng dậy phản bác. Hoàn toàn không màng đến hậu quả. Đây là một mặt khác trong bản tính của tôi. Tương đắc ích chương với thói ưa thể hiện của tôi, làm nền cho nhau, bộc lộ ra một con người tôi. Ngay khi lời ông ta vừa dứt, tôi liền đứng phắt dậy. Tôi nói: "Tôi không đồng ý với lời của anh! Đại học Phúc Đán ai là hang hùm ổ sói? Đã có, hãy chỉ ra cho chúng tôi xem! Đương nhiên không thể là học viên công nông binh chúng ta rồi chứ? Vậy chẳng lẽ lại là các vị giáo sư này ư? Phó giáo sư? Giảng viên ư? Tôi thấy họ chẳng đáng sợ đến thế! Trong phong trào quản, sát, cải, học viên công nông binh chẳng lẽ không phải là chiến hữu chung một chiến hào với các giáo viên cách mạng sao? Hai từ hang hùm ổ sói, chẳng phải là đang rành rành chia rẽ chúng ta hay sao?..."

Công nhân nếu lao động trong nhà máy, tôi rất kính trọng họ. Còn nếu chỉ tay năm ngón ở đại học, thì không gì đáng ghét hơn thế. Tôi cố ý biểu thị trước đám đông sự coi thường của mình đối với vị đội trưởng đội tuyên truyền công nhân này. Trước khi xuống nông thôn, đội tuyên truyền quân đội cũng từng bị tôi đối đầu trực diện, đối đầu thì đối đầu thôi. Ở binh đoàn, thanh niên trí thức các đại đội nói chung sau mấy năm đã hình thành thói quen coi thường quyền lực một cách phổ biến. Có một lần, một vị phó chính ủy bộ tư lệnh binh đoàn đến xưởng chế biến gỗ thị sát, bước vào ký túc xá thanh niên nam chúng tôi, mọi người nằm vẫn cứ nằm, oặt ẹo vẫn cứ oặt ẹo, cởi trần rửa mặt vẫn cứ tóe nước ào ào rửa thật lực, không một ai thèm liếc nhìn vị phó chính ủy ấy lấy một cái cho đàng hoàng. Ông ta nói: "Chào các đồng chí", cũng chẳng ai đáp lời.

Tôi mới vào Phúc Đán, chưa biết trời cao đất dày. Không biết quyền lực thống trị thiên hạ của đội tuyên truyền công nhân ở Phúc Đán, lại càng không biết câu nói "Nơi ngọa hổ tàng long, hang hùm ổ sói" là do Trương Xuân Kiều nói.

Cho nên lời nói của tôi đã khiến tất cả câm như hến. Rất nhiều thầy giáo và rất nhiều học sinh đều biết Trương Xuân Kiều từng nói câu đó. Nếu tôi cũng biết, tuyệt đối sẽ không bao giờ công khai phản bác đội trưởng đội tuyên truyền công nhân. Tôi tưởng phản bác ông ta một tiếng, chẳng qua cũng giống như phản bác đoàn trưởng chính ủy ở binh đoàn thôi, cũng chẳng thể làm gì được mình. Thực ra hoàn toàn khác biệt.

Hiệu ứng tĩnh lặng do lời nói của tôi gây ra đã khích lệ và cổ vũ tâm lý thích thể hiện của tôi. Thế là tôi mượn đề tài phát huy, ba hoa chích choè. Hình như còn nói cả mấy câu kiểu như Tolstoy, Balzac, Hugo bước xuống từ giá sách, ngồi cùng các vị giáo sư lớn tuổi, cũng mang lại cho tôi sự kính trọng tương tự. Tóm lại, tiếp theo đó tôi toàn nói những lời hoa mỹ sặc sỡ, múa mép khua môi. Đã làm màn chuốt sủng (được sủng ái)/câu khách mua vui thật lớn. Sắc mặt đội trưởng đội tuyên truyền công nhân tối sầm nghiêm nghị.

"Câm miệng!" Có người ngắt lời tôi, là một nam sinh Thượng Hải năm thứ ba chuyên ngành bình luận, cậu ta hùng hồn căm phẫn phê phán tôi. Cậu ta vừa ngồi xuống, người thứ hai lập tức đứng phắt dậy, một cuộc hội nghị phê phán tự phát bắt đầu. Tôi thật yếu ớt không chịu nổi một đòn. Không có cơ hội đứng lên phản bác. Dù có cơ hội đứng lên cũng đã mất đi dũng khí và năng lực phản bác. Vẻ đắc ý quét sạch sành sanh. Ngồi lì ở đó không biết giấu mặt đi đâu.

Người phê phán tôi, hầu như toàn là học sinh Thượng Hải. Điều này nên được giải thích là một hiện tượng chính trị của Phúc Đán. Giống như tất cả các trường đại học khoa tự nhiên và xã hội trên toàn quốc, khoa Trung văn cũng là "thần kinh" của Phúc Đán. Là khoa bị đội trưởng đội tuyên truyền công nhân kiểm soát nghiêm ngặt nhất. Nếu nói sinh viên các khoa tự nhiên khác còn có thể và có năng lực coi chính trị là "môn phụ", thì sinh viên khoa Trung văn buộc phải coi chính trị là môn chính. Vào thời kỳ lịch sử ấy, khoa Trung văn Phúc Đán thực sự nên đổi tên thành "khoa Chính trị Trung Quốc Phúc Đán". Vở kịch chính trị trên sân khấu nhỏ Phúc Đán và vở kịch chính trị trên sân khấu lớn Trung Quốc, đều được diễn theo cùng một kịch bản. Vai chính là đội tuyên truyền công nhân. Đạo diễn cũng chính là họ.

Từ Cảnh Hiền từng chỉ thị cho đội tuyên truyền công nhân Phúc Đán: "Bắc có Bắc Đại, Nam có Phúc Đán. Đây là hai pháo đài của chúng ta. Phúc Đán nên trở thành trường đại học như Smolny." Smolny, là trường đại học cách mạng đào tạo lực lượng vũ trang cho Xô viết giành chính quyền trong thời kỳ Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Liên Xô. "Bè lũ bốn tên" hy vọng đào tạo sinh viên Phúc Đán thành công cụ vừa có thể hiệu lực cho việc giành chính quyền của họ, cũng có thể giống như bảo vệ Cung điện Mùa Đông mà có ngày bảo vệ "sĩ quan sinh học Trung Quốc" của họ.

Cốt cán được đội tuyên truyền công nhân đào tạo ở khoa Trung văn, chủ yếu là học sinh Thượng Hải. Chỉ ra điều này, có lẽ sẽ làm tổn thương lòng tự tôn của một số "học viên công nông binh" Thượng Hải, nhưng đây là sự thật. Có rất nhiều bằng chứng đầy đủ đủ để chứng minh điều này, Trương Xuân Kiều từng có chỉ thị đối với Phúc Đán: "Phải đưa nhiều học sinh Thượng Hải vào Bắc Kinh hơn."

Nhưng một sự thật khác là, không phải tất cả học sinh Thượng Hải, đều nguyện ý trở thành "cốt cán". Những học sinh ngoại tỉnh tích cực xích lại gần đội tuyên truyền công nhân như C thì có, nhưng không nhiều. Bất cứ kẻ nào mang mục đích chính trị, đều mưu cầu nhận được món quà tặng chính trị rộng rãi từ Phúc Đán khi chia tay Phúc Đán. Họ chẳng bận tâm đến việc đã đánh mất thứ gì. Giống như quan điểm về tiền bạc của một số người ngày nay rất thực tế vậy, từ năm 1974 đến năm 1977, quan điểm về chính trị của một số người cũng rất thực tế. Đây cũng chính là lý do tại sao sau khi "bè lũ bốn tên" bị đập tan, rất nhiều người đáng lẽ nên "nói cho rõ ràng" lại chỉ nói chuyện chính trị, không nói chuyện tâm hồn, nói tới nói lui rốt cuộc vẫn không nói rõ được.

Thói ưa thể hiện của tôi trả giá quá đắt đỏ. Nhưng vì thế mà cũng nổi tiếng đôi chút. Rất nhiều học sinh từ đó đều biết khoa Trung văn có một Lương Hiểu Thanh. Trong mắt các nữ sinh, tôi chẳng qua chỉ là một tên hề khoe khoang câu khách mà thôi. Nhưng tôi không cho rằng điều này bất công. Rất công bằng. Nói đó là một cuộc "vây tiễu" quan điểm của một học viên công nông binh, chi bằng nói đó là một cuộc tố tụng công khai đối với một kẻ thích thể hiện.

Mua thuốc lá ở Ngũ Giác Đạo trường, tình cờ gặp một thầy giáo của chuyên ngành.

Thầy hỏi: "Sao sắc mặt kém thế này? Ốm à?"

Tôi đáp: "Không ốm ạ."

Thầy bảo: "Cậu mới xuất viện chưa lâu, bệnh gan rất dễ tái phát, phải chú ý sức khỏe đấy nhé!"

Tôi đáp: "Cảm ơn thầy ạ."

Thầy hỏi: "Cảm thấy áp lực lắm à?"

Tôi đáp: "Hơi hơi ạ."

Thầy bảo: "Đội tuyên truyền công nhân rất tức giận, còn muốn tiếp tục vận động học sinh phê phán cậu. Thầy đã biện hộ giúp cậu nhiều lần rồi. Cậu là tân sinh viên, mới vào trường, thiếu hiểu biết về tình hình của Phúc Đán, phát biểu quan điểm sai lầm cũng là điều có thể châm chước."

Tôi không lên tiếng.

Thầy lại nói: "Thực ra thầy cũng có quan điểm giống cậu, học viên công nông binh nên là chiến hữu chung một chiến hào với các giáo viên cách mạng. Đại học chứ có phải vườn bách thú đâu, làm gì có hang hùm ổ sói nào? Đúng là giật gân! Cho dù có, thì cũng không phải là chúng ta. Quan điểm của cậu không hề sai, chỉ là quá mức khoa trương câu khách. Nếu không phải thế, khẳng định sẽ có không ít học sinh ủng hộ quan điểm của cậu. Khoa trương câu khách, cậu đã biến quan điểm đúng đắn của mình thành quan điểm cô lập rồi. Về cá tính, khí chất, phong thái và tất cả mọi mặt khác, điều được mọi người tôn trọng chính là sự mộc mạc không phô trương. Cậu phải ghi nhớ điều này. Sau này phải quan sát nhiều hơn, phân tích nhiều hơn, suy ngẫm nhiều hơn nhé! Phúc Đán có quá nhiều chuyện đáng để suy ngẫm. Một trong những trách nhiệm của giáo viên chúng ta, chính là cố gắng bảo vệ học sinh của mình."

Lời nói của thầy khiến tôi vô cùng cảm động.

Bởi vì bài phát biểu lần ấy, cùng với tin tức "bè lũ bốn tên" bị đánh đổ vừa truyền đến Phúc Đán, tôi là người đầu tiên xông vào Ủy ban Đảng trường phản đối việc không cho chúng tôi ra khỏi khuôn viên trường tuần hành ăn mừng, trong bản sơ yếu lý lịch tốt nghiệp của tôi đã có thêm một dòng vô cùng có lợi và vô cùng quan trọng đối với tôi — "Từng đấu tranh với 'bè lũ bốn tên'".

Trong số mười sáu học sinh, chỉ có lý lịch của tôi là có dòng đánh giá như thế này. "Bè lũ bốn tên" đã bị đánh đổ vốn là con hổ chết.

Đá một cước vào con hổ chết thì cũng tính là dũng khí ư?

Ngẫm nghĩ kỹ lại, thật xấu hổ làm sao! Sự khen thưởng của chính trị dành cho con người sao mà hào phóng thế chứ! Chính trị, chính trị, từ đó tôi đã có sự ngộ tính đối với nó.

Nay đã ba mươi sáu tuổi. Lứa tuổi thích thể hiện từ lâu đã qua đi rồi. Cùng với lứa tuổi đa tình trôi qua mất. Từ những bài học của cá nhân, từ sự tầm thường của những kẻ thích thể hiện khác, tôi đã thể nghiệm được sự tầm thường này thực sự là một tổn hại lớn lao biết nhường nào đối với chính bản thân một con người. Thế là cũng học được một chút lòng tự trọng. Con người ta vừa từ bài học của chính mình mà phát hiện ra điểm yếu của bản thân, lại vừa từ sự tầm thường của người khác mà tổng kết ra nguyên tắc làm người cho chính mình. Đến tuổi tri thiên mệnh mà vẫn đại hoặc bất ngộ, khác nào thời kỳ mãn kinh của phụ nữ kéo dài vô tận. Thật là bất hạnh làm sao.

Tôi đã tận mắt chứng kiến không ít người và việc ở Phúc Đán mà ở những nơi khác không dễ gì nhìn thấy được.

Trong số các phó bí thư tổng chi khoa Trung văn, có một gã lùn cao tầm một mét rưỡi, giới tính nam, hơn ba mươi tuổi. Không biết là học sinh lưu trường hay đội tuyên truyền công nhân. Trông rất đê tiện. Tôi chưa từng thấy hắn cười bao giờ, lúc nào cũng nghiêm nghị một cách đê tiện như thế. Cứ như quyền lực cực kỳ lớn, đứng ngang hàng với đội trưởng đội tuyên truyền công nhân khoa. Bóng lưng khó lường. Từng đăng một bài cái gọi là tạp văn "Tán dương tinh thần 'sừng dê'" trên "Học tập với Phê phán", nghe nói rất được Trương Xuân Kiều tán thưởng. Kể từ đó, hình như thân giá lại càng nhân lên gấp bội, khiến người ta có cảm giác dù cậu không trêu không ghẹo hắn, hắn cũng lúc nào cũng muốn húc lén cậu một cái. Có lần tôi tận mắt nhìn thấy hắn đập bàn quát mắng một vị phó giáo sư ngay tại khoa, mang đậm hơi hướng kẻ nào thuận theo ta thì sống, kẻ nào chống lại ta thì chết. Hơn nữa hắn lại không có cổ. Nhìn thấy hắn trong khuôn viên trường, thấp tẹt ngạo mạn, nghênh ngang di chuyển tới, đê tiện mà nghiêm nghị trừng mắt nhìn cậu, đủ khiến người ta khó chịu rồi. Tôi thường phải tránh xa ba quãng, đi đường vòng. Không có đường vòng để đi, đành cúi gầm mặt xuống. Không phải vì sợ hắn đến mức độ ấy, mà là nhìn thấy hắn sẽ phá hỏng tâm trạng tốt đẹp lúc đó của cậu. Lẽ ra hắn nên đến một xưởng phim nào đó làm diễn viên đóng thế vai đặc biệt, vậy mà lại ngạo mạn tột cùng tung hoành ngang dọc trong đại học Phúc Đán đường đường chính chính. "Bè lũ bốn tên" thu nạp "hiền tài" đến mức cưng chiều cả lũ hề, khiến người ta thường xuyên cảm thấy vô cùng hổ thẹn và bi ai cho Trung Quốc, cho Phúc Đán.

Có một thành viên đội tuyên truyền công nhân, trưa hôm nọ vẫn còn dùng muỗng nhôm gõ vào bát sắt trong nhà ăn Phúc Đán, vừa ngâm nga kịch mẫu vừa xếp hàng mua cơm, thế nhưng ngày hôm sau đã nổi danh thiên hạ trên "Nhân dân Nhật báo", trở thành ủy viên dự khuyết Trung ương. Bản thân anh ta còn chẳng biết gì cả. Người khác mang báo tới cho anh ta, chỉ vào tên anh ta và hỏi: "Là cậu đấy chứ?" Anh ta đáp: "Mẹ kiếp tôi tài cán gì mà đòi làm ủy viên dự khuyết Trung ương!" Sau đó chứng minh quả thực là chính anh ta, hớn hở vui mừng lại nói với người khác: "Hồng Văn đối xử với tôi thật quá tử tế!" Hóa ra anh ta chính là tiểu đệ lúc Vương Hồng Văn khởi xướng nổi dậy. Họ Vương quả thực rất trọng tình nghĩa. Gà chó lên trời là chuyện bình thường. Hảo trách thời buổi đó rất nhiều người cho rằng chính trị là một sòng bạc vốn một lời mười. Bỏ vứt thể diện vứt cược lên trên.

Sau khi "bè lũ bốn tên" bị đánh đổ, có lần tôi gặp một người không bình thường trên xe buýt — một tác giả tiểu thuyết từng nổi đình nổi đám một thời ở Thượng Hải. Từng đến chuyên ngành của chúng tôi tọa đàm, cho nên tôi nhận ra. Tôi hỏi ông ta cuộc sống có dễ chịu không? Ông ta lại nói thật với tôi vài câu: "Cuộc sống không dễ chịu chút nào đâu. Thực ra nhóm người chúng tôi đây, vốn chẳng hề hứng thú gì với văn học. Chúng tôi là muốn thông qua văn học để bước tới chính trị. Thứ mà chúng tôi sùng bái chính là con đường Trương Diêu. Ấy kìa, tương lai mịt mờ như khói rồi đây..."

Kẻ chán chường nản lòng, thường hay thốt ra lời thật.

Có một thầy giáo nghiên cứu lý luận văn nghệ, đã để lại cho tôi ấn tượng khó phai mờ. Tôi tình cờ lật xem được một cuốn sách nhỏ của thầy trong thư viện khoa, xuất bản trước "Cách mạng Văn hóa", liền cầm đến thỉnh giáo thầy một vấn đề lý luận văn nghệ nào đó.

Nào ngờ thầy liên tục xua tay, có chút hoảng hốt nói: "Không phải tôi viết. Không phải tôi viết."

Tôi nói: "Người khác bảo chính là thầy viết cơ mà!"

Thầy càng hoảng hốt hơn: "Đồng âm trùng tên, đồng âm trùng tên!" Nói xong liền vội vã bỏ đi. Cậu bạn Tiểu Mạc tình cờ trông thấy cảnh tượng ấy, liền bảo tôi: "Cậu đừng có tự chuốc phiền phức nữa, cũng đừng mang phiền phức đến cho thầy ấy!"

Tôi nói: "Tôi lại làm sao nữa chứ? Chẳng qua chỉ là đến thỉnh giáo thầy ấy một vấn đề lý luận văn nghệ thôi mà!"

Tiểu Mạc nói: "Lý luận văn nghệ ở Trung Quốc chỉ có một — nguyên tắc sáng tác 'Tam đột xuất', cậu đi mà thỉnh giáo tôi đây này!"

Tôi hỏi: "Thầy ấy không muốn trả lời thì thôi, sao phải hoảng hốt thế chứ?"

Tiểu Mạc nhìn bóng lưng đã đi xa của thầy ấy với vẻ đồng tình, nói: "Bởi vì thầy ấy là một 'kẻ xấu' mà!"

Tôi càng thêm hoang mang khó hiểu.

Tiểu Mạc bèn kể cho tôi nghe: Nghe nói thầy vốn là bạn học của Từ Cảnh Hiền. Khi họ Từ chưa thành khí trên chính trường, hai người từng gặp nhau mở một cuộc họp gì đó. Từ Cảnh Hiền thích nghe truyện ma. Thầy ấy cũng giỏi kể truyện ma. Kể xong về phòng mình đi ngủ, nửa đêm Từ Cảnh Hiền đến gõ cửa, chỉ mặc mỗi quần đùi bước vào phòng thầy ấy, bảo rằng sợ ma, không dám ngủ một mình. Trong phòng vừa hay trống một chiếc giường, thế là Từ Cảnh Hiền ngày nào cũng ngủ chung phòng với thầy ấy. Từ Cảnh Hiền vừa sợ ma, lại vừa mê ma. Đêm nào cũng nài nỉ thầy ấy kể chuyện ma. Sau này Từ Cảnh Hiền làm phó chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng thành phố Thượng Hải, phe phái đối lập với Từ liền phái người đến Phúc Đán tìm vị giảng viên nghiên cứu lý luận văn nghệ này, muốn lấy từ miệng thầy ấy tài liệu để "pháo oanh". Giảng viên vốn là một mọt sách, không muốn cuốn vào vũng lầy chính trị, bị quấn lấy đến phiền phức, không sao thoát ra được, bèn vỗ vỗ túi áo nói: "Tài liệu đều ở đây cả. Chưa tới lúc. Lúc tới rồi, tài liệu tung ra, mười tên Từ Cảnh Hiền cũng lật nhào." Thật sự là lời nói giận dỗi lúc bấy giờ.

Từ Cảnh Hiền ngồi vững chiếc ghế phó chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng thành phố Thượng Hải, liền ra lệnh bắt giam thầy ấy, bị cách ly điều tra hơn nửa năm trời, ép thầy ấy phải khai thật, rốt cuộc nắm giữ những "tài liệu đen" nào về Từ? Xét hỏi tới lui, thầy ấy cũng chỉ khai ra được một điều — Từ Cảnh Hiền sợ ma. Cuối cùng không thể định tội danh gì, đành phải thả ra. Thả thì thả thật, Từ Cảnh Hiền vẫn canh cánh trong lòng đối với thầy ấy. Đường đường là phó chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng thành phố Thượng Hải lại sợ ma, suy cho cùng cũng là chuyện khiến người ta cười chê. Hơn nữa lại dễ khiến người ta sinh nghi: Rốt cuộc là người theo chủ nghĩa duy vật thật hay giả? Từ Cảnh Hiền liền hạ một khẩu dụ: "Người này là một kẻ xấu. Phải kiểm soát sử dụng, vĩnh viễn không được mang sinh viên."

Thế là chưa đậy nắp quan tài đã định luận xong, vị giảng viên này liền trở thành một "kẻ xấu" với tội danh trừu tượng trong khuôn viên Phúc Đán. Sau này mỗi lần tôi nhìn thấy thầy ấy, trong lòng lại càng thêm đỗi đồng tình. Thử nghĩ tội danh "kẻ xấu" này, đối với người tốt mà nói, chính là sự giày vò đến tận cùng. Nó quá dễ khiến người ta đoán mò đến những chuyện như đạo đức bại hoại, hủ hóa trụy lạc, và quan hệ lăng nhăng với phụ nữ. Hơn nữa bản thân lại là kẻ không thể giải oan với người khác. Kể lể một lần quá trình mình trở thành "kẻ xấu", chẳng khác nào lại tung ra một lần nữa luận điệu phó chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng thành phố Thượng Hải sợ ma, chẳng phải là càng xấu lại càng xấu, tội chồng thêm tội hay sao? Người khác cũng không thể giải oan giúp thầy ấy được. Chỉ đành mịt mờ mang theo một chữ "xấu" như thế. Trong mắt tôi, mái đầu hói một nửa ấy, cái trán mang trí tuệ kiểu Lenin ấy, bộ dạng lôi thôi lếch thếch ấy, hoàn toàn chính là một kẻ chỉ biết làm học vấn. Có chăng làm học vấn có hơi "cổ hủ" một chút. Ôi chao! Thảm thương thay! Cho đến tận bây giờ nghĩ lại, bi hài kịch và văn học đen tối, ẩn chứa biết bao nhiêu là chất liệu và sự gợi mở trong đời sống của người Trung Quốc, vậy mà sao lại đột ngột trỗi dậy ở nước ngoài thế kia? Chẳng phải là một tiếc nuối lớn của các nhà văn và nhà viết kịch Trung Quốc hay sao?

Giảng viên thành kẻ xấu, học sinh hóa ra lại là "vật thí nghiệm".

Trong số các bạn học có một nữ sinh tên Tiểu Phàn, người huyện Xuyên Sa, Thượng Hải, thôn nữ quê mùa. Thấp, béo, mặt tròn. Giống như "Tiểu Mễ Mụ" trong bộ phim hoạt hình thiếu nhi đang phát trên truyền hình hiện nay. Khá gớm ghớm, ai nói một câu không phải với cô ấy cũng không được. Đùa cợt là cô ấy tưởng thật. Hở ra là chặn họng cậu thế này: "Sao thế, coi thường con gái bần nông nghèo khổ của bọn tao à?" Thế nhưng tâm can lại rất tốt, vô cùng giàu lòng trắc ẩn. Trong số mười ngói học sinh, ba năm không nói một câu trái lòng mình, không làm một chuyện trái lòng mình, tôi cho rằng chỉ có duy nhất một mình cô ấy. Lúc "phê Đặng", mỗi một học sinh ít nhất đều từng dán một tờ đại tự báo mang tính biểu thái. Duy chỉ có cô ấy là ngoại lệ, không viết. Rất dứt khoát bảo: "Bọn tao viết không nổi đâu!" Nếu là học sinh khác, ít nhất cũng thuộc vấn đề lập trường đấu tranh tuyến đường. Còn đối với cô ấy, chẳng ai dám nâng tầm quan điểm lên mức đó. Chẳng ai làm gì nổi cô ấy.

Cô ấy quả thực là "viết không nổi".

Thầy giáo xếp tôi và cô ấy vào cùng một nhóm, giao cho tôi nhiệm vụ giúp cô ấy nâng cao "trình độ viết lách".

Lần đầu tiên tôi xem những thứ cô ấy viết, là bản tổng kết cá nhân học kỳ. Dấu câu cũng không biết dùng, cứ một dấu "phẩy" đi tuốt tuồn tuột đến cùng, tận cùng là một dấu chấm tròn đặc. Còn nét chữ thì giống như mạ cấy dưới ruộng, đồng loạt nghiêng ngả "mọc" trong ô li, tựa như từng chữ một được xới từ dưới lên trên. Toàn bài có tới một phần tư số chữ là dạng nửa chữ nọ nửa chữ kia, cụt tay cụt chân. Ngữ pháp thì lại càng khỏi phải bàn. Tôi muốn giúp cô ấy chấm lại dấu câu, nhưng lực bất tòng tâm. Cứ một dấu "phẩy" đi tuốt tuồn tuột đến cùng, đọc vẫn còn hiểu được. Nếu ngắt câu lại từ đầu, thì chẳng có một câu nào nghĩa là trọn vẹn cả.

Tôi vô cùng kinh ngạc, hỏi: "Cậu học mấy năm rồi?"

Đáp rằng: "Sơ một."

Lại hỏi: "Sao cấp hai còn chưa học xong?"

Đáp rằng: "Mẹ mất, trong nhà thiếu lao động, giúp bố kiếm điểm công."

Lại hỏi: "Thầy giáo ngữ văn dạy cậu chưa từng giảng cho cậu cách sử dụng dấu câu thế nào à?"

Đáp rằng: "Ai mà có kiên nhẫn học mấy thứ đó cho đàng hoàng chứ?"

"Tại sao?"

"Không học mấy cái đó thì không lấy được chồng chắc?"

Tôi ngẩn ngơ nhìn cô ấy, hồi lâu không biết nói gì.

Cô ấy bảo đối diện Sùng Minh là Đài Loan. Tôi nói cho cô ấy biết không phải. Thế là cô ấy tranh cãi với tôi không dứt. Cãi đến mức tôi đành phải bảo đúng đúng đúng.

Mãi về sau tôi mới biết được, Trương Xuân Kiều từng có "chỉ thị" gì đó đối với khoa Trung văn Phúc Đán, muốn tuyển một học sinh có học vấn rất thấp, hoàn toàn không biết "văn học" là gì, bồi dưỡng rèn giũa cô ấy thành nhà văn. Nhằm phá vỡ "thuyết thần bí văn học", "thuyết thiên tài nhà văn". Cô ấy chính là "vật thí nghiệm" được tuyển vào Phúc Đán theo chỉ thị như thế.

Sau khi biết được ngọn ngành này, tôi thường cảm thấy bi ai thay cô ấy. Về sau các bạn học hầu như đều biết cả, thế nhưng không một ai nói cho cô ấy biết. Bản thân cô ấy không biết, thế nên từ đó chưa từng đau buồn. Trợ cấp hàng tháng mười bảy đồng rưỡi, ăn uống rất tiết kiệm, vậy mà lại có thể tiết kiệm được gần một nửa số tiền. Không mua sách. Mua quần áo. Nói với tôi rằng: "Hai tháng sắm một bộ quần áo, ba năm ba mươi sáu tháng, tôi ít nhất cũng sắm được hơn chục bộ quần áo đúng không? Đến lúc sau này kết hôn, thì không cần phải tự sắm quần áo nữa."

Tôi hỏi: "Cậu có đối tượng rồi à?"

Cô ấy thành thật gật đầu, bảo: "Vẫn chưa chốt."

Hỏi: "Sao vẫn chưa chốt?"

Đáp: "Nếu tôi được phân công ở Thượng Hải, thì đá quách nó đi! Chốt rồi, sau này muốn đá cũng không đá được nữa."

Hỏi: "Cậu ấy yêu cậu lắm à?"

Đáp: "Đương nhiên rồi, toàn công xã chúng tôi, mấy năm nay mới ra được mỗi một đứa sinh viên đại học là tôi đấy."

Cô ấy tín nhiệm tôi hơn các bạn học khác, sẵn sàng kể chuyện thật.

Tôi từng là giáo viên tiểu học ở Đại Hoang Bắc, bèn bắt đầu giúp cô ấy nâng cao "trình độ viết lách" từ cách sử dụng dấu câu. Ba năm nay, tôi cảm thấy mình đã làm tròn nghĩa vụ của một người bạn học đối với cô ấy, không thiếu sự kiên nhẫn. Lúc tốt nghiệp, ngoài dấu phẩy và dấu chấm ra, cô ấy còn biết sử dụng dấu hai chấm, dấu ngoặc kép, dấu chấm than rồi. Chữ viết vẫn y như cũ, chẳng thấy tiến bộ gì. Những nét chữ khuyết tật trên đống hoang tàn văn hóa của cô ấy, vẫn cứ có thể cấu thành một "vương quốc độc lập".

Có năm dịp Tết Đoan Ngọ cô ấy từ Xuyên Sa quay lại trường, mang về cho tôi hơn chục cái bánh ú nhân thịt. Tôi bảo: "Đừng cho tôi hết chứ, chia cả cho các bạn học khác nữa chứ."

Cô ấy bảo: "Hừ, cho bọn nó cái thá gì!"

Cô ấy cảm thấy tất cả các bạn học đều coi thường cô ấy — "đứa con gái của bần nông". Thực ra phần lớn các bạn học không hề coi thường cô ấy, mà là thương hại cô ấy. Cô ấy hình như chẳng thấy bản thân mình có gì đáng thương hại cả. Ba năm nay luôn "vạch rõ ranh giới" với các bạn học.

Lúc làm lý lịch tốt nghiệp tập thể, trong số mười sáu học sinh, đối với mười lăm học sinh cô ấy ngậm tăm không nói một lời. Chỉ riêng với một mình tôi là cô ấy phát biểu, nêu ra ba ưu điểm. Sau đó, cô ấy tìm riêng tôi, bảo: "Tôi thế này coi như báo đáp cậu rồi chứ?" Chỉ một câu nói, vậy mà lại cảm động đến mức suýt chút nữa tôi rơi nước mắt.

Ba năm, ba ưu điểm. Cả mấy cái bánh ú nhân thịt ấy nữa... Cô ấy là một cô gái lấy ơn báo ơn, lấy oán báo oán. Hơn nữa lòng tự trọng lại cực kỳ cao.

Sự giúp đỡ cái gọi là của tôi dành cho cô ấy trong suốt ba năm, thực sự chẳng đáng để báo đáp. Đối với việc nâng cao "trình độ viết lách" của cô ấy, cũng chẳng có tác dụng gì mấy. Tôi là lực bất tòng tâm.

Tôi vốn định nói cho cô ấy biết, tại sao cô ấy lại được tuyển vào Phúc Đán. Nhưng rốt cuộc vẫn không nói cho cô ấy biết. Tôi nghĩ nếu cô ấy biết rồi, chắc chắn sẽ khóc một trận lớn. Cớ gì phải để cô ấy rời khỏi Phúc Đán sau ba năm với một tâm hồn mang vết thương sâu sắc chứ?

Lúc cô ấy rời trường, ngoại trừ tôi ra, không có người bạn học thứ hai nào đi tiễn cô ấy cả. Bởi vì cô ấy không thèm chào tạm biệt các bạn học.

Tôi tiễn cô ấy mãi đến tận bến xe buýt. Cô ấy thế mà lại có chút bịn rịn lưu luyến không nỡ rời xa tôi. Bỗng nhiên cô ấy khóc, nói: "Thực ra từ lâu tôi đã biết chuyện tôi được vào Phúc Đán là thế nào rồi, coi tôi như 'vật thí nghiệm' chứ gì, cho nên tôi cứ mặc sức không chịu học hành chăm chỉ, để bọn chúng phải cụt hứng..." — "Bọn chúng" — đương nhiên không chỉ các thầy cô giáo. Các thầy cô đều rất quan tâm đến cô ấy, bản thân cô ấy cũng vô cùng cảm kích điều đó. Bất kỳ "chỉ thị" nào của Trương Xuân Kiều cũng đều là mệnh lệnh của Phúc Đán. Các thầy cô không có sức kháng cự. Còn bản thân cô ấy, ba năm nay chẳng qua chỉ dùng một thứ tâm lý tiêu cực, chế giễu sự đùa cợt của chính trị đối với số phận của mình mà thôi.

Chính trị đùa cợt con người, giống như mèo đùa cợt chuột.

Cô ấy vẫn chưa phải là "học viên công nông binh" đáng thương nhất. Người đáng thương nhất là một nữ sinh người Tây Tạng thuộc chuyên ngành bình luận. Trình độ văn hóa không cao hơn Tiểu Phàn là bao, là mẹ của hai đứa trẻ. Sau khi vào trường mang theo áp lực, lại nhớ con, không có hứng thú với bình luận văn học, giống như kẻ mù không có hứng thú xem phim. Nhiều lần xin thôi học, đội tuyên truyền công nhân không đồng ý, Ủy ban Đảng không phê chuẩn. Cô ấy là con gái của nông nô, cho rằng thôi học là vấn đề "tình cảm giai cấp".

Có hôm tôi bê chậu rửa mặt ra phòng nước giặt quần áo, thấy cô ấy thẫn thờ đứng ngẩn ngơ bên cửa sổ hành lang tầng ba. Quần áo còn chưa giặt xong, liền nghe "xoảng" một tiếng, thứ gì đó từ trên lầu rơi xuống đập trúng vào cái cây. Tôi cảm thấy âm thanh đó không lành, đầy tay bọt xà phòng lao vắng ra khỏi phòng nước — bóng dáng cô ấy đã biến mất khỏi cửa sổ hành lang. Nhìn qua cửa sổ cúi xuống, dưới lầu là thân xác cô ấy đang nằm.

Cô ấy ngã chết rồi...

Những con người này, những chuyện này, dần dần khiến tôi nhận thức được rằng, Phúc Đán không thể thỏa mãn khát khao hiểu biết mãnh liệt của tôi được. Thứ mà nó có thể cho tôi chỉ là một loại khác: gia nhập Đảng, nơi phân công lý tưởng, bàn đạp chính trị. Muốn bao nhiêu chiếc? Nó có thể cho cậu bấy nhiêu chiếc! Nhưng cần phải dùng "hành động thực tế" tương đương để đổi lấy. Sau khi để lại ấn tượng ban đầu không tốt cho đội tuyên truyền công nhân, đối với tôi mà nói, để đổi lấy những thứ đó, phải "lột xác biến hóa", bôi thêm mấy lớp màu tương phản lên mặt mình.

Tôi không có đủ sự tự tin và đủ dũng khí. Bán rẻ bản thân rốt cuộc cũng cần một chút dũng khí. Bán rẻ bản thân một cách triệt để lại càng cần dũng khí lớn.

Tôi chỉ mong bản thân có thể bình yên vô sự trải qua ba năm ở Phúc Đán.

Tôi nghĩ, mình cứ làm tròn bổn phận một chút thì tốt hơn.

Thế nhưng khi "bổn phận" muốn trở thành một nguyện vọng và nguyên tắc của một con người, lại còn cần phải nhận được sự ân huệ khách quan. Khách quan không phát "giấy phép", chủ quan liền giống như một cô gái bị kẻ lưu manh quấn lấy...

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 7 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.