Những con đường làng ngập bùn gần đến mắt cá chân. Mưa phùn lất phất nay đã chuyển thành một trận mưa xối xả đều đặn. Chiếc xe ngựa như nuốt chửng trong màn đêm. Thật may là Jefferies nắm rõ con đường và tính nết những con ngựa ông đang điều khiển. Ông tặc lưỡi thúc giục và gọi tên chúng, còn chúng cứ thế lầm lũi tiến bước qua vũng bùn lầy.
Ngay khi hai cô gái vừa ngồi vào xe, những tấm chăn chống bão được kéo quanh người họ, Elizabeth liền quay sang người bạn đồng hành với vẻ đầy hỏi han. Cô run lên vì sự phấn khích đang nén lại.
Ngược lại, Nora hoàn toàn bình tĩnh. Cô đã vạch sẵn kế hoạch cho mình, và giờ đây đã thấy rõ con đường để thực hiện chúng. Sự tự tin giúp cô tránh được những hoảng hốt không cần thiết.
Tuy nhiên, thấu hiểu tâm trạng của Elizabeth, cô lập tức giải thích tình hình ở Bitumen. Cô đủ khéo léo để chỉ kể cho bạn nghe những điều cần thiết phải biết. Cô cũng cảnh báo Elizabeth phải cẩn trọng lời ăn tiếng nói nếu có ai chặn họ dọc đường.
“Nếu chúng ta gặp những công nhân đình công, họ sẽ giúp đỡ chúng ta vì tớ là con gái của Dennis O’Day. Nhưng họ không được biết cậu là ai. Ngược lại, nếu gặp bất kỳ ai khác, cậu phải khiến họ ấn tượng rằng cậu là đứa con duy nhất của Giám đốc Hobart, và cậu buộc phải đến Bitumen tối nay.”
Quay sang Jefferies, cô giục ông tiếp tục thúc ngựa. “Tớ biết chiếc xe ngựa sẽ hỏng bét, và lũ ngựa sẽ bị cứng khớp cả tuần hoặc lâu hơn thế; nhưng tớ sẽ đền bù khoản đó. Hãy đưa chúng tôi đến Bitumen trước khi trời sáng, còn ông McCantey muốn tính hóa đơn bao nhiêu cũng được.”
Dù xe chạy nhanh hết mức có thể, với Elizabeth, nó chậm như một con sên. Cô chẳng thể nhận thức được điều gì ngoài việc cha mình đang gặp nguy hiểm. Sau khi nghe những lý do của Nora cho chuyến đi đột ngột này, cô không nói một lời nào mà ngồi cứng đờ, hai tay đan chặt vào nhau trên đùi. Cô chồm người về phía trước, cố gắng xuyên qua màn đêm trên con đường phía trước. Mưa quất vào mặt cô. Chiếc mũ và mạng che mặt đã ướt sũng nhưng cô chẳng hề bận tâm.
Quyết định làm cho chuyến đi đỡ phần căng thẳng đôi chút cho Elizabeth, Nora duy trì việc trò chuyện không dứt. Nội dung chẳng mấy quan trọng; miễn là không có sự im lặng, dẫu rằng Elizabeth có nghe hay không thì cũng chẳng khác nào một cỗ tượng gỗ. Họ rời khỏi vùng đồng bằng và bắt đầu leo lên núi. Con đường hẹp đến mức những khúc gỗ lớn đã được đặt dọc theo mép ngoài để đảm bảo an toàn.
Lần đầu tiên kể từ khi chuyến đi bắt đầu, Jefferies lên tiếng: “Chúng ta nên đi nhanh hơn ở đoạn này. Đường sá đã quen thuộc hơn, và chúng ta đã có thể làm thế nếu tôi nhìn rõ dù chỉ một thước trước mặt. Tôi sẽ để mặc cho lũ ngựa đi theo nhịp của chúng—chúng đủ vững chãi. Tất cả những gì chúng ta phải làm là phó mặc cho Trời Phật. Tôi sẽ đưa hai cô đến đó hoặc là kiệt sức vì lũ ngựa.”
Cuối cùng, tại lối mở của một khe núi nhỏ, con đường rộng ra. Lược ngựa lao vút về phía trước.
Đột nhiên Elizabeth, vẫn háo hức nhìn về phía trước, thốt lên: “Tớ thấy một ánh đèn! Trông giống như ngọn đèn lồng.”
Tiếng móng ngựa lộc cộc trên những hòn đá vang lên rõ mồn một. Jefferies kéo cương dừng lại. Ông nghiêng người sang một bên để dò xét xung quanh. “Tôi đang cố xem chúng ta đang ở đâu. Ồ, không sao cả. Ánh đèn đó không phải đèn lồng đâu. Đó là nơi ở của Ketchomunoski. Chúng ta cứ đi tiếp. Lão ta có thể ra ngoài nếu nghe tiếng xe đi qua. Tôi sẽ đi chậm lại và quất roi ngay khi tới túp lều của lão.”
“Lão ta là thợ mỏ à?” Nora là người cất tiếng hỏi.
“Đúng vậy.”
“Hạ mạng che mặt xuống, Elizabeth, và đừng nói một lời nào với lão. Để tôi lo việc nói chuyện.”
Cô vừa dứt lời thì ánh sáng chập chờn liền chuyển ra giữa đường, chắn ngay lối đi của họ. Ketchomunoski, tay cầm đèn lồng, đã chặn đường họ lại.
Jefferies thừa sức thúc ngựa tiến lên, mặc cho tên người Ba Lan lực lưỡng chịu rủi ro bị giày xéo dưới móng ngựa. Nhưng Jefferies là một người ôn hòa, chừng nào sự ôn hòa còn hữu dụng. Nếu mưu mẹo có tác dụng, ông thích dùng nó hơn là chiến tranh; còn nếu không, ông sẵn sàng cho phương án cuối cùng. Khi thấy ngọn đèn lồng khua khoắn, ông liền kìm cương, cất giọng thân thiện: “Cậu đấy hả, John?” Đó là cái tên chung mà người ta dùng gọi mọi người ngoại quốc. “Lại đây nào, tôi muốn nói chuyện với anh.”
Tên người Ba Lan tiến lại phía xe ngựa. “Chúng tôi phải đến Bitumen, John, và phải đến đó trong đêm nay. Đường sá thế nào rồi?”
“Không ai được đi đến đó tối nay,” hắn đáp bằng thứ tiếng Anh bập bõm. Hắn có nhiệm vụ canh gác con đường. Đám đàn ông đang ở phía trên. Hắn sẽ bắn súng nếu có bất kỳ kẻ khả nghi nào đi qua. Họ không thể tiếp tục đi được. Đó là ý chính trong lời nói của hắn.
Chồm người về phía trước, Nora chạm tay lên cánh tay gã đàn ông. “Anh không nhận ra tôi sao?” cô nói. “Tôi là con gái của Dennis O’Day. Lắng nghe đây! Tôi phải gặp cha mình ngay lập tức. Ngay lập tức, anh hiểu chứ? Tôi có một thông điệp cần chuyển cho ông ấy, việc này sẽ ảnh hưởng đến cuộc đình công. Nhưng tôi bắt buộc phải gặp ông ấy. Hãy bắn súng đi, và để những người thợ mỏ ra gặp chúng tôi. Tôi muốn họ đưa tôi đến chỗ cha mình.”
Cô vẫn đặt tay lên cánh tay gã trong lúc nói. Cô nhìn thẳng vào mắt hắn, như thể bằng chính sức mạnh ý chí của mình, cô muốn ép hắn phải làm theo mệnh lệnh của cô. Lời nói của cô ném một luồng ánh sáng hoàn toàn mới vào sự việc. Tuy nhiên, vào những thời điểm như thế này, chẳng thể tin lời của bất kỳ ai.
“Tôi đã gặp cô ở đâu nhỉ?” hắn hỏi, nheo mắt nhìn cô chằm chằm.
Khuôn mặt cô đỏ bừng, nhưng cô vẫn dũng cảm đáp lời. “Anh có nhớ hai năm trước, anh đã đến tìm cha tôi để nhờ giúp đỡ không? Một người trong số đồng hương của anh bị giam trong tù—hình như ai đó bị thương, thậm chí bị giết. Một người Ý tên là De Angelo. Và cha tôi đã đến tòa án cùng anh để chứng minh rằng Gerani, tôi nghĩ đó là tên hắn, không có mặt ở đó khi người Ý bị thương. Tôi ở nhà khi anh đến.”
Gã đàn ông gật đầu. Giờ thì trong đầu hắn không còn chút nghi ngờ nào nữa. Cô chính là con gái của Dennis O’Day, con người dẫu không phải thợ mỏ nhưng luôn sát cánh bên họ mỗi khi họ cần một người bạn. Cô thấy hắn chần chừ.
“Nếu anh sợ không dám cho chúng tôi qua, hãy bắn súng lên, và báo cho những người thợ mỏ biết chúng ta đang tới. Tôi không sợ họ đâu. Họ sẽ đối xử tốt với tôi.”
Hắn bước sang một bên. Ngay khoảnh khắc đó, Jefferies quất mạnh roi xuống lưng ngựa, và chúng chồm lên phía trước.
“Chúng ta đã cắt đuôi được hắn,” Nora thốt lên. “Tôi chẳng sợ bất kỳ ai khác nữa. Tôi sẽ đến Bitumen và gặp cha trước khi trời sáng.”
“Và cứu lấy cha tớ nữa,” Elizabeth nói.
“Elizabeth Hobart, cha cậu hoàn toàn an toàn. Chắc chắn ông ấy đang ở nhà ấm áp và thoải mái trên giường, trong khi chúng ta, những sinh linh tội nghiệp, lại phải lăn lộn giữa đêm hôm mưa gió, ướt sũng và bơ vơ.”
Họ vừa đi lên con đường núi chưa đầy một dặm thì tiếng súng đanh gọn vang lên. Có một khoảng lặng ngắn, tiếp nối bằng phát súng thứ hai.
“Ketchomunoski đang phát tín hiệu báo chúng ta đến đấy,” Nora nói. “Tớ bắt đầu thấy mình có chút quan trọng rồi đây. Đây là lần đầu tiên sự xuất hiện của tớ được kèn trống chào mừng đấy.” Rồi cô nghiêm túc hơn: “Tớ muốn biết hai tiếng súng ấy có ý nghĩa gì. Sao chỉ một phát lại không đủ nhỉ? Cậu có biết không, Jefferies?”
Nhưng Jefferies chẳng biết gì cả. Ông thậm chí còn chẳng buồn đưa ra ý kiến về vấn đề đó. Ông không có thời gian cho những phỏng đoán vẩn vơ. Công việc của ông là giữ cho lũ ngựa tiếp tục chuyển động. Và ông đã làm thế, vừa tặc lưỡi khích lệ vừa chạm nhẹ roi lên mình chúng.
Dù trên con đường núi không có bùn lầy, bởi đoạn dốc đứng thoát nước rất tốt, nhưng việc di chuyển vẫn vô cùng khó khăn ngay cả với những con ngựa khỏe mạnh và sung sức. Lòng Jefferies quặn thắt khi ông giục giã chúng. Ông thừa biết những con ngựa mình đang điều khiển sẽ trở nên vô tích sự trong nhiều tuần tới, nhưng nếu tính mạng con người đang ngàn cân treo sợi tóc, thì lũ ngựa phải dốc sức chạy hết mình, dẫu cho chúng có ngã quỵ ra chết ở cuối chặng đường.
Đường từ chân núi lên đến đỉnh dài từ ba đến bốn dặm. Nó được khoét sâu vào sườn đồi và hẹp đến mức các xe ngựa không thể tránh nhau trừ ở một số đoạn nhất định, được mở rộng vừa đủ để làm chỗ "tránh xe".
Jefferies đã dừng lại ở một trong những chỗ như thế để cho ngựa nghỉ ngơi. Ngay lập tức, chúng chồm lên và suýt nữa đã giật lùi chiếc xe lao xuống vực bên vách núi, nếu người đánh xe không giữ được sự bình tĩnh để trấn an chúng, đồng thời rướn người vỗ về những sườn hông đẫm mồ hôi của chúng. Sau khi dỗ dành chúng đứng yên, ông lớn tiếng quát: “Bây giờ mà mấy tên tụi bay còn dám tới giật dây cương một lần nữa xem, tao sẽ cho tụi mày thấy tao bắn chuẩn đến mức nào đấy. Lũ ngựa không thích người lạ lảng vảng táy máy quanh chúng đâu. Tụi mày có gì muốn nói thì cứ đến sát bên mà nói. Nhưng nhớ cho kỹ, tụi này không có hứng chơi đùa đâu nhé. Có đến không? Không thì tao đánh xe đi tiếp đấy.”
“Ông có mang theo súng lục không?” Elizabeth thì thầm.
“Cô không nghĩ là tôi lại dám đi chuyến thế này mà không mang theo một khẩu chứ?” câu trả lời vang lên.
Theo lời mời của ông, những bóng đen từ trong bụi cây và sau thân cây bắt đầu lộ diện. Khi họ tiến lại gần, trông như thể cả con đường đã chật kín người. Họ áp sát, giơ cao những chiếc đèn lồng để soi mặt những người ngồi trên xe. Trông họ thật thảm hại. Mùa đông đã vắt kiệt sức họ, dẫu đó cũng là do lỗi của chính họ. Họ chẳng có gì để ăn; người nào người nấy gầy gò hốc hác; mắt trũng sâu; má hóp lại. Họ lầm bầm bằng thứ ngôn ngữ của riêng mình, quay sang nhìn nhau đầy cảnh giác.
Elizabeth đầy lo lắng nhận ra rằng một số kẻ mang theo súng ống, trong khi những kẻ khác cầm gậy gộc và thậm chí cả đá. Cô sợ đến mức dù tính mạng có ngàn cân treo sợi thật cô cũng chẳng thốt nên lời. May thay, Nora lại hoàn toàn khác. Elizabeth co rúm người lại ở ghế sau. Nora chồm người về phía trước, với một phong thái cho thấy khả năng tự bảo vệ cùng niềm tin vững chắc vào họ, cô cất tiếng bắt chuyện với đám đông.
“Tôi rất vui vì chúng ta gặp được các anh,” cô thốt lên. “Các anh là thợ mỏ phải không? Vậy thì các anh có thể chỉ cho tôi cách đến chỗ ông Dennis O’Day. Tôi phải gặp ông ấy tối nay—chỉ trong vài tiếng nữa thôi. Tôi có một thông điệp cần gửi cho ông ấy.”
Họ xì xào bàn tán với nhau.
“Thông điệp gì thế?” một kẻ hỏi bằng thứ tiếng Anh bập bõm.
“Không thể kể cho bất kỳ ai nghe được,” cô đáp. “Nếu các anh nói cho tôi biết ai là người lãnh đạo của mình, tôi sẽ thì thầm điều đó với riêng người ấy.”
“Ivan,” bọn họ đồng thanh hét lên, đẩy một tên người Slav lên phía trước, rồi lùi dần vào bóng râm.
Cú người xuống, Nora thốt lên từ “Dân quân”.
Từ ấy có sức mạnh như phép thuật. Sau đó cô tỏ ra sốt ruột. “Sao các anh cứ cố giữ chúng tôi ở đây làm gì?” cô thốt lên. “Chẳng phải Ketchomunoski đã bắn hai phát súng đó sao? Chẳng phải để cho các anh biết chúng tôi sẽ đi con đường này và các anh phải để chúng tôi qua đường hay sao? Chúng ta đang lãng phí thời gian đấy. Tôi phải mang thông điệp này đến gặp cha mình. Chào các anh! Jefferies, đánh xe đi.”
Đám đông không hề có động thái nào cản trở khi chiếc xe ngựa bắt đầu chuyển bánh. Đã qua một giờ đêm khi họ lên đến đỉnh núi và tới vùng ngoại ô thị trấn. Quán “The Miners’ Rest” cách đó chưa đầy một dặm. Nhưng lũ ngựa đã kiệt sức. Jefferies không tài nào thúc chúng đi nhanh hơn bước chân chậm chạp.
“Chúng ta sẽ đến thẳng ‘The Miners’ Rest’,” cô O’Day nói. “Tôi sẽ gặp cha mình ở đó. Nếu đám thợ mỏ đang mưu tính rắc rối gì, bọn chúng cũng sẽ có mặt ở đấy thôi.”
Đánh xe rẽ vào một khu rừng nhỏ, Jefferies kéo cương dừng lại. Trèo từ trên chỗ ngồi xuống, ông lấy ra một sợi dây da và buộc lũ ngựa vào gốc cây.
“Họ sẽ không để chúng ta đánh xe qua thị trấn đâu,” ông giải thích. “Các con phố sẽ chật ních những kẻ đình công. Chúng ta sẽ đi bộ, nấp vào những chỗ khuất bóng râm. Thật là một ơn phước lớn cho chúng ta khi trời mưa đấy.”
Ông giúp hai cô gái xuống xe, đoạn sải bước đi trước, đi men theo rìa khu rừng.
“Nếu thấy tôi dừng lại, hai cô cũng phải dừng lại nhé,” ông dặn dò. “Đừng bước tiếp cho đến khi tôi bảo. Nếu nghe thấy tôi nói chuyện với ai, hãy đứng chờ và tuyệt đối không lên tiếng.”
Nắm chặt tay nhau, hai cô gái chậm rãi bước theo sau. Ven đường ngập tràn những cục đất sét đóng cục. Bản thân con đường thì bùn lầy ngập tận cổ giày. Không biết bao nhiêu lần họ vấp ngã và suýt ngã nhào. Họ chỉ có thể thỉnh thoảng thoáng thấy bóng dáng người dẫn đường của mình.
Khi đến con phố chính, Jefferies dừng lại. Nơi đây đặc quánh thợ mỏ, trên đầu ai nấy đều đội mũ gắn đèn lồng. Nhờ những ánh sáng đó, Jefferies có thể định hình được bước đi tiếp theo của mình. Ông thấy đám đông đang dồn về hướng nào. Tiếng lầm rầm của vô số giọng nói vọng lên; nhưng không hề có tiếng hỗn loạn nào.
“Phụ nữ hoặc là ra đường cùng đàn ông, hoặc đang ở nhà ngủ cả rồi,” cuối cùng ông nói. “Dù thế nào thì chúng ta cũng an toàn. Chúng ta sẽ băng qua đây, nấp sau dãy nhà này rồi cứ thế đi tiếp cho đến khi sát cạnh ‘The Miners’ Rest’. Lúc ấy họ sẽ thấy chúng ta. Nhưng kệ họ, chẳng sao cả.”
Họ chậm chạp lách qua những khoảng sân sau. May thay không có hàng rào ngăn cách nào cả. Dưới chân họ là những đống tro tàn và vỏ đồ hộp thừa thãi từ mùa đông. Họ vấp ngã, va vào thùng phuy và hộp gỗ, lội qua những vũng bùn, thế nhưng tinh thần của Nora chưa bao giờ chùn bước.
Khi họ đến ngôi nhà cuối cùng, Jefferies lại dừng chân chờ Nora và Elizabeth tiến kịp đến chỗ mình.
“Ở góc kia chính là ‘The Miners’ Rest’,” ông nói, chỉ tay về phía một tòa nhà gỗ thấp lè tè.
“Cái chỗ xập xệ thế kia á!” Nora kêu lên. “Không hiểu sao tớ cứ tưởng tượng nó là một khách sạn lớn cơ đấy.”
“Thợ mỏ thì chẳng cần cái loại to tát ấy đâu,” câu trả lời vang lên. “Đây chỉ là một quán rượu, chẳng hơn không kém. Mọi gã thợ mỏ ở Bitumen đều có mặt ở đó cả đấy. Hãy nhìn đám phụ nữ kìa. Bọn họ còn ghê gớm hơn cả đàn ông nữa.”
Một nhóm phụ nữ tóc tai rũ rượi, mặc những chiếc áo choàng nhếch nhác và quàng khăn trên vai, đang đứng túm tụm dưới ngọn đèn đường chập chờn góc phố. Nhìn qua những cử chỉ khua tay múa chân của họ, có thể thấy họ đang vô cùng kích động. Tất cả đều nhao nhao lên nói và giơ những nắm đấm siết chặt đầy thách thức.
“Hai cô có sợ phải băng qua đám đông đó không?” Jefferies hỏi.
“Không; bây giờ chúng ta chẳng dám sợ bất cứ điều gì nữa rồi. Cứ xông lên đi, Jefferies, đi thẳng đến cửa, rồi cứ thế tiến vào trong cho đến khi tôi tìm thấy cha mình. Đừng dừng lại nhé. Bọn tôi sẽ bám sát gót ông. Kéo mạng che mặt xuống đi, Elizabeth, và dựng cổ áo lên. Đừng nói gì hay hé lộ thân phận của mình nhé. Nhớ là đám thợ mỏ đều biết mặt cậu đấy.”
Làm theo lời cô, Jefferies băng qua đường, len lỏi qua đám đông tựa như ông vốn dĩ đã được mong đợi từ trước. Hai cô gái bám sát phía sau, sát đến mức Nora chỉ cần với tay là có thể chạm vào cánh tay ông. Đám đông đàn ông hầu như chẳng thèm chú ý đến ông. Quả thực, rất ít kẻ nhận ra có hai cô gái đã luồn lách qua đám đông. Họ đang nói chuyện bằng nửa tá ngôn ngữ và thổ âm khác nhau. Cảm giác hệt như một bầy chó đang gầm gừ. Không một ai có ý định cản đường cả ba người. Họ đã tới cửa và Jefferies bước vào trong, theo sau là hai cô gái. Má Nora đỏ bừng vì ngượng ngùng. Cô đang run lên. Hệ thần kinh của cô đã bị vắt kiệt đến mức chỉ chực khóc òa. Nhưng làm thế sẽ phá hỏng tất cả. Cô phải tự chủ lại bản thân.
Phía sau quầy bar là một căn phòng dành riêng cho các cuộc họp của những kẻ cầm đầu cuộc đình công. Jefferies tiến thẳng về phía cánh cửa dẫn vào căn phòng đó. Những gã đàn ông trong quán rượu ngừng nói chuyện để nhìn chăm chú vào hai cô gái. Thật là hiếm khi thấy phụ nữ xuất hiện ở nơi này.
Cảm thấy mình đang bị chú ý, với mong muốn vừa để biện minh cho sự hiện diện của bản thân vừa để bảo vệ chính mình và người bạn đồng hành, Nora thốt lên: “Cha tôi đang ở trong căn phòng đó, ông Jefferies. Hãy gọi ông O’Day ra. Nói với ông ấy rằng con gái ông đã đến mang theo một thông điệp quan trọng.”
Đám đàn ông dạt sang một bên, nhường lối đi cho cô. Lời nói của cô đã vọng thấu vào căn phòng bên trong. Cánh cửa bị đẩy tung ra từ phía trong, và Dennis O’Day xuất hiện ở đó.
“Con!” ông thốt lên. “Trời đất ơi, Nora, sao con lại đến đây vào cái giờ này thế? Lại đây nào,” và ông kéo hai cô gái vào trong căn phòng bên trong. Ông lập tức ra lệnh cho nửa tá gã đàn ông đang tụ tập ở đó rời đi. “Trong vòng nửa tiếng nữa,” ông nói với giọng đầy ẩn ý khi họ lùi bước đi ra ngoài. “Không sớm hơn một phút nào đâu. Ta phải xem thứ gì đã đưa con gái ta đến đây cái đã.”
Elizabeth, người ướt sũng với tà áo nhếch nhác, ngã sụp xuống chiếc ghế. Cô vẫn chưa vén mạng che mặt lên. Dennis O’Day không nhận ra cô chính là cô bé mà ông đã từng thấy chơi đùa quanh sân của nhà giám đốc nhiều lần. Cô kiệt sức đến mức không thể đứng vững nổi. Cô buông thõng đầu gục xuống mặt bàn.
Dennis O’Day đảo mắt nhìn từ dáng hình đang rũ rượi kia quay sang cô con gái như đang muốn tìm kiếm một lời giải thích. “Người bạn thân nhất của con ở Exeter đấy, thưa cha,” câu trả lời vang lên nhằm giải đáp cho thắc mắc không thành lời ấy. “Chẳng có ai trên đời này, ngoài chính cha ra, đối xử tốt với con đến thế.” Cô tiến lại gần Dennis O’Day hơn, chạm đầu ngón tay lên tay áo ông. Thế giới nhỏ bé của ông từ trước đến nay vẫn luôn run rẩy trong sự sợ hãi trước mặt ông. Chỉ duy nhất cô con gái là đứng thẳng lưng không chút sợ hãi trước mặt ông. Con bé là sinh linh duy nhất trên đời mà ông yêu thương. Trong khoảnh khắc, ông nhìn vào khuôn mặt cô. Những đường nét hoàn hảo cùng sắc diện rực rỡ của cô khiến ông vô cùng hài lòng. Ông cảm thấy thật may mắn vì con mình rất xinh đẹp.
“Nào Nora, điều gì đã đưa con đến Bitumen vào cái thời điểm tồi tệ này thế hả?” ông hỏi, vòng tay ôm lấy cô và kéo cô sát vào người mình.
“Cuộc đình công ạ.”
“Cuộc đình công! Đó chính là lý do mà con không nên có mặt ở đây. Ta chỉ muốn lôi roi da ra quất cho Jefferies một trận vì đã đưa con đến đây thôi. Con suýt chút nữa là bị đám thợ mỏ bắn chết rồi đấy biết không.”
“Con suýt thế thật. Nhưng cha ơi, người ta có hỏi ý kiến Jefferies đâu. Con bảo ông ấy phải đưa con đến đây trước khi trời sáng, và nếu ông ấy có làm kiệt sức lũ ngựa vì phóng nhanh đi chăng nữa thì cha sẽ đền tiền cho họ cơ mà.”
Dennis O’Day phì cười. Ông thích cái tính táo tợn của cô. “Nhưng nhỡ ta không đền thì sao?”
“Nhưng cha sẽ đền mà. Cha chưa từng thất hứa với con bao giờ, thưa cha, và cha sẽ chẳng bao giờ làm thế đâu. Chuyện gì xảy ra đi chăng nữa thì cha vẫn sẽ luôn đứng về phía con. Đó là lý do tại sao con cảm thấy vô cùng chắc chắn khi quyết định đến đây. Tiến sĩ Morgan không muốn con đi. Bà ấy bảo điều đó là vô ích. Nhưng bà ấy đã nhượng bộ khi con khăng khăng rằng cha sẽ làm điều đúng đắn. Và giờ cha phải làm thế đấy, thưa cha.” Cô kéo đầu ông xuống để hôn ông. “Cha phải ngăn chặn đám thợ mỏ tấn công các hầm mỏ vào tối nay.”
“Ta ư? Ta có phải là thợ mỏ đâu! Ta dính dáng gì đến cuộc đình công chứ? Nếu bọn họ tấn công cái tên giám đốc tiểu nhân hèn nhát đó thì liên quan gì đến ta?”
“Tất cả đều liên quan đấy. Cha không phải là thợ mỏ, nhưng họ nghe theo lời cha. Họ không nhận ra điều đó, nhưng cha thì có. Con muốn cha ra ngoài kia; hãy bảo họ—bảo họ bất cứ điều gì cũng được, miễn là tối nay bọn họ không mở cuộc tấn công.”
“Thật vớ vẩn. Dù bọn họ có làm theo lời ta đi chăng nữa thì được ích gì chứ? Ta chẳng có chút tình cảm yêu thương gì với cái tên Hobart đó cả. Hắn đã chống đối ta nhiều năm nay rồi. Hắn chỉ nhận lại những gì xứng đáng phải nhận thôi. Không, không đâu, Nora. Con gái thì không được phép nhúng tay vào mấy chuyện này.”
“Cha không đi sao?”
“Không; con hãy đòi hỏi bất cứ điều gì khác ngoài việc đó ra đi.”
“Vậy thì con sẽ nói cho cha biết con sẽ làm gì nhé. Lực lượng Vệ binh Quốc gia đang trên đường đến đây rồi. Khi họ tới, con sẽ cung cấp cho họ mọi thông tin mà họ muốn. Con biết kẻ nào đã xúi giục chuyện này. Con biết ai là kẻ đã giết người Ý. Ôi, con biết rất nhiều thứ mà con đã giữ kín trong lòng bởi vì nếu con nói ra sẽ làm hại đến cha. Nhưng—” Cô đang vô cùng kích động. Khó mà biết được liệu cô đang giả vờ trạng thái cảm xúc dâng trào này, hay đó chính là cảm xúc thật của cô. Cô đã vung phăng chiếc áo khoác của mình ra. Sắc màu rực rỡ từ chiếc váy, đôi má ửng đỏ cùng ánh mắt sắc lẹm đã tạo nên một khoảng màu nổi bật giữa căn phòng tối tăm chỉ được thắp sáng bằng một ngọn đèn dầu đơn độc đang bốc khói. Giọng điệu của cô vừa trong trẻo vừa quả quyết.
“Này Nora, hãy nghe lý lẽ xem nào. Sao mà—”
“Không, con sẽ không nghe bất cứ điều gì ngoài lời hứa của cha rằng cha sẽ đi ngăn chặn đám đông đó lại. Hãy nghe tiếng họ đang la hét kìa, tựa như một bầy linh cẩu vậy. Con vẫn chưa nói hết đâu đấy. Cha phải lựa chọn và phải chọn cho nhanh lên. Đứng về phía những người thợ mỏ hay đứng về phía con. Nếu cha ruồng bỏ con, con sẽ không bao giờ gặp lại cha nữa. Con sẽ chẳng bao giờ để cha làm bất cứ điều gì cho con nữa. Con sẽ biến mất như thể cha chưa từng có một đứa con gái nào vậy. Thế thì tất cả số tiền bạc và của cải dành dụm của cha còn có ích gì nữa? Sẽ chẳng có ai để phung phí nó vào nữa cả; sẽ chẳng có ai thèm quan tâm đến cha nữa đâu. Cha thừa biết mẹ đã để lại cho con đủ số tiền để sống cơ mà. Hơn nữa, con có thể tự lao động kiếm sống. Cha có đi không?” Cô gần như phóng thẳng những lời đó vào mặt ông. Cô dậm chân xuống sàn đến mức bàn ghế rung bần bật.
Dennis O’Day đã là nô lệ của cô kể từ khi cô còn chập chững biết đi. Cô luôn đạt được những gì mình muốn, và luôn làm đúng những gì cô từng đe dọa. Ông cũng thừa biết rằng cô là người duy nhất còn chút tình cảm dịu dàng dành cho ông. Đám đàn ông bên ngoài chẳng mảy may quan tâm đến ông. Nỗi sợ hãi về hậu quả chính là lý do duy nhất khiến nhiều gã thợ mỏ chưa từng lén lút tiễn ông sang thế giới bên kia.
Nora lại tiến đến gần ông. Cô tựa đầu vào vai ông. “Cha ơi, hãy nghe con nói điều này nhé,” cô dịu dàng nói, sự giận dữ đã tan biến. Chỉ bằng vài từ ngắn ngủi, cô kể cho ông nghe về sự cô lập của mình ở trường học, và cách mà Elizabeth Hobart đã đối xử tốt với cô ra sao. Đôi mắt cô ngấn lệ khi cô trò chuyện. Người nghe cũng vô cùng xúc động. Khi dứt lời, cô lại hôn ông thêm lần nữa. “Con sẽ là đứa con gái tuyệt vời nhất mà một người đàn ông từng có trên đời. Đi đi cha,” cô đẩy ông về phía cửa. “Và bảo với họ rằng con đã mang đến cho cha tin tức làm thay đổi toàn bộ kế hoạch. Con sẽ đi cùng cha, cha yêu ạ. Nếu họ dám làm hại cha, con cũng sẽ chịu những đòn roi đó cùng cha.”
Ông bảo cô hãy ở lại, nhưng cô vẫn bước sát theo sau ông. Ông chẳng hề sợ hãi tổn thương thể xác. Sẽ có những tiếng gầm gừ cáu kỉnh, và có lẽ cả những lời đe dọa, nhưng rắc rối sẽ dừng lại ở đó. Gerani, Colowski, Raffelo, Sickerenza chính là những con cừu đầu đàn. Ông thừa sức kiểm soát được họ.
Lách người tiến lên phía trước quán rượu, ông đứng ở ngưỡng cửa và hét lên bằng toàn bộ sức lực của lồng ngực. Ông nói tiếng Slav, và bọn họ đã lắng nghe. Có tiếng lầm bầm và gầm gừ đúng như dự đoán. Ông không đưa ra lý do nào cho việc hoãn cuộc tấn công, nhưng lời nói của ông ẩn chứa rất nhiều điều.
Gerani, đứng ở phía góc khuất, đang dùng giọng trầm thấp xúi giục một nhóm người Slav đáp trả O’Day, tuyên bố rằng bọn chúng sẽ vẫn tiến hành. Ánh mắt O’Day dán chặt vào gã người Slav to lớn. Ông hiểu rõ tình hình. Sẽ chẳng có gì làm Gerani thấy hài lòng hơn việc đám thợ mỏ lao vào người đang diễn thuyết và giết chết ông.
O’Day hiểu điều đó. Ông lớn giọng hô lên: “Hãy nghe lời ta đây, Gerani. Đêm nay chúng ta sẽ không dây dưa vào việc này đâu. Bọn chúng đã chất đầy thuốc nổ lên những chiếc toa xe ở đoạn đường dốc rồi. Khoảnh khắc chúng ta đặt chân tới đó, toa xe sẽ lao xuống ngay lập tức. Các người muốn đồng bào của mình bị thổi tung thành mảnh vụn à? Hơn nữa, con gái ta,” ông kéo sát cô vào người mình, “mang đến tin tức rằng lực lượng dân quân đang áp sát ngay gần đây rồi. Trở về nhà đi hỡi những người anh em—trở về giường đi ngủ thôi. Hãy để lực lượng Vệ binh Quốc gia thấy tất cả các người đều đang ngủ say, và công sức của họ trở thành công cốc. Nếu họ thấy mọi thứ yên ắng, họ sẽ tự rời đi. Khi ấy thời cơ của chúng ta sẽ tới. Nhện tiện ta nhắc luôn nhé, Gerani, Cha O’Brady vẫn đang giữ an toàn trong nhà thờ những tài liệu mà anh biết đấy.”
“Sickerenza, chắc anh vẫn chưa quên chuyện những cỗ máy nghiền than bị đốt trụi ở Wilkes-Barre chứ nhỉ? Trông thấy anh lại làm ta nhớ đến chúng đấy.”
“Colowski, tôi biết có một gã đang lùng sục tìm kiếm Sobieski đấy.”
Ba gã đàn ông vừa được gọi tên nghiến răng thề thốt trong cổ họng. Cứ thế, O’Day vĩnh viễn xiết chặt chiếc thòng lọng quanh cổ bọn chúng. Chúng lủi thủi biến mất khỏi tầm mắt.
“Bảo đám đàn ông giải tán đi, mấy tên hèn nhát kia,” O’Day ra lệnh bằng thứ tiếng Anh mà chỉ vài kẻ hiểu được. “Bảo chúng cút về nhà đi, Gerani.”
Được nhắc nhở như thế, gã kia liền lớn tiếng bằng tiếng Slav, ra lệnh cho đám đông quay về nhà và hẹn gặp lại vào đêm hôm sau. Hai kẻ cầm đầu còn lại cũng làm theo gương hắn. Có tiếng chuyển động khi mọi người tản ra. Những ngọn đèn chập chờn trên mũ của họ từ từ di chuyển rời đi thành từng nhóm ba, bốn người.
Khoảng cách ngày càng xa dần cho đến khi trong mắt Nora O’Day, trông họ chẳng khác nào những con đom đóm. Ánh sáng từ cánh cửa mở chiếu rọi lên người cô. Sắc cam rực rỡ từ chiếc váy dạ hội của cô lóe lên giữa những mảng bóng râm. Cô đã đứng đó không chút sợ hãi, đứng thẳng người, nhìn thẳng vào mắt đám đông cho đến khi từng kẻ một biến mất hẳn vào bóng đêm.
Rồi cô quay người lại, tựa nặng nề vào người cha.
“Con mệt lắm rồi, cha yêu ơi, nhưng con rất hạnh phúc. Con có cha, và Elizabeth cũng sẽ có cha của cậu ấy. Nào, đưa con đến chỗ cậu ấy đi. Chúng ta phải báo tin vui này cho cậu ấy chứ.”

HẾT.
EM BÉ HOA
THƠ CỦA ELIZABETH MAY
MINH HỌA BỞI IDA MAY ROCKWELL
Một Trăm Loài Hoa Được Thể Hiện Bằng
Màu Sắc Tự Nhiên
Mỗi trang trong số một trăm trang của cuốn Em bé hoa đều mang theo những vần thơ về trẻ em và các loài hoa. Bức vẽ trên trang sách làm nổi bật ý tưởng về loài hoa, thể hiện những đóa hoa với màu sắc tuyệt đẹp mà Tự nhiên ban tặng khi chúng sinh trưởng.
Ẩn chứa trong những vần thơ và bức tranh ấy là tình yêu thương chân thành đến mức cuốn sách đã giành được sự chào đón nồng nhiệt nhất từ các độc giả nhí.
SUY NGHĨ CỦA NHỮNG NGƯỜI KHÁC
“Ý tưởng của cuốn sách thật tuyệt vời—giúp trẻ em làm quen với các loài hoa phổ biến.”—New York Globe.
“Độ rực rỡ về màu sắc của nó cũng đủ thu hút ánh nhìn trẻ thơ nếu như phần nội dung thơ ca của nó không hề thú vị và thông minh.”—Boston Transcript.
Khổ lớn, Bìa cứng, Toàn bộ các trang đều có màu.
Giá sau khi cộng cước phí, $1.25
Nhà xuất bản The Saalfield, Akron, Ohio