Sáng hôm sau, sau bữa điểm tâm, Elizabeth được gọi xuống sảnh tiếp tân, nơi Joe Ratowsky đang chờ cô. Anh đứng vò chiếc mũ trên tay khi cô bước vào. Nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt sạm nắng của anh không hẳn vì vui vẻ mà thiên về sự lúng túng. Anh đứng ngay giữa phòng, cẩn trọng đến mức dù có cách nào đi nữa anh cũng chẳng thể chạm vào bất cứ món đồ đạc nào.
Joe không phải kẻ hèn nhát. Anh từng thể hiện rõ tinh thần gan dạ trong những vụ đụng độ nảy lửa giữa các nhóm thợ mỏ và lực lượng dân quân hồi diễn ra các cuộc bãi công lớn. Thế nhưng, chỉ nghĩ đến việc ngồi lên những chiếc ghế bọc lụa màu sắc trang nhã thôi cũng đủ khiến sống lưng anh lạnh toát.
Thật quá nhẫn tâm khi Elizabeth cứ bắt tay anh thật lâu và thật chặt, dẫu cô rất vui khi gặp lại anh. Và còn tồi tệ hơn cả sự nhẫn tâm ấy là việc cô cứ đẩy những chiếc ghế bầy toa (easy chair) về phía anh và nài nỉ anh ngồi xuống. Trước sự nài nỉ của Elizabeth, trong cơn tuyệt vọng, Joe đành rút một bức thư từ trong túi áo và chìa ra trước mặt cô.
“Mees-ter Hobart, ngài ấy viết—viết nhiều lắm—thề có chúa.”
“Ông ấy không sao chứ, Joe?”
“Không sao ư!” Joe càu nhàu tỏ vẻ ghê tởm trước ý nghĩ có ai đó ngã bệnh. “Ngài ấy khỏe chứ, khỏe lắm—béo lên rồi, thề có chúa, béo lắm ấy, ngài O’Day trông còn gầy như cái cột so với ngài Hobart cơ, thề có chúa.”
Joe gật đầu mạnh mẽ, một thói quen anh thường làm mỗi khi muốn nhấn mạnh điều gì đó cho thật chắc chắn. Elizabeth không khỏi mỉm cười trước sự so sánh ấy.
“Mẹ tôi có khỏe không, Joe?” Joe lại hăng hái gật đầu trong khi lấy tay lau trán.
“Bà ấy khỏe như quỷ ấy, thề có chúa. Vâng, thề có chúa, khỏe đến mức thế cơ mà.”
“Vậy thì, Joe, sao họ lại không muốn tôi về nhà?”
Joe phất tay một cách phóng khoáng như thể điều anh sắp nói chỉ là chuyện cỏn con, không đáng để cô bận tâm.
“Mấy người thợ mỏ—không vui lắm đâu, thề có chúa. Họ không làm việc—không—không làm việc đâu. Họ bảo sẽ phá tung đường sắt cơ, thề có chúa. Ngài Hobart, ngài ấy bảo, ‘Không được phá đường.’ Joe Ratowsky này, tôi cũng bảo, ‘Không được phá đường.’ Lúc nào tôi cũng phải canh chừng để không ai phá đường cả. Cô đừng về. Nhỡ không có đường đi, hoặc nhỡ mọi chuyện ổn thỏa thì sao, thề có chúa.”
“Một cuộc bãi công ư, Joe? Ý anh là thợ mỏ đe dọa phá hoại tuyến đường sắt sao?” Anh gật đầu.
“Giờ thì không bãi công nữa, thề có chúa. Lão Colowski, lão ấy bảo, ‘Bãi công đi.’ Thế là tất cả hùa theo, ‘Bãi công.’ Joe Ratowsky này liền cho lão một đấm giữa mặt thế này này.” Anh nắm chặt tay lại, ra hiệu cho thấy hòa bình đã được vãn hồi như thế nào. “Lão ta không dám hô bãi công nữa. Lão lủi mất. Cả mấy ngày trời chẳng dám bén mảng tới.”
“Thế họ đã quay lại làm việc chưa?” Elizabeth cảm thấy hồi hộp. Suốt cuộc đời mình, cô đã nghe không biết bao nhiêu chuyện khủng khiếp về những cuộc bãi công kéo dài.
Từ thủa nhỏ, cô còn mang một ký ức mơ hồ về việc ai đó bồng cô ra khỏi chiếc giường ấm áp, cắm cổ chạy băng qua các cánh đồng để tìm nơi trú ẩn cách đó cả dặm đường. Tựa như trong một giấc mơ, cô vẫn nghe văng vẳng tiếng la hét khàn đặc và nhìn thấy những ngọn đuốc chập chờn của đám đông cuồng nộ.
Joe chậm rãi lắc đầu. “Không đâu, thề có chúa. Bọn chúng điên tiết lên rồi. Phải mấy bữa nữa chúng mới chịu đi làm, với lại phải được trả ngần này tiền cho mỗi ngày làm việc. Hết rồi,” anh vừa lắc đầu nguầy nguậy vừa nói, “Không, không còn chuyện đó nữa đâu, thề có chúa.”
Elizabeth đâm ra lo lắng. Cô nắm lấy tay áo của ông Ratowsky.
“Nhưng Joe, hãy nói thật cho tôi biết, cha tôi có gặp nguy hiểm không? Họ sẽ không làm hại ông ấy chứ?”
“Thề có chúa, là không. Ngài ấy an toàn tuyệt đối. Họ đâu có điên giận gì ngài ấy. Bọn chúng chỉ cay cú lão Emery thôi.”
“Ông Emery đang ở đó à?” Lại một lần nữa Joe lắc đầu. “Ngài Emery, lão ta vượt đại dương rồi. Lão chưa về đâu, chắc phải đến tận mùa hè. Khi lão ta quay lại, thợ mỏ chắc sẽ nổi điên lên và đối xử với lão tệ như quỷ ấy chứ, thề có chúa.”
Gã Emery mà anh nhắc đến chính là một trong những chủ khai thác vùng than mỡ; một kẻ cả chục năm mới ghé thăm thợ mỏ một lần và chẳng mấy ai trong số công nhân biết rõ về hắn.
Có lẽ Joe đã được dặn dò kỹ lưỡng về những gì nên kể cho Elizabeth nghe xung quanh vụ rắc rối này. Được trấn an rằng cha mình không gặp nguy hiểm, tâm trí cô liền hướng về bức thư, đôi mắt cô dõi theo dòng suy nghĩ.
“Tôi phải về mau thôi. Tôi sẽ bảo với ngài Hobart là cô trông khỏe mạnh rạng ngời.” Anh lại lắc đầu quả quyết để bảo đảm rằng mình sẽ chuyển một lời nhắn tốt đẹp nhường nào. “Tôi sẽ nói vậy, thề có chúa,” anh nhắc lại.
Anh dò dẫm bước ra cửa, mắt không rời khỏi những chiếc ghế và bàn bày dọc lối đi. Anh thở phào nhẹ nhõm khi đã vượt qua được đám đồ đạc ấy và nhìn thấy một lối thoát thênh thang mở ra trước mắt. Anh tiếp tục lẩm nhẩm lại lời nhắn mà mình sẽ mang về cho cha cô.
“Trông lớn phổng phao và khỏe khoắn lắm. Ngài ấy chắc chắn sẽ mừng như phát điên cho mà xem. Tôi sẽ nói với ngài ấy như vậy. Vâng, ngài ấy sẽ rất vui, thề có chúa.” Đó là những lời từ biệt của anh khi cánh cửa khép lại sau lưng.
Hầu hết các nữ sinh trong khu ký túc xá đều đã hoặc đang tất bật thu xếp hành lý vào rương. Lối đi chật ních đủ các loại hành lý, đang chờ Jimmy Jordan cùng đội xe kéo của anh ta tới chuyển đi.
Mary Wilson sẽ rời Exeter ngay sau bữa trưa. Cô đã bắt đầu chuẩn bị từ trước cả bữa điểm tâm. Cứ đinh ninh rằng phòng của họ vẫn còn đang bộn bề ngổn ngang, Elizabeth bèn đi xuống chiếc ghế bọc đệm bên cửa sổ – nơi cô và Nora từng ngồi vào tối hôm trước – để có thể yên tĩnh đọc thư. Không có gì bất thường trong thư cả – ít ra là không có điều gì khiến cô phải giật mình; tin tức ở nhà vẫn được kể với giọng điệu vui tươi quen thuộc của người cha. Dù ông có đang bận tâm hay phiền muộn đi chăng nữa, những nét chữ trong thư hoàn toàn không lộ chút dấu vết nào. Phải đến khi kể xong xuôi mọi chuyện vui tươi nhỏ nhặt trong đời sống gia đình, ông mới nhắc đến rắc rối ở các mỏ than – chỉ là một chút rắc rối nhỏ mang tính địa phương chứ không có gì lớn lao. Cả mẹ và ông đều nghĩ tốt nhất là vào thời điểm này trong năm, cô không nên đi chuyến tàu lửa lên núi. Chẳng có điều gì phải hoảng hốt cả. Cô sẽ dành trọn kỳ nghỉ bên bất kỳ người bạn nào mà Tiến sĩ Morgan gợi ý. Do tuyết rơi dày nên việc chuyển phát thư từ gặp nhiều khó khăn. Thế nên cô đừng có lo lắng nếu bức thư quen thuộc không đến đúng hẹn.
Theo thói quen mỗi khi nhận được thư nhà, Elizabeth đọc đi đọc lại nhiều lần. Cô đang nhét thư trở lại phong bì thì Landis và Min xuất hiện. Cả hai đều đã diện trang phục sẵn sàng cho chuyến đi. Họ dừng lại hỏi Elizabeth khi nào thì cô dự định rời Exeter, tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy cô vẫn ngồi đó trong bộ đồng phục đi học trong khi những người khác hoặc đang đóng gói hành lý, hoặc đã rời đi. Cô bèn kể cho họ nghe khả năng mình sẽ ở lại khu nhà lớn trong suốt kỳ nghỉ lễ. Nghe vậy, Landis liền cau mày bối rối, trầm ngâm suy nghĩ một lúc lâu.
“Tớ vẫn đang tính xem có nên rỡ rối để mời cậu cùng về The Beeches với tớ không – đó là nhà tớ, sở dĩ có tên gọi ấy là nhờ có những hàng cây sồi tuyệt đẹp mọc quanh nhà. Nhưng tớ không thấy cách nào xoay xở được vào lúc này. Tớ ước gì mình biết chuyện này sớm hơn. Biết đâu tớ đã có thể sắp xếp ổn thỏa mọi việc theo cách nào đó. Tớ không thích ý cảnh cậu thui thủi ở đây một mình chút nào. Exeter buồn hiu khi bọn trẻ về hết rồi. Thật sự là không thể chịu nổi. Nhưng tớ đã sắp xếp về nhà Min chơi cho đến tận ngày trước Giáng sinh. Nhà tớ luôn tổ chức một buổi tụ họp gia đình lớn vào ngày đó, và nhà lúc nào cũng đông nghẹt người. Tớ đoán là bọn tớ có thể nhét cậu vào đâu đó – nếu cậu không chê tầng ba.”
“Ôi, tớ xin cậu đừng bận tâm đến chuyện đó làm gì,” Elizabeth vội vã lên tiếng. Không hiểu sao, ở lại Exeter một mình không có ai có vẻ còn dễ chịu hơn với cô so với việc đến The Beeches cùng Landis. “Tớ thà chết chứ không muốn gây bất kỳ phiền phức nào cho các cậu. Hơn nữa, mọi việc đều do Tiến sĩ Morgan quyết định. Tớ phải tuân theo sự sắp xếp của cô ấy thôi.”
“Chà, tớ hy vọng cô ấy sẽ thấy phù hợp để tống cổ cậu đi đâu đó chơi. Nghĩ kỹ lại thì, tớ thực sự tin là mình còn chẳng thể sắp xếp nổi cho cậu một chỗ ở tận trên tầng ba ấy chứ. Bếp trưởng nhà tớ luôn tranh thủ kéo theo mấy người họ hàng đến ở nhờ, thế nên chẳng còn trống một khoảng không gian nào. Tớ ước gì mọi chuyện khác đi.”
“Cậu thật tốt khi đã nghĩ đến điều đó. Nhưng dù thế nào thì tớ cũng không thể đi được. Tớ phải về phòng ngay đây. Mary đang cắm cúi thu dọn đồ đạc và sẽ cần đến tớ đấy. Khi nào các cậu khởi hành?”
“Phải đến chiều cơ. Nhưng bọn tớ sẽ ra phố trước. Liệu bọn tớ có gặp lại cậu trước khi đi không nhỉ?”
“Tớ nghĩ là không đâu.”
Lời chào tạm biệt được cất lên, và Elizabeth quay về phòng mình. Cô cảm thấy hụt hẫng vì không thể về nhà, nhưng chẳng hề lo sợ về nguy cơ bãi công hay bất kỳ mối nguy hiểm nào đe dọa cha cô. Joe Ratowsky đã trấn an cô, thêm nữa, niềm tin tuyệt đối vào người cha khiến cô vô cùng vững dạ. Trong thâm tâm cô chưa từng mảy may nghi ngờ về việc ông rất được lòng thợ mỏ. Ông không chỉ là người giám sát của họ, mà còn là bác sĩ, là bạn và là cả chủ ngân hàng của họ nữa.
Khi Elizabeth bước vào, Mary đang nhún nhảy lên xuống trên chiếc rương đựng hành lý nhồi nhét đầy đến mức không tài nào sập nổi nắp xuống. Cô vui mừng khôn xiết khi nhìn thấy bạn.
“Tớ mừng là cậu cũng có chút trọng lượng đấy! Lại đây, ngồi lên rương giúp tớ để tớ xoay chìa khóa nào. Tớ ấn được nắp xuống rồi đấy, nhưng hễ cứ nhấc chân ra là nó lại nảy tung lên, tớ chẳng thể vừa đứng trên đó vừa xoay chìa khóa cùng lúc được. Tớ cứ nhảy cẫng lên thế này suốt nửa tiếng đồng hồ rồi đấy.”
Má cô hây hây đỏ và đôi mắt sáng long lanh vì những nỗ lực vật lộn kiệt sức. Elizabeth làm theo đúng lời đề nghị. Chiếc rương sập xuống một cái rộp.
“Và giờ thì,” Mary hỏi, “khi nào cậu mới bắt đầu thu dọn hành lý đây? Chắc là người bạn Ba Lan của cậu đã mang tin tức từ nhà đến rồi nhỉ. Tớ đã mau chóng dọn sạch đồ đạc của mình sang một bên để cậu có thể bắt đầu đấy.”
“Mãi đến tháng Sáu năm sau cơ,” câu trả lời vang lên. Đoạn, cô ngồi phịch xuống chiếc rương cạnh Mary và kể lại những lời nhắn nhủ mà Joe mang tới cùng lời khuyên trong bức thư của cha cô.
Mary lắng nghe mà không hề bình luận gì cho đến khi câu chuyện kết thúc. Ngay sau đó, cô hất ngược mái tóc ra sau, chẳng buồn nói một lời liền lao vội ra cửa, vung tay mở toang nó ra bất chấp tiếng động ầm ĩ do chính mình gây ra rồi bắt đầu lôi xịch chiếc rương của Elizabeth vào.
“Cậu chỉ có đúng ba tiếng để thu dọn hành lý, thay đồ, ăn uống và ra tới nhà ga thôi đấy,” cô vừa nói vừa tháo dây đai và nhấc các khay đựng ra.
“Nhưng mà—”
“Đừng có đứng ngây ra đó mà nói hay đặt câu hỏi, cũng đừng có cãi là không kịp.” Mary khựng lại một nhịp, đủ lâu để dậm mạnh chân xuống sàn nhằm nhấn mạnh câu nói của mình. “Cậu sẽ về nhà với tớ. Mọi chuyện tính sau. Bây giờ chúng ta không còn thời gian nữa đâu. Tớ sẽ nghe cậu phản đối vào ngày mai. Mặc đồ vào đi, tớ sẽ thu dọn hành lý hộ cậu trong lúc cậu chuẩn bị bản thân.”
“Nhưng còn cậu—”
“Tớ chuẩn bị xong hết rồi, chỉ còn khoác áo và đội mũ nữa thôi.” Cô vừa nói vừa lấy quần áo của Elizabeth ra khỏi tủ quần áo rồi xếp gọn gàng vào rương. Elizabeth đành ngoan ngoãn làm theo lời dặn mà không dám thắc mắc thêm lời nào. Cô thầm thấy may mắn khôn xiết khi có người đứng ra quyết định thay mình, bởi vì ý nghĩ phải ở lại khu nhà Exeter Hall vắng bóng bạn bè chẳng hề dễ chịu chút nào.
Chiếc rương đã được đóng gói xong xuôi và việc thay trang phục cũng vừa hoàn tất thì Nora O’Day bước vào. Cô diện một bộ trang phục du lịch lịch lãm, sản phẩm của một cửa hàng nhập khẩu trên thành phố. Vẫn như mọi khi, cô ngẩng cao chiếc cổ thanh tân uyển chuyển đầy kiêu hãnh, tựa như chẳng ai có thể sánh bằng cô. Elizabeth lúc này đã thấu hiểu cô bạn và biết rằng dáng vẻ bất kham ấy chỉ là bề ngoài mà thôi.
“Tớ ghé qua để nói lời tạm biệt đây. Tớ không còn một phút nào nữa đâu. Xe taxi đang chờ tớ rồi đấy.” Cô bắt tay Mary, rồi quay sang ôm chầm lấy Elizabeth. Cử chỉ của cô dành cho người bạn mới này đong đầy sự trìu mến. “Hôm qua chúng ta có nhắc đến những bài tiểu luận của mẹ tớ. Tớ đã gom vài bài lại để cậu mang theo đọc đấy. Tớ thực sự tin là cậu sẽ thích chúng. Tớ biết cậu sẽ nâng niu chúng cẩn thận mà. Tớ định giữ lại tất cả và một ngày nào đó sẽ đem ra đọc lại.” Cô lại đặt lên má Elizabeth một nụ hôn, rồi vội vã chào tạm biệt và rời đi.
Elizabeth trân trọng món quà kỷ niệm này hơn cả những món quà có giá trị vật chất lớn lao. Nora vô cùng nâng niu những trang giấy ấy như báu vật quý giá nhất đời mình, và khi tin tưởng trao chúng cho Elizabeth, nghĩa là cô ấy đã gửi gắm những gì tốt đẹp nhất. Nhét xấp tài liệu vào khay rương, cô quay lại trước gương để chỉnh trang lại cổ áo. Cuối cùng, quay sang phía Mary, cô cất lời: “Được rồi, tớ đã ăn mặc chỉnh tề và tâm trí cũng đã tỉnh táo trở lại, chúng ta vẫn còn nửa tiếng nữa. Giờ thì phải đến báo cáo với Tiến sĩ Morgan thôi.”
“Cậu rõ ràng là đã ăn mặc chỉnh tề,” câu trả lời vang lên, “nhưng tớ không chắc về việc tâm trí cậu đã tỉnh táo đâu nhé. Cậu không nhớ là Tiến sĩ Morgan mãi tối nay mới về sao? Lúc đó thì bọn mình về đến nhà mất rồi. Tớ sẽ tranh thủ nói chuyện với cô Brosius khi chúng ta xuống ăn trưa. Cô ấy chính là ‘sếp lớn’ ở đây mỗi khi vị tiến sĩ của chúng ta đi vắng đấy. Chúng ta không còn thời gian để lãng phí đâu. Jordan sẽ lo vụ rương hòm và vé tàu. Anh ta lúc nào cũng làm việc đó rất chu đáo. Mặc áo khoác vào đi. Bọn mình sẽ vừa ăn trưa vừa mặc đồ luôn. Chạy ngược lên lầu làm gì nữa cho mất công. Chẳng còn mấy đứa con gái ở lại đây đâu. Bọn mình sẽ chào tạm biệt họ ở dưới nhà luôn.”
Mãi cho đến lúc đó Elizabeth mới có thời gian suy nghĩ về chuyện về quê nhà Mary. Cô khựng lại và bất ngờ đặt câu hỏi: “Lỡ mẹ cậu không muốn tớ đến thì sao, Mary? Bà ấy—”
“Đi thôi nào! Chắc chắn là mẹ tớ sẽ muốn cậu đến rồi. Bà lúc nào cũng thích có khách đến chơi nhà. Bà sẽ chẳng vui đâu nếu tớ về nhà mà lại bỏ mặc cậu ở lại đây một mình.”
“Nhưng lỡ việc đó gây phiền phức cho gia đình thì sao...” cô lại ngập ngừng.
“Chưa có gì có thể làm phiền lòng mẹ tớ cả. Bà không bao giờ cho phép điều đó xảy ra đâu. Rắc rối duy nhất mà chúng ta hay gặp phải là mấy cô giúp việc nhà cứ nổi hứng muốn đi lấy chồng, thế là đôi khi chẳng có ai làm việc nhà cả. Tớ nghĩ con Fanny đang tính kết hôn trong kỳ nghỉ lễ này đấy. Nếu nó làm thế thật, cậu với tớ sẽ nắm chắc một chân rửa bát đĩa cho xem. Cậu có biết rửa bát không?”
“Có chứ; ở nhà tớ vẫn thường làm mà.”
“Ồ, thế thì có khi chúng ta phải xắn tay áo lên rồi. Nhưng tụi mình sẽ có những khoảng thời gian vui vẻ cho xem. Hễ cứ lúc nào lũ gia nhân ‘mọc cánh bay đi’ là tất cả nhà tớ lại cùng xắn tay vào làm, vui lắm cơ! Những chuyện cỏn con thế này chẳng bao giờ làm mẹ tớ phiền lòng nổi đâu. Có bận vào tuần diễn ra phiên tòa, khách sạn duy nhất trong vùng của tụi tớ bị cháy trụi. Lúc đó đang có một vụ án lớn được xét xử trước tòa của cha tớ, thế là ông liền dẫn toàn bộ nhân chứng và luật sư về nhà. Họ ở lại đó tận ba ngày liền. Vậy mà mẹ tớ cứ như thể đang xem một trò đùa vui vậy.” Đoạn, nhìn thẳng vào Elizabeth, cô quả quyết nói thêm, “Một cô bé hạt tiêu như cậu thì làm sao mà làm phiền lòng bà được cơ chứ.”
Nhà của gia đình Wilson nằm ở Windburne, cách Exeter hai tiếng đi tàu và phải đổi tàu tại Ridgway.
Trời lạnh buốt giá khi hai cô gái rời khỏi ký túc xá, nhưng cho đến khi họ đến được Ridgway thì thủy ngân đã tụt xuống thêm vài độ nữa.
Tuyến đường từ ngã ba Ridgway đi Windburne là một nhánh đường sắt địa phương, đường ray khổ hẹp, với những toa tàu nhỏ tròng cồng kềnh mà một người cao kều khó lòng có thể đứng thẳng lưng nổi. Windburne là thủ phủ của hạt nên đương nhiên là một nơi quan trọng, thế nhưng Ridgway lại có lưu lượng qua lại rất ít và những tuyến đường giao nhau ở đó chẳng màng bận tâm đến việc khớp lịch trình nối chuyến cho khớp.
Đã ba giờ chiều khi hai cô gái đến được ngã ba, một chốn heo hút với nhà ga mái thấp, đen sì và nhếch nhác. Có một quán trọ nằm ngay góc đường – thực chất là một quán rượu xập xệ. Thường thì sẽ có một đầu kéo gắn liền với một toa hành khách đậu sẵn trên tuyến đường ray khổ hẹp này, nhưng chiều nay thì chẳng thấy bóng dáng đâu. Trước khi bước vào phòng chờ, cô Wilson đảo mắt nhìn quanh, tỏ vẻ ngạc nhiên trước tình cảnh hiện tại.
“Chuyện tồi tệ nhất vẫn còn ở phía sau cơ,” một giọng nói vang lên từ phía sau họ. Hai cô gái quay lại thì phát hiện đó là nhân viên bán vé, người chuẩn bị đóng cửa ra về.
“Tuyến đường sắt khổ hẹp đang bị bão tuyết chặn lại rồi. Các cô không thể đi qua đó vào tối nay được đâu.”
“Vậy thì chúng tôi sẽ quay đầu đi ngược lại Exeter.”
“Tối nay cũng chẳng được đâu. Chuyến tàu cuối cùng vừa lăn bánh rời đi ngay trước lúc chuyến số 10 cập bến rồi. Có một nhà trọ ở đằng kia—”
“Vâng, chúng tôi ngửi thấy mùi của nó rồi,” Elizabeth nghiêm túc đáp.
Anh ta phì cười, rồi hỏi xem họ định đi đâu. Sau đó, anh ta gợi ý một kế hoạch. Quán trọ đó không phải là nơi thích hợp để tá túc qua đêm, và họ cũng không thể quay về Exeter; nhưng anh ta có thể tìm giúp họ một người đánh xe đáng tin cậy để đưa họ về Windburne an toàn.
Chẳng còn sự lựa chọn nào khác. Mary đành chấp nhận lời đề nghị của anh ta. Hai cô gái ở lại trong phòng chờ tối tăm, ẩm thấp cho đến khi anh ta quay lại cùng chiếc xe trượt tuyết, ngựa và người đánh xe.
“Người này sẽ đưa các cô đến nơi an toàn,” anh ta nói, gật đầu về phía người đánh xe. “Ông ấy thuộc làu đường đi nước bước, lại rất giỏi điều khiển ngựa để phát huy hết tốc lực.” Anh ta giúp hai cô gái bước lên xe trượt tuyết, cẩn thận kéo những tấm chăn đắp quấn thật kín xung quanh họ. Chỉ một lát sau, chiếc xe đã lao vút đi trên con đường làng. Cảnh sắc trượt tuyết thì đẹp tuyệt trần nhưng ngọn gió lùa thốc qua những cánh đồng trống trải khiến không khí càng thêm cắt da cắt thịt. Cả hai bắt đầu ruông rẩy dẫu đã mặc áo khoác dày cộp.
“Chúng ta đi được hơn nửa quãng đường rồi đấy,” Mary động viên. “Ngôi nhà nông trang mà chúng ta vừa đi qua cách Ridgway sáu dặm. Tớ thuộc làu đường sá ở đây mà. Vào mùa hè cảnh ở đây đẹp lắm đấy. Gia đình Landis Stoner sống ở ngôi nhà nông trang cuối cùng dọc theo con đường này. Qua khỏi đó là chúng ta sẽ đi suốt năm dặm mà chẳng gặp thêm bóng nhà nào nữa, và khi thấy nhà xuất hiện thì đó chính là Windburne rồi. Kia kìa, cậu có thể thoáng thấy bóng dáng nơi đó rồi đấy.”
“Chúng ta có thể dừng chân ở đâu đó để sưởi ấm một chút không?” Elizabeth lên tiếng, hàm răng cô đánh vào nhau lập cập vì lạnh. “Chân tớ cứng đờ cả rồi!”
“Được chứ; có lẽ thế sẽ tốt hơn đấy. Chúng ta sẽ nhờ bà Stoner nung hộ mấy viên gạch để sưởi chân. Bà ấy hiếu khách lắm và sẽ làm cho chúng ta thấy thoải mái thôi.” Cô chồm người lên để nói với người đánh xe, đề nghị ông dừng lại ở trang trại nhà Stoner.
Elizabeth lúc ấy đã quá lạnh buốt để có thể quan tâm ngó nghiêng xung quanh khi họ bước vào ngôi nhà. Cô chỉ lờ mờ nhận thức được có một tán cây sồi khổng lồ đang giương những cành khẳng khiu trước hiên cửa, rồi ai đó đang dìu cô đến ngồi vào chiếc ghế bọc đệm êm ái, tháo bỏ áo khoác và xoa bóp đôi tay cho cô ấm lại. Chỉ trong vài phút, cô đã hồi phục lại tinh thần. Bà Stoner đã mang ra những tách cà phê nóng hổi, và lúc này đang đặt những viên gạch vào lò sưởi.
Elizabeth ngước nhìn bà đầy kinh ngạc. Người phụ nữ này hoàn toàn khác xa với hình mẫu mà cô từng tưởng tượng trong đầu về mẹ của Landis. Bà là một phụ nữ gầy gò, có dáng vẻ nhạt nhòa, với giọng nói và cử chỉ vô cùng dịu dàng, ôn hòa. Chỉ tiếp xúc thôi cũng cảm nhận được bà là người tinh tế và đã dành phần lớn cuộc đời mình để chăm lo cho người khác. Bà mặc một chiếc áo vải calico sẫm màu giản dị đã phai màu theo năm tháng, thế nhưng sự sạch sẽ tinh tươm cùng dải vải trắng thắt quanh cổ lại tô điểm cho bà một vẻ ngoài chỉnh tề, lịch sự.
Căn phòng, rõ ràng là đẹp nhất trong ngôi nhà, mang lại cảm giác ấm cúng và thoải mái vô cùng. Nơi đây có một lò sưởi mở rộng đủ sức chứa cả khúc gỗ dài bốn thước, một tấm thảm giẻ đầy màu sắc tươi tắn, và dăm chiếc ghế bập bênh bằng gỗ có lót đệm êm ái. Khung cửa sổ treo những tấm rèm trắng tinh. Trên bệ cửa có đặt mấy chậu phong lữ đang nở hoa rực rỡ.
“Cô chưa từng đến Exeter bao giờ,” bà Stoner lên tiếng. “Dĩ nhiên là cô đã nghe kể về nơi đó suốt cả cuộc đời mình rồi. Hồi còn là một thiếu nữ, cô từng mơ ước không biết sẽ tuyệt vời thế nào nếu được đến đó đi học. Nhưng duyên số không cho phép. Dù sao thì Landis cũng đang được hưởng đặc ân đó, và cô vô cùng biết ơn. Cô Rice – các cháu đã gặp cô ấy rồi đấy; bất kỳ ai quanh vùng này cũng biết – cho rằng mỗi nữ sinh nên được trang bị kiến thức nhiều hơn một chút so với những gì học được ở trường công lập. Chính cô ấy đã tạo điều kiện để Landis có thể đi học.”
Nữ chủ nhà sau đó mang ra một số bức ảnh mà Landis gửi về nhà – những tấm hình chụp nhanh bằng máy kodak ghi lại cảnh các nữ sinh, phòng ốc và khuôn viên trường.
“Các cháu thấy đấy,” bà mỉm cười nói thêm, “dù chưa từng đặt chân đến Exeter, cô vẫn thấy nơi này quen thuộc lắm. Landis viết thư kể về các giáo viên và những bạn nữ sinh của nó nhiều đến mức cô có cảm giác như mình quen thuộc tất cả bọn họ vậy.”
Khi người mẹ tiếp tục câu chuyện, khuôn mặt tái nhợt rạng ngời lên ánh niềm vui, Elizabeth bỗng nhìn nhận Landis dưới một lăng kính hoàn toàn khác. Cô bé rõ ràng rất mực hiếu thảo với mẹ, nếu cứ nhìn vào những bức thư chồng chất và biết bao món quà lưu niệm nhỏ xinh từ trường học được trưng bày khắp nơi.
“Ở đây buồn chán lắm đối với Landis,” bà tiếp lời. “Chẳng có ai chơi cùng trong bán kính cả dặm đường, nhà chỉ có mỗi cha nó và cô. Nó vốn không muốn rời xa chúng ta đâu. Nhưng cô đã bảo với nó rằng vợ chồng cô đã quen với sự tĩnh lặng này và hai người chính là bạn đồng hành của nhau rồi. Tất nhiên là cô nhớ nó chứ, nhưng nếu giữ nó ở lại đây thì ích kỷ quá. Con bé phải sống cuộc đời của riêng mình và trải nghiệm những điều của riêng nó, cô sao có thể mong nó mãi bằng lòng với những gì làm cô thỏa mãn chứ.”
Cà phê nóng đã giúp họ sưởi ấm cơ thể; những viên gạch trong lò sưởi cũng đã nóng rẫy, và đã đến lúc phải lên đường. Với lòng ân cần chu đáo đối với khách, bà Stoner mang ra thêm những chiếc áo khoác phụ, hơ ấm chúng bên ngọn lửa bập bùng, rồi cẩn thận quấn chặt quanh người hai cô gái. Bà ra tận nơi tiễn họ và Elizabeth, với mộtet xúc cảm bộc phát bất chợt, đã ôm chừng lấy bà và đặt lên má bà một nụ hôn nồng ấm.
Khi họ đã ngồi vững chãi trên xe trượt tuyết và tiếp tục lao vút đi trên những con đường đông cứng băng giá, cô quay sang Mary và giải thích: “Cậu có biết không, bác ấy thực sự rất nhớ Landis đấy! Tớ không kìm được lòng nên mới hôn tạm biệt bác ấy; bác ấy dịu dàng và ngọt ngào đến mức tớ có thể dễ dàng yêu quý bác ấy ngay được.”
Cô quay đầu lại để kịp nhìn bóng dáng cuối cùng và vẫy tay chào tạm biệt người phụ nữ nhỏ nhắn đang đứng trước hiên nhà nghèo khó mà Landis từng gọi là “The Beeches”.