(CHUYÊN TRỊNH KHÂM DUYỆT LUẬN VỀ TẤM BIA CỔ)
Khoảng năm Thiên Bảo[1], có vị ẩn giả ở Thương Lạc là Nhâm Thăng Chỉ, từng gửi cho Hữu bổ khuyết Trịnh Khâm Duyệt một bức thư rằng:
“Thăng Chỉ thưa rằng: Gần đây tôi thoái cư Thương Lạc, ít vào nơi của khuyết, chỉ sống chốn sơn lâm, thân hữu đều cách tuyệt. Nay có việc nhờ hỏi ngài, rồi ngày sau sẽ xin lại thăm, vốn ông tổ năm đời của tôi từng làm chức Thái thường với nhà Lương, khi ở dưới trướng Nam Dương vương, từng tìm được trong ngôi mộ lở bên vách núi Chung Sơn một tấm bia khắc bài minh cổ, không thấy nói đến tên ai, trên chỉ có mấy hàng chữ tiểu triện: “Quy ngôn thổ, thi ngôn thủy, điện phục hoàng chung khải linh chỉ. Ế tại tam thượng canh, đọa ngộ thất trung tỵ, lục thiên tam bách tiếp thần giao, nhị cửu trùng tam tứ bách bĩ.”[2] Chữ tuy mờ mòn, nhưng vẫn rõ ràng, sau một lần mưa lớn, bia lộ ra nên lấy được. Khi ấy là năm Đại Đồng thứ tư đời Lương Vũ đế.
Mấy hôm sau, nhân gặp tiết Vu Lan thắng hội, cụ theo xa giá đến chùa Đồng Thái, mới chép ra đưa cho sử quan Diêu Tử cùng các học quan, nghị luận mấy tháng, mà vẫn không rõ là ý gì. Cụ đem tấm bia về cất trong rương, di văn đến nay vẫn còn. Túc hạ trời sinh học rộng biết nhiều, bày mưu tính kế đều giỏi, tiền hiền ít ai bằng, cổ kim chẳng bì kịp. Xin túc hạ nêu điều yếu chỉ, giải thích ý tứ, mà viết ra cho, giúp hoàn thành chí nguyện của tổ tiên, thì thực là mong mỏi lắm vậy.
Lạc An, Nhâm Thăng Chỉ cẩn bạch.”
Mấy hôm sau, Khâm Duyệt đáp thư rằng:
“Hốt nhiên được người mang thư ngài tới, thực khiến tôi sung sướng trong lòng, ơn ngài không quên tình cũ, hạ mình thăm hỏi, lại còn cho xem bài cổ minh thời Đại Đồng. Các bậc tiền hiền còn chưa hiểu rõ, tôi đây chẳng có viễn thức, đâu dám nói bừa, để thêm thẹn lòng vậy. Tôi đang trên đường đi, không có gì tra cứu, nhưng ngồi trên yên ngựa nghĩ suy, cũng ngẫm được vài điều sở đắc.
Tuy người dưới mộ còn chưa biết là ai, nhưng kẻ lập mộ thực bậc hiền tuyệt thế, giấu trước biết sau, rõ như bàn tay, xét chung luận thủy, chẳng sai tơ tóc. Xưa Ngỗi Chiếu biết trước việc có vị sứ giả họ Cung tới[3], chẳng qua cũng đến thế mà thôi.
Tấm bia chẳng nói đến ngày tháng chôn cất, trước tiên ta hãy xem thời gian mộ bị băng lở ra, rồi từ ngày đó, truy xét lại lúc chôn cất, thì có thể biết được. Diêu sử quan là bậc đạt thức bấy giờ, lại cùng với các bậc túc nho cứu xét, suy nghĩ cũng lâu, mà rốt không biết ý tứ trong đó, thì há đâu ý chí là ở lời ấy? Nguyên ý của người lập mộ, ẩn giấu sự việc, đặt lời vi diệu, là để đợi tôi lại làm một vị sứ giả họ Cung thứ hai vậy. Tôi cứu xét lịch thuật, đoán lời huyền vi, thử nói mấy câu, biết đâu hiểu được chút nào ý tứ trong đó.
Khi ấy là năm Đại Đồng thứ tư đời Lương Vũ đế, nhằm năm Mậu Ngọ. Trong minh văn có chữ ‘Điện Phục’ tức năm trăm[4], chữ ‘Hoàng chung’ tức mười một[5]. Như vậy câu ‘Điện phục hoàng chung khải linh chỉ’ nghĩa là: sau năm trăm mười một năm thì mộ bị vỡ lở. Từ năm Đại Đồng thứ tư nhà Lương, tính ngược lại năm trăm mười một năm, thì tức là năm Mậu Tý, niên hiệu Kiến Vũ thứ tư, đời Hán Quang Vũ. ‘Tam thượng canh’ chỉ ngày Canh, thượng tuần tháng Ba. Năm ấy, tháng Ba, mồng một là ngày Tần Tỵ, đến ngày mồng mười là ngày Canh Dần, chính ngày đó tháng Ba là ngày ngôi mộ được chôn ở Chung Sơn. ‘Thất trung Tỵ’ tức ngày Ty, trung tuần tháng Bảy. Năm đó tháng Bảy, mồng một là ngày Mậu Ngọ, ngày mười hai là ngày Kỷ Tỵ, đó chính là ngày mộ bị lở. ‘Tiếp thần’ tức là mười hai[6]. Từ tháng Ba năm Kiến Vũ thứ tư đến tháng Bảy năm Đại Đồng thứ tư, tổng cộng là 6.312 tháng, mỗi tháng có một lần giao thế thay đổi, vì thế mà nói là ‘Lục thiên tam bách tiếp thần giao’. ‘Nhị cửu’ là mười tám, ‘Trùng tam’ là sáu, cuối cùng nói ‘tứ bách’ (bốn trăm), như thế nghĩa là: sáu là số hàng ngàn, mười tám là số hàng vạn. Từ ngày mộ được chôn là ngày Canh Dần, mồng 10 tháng Ba, năm Kiến Vũ thứ tư, đến ngày mộ lở là ngày Kỷ Tỵ, 12 tháng Bảy năm Đại Đồng thứ tư, tổng cộng là mười tám vạn sáu ngàn bốn trăm ngày, cho nên nói: ‘Nhị cửu trùng tam tứ bách bĩ’. Nhưng trên tấm bia ấy, chỉ nói số năm, tháng, ngày mà thôi. Tính năm, là năm trăm mười một, ứng với câu ‘điện phục hoàng chung’; Nói tháng là 6.312, ứng với câu ‘Lục thiên tam bách tiếp thần giao’. Luận ngày là mười tám vạn sáu ngàn bốn trăm, ứng với câu: ‘Nhị cửu trùng tam tứ bách bĩ.’ Từ ‘tam thượng canh’ đến ‘thất trung tỵ’, theo lịch mà tính, chẳng hề sai lệch. Năm, tháng, ngày mà minh văn nói, chỉ cần sai một, tất không thể đối chiếu, phù hợp được nữa. Nguyên ý của người lập mộ, là đợi người sau phải tính ra. Câu hỏi của ngài, chính khế hợp vậy. Tôi theo việc quan đã lâu, nghệ nghiệp bỏ bẵng, ý tứ cổ nhân, xa xôi khó đoán. Túc hạ hãy hỏi thêm các bậc tài giỏi, có gì xin báo lại cho tôi biết.
Trịnh Khâm Duyệt cẩn thưa.”
Niên hiệu Trinh Nguyên, Cát Phủ nhận chức Thượng thư Đồn điền Viên ngoại lang, kiêm Thái thường bác sĩ. Bấy giờ, người họ hàng là Tốn làm Hộ bộ lang trung, đang nghỉ rỗi ở Nam Cung[7], nhân nói đến chuyện các bậc kẻ sĩ nho thuật đời gần đây, bảo với Cát Phủ rằng: “Ông Hữu bổ khuyết Tập Hiền điện trực học sĩ ngày xưa là Trịnh Khâm Duyệt, nghiên cứu thuật số rất tinh thâm, suy được hết những điều huyền bí, đến tăng Nhất Hạnh[8] cũng không bằng được. Chỉ vì mất sớm, nên người đời không mấy ai biết tiếng. Ông có biết ông ấy không?” Cát Phủ nói: “Huynh làm sao mà biết?” Tốn nói: “Đời Thiên Bảo, có ẩn sĩ ở Thương Lạc là Nhâm Thăng Chỉ nói rằng, ông tổ năm đời của mình từng làm chức Thái thường đời nhà Lương. Năm Đại Đồng thứ tư, tìm được một tấm bia cổ ở núi Chung Sơn, trên có minh văn, lời lẽ ẩn mật, hỏi khắp các bậc túc nho đương thời, không ai hiểu nghĩa, đành cất kỹ tấm bia ấy, rồi dặn các con cháu rằng: ‘Con cháu đời sau của ta, hãy đem minh văn này hỏi thăm những bậc thông đạt, may có người hiểu được, thì ta cũng không phải ân hận.’ Đến đời Thăng Chỉ, là người rất bác nhã hiểu đạo. Nghe danh Khâm Duyệt, bèn lập tức nói ra tâm ý tổ tiên. Khâm Duyệt bảo: ‘Xin chép lại lời minh văn, tôi sẽ thử suy xét xem sao.’ Thăng Chỉ chép rồi gửi thư đến. Gặp khi Khâm Duyệt phụng mệnh đi sứ, xe vừa tới trạm dịch Trường Lạc, nhận được thư lại tiếp tục lên đường. Đi đến Tư Thủy, độ hai mươi dặm, thì bỗng nhiên ngộ ra, nên trong thư trả lời mới nói: ‘ngồi trên yên ngựa nghĩ suy, cũng ngẫm được vài điều sở đắc.’ Chẳng cũng lạ lắm ư?”
Năm lần Mùi, Cát Phủ đổi nhậm chức Giá bộ Viên ngoại lang, con Khâm Duyệt là Khắc Quân chuyển từ chức Kinh Triệu phủ tư lục sang làm Tư môn Viên ngoại lang, Cát Phủ nhiều lần đem lời của Lý Tốn mà hỏi lại, tuy sự tình phù hợp, nhưng Khắc Quân tự nói rằng đã quên mất nội dung thư rồi. Mỗi khi nghĩ đến những lời vi diệu, mà không được thấy, Cát Phủ thực lấy làm nuối tiếc vô cùng.
Năm Nhâm Thân, Cát Phủ bị biếm làm Minh Châu[9] Trưởng sử. Trong hòn đảo ngoài bể, có vị ẩn giả họ Trương, tên là Huyền Dương, nổi tiếng thông hiểu Kinh Dịch, được tướng lĩnh trong châu trọng nể, cho vời đến ở dưới gác. Nhân khi nói chuyện bói toán Kinh Dịch, liền lấy bức thư của Khâm Duyệt ra cho Cát Phủ xem. Cát Phủ được đọc bức thư, vui mừng hơn được của báu, lập tức chép lại. Rồi luận rằng: Phàm nấm đất là thứ vô tình. Gặp mưa mà băng lở, là ngẫu nhiên vậy. Thế mà kẻ cứu cùng tượng số, xác định được từ mười tám vạn sáu ngàn bốn trăm ngày trước! Huống chi là vận hội trị loạn, mệnh số cùng thông, thánh hiền chẳng gặp, quân thần ngẫu hợp. Cho nên, Tử Nha được ngọc huỳnh mà nên Thượng phụ[10], Trọng Ni không chim phượng mà thành long đong, Phó Duyệt đến trong mộng ở Nham Dã, Tử Phòng được sách thần nơi Bĩ Thượng, hẳn là hợp với số phận đã định vậy. Song, Khổng Tử ngồi, chưa kịp ấm chỗ liền đi; Mặc Tử nấu, bếp chửa muội đen đã chạy, làm sao lại vất vả lo toan như thế? Mạnh Tử rời nước Tề, chẳng đợi vo gạo, Giả Nghị đến đất Tương, làm phú điếu người, làm sao lại đều quyến luyến dường ấy? Lẽ nào các bậc đại thánh đại hiền vẫn còn mê hoặc vào lẽ tính mệnh ư? Hay là tự đọa thân giữ số, để cho người đời biết đạo là không thể phế bỏ ư? Ta cũng không thể nào mà biết được vậy.
Sau, Khâm Duyệt từ Hữu bổ khuyết, trải làm Điện trung Thị ngự sử, bị Tể tướng đương thời là Lý Lâm Phủ ghét, đặt điều đuổi ra ngoài, khiến danh tiếng mai một. Do vậy, ta chép những điều mình nghe được, tiếp sau hai bức thư của họ, để làm rõ sự thần minh của thuật bốc phệ, điều thông triết của việc huyền giải, mọi sự kỳ lạ ngẫu nhiên cũng đều có số định, kể lại những chuyện lý thú này cho những người hậu học cùng thưởng ngoạn vậy.
Ngày hai tám tháng Mười một năm Trinh Nguyên thứ chín, Lý Cát Phủ người Triệu Quận ghi.
[1] Thiên Bảo: niên hiệu Đường Huyền tông, từ năm 742 đến năm 756.
[2] Nguyên văn chữ Hán: 龜言土,蓍言水,甸服黃鍾啟靈址。瘞在三上庚,墮遇七中已。六千三百浹辰交,二九重三四百圮。(Mai rùa luận thố, cỏ thí luận thủy. Điện phục Hoàng chung chốn thiêng mở. Chôn vào tam thượng canh, Lở gặp thất trung tỵ. Sáu ngàn ba trăm tiếp thán giao, Nhị cửu trừng tam tứ bách sụt vỡ.)
[3] Theo Tấn thư: Ngỗi Chiếu người Nhữ Âm, giỏi bói Dịch, khi lâm chung, ông viết chúc thư đế lại cho vợ, nói: “Sau khi tôi chết, sẽ có nạn đói kém mất mùa, nhưng dù gì cũng không được bán nhà. Đợi sau năm năm nữa, đến mùa xuân, có viên sứ giả họ Cung đi qua, nghỉ ở trong đình, người ấy có nợ tiền tôi, mang thư này ra đòi ông ấy. Nhất định không được trái lời.” Mọi việc đúng như lời Ngỗi Chiếu, đến ngày ấy, quả có viên sứ giả họ Cung đi qua nghĩ chân. Vợ Ngỗi mang thư ra gặp, viên sứ giả đọc thư ngạc nhiên, không hiểu thế nào, và mình cũng không nợ nằn gì người này. Sau khi suy nghĩ hồi lâu, hỏi về Ngỗi Chiếu, thấy nói vốn giỏi bói Dịch, bèn ngộ ra, bảo vợ Ngỗi mang cỏ thi đến, rồi cũng bói một quẻ. Quẻ thành, sứ giả họ Cung vỗ tay khen Ngỗi Chiếu là kỳ tài và nói: “Ta không mượn tiền của Ngỗi Chiếu, mà chính Ngỗi Chiếu có tiền, ông ấy biết sau khi chết sẽ có loạn lạc, nên mới chôn giấu nó, không dám nói cho vợ con ngay. Biết ta cũng giỏi bói Dịch, nên ông ấy mới viết thư này ký thác tâm ý. Tiền của ông ấy có năm trăm cân, đựng trong hũ sứ xanh, lấy mâm đồng đậy lên, chôn ở phía đông nhà, cách tường một trượng, sâu xuống đất hơn chín thước.” Vợ Ngỗi về nhà, đào thử, thì thấy đúng y như vậy.
[4] Theo cổ chế, cách vương thành năm trăm dặm gọi là Điện Phục.
[5] Âm nhạc Trung Quốc cố có mười hai luật, hoàng chung là luật thứ mười một.
[6] Một vòng can chi 12 ngày từ Tí đến Hợi, gọi là tiếp thần.
[7] Nam Cung: tức Thượng thư sảnh.
[8] Nhất Hạnh thiền sư (683-727); tục danh Trương Toại, hiệu là Kính Hiền, Đại Tuệ thiền sư, người Xương Lạc, Ngụy Châu. Sư là nhà thiên văn, nhà phong thủy nồi tiếng bấy giờ.
[9] Minh Châu: tên châu đời Đường, trị sở thuộc thành phố Ninh Ba, tỉnh Triết Giang ngày nay,
[10] Điển cố chép trong Thượng thư đại truyện chép Lã Vọng câu cá được viên ngọc huỳnh, trên có khắc chữ “Cơ nhận mệnh trời, Lã theo phò tá”. Sau gặp Văn vương Cơ Xương, được tôn làm Thượng phụ.