Trương Văn Thành

Đường Tống Truyền Kỳ (Châu Hải Đường dịch)

Lượt đọc: 323 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHỤ LỤC - DƯ TIÊN QUẬT

❊ ❊ ❊

(CHƠI ĐỘNG TIÊN)

Núi Tích Thạch[1], ở phía tây nam Kim Thành, có sông Hà chảy ngang qua. Kinh Thư nói: “Dẫn sông Hà qua Tích Thạch, đến Long Môn[2]“ tức là núi này vậy

Ta[3] từ Khiên, Lũng[4], phụng sứ Hà Nguyên[5], than số phận phải truân chuyên, ngóng quê hương đà tít tắp. Tương Khiên dấu cũ, mười vạn dặm nước sóng cồn[6]; Bá Vũ vết xưa, hai ngàn năm non vách dựng[7]. Hang sâu thấu đất, đào xuyên sườn dốc chon von; Núi vút ngang trời, gọt vát đinh non hoăn hoắt. Khói mây mờ mịt, đá suối phân minh. Thực tài linh dị hóa công, nên vẻ tuyệt vời nhân thế. Mắt chưa từng thấy, tai chửa từng nghe.

Chiều tối đường xa, ngựa chồn người mỏi. Đi đến một chỗ, hiểm trở vô cùng: nhìn lên thì có núi biếc muôn tầm, ngó xuống thì có đầm xanh ngàn trượng. Các bậc cố lão tương truyền rằng: “Đó là động thần tiên vậy. Dấu người ít đến, đường ngựa mới thông. Thường vẫn thấy quả thơm cành ngọc, bát gậy áo tiên[8], tự nhiên hiện ra, không biết từ đâu mà đến.” Ta bèn một lòng nghiêm trang ngưỡng vọng, trai giới ba ngày, men dây sắn nhỏ, chống chiếc thuyền con, thân thể như bay, tinh thần tựa mộng. Chỉ trong khoảnh khắc, bỗng tới vách núi tùng bách, khe suối hoa đào, sắc sáng khắp trời, gió thơm ngập đất, trông thấy một người con gái đang ngồi bên suối giặt áo.

Ta bèn hỏi rằng: “Tôi nghe nơi này có động phủ thần tiên, nên đến hỏi thăm. Nay núi sông cách trở, mệt nhọc vô cùng, muốn xin nương tử, cho nghỉ nhờ giây lát. Mong nể tình gia ơn cho, thì tôi xin chắp tay vâng lời mà lấy làm may lắm vậy.”

Người con gái nói: “Thiếp nhà cửa quê mùa hèn mọn, cung cấp đơn sơ, chỉ e ngài không dùng nổi, chứ thiếp đâu có tiếc gì.”

Ta đáp rằng: “Hạ quan là khách, chức vụ nhỏ nhoi, chỉ cần có chỗ dừng chân, cũng đã là may lắm vậy.”

Người con gái bèn mời ta vào nghỉ ở thảo đình bên cửa, hồi lâu mới quay ra. Ta hỏi: “Đây là nhà ai?”

Cô gái đáp: “Đây là nhà Thôi nữ lang.”

Ta lại hỏi: “Thôi nữ lang là người thế nào?”

Cô gái đáp: “Là dòng dõi của Bác Lăng vương, cựu tộc của Thanh Hà công[9], vẻ đẹp như cậu cháu với Phan An Nhân[10]; Phong độ hệt anh em với Thôi Quý Khuê[11]. Mặt hoa tươi tắn, tiên trên trời chẳng ai bằng; Dáng ngọc thướt tha, người nhân gian không kẻ sánh. Rỡ ràng diện mạo, mơn mởn ngỡ búng xuyên; Thon thả lưng eo, mỏng manh ngờ ngắt đứt. Hàn Nga, Tống Ngọc[12], thấy cũng sinh sầu; Giáng Thụ, Thanh Cầm[13], nhìn mà chết thẹn. Muôn đẹp ngàn xinh, chẳng bút nào tả xiết; Mình thanh dáng mảnh, chẳng lời chỉ cho cùng.”

Chốc lát, bỗng nghe trong nhà có tiếng đàn tranh túng tính, ta nhân ngâm rằng:

Tự đem giấu vẻ yêu kiều,

Khinh người, chỉ ngủ cô liêu một mình.

Nên chỉ dạo ngón tay xinh,

Lựa đây nắn phím đàn tranh là thường.

Tai nghe tưởng những đoạn trường,

Mắt nhìn càng mến, càng thương những là.

Bởi đâu đau đớn lòng ta,

Nhân gian tìm mãi trời xa làm gì!

Lúc sau, thấy trong nhà sai con hầu tên gọi Quế Tâm ra truyền lời, đua bài thơ đáp lại ta rằng:

Mặt nào phải mặt của ai,

Lòng nguyên vẫn tấm lòng này của ta.

Việc can chi tới trời xa,

Gian nan lặn lội tìm qua làm gì?

Ta đọc thơ xong, ngửng đầu nhìn vào trong cửa, chợt thấy nửa khuôn mặt của Thập nương, liền lại vịnh rằng:

Mỉm cười lúng liếng đồng tiền,

Thẹn thùng lộ khóe môi hiền thoáng trông.

Ngất ngây một nét mày cong,

Trọn nhìn hai mắt hẳn lòng đớn đau!

Lại thấy Thập nương sai Quế Tâm ra đưa bài thơ đáp lại rằng:

Tốt lòng xin tạ ơn lòng,

Đây nào có ý mong hòng chi đâu.

Chớ nên trêu chọc mãi nhau,

Khiến xui hao tổn biết bao tinh thần.

Bấy giờ đêm khuya canh vắng, ta trầm ngâm không ngủ, bàng hoàng ngồi tựa, không tiện kể lại ở đây. Người thực đã có ý ngỏ với, ta sao có thể không đáp lại! Bèn tỏ hết tâm tình, viết một bức thư rằng:

“Tôi từ tuổi trẻ đã ưa thanh sắc, sớm thích hẹn hò, thăm trải phong lưu, chơi khắp thiên hạ. Gảy đàn hạcquận Thục, rõ hiểu Văn Quân, Thổi sáo phượng trên lầu Tần, quen nhìn Lộng Ngọc. Tuy nhiên, tặng lan cởi ngọc[14], chẳng quá lưu tâm, hợp cẩn đặt bày, nào từng thích ý. Thuở trước ngủ đôi, hằng hiềm đêm ngắn, tối nay nằm một, thực oán canh dài. Chỉ một ông trời, mà hai thời vận. Xa nghe hương thoảng, tấm lòng Hàn Thọ[15] đớn đau, Gần lắng tiếng đàn, nét mặt Văn Quân tơ tưởng.

Vừa rồi, nghe Quế Tâm nói đến Thập nương, thiên thượng không hai, nhân gian có một. Eo thon bó chặt, liễu yếu phất phơ, ánh mắt đưa ngang, sóng xanh lấp lánh. Vừa thoa đôi má phấn, ngỡ rằng mặt đất không hoa, Mới vẽ hai mày ngài, những tưởng bên trời trăng lặn. Khá khiến, Tây Thi che mặt, trăm lượt hủy trang, Nam Quốc[16] đau lòng, ngàn phen soi lánh. Tuyết rơi sông Lạc[17], chỉ nên sai gấp áo quần, Mây dạo non Vu1, chưa đáng cho cầm hài guốc. Oán Thu Hồ mắt kém, uổng phí hoàng kim[18], nhớ Giao Phủ tâm cuồng, nhận suông bạch ngọc.

Hạ quan ngụ chơi thắng cảnh, đậu trọ nhàn đình, bỗng gặp thần tiên, khỏi sao mê loạn. Sen kia sinh nơi đáy nước, gieo hạt sâu thay, cây nọ mọcđầu non, tương tư xa bấy. Than chưa từng nuốt, mà bụng nóng như thiêu, dao có ăn đâu, mà ruột đau tựa cắt. Trăng sáng vô tình, hoài hoài rọi cửa, gió xuân đa sự, lúc lúc lay màn. Trước cảnh dạ sầu, chịu sao thấu nổi! Ngỏ suông một nỗi đoạn trường, xin cứu mạng tàn sắp chết. Nguyên lai chẳng gặp, âu cũng sự thường, Vô cớ tương phùng, lại ra phiền não. Dám bày tấc dạ, mong hãy thấu cho! Nếu như được thấy dung nghi, há dám luận bàn muôn một!”

Thư gửi đi rồi, Thập nương nghiêm mặt nói với Quế Tâm rằng: “Trước vốn chỉ là đùa chơi với nhau, nay lại thực muốn bức người như thế!”

Ta lại tặng thêm một bài thơ rằng:

Hôm nay chợt thấy dung nhan,

Bỗng dưng trong dạ ân cần xiết bao.

Khiến người biết mấy ước ao,

Mà ai quyết liệt, khó cầu khó mong.

Ngồi nghiêm dạ những kinh hoàng,

Dạ sầu mà bất bình càng lại thêm.

Xem chưa hẳn chết vì xem,

Khó thời sống lại khó thêm mấy lần.

Ngồi trong buồng vắng trầm ngâm,

Tương tư bỗng hóa muôn phần ốm đau.

Lại qua thưa vắng hận sao,

Giao du thân mật ai nào chịu cho.

Vắng tri âm, tối nằm co,

Keo sơn chưa được tiện cơ ngày ngày.

Hoa vườn nào có tránh ai,

Mà sao mặt ngọc trang đài thẹn ra.

Bước chân nay cách trời xa,

Lưu tâm tìm mới, người đà nhớ chăng?

Chớ rằng giá mãi ngàn vàng,

Rốt thành một nắm bụi trần mà thôi.

Ngào nào sống được cứ vui,

Xuân xanh đến lúc chết rồi cho ai?

Khá nên hành lạcđời,

Trăm năm thân giữ để thời làm chỉ!

Lúc sau, ta ngồi ngủ gật, bỗng mơ thấy gặp Thập nương, ôm chầm lấy thì chợt tỉnh dậy hóa chỉ tay không. Trong lòng buồn bã không vui, không thể nói sao cho hết. Nhân lại vịnh một bài thơ:

Trong mộng ngờ là thực,

Tinh ra mới biết chơi.

Mới hay đoạn trường ấy,

Ma quỷ cợt trêu người.

Thập nương thấy thơ, chẳng chịu đọc nữa, lập tức sai đốt đi. Ta liền vịnh rằng:

Chim hẳn vì thơ được,

Nhờ thơ tỏ mến yêu.

Nghe ai thơ ném lửa,

Ấy chắc muôn thiêu nhau.

Thập nương đọc thơ xong, sợ hãi nứt lặng đứng dậy, rồi mờ hộp lấy gương, kéo rương chọn áo, trang điểm đẹp đẽ, trước thềm bước ra.

Ta lại làm một bài thơ rằng:

Hương xông bốn phía thơm hòa,

Rạng ngời nhan sắc sáng lòa đôi bên.

Rẽ hàng tàn gấm cuộn lên,

Buông chùng nửa bức treo xiên màn là.

Má hồng mày biếc thiết tha,

Dung nhan có điểm chi là chẳng ưa.

Vẻ xinh son phấn cũng thừa,

Môi thơm ngan ngát sáp vừa nhạt tô.

Tóc coi thiền mấn[19] cũng thua,

Mày ngài lại khó sánh vừa nét mi.

Đẹp tươi xem thực khôn bì,

Nhẹ nhàng đầy đặn, nét gì kém ai.

Yêu sao tiếng nói dáng người,

Eo lưng thon thả, mắt ngươi ngọt ngào.

Thợ hay chạm vẽ dễ nào,

Nghiêng thành nghiêng nước, nhìn nhau thẹn thùng.

Uất kim giải ảo gió bồng,

Váy màu thạch lựu, nắng hồng càng tươi.

San hô sáng lóa miệng cười,

Sen hồng đôi má, hái thời được chăng.

Tên nghe lòng đã phát cuồng,

Mặt trông, hồn phách lại càng đê mê.

Tâm can ngỡ rụng một khi,

Mừng vui chân nhảy, dễ chi cầm lòng.

Bước chân gió thoảng hương xông,

Miệng vừa muốn nói, đã nồng vẻ tươi.

Núm đồng tiền ngỡ sao rơi,

Mày cong ngỡ nguyệt trên trời Hằng Nga.

Yêu kiều dạo gót bước ra,

Nén cười e lệ, điệu đà trở lui!

Ta bèn ngăn lại, nói: “Nương tử đã có ý tốt, sao lại trở vào luôn như thế?” Thập nương nghe xong, chậm rãi ngoảnh mặt lại, e lệ đi tới, chắp tay bái chào ta hai lạy, ta cũng cúi đầu đáp lễ, rồi nói: “Lúc trước nghe lời khen ngợi, còn cho là hư giả, nào hay gặp mặt, lại đúng thực là thần tiên. Đây quả là động thần tiên vậy!”

Thập nương nói: “Lúc trước đọc lời thơ, cho là chẳng phải phàm tục, nay xem mặt ngọc, lại hơn cả văn chương. Đó quả là động văn chương vậy!”

Ta nhân hỏi: “Chủ nhân vốn dòng dõi vọng tộc nơi nào? Phu quân hiện ở đâu?”

Thập nương đáp: “Thiếp là cháu út của Thanh Hà Thôi công, lấy con trai trưởng của Dương phủ quân ở Hoằng Nông[20]. Sau khi thành hôn, theo cha đến ở Hà Tây. Người Thục tính vốn giảo hoạt, nhiều lần xâm phạm biên cảnh. Anh trai cùng chồng thiếp, buông bút tòng quân, bỏ mình ở nơi sa trường, cô hồn chẳng quay về nữa. Thiếp mười bảy tuổi, thủ tiết với chồng, chị đâu mười chín tuổi cũng thề không tái giá. Anh trai tức là con trai thứ năm của Thanh Hà Thôi công, còn chị dâu là con gái thứ ba của Thái Nguyên công. Thiếp ở biệt trạch nơi này cũng đã nhiều năm, nhà cửa hoang tàn, gia đạo suy tệ. Chẳng hay thượng khách từ đâu đến đây?”

Ta kính cẩn đáp: “Hạ quan quê quán Nam Dương[21], hiện ở Tây Ngạc. Được linh thuật của Hoàng Thạch[22], giữ dư ba của Bạch Thủy[23]. Thời Hán thì bảy đời quý hiển[24], ở Hàn thì năm đời khanh tướng[25]. Chung minh đỉnh thực, nối đời trâm anh, trường kích cao môn, dõi truyền lễ nhạc. Hạ quan không nối được nghiệp nhà, khiến gia nghiệp trầm luân, chứ vốn là cháu của Thanh Châu Thứ sử Bác Vọng hầu, con của Quảng Võ tướng quân Cự Lộc hầu. Hạ quan chưa thoát được thói tục, vẫn ở trong đám quan trường giữ một chức quan nhỏ. Chẳng ẩn chẳng lánh, để tiêu dao cùng bằng, yến[26]; chẳng quan chẳng tục, vẫn qua lại chốn thị phi. Nay nhân việc quan sai, đi đến nơi này, không dưng làm phiền, thực mong chiếu cố.”

Thập nương hỏi: “Thượng khách hiện giữ chức quan gì?”

Ta đáp: “May gặp buổi thái bình, thẹn ở nơi bần tiện. Trước được vào cống viện, đã tham dự giáp khoa, sau lại được lựa tài, mà cho đỗ cao đệ. Phụng sắc chỉ làm chức úy một huyện nhỏ ở đạo Quan Nội, kiêm quản Hà Nguyên đạo hành quân tổng quản ký thất. Mệnh vua tới luôn, những mong báo đáp, nhưng hạ quan lặn lội, chẳng lúc nào yên.”

Thập nương nói: “Thiếu phủ[27] nếu chẳng nhân lặn lội việc quan, thì làm sao qua được chốn này?”

Ta đáp: “Trước đây không biết, nên chẳng tới thăm, từ nay về sau, không dám sai quấy.”

Thập nương bèn quay lại gọi Quế Tâm, bảo: “Mau quét dọn trung đường, để thiếu phủ nghỉ ngơi.”

Ta cung kính đáp tạ rằng: “Viễn khách hèn mọn, được ở nơi này đã may mắn lắm rồi. Chứ đâu có tài năng như Giả Nghị mà dám thăng đường[28].”

Thập nương nói: “Từ xưa vẫn nghe, phàm có khách đến chơi, mà đối đãi sơ sài, thì thật là hổ thẹn. Ý thiếp cũng vậy, tiếp đãi phải sao cho nên. Chỗ này sơ sài giản lậu, không tránh khỏi gió bụi. Ngài cứ vào trong chớ có chối từ, lên nhà đâu cần ngần ngại!”

Nói rồi bèn dẫn vào trung đường. Bấy giờ, đài vàng cửa bạc, rợp nắng vươn mây. Tựa đài Đồng Tước mới xây, như điện Linh Quang rộng rãi. Rường mai cột quế, ngỡ vắt suối dải cầu vồng; ngói chạm mái cong, hệt lưng trời con phượng múa. Thủy tinh gắn cột, lóng lánh như sao; vân mẫu khảm song, lung linh chiếu nắng. Hành lang bốn phía, đều cột đồi mồi như nhau; gác cao ba tầng, là ngói lưu ly tất thảy. Bạc trắng làm vách, như vẩy cá sáng soi; ngọc bích vây thềm, tựa cánh nhàn tiếp nối. Vào tới nhà cao cửa lớn, bước bước kinh tâm; trông xem sân rộng ngõ sâu, nơi nơi lóa mắt. Bèn dẫn thiếu phủ lên thềm.

Ta đáp lời rằng: “Giữa chủ, khách, há chẳng có trước, sau?”

Thập nương nói: “Lễ nam nữ, lẽ tôn ti đã định.”

Ta bèn dừng chân, lùi lại nói: “Khi nãy có lỗi, đã quên không chào hỏi ngũ tẩu.”

Thập nương nói: “Ngũ tẩu cũng sẽ tự tới đây bây giờ, thiếu phủ bảo tới báo tin, kể cũng là chu đáo vậy.” Rồi sai Quế Tâm đến báo, để lát nữa sẽ tham kiến ngũ tẩu. Thập nương cùng ta trò chuyện hồi lâu thì ngũ tẩu đã tới, la đà gấm lụa, rực rỡ xanh hồng, váy đưa hương xạ, tóc cuốn bàn long[29], chuỗi hạt châu vấn vít áo màu, hoa vàng bạc điểm tô hài thắm.

Ta bèn vịnh một bài thơ rằng:

Khác vời tươi đẹp thanh tân,

Mày - đêm nguyệt hiện, má - xuân hoa cười.

Eo thon bước lá lơi thêm mến,

Vẻ cười càng nên nhoẻn miệng luôn.

Thực là vật ngoại kỳ trân,

Thật người chẳngnhân gian phàm thường.

Nét thiên nhiên vô phương so tỉ,

Khách công hầu sinh tử bao phen.

Tóc mai hai lọn mây đen,

Tuyết ngần răng trắng như in hai hàng.

Tay áo rủ kỳ lân hoa dệt,

Vạt váy thêu cái vẹt ngang eo.

Đoái nhìn mọi vẻ mọi yêu,

Nào từng thấy một điểm nào chẳng xinh.

Nói năng khéo, bộ Hành rờ rỡ,

Thị tì đều tất đỏ hài xanh.

Rồng vàng kim xuyến long lanh,

Vờn bay én trắng trên cành ngọc thoa.

Chào hỏi xong xuôi, ngũ tẩu nói: “Thiếu phủ lội suối trèo non, chẳng quản đường xa gian khó tới đây thật là vất vả.”

Ta đáp lời: “Tại hạ gắng chút sức lực vì việc triều đình, đâu dám từ nan.”

Ngũ tẩu ngoảnh đầu nhìn thập nương cười nói: “Sáng sớm nay ta nghe chim thước kêu, quả nhiên là có khách quý tới nhà.”

Ta liền nói: “Tối qua tại hạ máy mắt, hôm nay quả nhiên gặp giai nhân.”

Bèn cùng nhau lên nhà. Chỉ thấy: châu ngọc kinh tâm, bạc vàng lóa mắt, chiếu long tu ngũ sắc, thảm viền bạc bốn bên. Giường ngà voi tám thước, nệm phú chăn lụa hồng. Xà cừ bảo ngọc, hoa ưu đàm rọi soi; mã não trân châu, đây pha

lê xâu chuỗi. Sập gỗ bách vân nổi, thảy vẽ đầu beo; đèn đốt sợi cỏ lan, đều châm dầu cá. Sáo đàn réo rắt, trước cửa bắc bày đầy; chén cốc ngổn ngang, dưới song nam sắp sẵn. Ai nấy cùng mời mọc lẫn nhau, chưa chịu ngồi xuống trước.

Ta nói: “Thập nương là chủ, hạ quan là khách. Xin mời chủ nhân ngồi trước.”

Ngũ tẩu là người hay đùa, che miệng cười bảo: “Nương tử đã là bà chủ, thì thiếu phủ nên là ông chủ.”

Ta nói: “Tôi là hạng người nào, mà dám đương việc ấy.”

Thập nương nói: “Ngũ tẩu xưa nay hay đùa, xin thiếu phủ chớ để tâm mà lo sợ.”

Ta đáp: “Nếu như không tránh được, thì chỉ còn biết đem thân gánh vác.”

Ngũ tẩu cười nói: “Chỉ e Trương lang không ngăn nổi việc ấy mà thôi.”

Mọi người đều cười rộ, rồi cùng ngồi cả xuống, liền gọi Hương Nhi lấy rượu. Giây lát, một chiếc bát lớn, chốt vàng đai đồng để ở giữa, có thể đựng được ba thăng rượu. Rồi chén vàng cốc bạc, trai biển ốc sông, chén gốc trúc, bầu bướu cây, hồ rượu chín khúc, chén uống mười phân. Ly bằng sừng tê ngà voi, rỡ ràng để trước chỗ; ngỗi muôi như cổ ngỗng đầu vịt, bập bềnh nổi trên ang rượu. Lại sai một tiểu tì là Tế Tân rót rượu. Ta không dám cầm chén trước, ngũ tẩu nói: “Trương lang là khách đến nhà, tất không chịu cầm chén trước. Xin nương tử cứ cầm trước cho.”

Thập nương bèn liếc nhìn vờ giận nói: “Thiếu phủ mới đến nơi đây, sao ngũ tẩu cứ trêu đùa mãi thế!”

Ngũ lẩu nói: “Nương tử hãy cầm chén chớ giận, tân phụ[30] từ giờ không dám thế nữa.”

Rượu chuyển đến lượt, ta uống không cạn chén. Ngũ tẩu nói: “Sao lại không cạn?”

Ta đáp: “Tôi vốn không uống được nhiều, e là say mất.”

Ngũ tẩu mắng bảo: “Sao lại đáng ghét thế! Chàng rể là con chó nhà vợ, có đánh chết cũng không dám nói gì. Tất phải uống bằng cạn chén, chớ có nói lôi thôi gì.”

Thập nương nói với ngũ tẩu: “Cái tật lúc nãy lại tái phát rồi đấy ư?”

Ngũ tẩu đứng dậy tạ rằng: “Tân phụ thật đắc tội to quá.” Rồi ngoảnh lại chăm chú nhìn ta nói: “Tôi quan sát kỹ nhiều người, nhưng chưa thấy ai bằng thiếu phủ. Thiếu phủ thật là bậc tiên tài, vốn chẳng phải kẻ phàm tục vậy.”

Ta đứng dậy cảm tạ, nói: “Xưa, con gái của Trác vương tôn, nghe tiếng đàn mà biết Tương Như có khí lượng. Vợ của Sơn Đào, đục thủng vách mà hay Nguyễn Tịch là hiền nhân[31]. Như lời nàng nói, thực ta không dám mong nhận.”

Thập nương nói: “Bảo Lục Trúc mang đàn tỳ bà ra gảy chơi, để ta mời rượu thiếu phủ.”

Tỳ bà đem ra, còn chưa nảy khúc, ta bèn ngâm một bài thơ:

Lòng không, dò chẳng được,

Mắt nhỏ, sẵn tâm tình.

Ngoảnh lại ôm đà chặt,

Chưa nghe tiếng nhẹ trình.

Thập nương liền ngâm một bài đáp lại:

Lòng yêu dường muốn đứt,

Mắt nhớ chẳng rời xa.

Phím ngọc chưa ve vuốt,

Tiếng hay đâu có mà.

Ta nghe bài thơ, tưởng như tâm can vỡ vụn, liền bước xuống giường bái tạ nói: “Trước giờ mới chỉ được thấy mặt Thập nương, đến nay mới rõ tâm tình Thập nương, thực đủ để khiến Ban Tiệp dư đẩy xe, Tào đại gia[32] gác bút, há có thể coi là ngang hàng, luận là cùng lứa sao được!” Rồi bèn xin đem giấy bút, chép lấy mà cất vào tay áo.

Thơ chép xong, Thập nương đùa nói: “Thiếu phủ chẳng những thơ từ tuyệt diệu, mà chữ cũng thật đẹp. Bút tựa thanh loan, người như hạc trắng.”

Ta nói: “Thập nương chẳng những tài tình, mà thật khéo ngâm vịnh. Ai ngờ mặt ngọc, lại có tiếng vàng.”

Thập nương nói: “Thiếp mấy nay bị ho, giọng chẳng được trong.”

Ta cũng nói: “Tôi gần đây tay nhức, bút cầm chưa vững.”

Ngũ tẩu cười bảo: “Nương tử chẳng phải cố khoe, Trương lang lại tài đối đáp.”

Thập nương quay sang nói với ngũ tẩu rằng: “Trước giờ chỉ là tùy ý nói đùa, vốn không thứ tự. Nay xin ngũ tẩu cho làm tửu lệnh.”

Ngũ tẩu nói: “Xin vâng theo như ý của nương tử. Bây giờ, tửu lệnh là lấy trong cổ thi, chẳng cần đọc cả bài, mà chỉ chọn chương lấy ý, cốt ở đạt tình. Ai không như vậy, thì phải phạt rượu.”

Thập nương liền theo ý, đọc: “Quan quan kìa tiếng thư cưu, Bên cồn hát họa cùng nhau đã dầy. U nhàn thục nữ thế này, Xứng cùng quân tử sánh vầy lứa duyên.”[33]

Đến lượt ta, liền đọc: “Núi nam có cây trọi cao, Mà ai chẳng thể tựa vào nghỉ ngơi. Các cô sông Hán dạo chơi, Đoan trang chẳng thể trao lời cầu mong.”[34]

Ngũ tẩu đọc: “Chẻ củi phải làm sao cho đặng? Không búa thì chẻ chẳng được đâu. Cưới vợ lại phải làm sao? Không mai mối dắt, vợ đâu sẵn sàng.”[35]

Lại đến lượt Ngũ tẩu, đọc: “Chưa trông ngườiPhục quan, Sụt sùi em đã hai hàng châu rơi, Người Phục quan đã thấy rồi, Vui mừng hết nói lại cười xiết chỉ.”[36]

Đến lượt Thập nương, đọc: “Gái này có lỗi lầm chi, Mà trai kia đã hai bề ở ăn. Trai kia biết đến đâu chăng, Đôi, ba lòng dạ bạc đen đã dầy.”[37]

Đến lượt ta, lại đọc: “Sống thì chẳng đặng một nhà, Thác mong một huyệt để mà gần nhau. Em rằng: Em chẳng tin đâu! Anh thề: Trong sáng khác nào thái dương.”[38]

Ngũ tẩu cười bảo: “Trương lang tâm ý chuyên nhất, đọc thơ rất có ý tứ. Tục ngữ có câu: ‘Lòng đã chuyên, đá đục xuyên.’ Nếu thực có ý, thì đâu xa gì nữa?”

Khi ấy, Lục trúc đang chơi đàn tranh. Ngũ tẩu liền vịnh đàn tranh rằng:

Mặt ngọc trời sinh, khá giữ người,

Tỏ tình tâm sự cũng nhờ ngươi.

Xưa nay chớ lạ, hoài so tiếng,

Chưng bởi lòng không có bạn chơi.

Thập nương nói: “Ngũ tẩu đã vịnh đàn tranh, thiếp xin vịnh ống tiêu:

Mắt nhiều vốn để người yêu mến,

Miệng ít nên chi bị lấn xâm.

Vô sự, gió đâu đưa tiếng khắp,

Khiến ai uất nghẹn đã đầy tâm.”

Ta chắp tay đáp tạ rằng: “Tận thiện tận mỹ, chẳng chỗ nào không hay. Kẻ hạ ngu này, xin được dự nghe lời xướng họa cao thâm.”

Giây lát, Quế Tâm đem đồ nhắm tới: nào là cá lưu Đông hải, nem phượng Tây Sơn, đuôi hươu lưỡi hươu, cá khô cá nướng, thịt nhạn hầm rau hạnh, cháo cút ninh gạo thơm, tay gấu đùi thỏ, phao trĩ môi beo, trăm món ngũ vị, kể chẳng thể hết, nói chẳng thể cùng.

Thập nương nói: “Thiếu phủ hẳn đói lắm rồi.” Bèn gọi Quế Tâm bưng cơm lên.

Ta nói: “Vừa rồi, hạ quan nhìn mắt đã no, bụng không thấy đói.”

Thập nương cười nói: “Chớ nói đùa! Bây giờ đem bàn cờ ra đây, thiếp cùng cược rượu với thiếu phủ.”

Ta nói: “Hạ quan không cược rượu, cược ngủ với nương tử thôi.”

Thập nương hỏi: “Cược ngủ là thế nào?”

Ta đáp: “Nếu Thập nương thua, thì phải cùng ngủ với hạ quan một tối. Nếu hạ quan thua, thì cũng cùng ngủ với Thập nương một tối.”

Thập nương cười nói: “Hán cưỡi lừa thì Hồ đi bộ; Hồ đi bộ thì Hán cưỡi lừa, kiểu gì cũng phải chịu thiệt. Thiếp đổi cách cược khác thôi, thiếu phủ tính khôn quá.”

Ngũ tẩu nói: “Tân phụ báo nương tử biết, không cần phải cược đi cược lại như thế, tối nay biết chắc là nương tử không thể tránh được nào.”

Thập nương nói: “Ngũ tẩu khi nào cũng đùa được, chẳng lúc nào không ngầm báo tin cho thiếu phủ.”

Ta đứng dậy, tạ rằng: “Vốn biết là trò đùa, tôi chẳng dám trông ngóng.”

Bàn cờ đã đem tới, Thập nương đưa hai tay về phía trước, đôi mắt chăm chú nhìn, cổ tay trắng tròn đầy đặn. Đôi tay như cắt đứt ruột gan, mười ngón tựa đâm xuyên tâm tủy. Ta nhân ngâm một bài vịnh bàn cờ rằng:

Mắt tựa sao vừa chuyển,

Mi như nguyệt khuyết hao.

Chân sau đà giữ trước,

Eo trước lại ghì sau.

Thập nương cũng vịnh rằng:

Eo ghì nên mạnh khéo,

Chân giữ lại phong lưu.

Cốt sao con mắt khép,

Người ắt đã thua cơ.

Một lát, có đứa nữ tì tên gọi Cầm Tâm, cũng rất xinh đẹp, đến chỗ ta ngồi, ta thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn trộm. Thập nương có vẻ không vui. Ngũ tẩu bèn lớn tiếng mắng bảo: “Đời người có hạn, biết đủ thì không nhục. Nương tử dường đang chau mày, Trương lang chớ có liếc mắt.”

Thập nương vờ nghiêm mặt giận bảo: “Thiếu phủ thì liên quan gì tới tôi, mà Ngũ tẩu cứ phiền nhau hoài vậy?”

Ngũ tẩu nói: “Nương tử trước giờ liên tục liếc nhìn thiếu phủ, nếu chẳng phải có tình cảm, thì sao lại mắt qua, mày lại tỏ tình?”

Thập nương nói: “Ngũ tẩu tự nghĩ sai lệch rồi, tôi từng khi nào mắt qua mày lại như thế!”

Ngũ tẩu nói: “Nương tử không thế, thì tân phụ tự nhận vậy.”

Thập nương đáp: “Chị tự hỏi thiếu phủ đi, tôi sao biết được.”

Ngũ tẩu bèn vịnh rằng:

Đôi cây hoa mới trổ,

Hương thoảng bay khắp rừng.

Dáng động theo làn gió,

Bóng dời cùng thái dương.

Ong đùa thường ẩn hiện,

Bướm giỡn đến truy lùng.

Nghe có người muốn hái,

Nào bông hợp ý cùng?

Ta nói: “Hạ quan vốn tính tham lam, muốn hai hoa đều hái cả.”

Ngũ tẩu đáp rằng:

Vừa tới chơi đôi gốc,

Xa trông hai nhánh hường.

Nắng soi dời chuyển bóng,

Gió thoảng ngát mùi hương.

Bướm giỡn vừa vin nụ,

Ong đùa đã rúc bông.

Nay người hái lấy cả,

Mỗi đóa một bên buồng.

Lại nói: “Trương lang tham lam quá, muốn một mũi tên bắn trúng hai bia ư?”

Thập nương thì nói: “Bắt ba chẳng được một, đòi hai thì mất không.”

Ngũ tẩu nói: “Nương tử chớ nói nhiều. Thỏ đã vào hang sói rồi, đến lúc biết ra cũng làm sao được nữa?”

Ta lập tức đứng dậy tạ rằng: “Xin tương được rượu, rượu đến cứ uống. Săn thỏ được hươu, vượt xa mong muốn.”

Thập nương nói: “Ngũ tẩu như có hẹn với đại nhân hay sao, mà cứ muốn vun vén việc này. Thiếu phủ cho thiếp là người dưới cửu tuyền, sau này khi ra ngoài, hẳn nói rằng thiếp không đáng một đồng vậy.”

Ta đáp: “Vừa rồi vì muốn làm vui lòng hai người, mà giây phút tôi tiêu hao hết cả thần khí. Lại thấy lời thanh, khiến tâm can tan nát. Há đâu dám ra ngoài đàm luận, bịa đặt nói bừa? Trộm dự làm người, há dung như thế? Xin hãy tận tình hoan lạc, dù chết cũng không hận.”

ít lâu, đồ ẩm thực đều bưng lên, thơm nức khắp nhà, trắng hồng bày ngập, đầy món trân tu hải lục, đủ loại rau quả núi sông. Thịt thì gan rồng tủy phượng, rượu thì ngọc lễ quỳnh tương. Gạo thành nam khi sẻ vừa kêu, lúa Giang thượng buổi ve mới giọng. Mề gà canh trĩ, rùa om chim tần, lợn béo dưới đâu, chép tơ đầm sen. Thịt ngỗng trứng vịt, để đầy mâm bạc; nem lân thai báo, chồng chất đĩa ngà. Mỡ gấu trắng lốp; tương cua vàng ươm. Gỏi tươi với lụa đỏ tranh màu; gan lạnh với tơ xanh lẫn sắc. Bồ đào, mía ngọt; đại táo, lựu tươi. Muối tía Hà Đông, quất đỏ Lĩnh Nam. Mơ bát tử Đôn Hoàng, đưa ngũ sắc Thanh Môn. Lê của Trương công ở Thái Cốc, mận của Chu Trọng ở Phòng Lăng[39]. Quế tiên của Đông Vương công[40]; Đào thần của Tây Vương mẫu. Ớt vú bò Nam Yên; táo tim gà Bắc Triệu. Muôn tên ngàn loại, chẳng kể cho cùng.

Ta đứng lên tạ rằng: “Tôi với phu nhân nương tử, vốn không quen biết, tạm vì công việc, giải cấu tương phùng. Thế mà món quý kỳ trân, vô cùng hậu trọng, tôi dù xương tan thịt nát, cũng không sao đáp tạ được.”

Ngũ tẩu nói: “Đã thân thì không cần cảm tạ, mà tạ ắt hóa không thân. Dám mong Trương lang, chớ có khách sáo.”

Ta đáp: “Đã phụng ân mệnh, đâu dám chối từ.” Đúng lúc bấy giờ, ta ngỡ như ngừng thở, bất giác đưa mắt, thỉnh thoảng lại nhìn trộm Thập nương. Thập nương nói: “Thiếu phủ đừng nhìn thiếp.”

Ngũ tẩu nói: “Lại ghẹo nhau!”

Ta liền vịnh rằng:

Hốt nhiên lòng thấy mến,

Bất giác mắt liền thương.

Tội chi hai mắt liếc,

Vốn bởi tấc lòng vương.

Thập nương vịnh rằng:

Mắt, lòng đâu một chỗ,

Lòng, mắt vốn chia hai.

Dù cho người mắt thấy,

Ai khiến bảo lòng hay.

Ta vịnh rằng:

Xưa nay lòng khiến mắt,

Lòng nhớ mắt liền vương.

Vì lòng xui mắt thấy,

Mắt với lòng cùng thương.

Thập nương vịnh rằng:

Mắt, lòng cùng quyến luyến,

Lòng, mắt thảy tơ vương.

Mắt ai hiểu việc thế,

Giúp tấc lòng đáng thương.

Khi ấy, ngũ tẩu bèn nhìn mâm quả, nói bóng gió: “Dám hỏi ý thế nào, tương tri dường ở táo.”

Thập nương nói: “Nay ý tôi bí mật, chẳng nhẫn phải chia lê.”

Ta nói tiếp: “Bỗng được thâm ân, một đời có hạnh.”

Ngũ tẩu nói: “Đúng lúc này đây, ai mà nhẫn nại.”[41]

Thập nương nói: “Tạm mượn con dao của thiếu phủ để cắt lê.”

Ta bèn vịnh dao rằng:

Keo sơn thương đã nặng,

Nhung nhớ ý khôn nguôi.

Đáng tiếc vật nhọn bén,

Bọc da trọn buổi thôi.

Thập nương lại vịnh vỏ dao da rằng:

Vài ấn, da dường giãn,

Cọ luôn, trơn đã nhiều.

Rút ra rồi chẳng biết,

Bao rỗng phải làm sao.

Ngũ tẩu nói: “Thế là dần dà vào sâu đấy.” Rồi bày bàn cờ, cùng ta cược rượu. Ta thắng. Ngũ tẩu nói: “Cờ vây vốn ở trí tuệ, Trương lang cũng thật tài năng.”

Ta nói: “Kẻ trí lo ngàn điều cũng có một điều hỏng. Kẻ ngu lo ngàn điều, cũng có một điều được. Nay hãy tạm nghỉ đã.”

Ngũ tẩu nói: “Sao lại nghỉ liền thế?”

Ta vịnh rằng:

Trước nay đường lối tỏ,

Bình sinh chẳng nỡ lừa.

Xin cho giữ dấu tích,

Cần chi mấy cuộc cờ.

Ngũ tẩu vịnh rằng:

Nương tử xưa nay tính thích cờ,

Gặp liền giao đấu chẳng suy tư.

Hơi nghe sắp đứt, đưa con mắt,

Cuộc sắp tàn rồi, hãy chậm cho.

Thập nương thấy ngũ tẩu cứ trêu chọc mãi, vờ giận không thèm cười. Ta lại vịnh rằng:

Thiên kim đây sẵn có,

Nhất tiếu phải chờ ai.

Chẳng muốn mười răng hở,

Xin chau tạm nét mày.

Thập nương vịnh rằng:

Đôi mày sầu dạ khách,

Hai mắt buốt tim chàng.

Nào ai đem “nhất tiếu”,

Bán rẻ giá ngàn vàng.

Khi ấy chợt thấy có một chiếc bàn ủi bằng đồng đã vỡ để ở bên giường, thập nương bỗng vịnh rằng:

Xưa nay lòng dạ nóng,

Vô cớ ép đè người.

Đến nay hình thế lạnh,

Ai chịu lại mài dồi.

Ta bèn vịnh:

Nằm đó trông dường nguội,

Bình sinh chẳng ủi suông.

Đến nay tuy lạnh lẽo,

Người vẫn còn tìm mong.

Mọi người cùng cười rộ. Thập nương gọi Hương Nhi bảo bầy nhạc cho thiếu phủ nghe, tiếng vàng đá cùng tâu, sáo tiêu cùng thổi. Tô Hợp đàn tỳ bà, Lục Trúc thổi tất lật, Tiên Nhân gảy đàn sắt, Ngọc Nữ thổi ống sênh. Hạc đen cúi đầu nghe đàn, cá bạc nhảy lên ứng điệu. Thanh âm dìu dặt, khoảnh khắc mà bụi cuộn trên rường; Nhã vận linh lung, giây phút bỗng tuyết rơi ngoài cõi. Nhất thời quên mùi thịt, Khổng Khâu dừng bước chẳng sai[42]; Ba buổi vang quanh xà, Hàn Nga dư âm có thật[43].

Thập nương nói: “Thiếu phủ ít có lúc tới đây, há lại không tận lạc! Ngũ tẩu rất giỏi múa, xin hãy cho xem một khúc.” Ngũ tẩu cũng không chối từ, lập tức thướt tha đứng dậy, chậm rãi bước lên. vẻ mặt đầy đặn, Dương Thành phải ghen; Dung nghi yêu kiều, Hạ Thái cũng ngại[44]. Đưa tay nhún gót, hợp điệu cung thương; Nhìn trước liếc sau, am tường tiết tấu. Hệt tựa, bàn long uyển chuyển, đã hạc hiên ngang. Ngoảnh đầu tựa nắng rọi hoa sen, xoay mình tựa gió đưa lá liễu. Nghiêng mày liếc trộm, diễm lệ khác thường; Chậm bước nhanh chân, kiêu kỳ đặc biệt. Áo là phấp phới, tựa cánh phượng lướt từng mây; tay gấm vờn bay, hệt chim loan đùa mặt nước. Long lanh ánh mắt, trên trời để mất ngôi sao; thon thả vòng eo, Lạc Phố thẹn thùng tuyết lắng. Đẹp sau rỡ trước, khó gặp khó hay; qua lại tiến lui, ít nghe ít thấy. Hai người đều dậy múa, cùng lại mời ta.

Ta bèn vâng lời, mà tạ rằng: “Giữa bể thẳm, khó lòng làm nước; sau sét vang, khó lòng làm sấm. Nhưng ta đâu dám chối từ, xin khoe vụng vậy.” Rồi cũng đứng dậy múa. Quế Tâm cúi đầu khúc khích cười mãi. Thập nương hỏi: “Cười gì mà cười?”

Quế Tâm nói: “Cười chúng tôi giỏi tạo thanh âm.”

Thập nương nói: “Giỏi ở chỗ nào?”

Đáp: “Nếu chẳng giỏi, thì làm sao khiến bách thú nhảy múa[45]?”

Ta cười bảo: “Không phải là ‘bách thú nhảy múa’, mà là ‘Phượng hoàng lai nghi’[46].”

Nhất thời mọi người cùng cười vang. Ngũ tẩu bảo Quế Tâm rằng: “Chớ để khúc nhạc sai. Có Trương lang nhìn đấy[47].”

Quế Tâm nói: “Người hát nào ngại khổ, chỉ sợ ít tri âm.”

Ta nói: “Giữa đường gặp Tây Thi, cần chi phải quen biết!” Bèn vừa múa vừa đọc thơ rằng:

Trước nay tuần thú bốn bên,

Bỗng gặp hai vị thần tiên.

Mày biếc trời đông nảy liễu,

Má hồng đất hạn đơm sen.

Ngàn ngắm ngàn lần xinh đẹp,

Muôn nhìn muôn vẻ tươi duyên.

Đêm nay nếu mà chẳng được,

Mạng thừa thôi bỏ hoàng tuyền.

Mọi người lại cùng cười ầm lên. Múa xong, ta nhân tạ rằng: “Tôi thật tài mọn, được thưởng thức cùng, ban cho nhạc nghe, thẹn không xứng đáng.”

Thập nương vịnh rằng:

Đắc ý tựa uyên ương,

Trái tình như Hồ, Việt[48].

Chẳng tận hứng bên chàng,

Biết làm sao cho hết.

Thập nương nói: “Chúng tôi cũng chẳng có gì đáng để khen ngợi, mà thiếu phủ nói ‘trời đông nảy liễu; đất hạn đơm sen’, thì thật là trêu chọc nhau vậy.”

Ta đáp: “Thập nương mặt chẳng phải xuân, mà xanh lá liễu.”

Thập nương cũng đáp lời ngay: “Thiếu phủ trong đầu có nước, sao chẳng thấy hoa sen?”

Ta cười nói: “Thập nương nhắc nhở, phải chăng cho được tiện nghi?”

Thập nương đáp: “Được tiện mà chẳng thể cho, năm sau biết ở nơi nào?”

Chợt thấy có chiếc nghiên đang để trên đầu giường, ta nhân làm một bài thơ vịnh bút nghiên rằng:

Quệt lông tùy thuận tiện,

Mến sắc lại mài mau.

Chà miết lâu khôn dứt,

Vì chưng bởi nước nhiều.

Thập nương bỗng trông thấy một cái xanh đầu vịt, nhân cũng vịnh rằng:

Dài mỏ không vì gáy,

Cong cổ phải nào vin.

Cứ khiến chân cho thẳng,

Người ta mắt tự nhìn.

Ngũ tẩu nói: Trước giờ vẫn không chịu kém chút nào, ngày càng dấn sâu vào rồi.”

Khi ấy chợt có đôi chim én, bay đuổi theo nhau trên xà. Ta nhân vịnh rằng:

Đôi con én,

Bay liệng mấy muôn hồi.

Hẳn biết ta là khách,

Mặc sức cợt đùa chơi.

Thập nương cũng vịnh rằng:

Đôi con én,

Khá giúp sự phong lưu.

Đã để người thêm bạn,

Sao chằng kiếm tìm nhau.

Rượu mời đến Thập nương, ta bèn vịnh muôi múc rượu rằng:

Cán rung riêng muốn gấp,

Đầu gục lại bất bình.

Này lúc nên nâng chén,

Nông sâu thỏa ý tình.

Thập nương lại vịnh cái chén rằng:

Lúc đầu tiên ghé miệng,

Muốn cạn đầu lại vươn.

Vì chàng đà dốc hết,

Rốt cuộc cũng buông ngừng.

Ta vội đứng dậy tạ rằng: “Từ cú của Thập nương, việc việc thảy nhập thần, ấy là trời sinh, chẳng phải người ta có thể học được vậy.”

Ngũ tẩu nói: “Trương lang mới đến, chẳng được thỏa tình, xin hãy ra chơi hậu viên, để tạm thư thích hoài bão vậy.”

Bấy giờ trong vườn: cây trái muôn gốc, mơn mởn xanh tươi; hoa cỏ bốn bề, đua chen hồng tía. Suối reo mỏm đá; thác đổ sườn non. Không đông không hạ, oanh vàng ríu rít cành son; chẳng cổ chẳng kim, cá gấm vẫy vùng ao bạc. Um tùm đẹp đẽ, thanh lạnh thoảng đưa; vịt ngỗng chia bay, hoa sen chen nảy. Trúc nhỏ trúc to, vượt xa ngàn mẫu nam Vị; hoa cười hoa thẹn, cười chê cả huyện Hà Dương. Xanh xanh bờ liễu, tơ mành phơ phất Vũ Xương[49]; Rỡ rỡ ngàn dương; tên nhọn đầy tràn Đổng Trạch[50].

Ta bèn vịnh hoa rằng:

Tím đầy cây gió thổi,

Đỏ một hồ nắng soi.

Giá bẻ cho một đóa,

Trên tay cầm ngắm chơi.

Thập nương vịnh rằng:

Soi nước đều cười đấy,

Thành suối rốt không lời.

Nay chẳng được tự tại,

Cao thấp vin tùy người.

Ta bèn đứng dậy tạ rằng: “Có câu: kẻ quân tử không nói chơi, ý rằng đã nói ra rồi thì không lấy lại được nữa. Đội ơn nương tử, xin cho mấy người bọn ngũ tẩu, mỗi người vịnh một bài.”

Ta lại vịnh rằng:

Xưa từng qua tiểu uyển,

Nay lại dạo vườn sau.

Hai tuổi, mai tươi sắc,

Ba xuân, liễu thắm màu.

Nước trong bóng cá lặng,

Rừng biếc tiếng chim reo.

Nào phải cần núi hạnh,

Đây đích thực nguồn đào.

Thập nương vịnh rằng:

Mai khe lưu đạo sĩ,

Đào suối giấu thần tiên.

Cá lớn như thanh kiếm,

Rùa nhỏ tựa đồng tiền.

Bên nước duy trồng liễu,

Trong hồ chỉ cấy sen.

Thưởng tâm đâu đó tá,

Hoa đào trước mắt nhìn.

Ngũ tẩu vịnh rằng:

Ngút mắt chơi vườn ngát,

Rừng hoa dạo bước chung.

Sương tan sắc núi hiện,

Ao sáng bóng cây lồng.

Hoa rụng rượu tràn rót,

Chim ca đàn lặng không.

Ấy khi chiều đã ngả,

Cây rợp chén đưa cùng.

Khi ấy trên cây chợt có một quả mận rụng vào vạt áo ta, ta lại vịnh rằng:

Hỏi sao mận lại yêu riêng,

Không vào tay chủ, về bên khách này?

Ngũ tẩu liền đáp thơ rằng:

Mận rằng: Nào có ý chi,

Hiểu lòng nương tử, ném về bên ai.

Đúng lúc đó, có một con ong bay đến trước mặt Thập nương, Thập nương bèn vịnh rằng:

Hỏi ong sao quá vô tình,

Mặt người vỗ múa, ý khinh nhau cùng?

Ta lại thay ong đáp lời rằng:

Khắp chốn tìm cây ngát,

Mà ít thấy hoa bay.

Thử theo hương tìm đến,

Thực đóa đáng yêu thay.

Mọi người cùng vỗ tay cười rộ.

Lúc ấy trong vườn bỗng có một con trĩ, ta sai lấy cung tên ra bắn, cùng với tiếng bật dây cung, con trĩ liền gục ngay. Ngũ tẩu cười nói: “Tài điệu của Trương lang, tự nhiên đã như Tào Thực[51]. Nay xem võ nghệ, lại vượt Tử Nam[52]. Nếu cùng sánh với Thập nương, thì thật là hai người có một trong thiên hạ vậy.”

Thập nương nhân thấy bắn trĩ, vịnh rằng:

Đại phu qua ruộng mạch,

Thiếu nữ trốn vườn dâu.

Chẳng nhờ tên một mũi,

Dễ khiến ai vui nào?[53]

Ta lại đáp rằng:

Tầm ý hợp nhau thay,

Nào ai đọ ngắn dài.

Một đôi, nào đẹp cả,

Xấu nửa, có chỉ sai?

Ngũ tẩu hỏi: “Trương lang bắn bia xa thế nào?”

Ta đáp: “Cũng có thể coi là không tệ lắm.” Bèn thử bắn, ba mũi tên cùng trúng, mọi người đều khen ngợi.

Thập nương bèn vịnh cung rằng:

Bình sinh thích nỏ râu dài,

Được người ghì xuống, đầu thời cúi ngay.

Nghe chàng nâng bắn nhanh tay,

Xin cho thêm lấy một vài mũi tên.

Ta đáp rằng:

Co mình thì chửa tới nơi,

Ngẩng đầu quá lại lỡ thời vượt cao.

Cứ ngang dưới rốn đưa vào,

Bắn liền trăm phát, tên sao cho vừa.

Khi ấy, khe tây vừng nhật lặn, bãi đông bóng thỏ lên. Ngũ tẩu nói: “Nãy giờ vui đùa, chẳng chỗ nào không thú vị. Nay đã muộn rồi, xin hãy về buồng, để sắp xếp cho Trương lang và nương tử.”

Thập nương nói: “Nhân sinh gặp gỡ, chén rượu luận bàn. Chuyện nhỏ mọn trong buồng, có đáng gì mà vội!” Bèn dẫn ta đến buồng ngủ của Thập nương. Chỉ thấy:

Bình phong họa chướng năm, mười bức,

Hai chái màn, bốn góc túi hương.

Trầu cau, đậu khấu, trầm xông,

Sẵn giường gối lụa, chất rương áo màu.

Theo vào buồng, làu làu gấm vóc,

Đài gương sen, dát ngọc guốc vàng.

Bên rèm, rắn bạc điểm, trang,

Con sư tử ngọc đầu giường bầy chơi.

Thảm cùng cự[54] để mười lớp ấm,

Chăn uyên ương xếp tám lượt êm.

Áo quần đẹp lạ sẵn bên,

Trời sinh tư chất, tính bền phong lưu.

Áo hồng khít vòng eo nho nhỏ,

Ống lụa xanh buông rủ tay dài.

Phẩy khăn lụa, đốt hương bay,

Đẹp xinh thiên phú, lại tài điểm trang.

Ngưng cười mỉm thoa vàng cài lại,

Dáng yêu kiều lại trái nệm thêu.

Nhà Lương chải tóc khen liều,[55]

Mày tô, Kinh Triệu khi nao đã từng![56]

Thập nương đi sau, chờ đợi hồi lâu chưa tới, ta hỏi ngũ tẩu: “Thập nương đâu khuất bóng, Phải có người mời chăng?”

Ngũ tẩu nói: “Nữ nhân thẹn duyên mới, Xin đợi cho gọi nàng!” Vừa nói dứt câu, thì thập nương đã tới.

Ta nói: “Nắng tan sương khói, hương thoảng tìm hoa, bỗng gặp cuồng phong, giữa sen mất ngó. Thập nương đi đâu mà đến chậm làm vậy?”

Thập nương ngoảnh đầu cười nói: “Sao lưu Chức Nữ, bèn ở nhân gian. Nguyệt đợi Hằng Nga, tạm về thượng giới. Thiếu phủ chớ nên lấy làm sự lạ lùng.”

Khi ấy, hai người ngồi đối diện, chưa dám chạm nhau, đến canh khuya ý tình thúc giục, quên cả sống chết. Ta bèn vịnh rằng:

Ngàn nhìn ngàn quyến luyến,

Một thấy một thương thầm.

Nếu được cầm tay ngọc,

Rồi chết cũng cam tâm.

Thập nương nghiêm mặt bỏ đi. Ngũ tẩu vịnh rằng:

Người ta cũng hiểu việc,

Nên chẳng giận gì đâu.

Cứ nắm luôn trở lại,

Chớ giấu lòng với nhau.

Ta bấy giờ không nén được lòng nữa, bèn nắm lấy tay Thập nương. Lại vịnh rằng:

Ngàn tưởng ngàn sôi ruột,

Một nhớ một thiêu tâm.

Chỉ vì mong giữ được,

Mượn tạm chút eo mềm.

Thập nương vẫn chưa chịu, ta đưa tay kéo, hai bên cùng giằng co với nhau.

Ngũ tẩu vịnh rằng:

Khéo đem áo bịt miệng,

Khá lấy chăn che mình.

Chắc hẳn lòng đà chịu,

Mới cho ai thỏa tình.

Thập nương bỗng nhiên bật cười, rồi yểu điệu ngã vào lòng ta. Lúc ấy hồn phách điên cuồng, trong tâm sôi sục, ta lại vịnh rằng:

Eo vừa ôm trọn được,

Lòng đã rộn trăm chiều.

Nếu được thơm một cái,

Thì còn muốn chi nhiều.

Thập nương ra vẻ giận, vịnh rằng:

Tay đã cho ai nắm,

Eo cũng đã ôm rồi.

Người ta đâu phải vật,

Mà cứ ép dần thôi.

Rồi nói: “Tuy cự tuyệt Trương, nhưng cũng không dừng được phải thơm trộm một miếng.” Chỉ thấy, miệng thơm nồng nàn, mũi như xông hương; lưỡi nghe ngào ngạt, má ngỡ thủng xuyên.

Ngũ tẩu vịnh rằng:

Tự giấu phong lưu ấy,

Trước người dùng lắm chiêu.

Kể thì nên cự được,

Giả bộ chẳng ngăn nhau.

Thập nương nói: “Ngày trước từng tự trêu chọc người, bây giờ tất phải để người trêu lại.”

Ta đứng dậy, xin rằng: “Thập nương có điều suy nghĩ, tôi cũng muốn luận bàn, nhưng còn chưa dám nói ngay, xin ngũ nương phân xử.”

Ngũ nương nói: “Xin cứ nói, chớ ngại gì.”

Ta nhân vịnh rằng:

Dược thảo đà nếm đủ,

Nhưng thảy chưa ưng lòng.

Duy cần một vật ấy,

Chẳng nói hẳn hay cùng.

Thập nương vịnh đáp rằng:

Tay ngà đà nắm được,

Eo nhỏ cũng ôm tròn.

Lại đã hôn trộm thế,

Việc chi chẳng thể bàn.

Ta bèn vòng tay mà đáp rằng: “Trước giờ sợ hãi nghi hoặc, thực sợ có điều không phải. May mà Thập nương thương đến khách nhân, tha cho khỏi chết, có thể nói là xương trắng mọc thịt, cây khô nở hoa. Hạ quan phục địa khấu đầu, muôn vàn tội chết.”

Ngũ tẩu bèn đứng dậy, từ tạ nói: “Tân phụ từng nghe: chỉ nhờ kim mà đi, chẳng nhờ kim mà bền chặt; con gái nhờ mối mà lấy chồng, chẳng nhờ mối mà yêu thương. Tân phụ trước giờ đã hết lòng tác hợp cho rồi, còn chuyện về sau, xin không dám dự biết đến. Xin nương tử nghỉ ngơi, tân phụ xin về phòng ngủ trước.”

Lúc ấy đêm đã về khuya, tình nồng ý thiết. Đèn ngư soi bốn mặt, nến sáp sáng đôi bên. Thập nương bèn gọi Quế Tâm, lại kêu Thược Dược, cùng tháo giày, cởi áo bào, gỡ khăn đầu, treo đai gấm cho thiếu phủ. Rồi lại giúp Thập nương trải chăn lụa, cởi váy là, bỏ áo hồng, trút tất lục. Mặt hoa mắt ngắm, hương ngát mũi nghe, lòng xốn xang khó giữ, tình ngây ngất khôn cầm. Đưa tay vào dưới quần hồng, ngoắc chân ở trong chăn biếc. Hai môi đối miệng, một tay gối đầu. Sờ nắn khuôn ngực trước, rờ rẫm vế đùi trên. Một cắn một khoái ý, mỗi ghì mỗi rộn lòng, sống mũi đau tê, trong tim nghẹn nhói. Hồi lâu mắt hoa tai nóng, gân giãn mạch căng. Mới biết, khó gặp khó tìm, đáng trân đáng quý. Chỉ trong khoảnh khắc, mà mấy hồi giao tiếp. Ai hay, chim thước đáng ghét, nửa đêm động người; gà trống xấu xa, canh ba gáy sáng. Bèn cùng khoác áo ngồi dậy, rơi lệ nhìn nhau.

Ta gạt nước mắt nói: “Chỉ hận khó gặp dễ xa, ở đi ngăn cách, việc vua hạn định, không dám bỏ bê, mỗi lúc nhớ đến nàng, lại đớn đau xương tủy.”

Thập nương nói: “Thiếp với thiếu phủ, bình sinh chưa thỏa, giải cấu vừa nên, chưa tận sướng vui, bỗng than ly biệt, nhân sinh tụ tán, biết sẽ ra sao!” Nhân vịnh một bài rằng:

Bình sinh chẳng tương thức,

Không biết cũng không nghe.

Ông trời xui gặp gỡ,

Nay lại khiến phân ly.

Ta bèn vịnh rằng:

Ôm sầu ruột dường đứt,

Mong ngóng mắt nên mòn.

Tối nay chớ đóng cửa,

Trong mộng đến bên luôn.

Lúc sau, trời đã sáng rõ, hai người cùng khóc, trong dạ nghẹn ngào, không thể chịu nổi. Mấy người thị tỳ, cũng đều sùi sụt, chẳng ngẩng lên nhìn được.

Ngũ tẩu nói: “Có gặp tất xa, từ trước đã nhiều; Vui tận buồn sinh, cổ kim thường sự- Mong nương tử hãy tự nguôi lòng buông xả.” Ta bèn đưa tay áo lau nước mắt cho thập nương. Thập nương làm bài thơ từ biệt rằng:

Biệt ly rốt vẫn biệt ly,

Tình xuân chẳng gặp đương thì buổi xuân.

Thẹn nhìn cô lẻ bóng loan,

Buồn trông ngựa ruổi bụi trần một ai.

Nhạt màu liễu biếc đôi mày,

Má đào tan tác, hôm nay mới vừa.

Chốn đây chàng vắng buổi giờ,

Tiếng oanh réo rắt cũng thừa giết nhau.

Ngũ tẩu vịnh rằng:

Này đây chia biệt lên đường,

Chẳng hay là mấy năm trường cách chia.

Đôi le ai oán biệt ly,

Tiếng sầu thảm thiết, hạc kia một mình.

Rượu xong chỉ những oán tình,

Chưa say đã thấy sầu sinh trong lòng.

Nếu người quân tử còn thương,

Vó câu chớ ngại đặm trường thăm nhau.

Ta lại vịnh rằng:

Bỗng đâu nghe nỗi biệt ly,

Dạ sầu luống những, khôn bề giữ ngăn.

Mắt tuôn châu lệ muôn hàng,

Đoạn trường một nỗi, ngập tràn lòng ai.

Phút đâu, bảo kiếm chia hai,

Đôi le bỗng chốc đôi nơi khác rừng.

Mong ai ngọc thể giữ giàng,

Chớ nên cho kẻ qua đàng phạm xâm.

Thập nương tiểu danh là Quỳnh Anh, ta nhân vịnh rằng:

Biện Hòa chửa vạt núi dày,

Dương Ung lại cũng chưa cày đất sâu.[57]

Thương mình ngọc đã có đâu,

Quỳnh anh biết đến ngày nào gặp đây?

Thập nương cũng vịnh đáp lại rằng:

Ra đi gấm phượng muốn trao,

Mà thoi rồng đã từ lâu tiếng ngừng.

Không khung cửi những hận lòng,

Bao giờ mới thấy dệt xong văn thành[58].

Ta ngẩn ngơ tấc dạ, nén buồn mà cười, rồi gọi đứa hầu là Khúc Cầm, lấy cái gối “Tương tư” ra để lại tặng cho Thập nương làm kỷ niệm. Nhân vịnh rằng:

Nước nam truyền tụng quả dừa,

Nhà đông thạch lựu cũng vừa ngợi ca.

Mượn đây thay cánh tay ta,

Đêm dài xin để tiên nga gối đầu.

Thập nương tặng lại một đôi hài, và đáp thơ rằng:

Đôi le vừa mất bạn,

Hai én vẫn cùng nhau.

Xin giúp cho lòng thiếp,

Chần chàng trọn kiếp hầu.

Ta lại sai Khúc cầm lấy tấm gương đồng Dương Châu ra tặng cho Thập nương cùng một bài thơ rằng:

Người tiên vẫn thích giữ cầm,

Này trang ẩn sĩ vẫn thầm nhìn coi.

Sáng lòa hoa ấu nước soi,

Lạnh băng bóng trúc mấy hồi gió lay.

Dưới trăng, thước giật mình bay,

Bén hồ loan lại múa may một mình.

Nào ai đổi dạ thay tình,

Xin soi gan ruột mà nhìn cho ra.

Thập nương lại tặng cho ta cây quạt đang cầm trên tay, vinh rằng:

Hợp hoan Bích thủy chơi qua,

Đồng tâm hầu chốn cửa hoa trước giờ.

Hây hây gió sớm nhẹ đưa,

Dáng tròn vành vạnh tựa hồ vừng trăng.

Vẻ loan xông chốn sương giăng,

Bầu không bóng hạc vút ngang bay vèo.

Mong tay chàng mãi nâng niu,

Chớ đừng cạn ráo thương yêu ân tình.

Ta từ tạ xong rồi, lại sai tả hữu lấy một súc gấm ích Châu kiểu mới ra đáp tạ Ngũ tẩu, nhân tặng thơ rằng:

Nay lưu chút mọn làm tin,

Giai kỳ tặng để nhớ in trong lòng.

Cắt làm tám bức chăn nồng,

Mỗi khi đắp lại đem lòng nhớ nhau.

Ngủ tẩu cũng rút cành thoa vàng tặng lại cho Trương, nhân đáp thơ rằng:

Tặng chàng nay buổi chia ly,

Ngày sau gặp gỡ khó bề, đà hay.

Chớ rằng nhỏ mọn thoa này,

Khá đem cài mũ cho ai đội đầu.

Ta lại đem một súc lụa mịn Hoạt Châu, tặng cho bọn Quế Tâm, Hương Nhi, mấy người chia nhau. Bọn Quế Tâm cũng người gỡ thoa bạc, kẻ cởi xuyến vàng, hoặc tấm lụa, hoặc khăn là, đều tặng lại cho Trương, mà rằng: “Ngài lên đường may mắn. Nếu thuận tiện qua đây, xin mời lại ghé chơi.” Hương Nhi nhân cũng vịnh một bài rằng:

Đại phu rong ruổi hãy còn,

Thăm nhau vẫn được ân cần nhiều khi.

Xin đừng như cánh bèo kia,

Trôi xuôi theo sóng biết về nữa đâu!

Ta gạt lệ nói: “Khuyển mã nào có biết gì, còn hiểu điều oán biệt; chim thú vô tình là thế, cũng thấu nỗi ly thương. Lòng người đâu phải gỗ đá, há có thể quên được ân tình ư?”

Thập nương vịnh đáp rằng:

Người thà sầu hơn chết,

Thiếp chết lại hơn sầu.

Sầu đến trăm đau đớn,

Chết đi, thôi sạch làu.

Rồi lại vịnh:

Người thà sầu hơn chết,

Thiếp chết lại hơn sầu.

Ngày đêm lòng tưởng nhớ,

Biết cách mấy xuân thâu.

Ta vịnh rằng:

Người đi dằng dặc phương trời,

Bao năm nào biết xa xôi dường nào.

Dù thân muôn dặm nơi đâu,

Chung quy dạ vẫn một điều bên ai.

Thập nương vịnh rằng:

Chân trời góc bể biết đâu,

Mặt hoa người ngọc gặp nhau dễ nào.

Những mong có cánh lắp vào,

Để cho thiếp được bay cao cùng chàng.

Ta không đành lòng nhìn nhau nữa, chỉ cầm tay Thập nương rồi chia biệt.

Đi được hai, ba dặm, ngoảnh đầu nhìn lại mấy người, vẫn thấy đứng nguyên chỗ cũ. Ta dần mỗi lúc đi một xa, tiếng chìm bóng khuất, ngoái đầu lại không trông thấy đâu nữa, chỉ còn biết buồn rầu mà bước chân. Tới bên chân núi, lại xuống thuyền đi. Đêm canh cánh không ngủ được, lòng sầu não có nguôi đâu. Đã oán hận con vượn kêu, lại thảm thương con nhạn biệt. Nén lòng nuốt lệ, thiên đạo nhân tình, có biệt tất oán, có oán tất đầy. Ngày qua sao ngắn quá, đêm tới lại dài ghê. Hai mắt xa xăm, đôi oanh mất bạn. Ngày ngày rộng áo, sớm sớm lỏng đai. Miệng nẻ đôi môi, ngực đầy uất hận, nước mắt ngàn hàng, dạ sầu đứt đoạn. Ngồi lặng trước đàn, ngực đầm huyết lệ, dằng trào muôn nỗi, rối loạn trăm lo. Riêng chau mày mà quyết biệt, suông ôm gối mà than hoài.

Trông thần tiên chừ, không thể thấy,

Khắp trời đất chừ, thấu lòng đây.

Nhớ thần tiên chừ, chẳng thể được,

Tìm Thập nương chừ, bặt tăm hơi.

Mong nghe đó chừ, lòng rối loạn,

Thêm thấy đây chừ, não dạ này.

[1] Sơn Hải kinh chép: “Núi Tích Thạch ở tây nam huyện Hà Quan, quận Kim Thành. Quận Kim Thành ở phía tây kinh sư.

[2] Long Môn: núi Long Môn ở phía tây Hà Đông.

[3] Trong tác phẩm này, tác giả xưng ở ngôi thứ nhất với nhiều từ như: bộc & (kẻ hèn này), dư £ị (ta), hạ quan 1’ #... Chúng tôi thống nhất dịch chung là “ta”, chỉ trong các câu đối đáp thì có chỗ giữ lại nguyên văn xưng hô.

[4] Khiên, Lũng: Lũng chỉ Lũng Châu, Khiên chỉ sông Khiên Thủy, ở Lũng Châu nay còn có huyện Khiên Nguyên. Đây chí khu vực Lũng Châu.

[5] Hà Nguyên: tức Hà Nguyên quân, ở Lũng Hữu.

[6] Trương Khiên người đời Hán, phụng sứ đi khắp các nước Tây Vực, được phong làm Bác Vọng hầu. Lại lần đến tận đầu nguồn sông Hoàng Hà, gọi ngọn núi nơi bắt nguồn sông Hoàng Hà là Côn Lôn.

[7] Đại Vũ trị thủy, vạt vách núi Long Môn để thông Hoàng Hà, Nghiên đế khen công lao ấy, phong làm Bá Vũ.

[8] Nguyên văn: “Thiên y tích bát”: áo tiên, tích trượng và bát, chi các vật của tiên phật.

[9] Bác Lăng, Thanh Hà đều là tên quận thuộc Hà Bắc đạo, là phát tích họ Thôi.

[10] Phan An Nhân: tức Phan Nhạc, tự An Nhân, vẫn được gọi là Phan An, là người đẹp nổi tiếng, được coi là một trong “tứ đại mỹ nam” đời xưa.

[11] Thôi Quý Khuê: tức Thôi Diễm tự Quý Khuê, người Thanh Hà đời Tam Quốc, nổi tiếng là người tuấn tú, lại thanh cao, có uy vọng.

[12] Hàn Nga: nàng Hàn Nga người nước Hàn thời Xuân Thu, nổi tiếng là người hát hay. Tống Ngọc: nhà từ phú nước Sở, cuối thời Chiến Quốc, cũng nổi tiếng là một người đẹp trai, đa tài.

[13] Giáng Thụ: tên người đẹp giỏi múa xưa. Ngụy Văn đế trong thư gửi Phồn Khâm có câu: “Những người giỏi múa đời nay, chẳng ai hơn Giáng Thụ.,.”.Thanh cầm: tên một nữ thần xưa. Tư Mã Tương Như trong Thượng lâm phú có câu: “Đẹp sánh cùng Thanh Cầm, Phục Phi...”

[14] Điển tích Tặng lan: nàng Yên Cật là thiếp của Trịnh Văn công, nằm mơ thấy thần nhân trao cho cành lan, quả nhiên sinh được con trai đặt tên là Tử Lan. Sau Lan được lập làm vua nước Trịnh.Điển tích Cởi ngọc: theo Thần tiên truyện, Thiết Tiên đi chơi ở bên sông, Trịnh Giao Phủ trông thấy xinh đẹp không biết là ai, đưa mắt trêu chọc, nàng bèn lấy viên bạch ngọc đang đeo tặng cho Giao Phủ. Giao Phủ đi mấy bước thì bạch ngọc biến mất, người đẹp cũng không thấy đâu nữa.

[15] Hàn Thọ người đời Tây Tấn. Sách Thế Thuyết Tân Ngữ chép: Hàn Thọ có dung mạo đẹp đẽ, Giả Sung vời làm chức Duyện tào. Mỗi lần Giả Sung mời khách, con gái Sung đứng trong buồng trông thấy Thọ thích lắm, sai nữ tì nói với Thọ. Thọ động tâm, hai bên bèn lén đi lại với nhau. Con gái Sung lấy trộm loại hương quý do nước ngoài tiến công mà vua ban cho Sung tặng Thọ, Sau Sung thấy Thọ có mùi hương ấy, lấy làm lạ vì người ngoài không thể có loại hương này, bèn tra hỏi ra sự việc, đành gả con gái cho Thọ.

[16] Nam Quốc: thơ Tào Thực có câu: “Nam quốc hữu giai nhân; Hoa dung nhược đào lý”, ở đây chi người đẹp phương nam.

[17] Tào Thực trong Lọc Thần phú, tả nữ thần sông Lạc có câu: “Kỳ hình dã... phiêu diêu hề nhược lưu phong chi hồi tuyết” (Hình dung người ấy... phiêu diêu tựa gió cuốn tuyết vờn bay). Đây chỉ nữ thần sông Lạc.

[18] Theo Liệt nữ truyện, đại phu nước Lỗ là Thu Hồ tử, lấy vợ được năm ngày thì đi làm quan ở đất Trần, năm năm mới về. Gần đến nhà thì thấy một người con gái đẹp đang hái dâu, Thu Hồ rất ưng mắt, bèn xuống đem của cải vàng bạc ra tán tỉnh, nhưng cô gái không theo. Kịp về tới nhà mới biết đó chính là vợ mình. Người vợ bèn mắng Thu Hồ một hồi cho là bất hiếu bất nghĩa, rồi bỏ đi mà nhảy xuống sông tự vẫn.

[19] Thiền mấn: Thôi Báo trong Cố kim chú viết: Sủng phi của Ngụy Văn đễ (Tào Phi) là Mạc Quỳnh Thụ chế ra kiểu tóc “thiền mấn” tóc nhìn bòng bềnh như cánh ve, nên có tên ấy.

[20] Hoằng Nông: tên huyện, nay thuộc Hà Nam, là nơi phát tích họ Dương.

[21] Nam Dương: tên quận, ở phía tây Đặng Châu, là nơi phát tích họ Trương.

[22] Chỉ Trương Lương, đi chơi ở Hạ Bì được Hoàng Thạch công tặng cho cuốn sách, học được binh pháp.

[23] Chỉ Trương Hành tự Bình Tứ - nhà bác học, thiên văn học, nhà sáng chế tài danh đời Đông Hán - người Bạch Thúy, Nam Dương đời Hán.

[24] Chí Trương An Thế đời Hán bảy đời quý hiển.

[25] Chỉ họ Trương nước Hàn thời chiến Quốc. Mây câu này, tác giả có ý nói gốc gác tố tiên là họ Trương.

[26] Bằng, yến: chim bằng và chim sâu. Xuất xứ từ thiên Tiêu diêu du sách Trang Tử.

[27] Thiếu phủ: cách gọi chức Huyện úy xưa.

[28] Giả Nghị: nhà từ phú đời Tây Hán. Dương Hùng luận tài năng thơ văn của Giả Nghị và Tư Mã Tương Như có câu: “Giả Nghị thăng đường, Tương Như nhập thất”, ý nói Tương Như tài năng sâu xa hơn. Ở đây tác giả dùng câu ấy nói đùa như vậy.

[29] Bàn long: rồng cuộn, chỉ tóc vấn khoanh trên đầu như rồng cuộn.

[30] Tân phụ: là một cách nói khiêm xưng của phụ nữ xưa, tương tự như dân thường tự xưng là “dân phụ”.

[31] Sơn Đào, Nguyễn Tịch đều là những người trong nhóm Trúc Lâm Thất Hiền đời Tấn.

[32] Tào đại gia: tức nàng Ban Chiêu (45-116) em gái của Ban Cố, được gả cho Tào Thế Thúc, lại được Hán Hòa đế vời làm nữ quan nên gọi là Tào đại gia. Ban Cố viết Hán thư chưa xong thì mất, Ban Chiêu bèn kế tục.

[33] Đây là khổ đầu thơ Quan thư – Chu Nam, Kinh Thi. Bản dịch của Tạ Quang Phát.

[34] Đây là mấy câu trong khổ một, thơ Hán quảng - Chu Nam, Kinh Thi. Bản dịch của Tạ Quang Phát, có sửa vài chữ.

[35] Đây là mấy câu trong khố bốn, thơ Nam Sơn - Tề phong, Kinh Thi. Bàn dịch của Tạ Quang Phát, có sửa vài chữ.

[36] Đáy là mấy câu trong khổ hai, thơ Manh - Vệ phong, Kinh Thi.

[37] Đây là mấy câu trong khổ bốn, thơ Manh - Vệ phong, Kinh Thi.

[38] Đây là khổ thứ ba, thơ Đại xa - Vương phong, Kinh Thi. Bản dịch của Tạ Quang Phát, có sửa vài chữ.

[39] Hai loại lê, mận cực quý hiếm được chép trong sách Quảng chí và Thuật di ký.

[40] Đông Vương công: tức Đông Hoa đế quân, trong thần thoại là vị thần đứng đầu các nam than.

[41] Đoạn này nhân vật chơi chữ đối đáp với nhau, rất khó chuyển được sang tiếng Việt. Chúng tôi xin phép giải nghĩa: chữ táo (tảo) 棗 đồng âm với tảo 早 (sớm), chữ lê 棃 (trái lê) đồng ân chữ ly 離 (chia ly), chữ hạnh 杏 (quả hạnh) đồng âm chữ hạnh 幸 (may mắn), chữ nại 奈 (một loại quả như mận), đồng âm chữ nại 耐 (nhẫn nại).

[42] Nhạc ký chép: Khống Tử nói: “Khâu này đến nước Tề, nghe nhạc thiều, ba tháng không biết đến mùi thịt, không ngờ nhạc lại có thế (ngon hơn) đến như thế.”

[43] Liệt tử chép: Xưa Hàn Nga đến nước Tề, hết lương ăn, bèn qua Ung Môn hát kiếm sống, sau khi Hàn Nga đi khỏi đã ba ngày rồi, mà dư âm lời hát vẫn còn vất vít trên xà nhà không hết.

[44] Dương Thành, Hạ Thái đều thuộc Dự Châu, nổi tiếng là những nơi nhiều con gái đẹp. (Trong Đăng Đồ Tử Hiếu Sắc Phú của Tống Ngọc có câu: “Yên nhiên nhất tiếu, hoặc Dương Thành, mê Hạ Thái” (Một nụ cười xinh đẹp, làm mê hoặc đất Dương Thành, làm si mê thành Hạ Thái). Lý Thiện chú: “Dương Thành, Hạ Thái là tên hai huyện, là đất phong của các công tử quý tộc nước Sở.” Lữ Diên Tế chú: “Dương Thành, Hạ Thái là tên hai quận nước Sở, nơi các nhà quý tộc ở, trong đó có nhiều người đẹp.”)

[45] Ý nhắc câu trong sách Thượng thư; “Dư kích thạch phụ thạch, bách thú suất vũ.” (Ta gõ đá vỗ đá, trăm giống thú ra nhảy múa.)

[46] Cáu này cũng nhắc câu trong sách Thượng thư: “Tiêu thiều cửu thành, phượng hoàng lai nghi” - Nhạc tiêu thiều nổi lên, chim phượng hoàng bay đến hòa vui.

[47] Câu này nhắc ý thơ của Lý Đoan đời Đường trong bài Minh tranh: “Dục đắc Chu lang cố; thời thời ngộ phất huyền” (Muốn chàng Chú nhìn đến; thỉnh thoảng lại gảy sai dây).

[48] Đất Hồ phía bắc, đất Việt phía nam. Ý nói trái tình thì cách xa nhau như đất Hồ với đất Việt.

[49] Vũ xương: tên huyện ở Ngạc Châu, đất ấy khắp nơi đều trồng rất nhiều liễu.

[50] Đổng Trạch: đầm ở huyện Văn Hỷ, Hà Đông, có nhiêu cây dương có thể lấy làm tên được.

[51] Tào Thực tự Tử Kiến là con của Tào Tháo, cũng với cha và anh là Tào Phi đều là những người giỏi thi ca, được ca ngợi chung là “Tam Tào”.

[52] Tử Nam: tức Công tôn Sở, là con Công tử Yến, cháu Trịnh Mục công nước Trịnh. Từ Ngô Phạm có người em gái rất xinh đẹp, đã đính hôn với Công tôn Sở, nhưng Công tôn Hắc (Tử Tích) lại muốn lấy. Từ Ngô Phạm bèn theo kế Tử Sản, cho em gái tự chọn một trong hai người. Tử Tích ăn mặc đẹp đẽ mang lễ vật đến trước rồi ra. Tử Nam chỉ mặc quân phục đến, giương cung bắn bên trái lại bên phải mỗi bên một mũi rồi lên xe đi. Em gái Từ Ngô Phạm nói: “Tử Tích tuy rất đẹp, nhưng Tử Nam mới là nam nhi đích thực.” Bèn lấy Tử Nam.

[53] Bài thơ dùng điển tích trong Tả truyện: Giả đại phu đời Chu Khang vương, xấu trai, cưới được người vợ đẹp, nhưng ba năm liền nàng chẳng nói chẳng cười. Một hôm đi săn cùng Chu vương ở ruộng mạch, Giả giương cung bắn trúng con chim trĩ, người vợ bất giác nói cười.

[54] Cùng cự: một giống dị thú, giống như con ngựa, thường con đực con cái đi đôi với nhau, dùng để nói sự gắn bó vợ chồng, tương tự như “uyên ương” ở dưới.

[55] Điến tích thời Đông Hán, Tôn Thọ là vợ Lương Ký rất xinh đẹp, phong thái yêu mị, nghĩ ra kiếu vấn tóc đuôi ngựa.

[56] Điến tích thời Táy Hán, Trương Sưởng làm Kinh Triệu doãn, thường vẽ mi tô mày cho vợ.

[57] Biện Hòa người nước Sở thời Xuân Thu. Nhân thấy chim phượng lên hòn đá bèn vạt ra mà dâng vua Sở. Đem đục hòn đá, được viên ngọc quý gọi là ngọc bích họ Hòa.Dương Ung người Lạc Dương, rất có hiếu. Đem táng cha mẹ trong núi Chung Nam, có người tới cho một đấu đá, nối rằng có ngọc bên trong. Đục ra quả nhiên được năm đôi bạch bích.

[58] Văn thành: nghĩa là thành hình hoa văn, và cũng là tên của tác giả (Trương Văn Thành).

Châu Hải Đường dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.