(THÁI THÚ NAM KHA)
Thuần Vu Phần người Đông Bình[1], là một tay du hiệp ở đất Ngô Sở, tính nóng nảy, ham rượu, không câu nệ tiểu tiết Nhà Thuần Vu sinh giàu có, nuôi nhiều môn khách. Sinh từng vì giỏi võ nghệ nên được bổ làm Hoài Nam quân Tỳ tướng, nhưng do say rượu xúc phạm chủ soái, nên bị biếm đuổi đi, lại càng phóng túng, lấy rượu làm vui. Nhà Thuần Vu sinh cách quận Quảng Lăng về phía đông mười dặm, phía nam nhà có một cây hòe cổ thụ, cành lớn tán dày, bóng rợp mấy mẫu, ngày nào sinh cũng cùng quần hào uống rượu dưới gốc cây.
Tháng Chín, năm Trinh Nguyên thứ bảy, sinh nhân uống say quá, đến nỗi không dậy được, phải cho hai người bạn dìu về nhà, để nằm ở dãy nhà ngang phía đông. Hai người bạn nói: “Ông nằm đây ngủ đi! Chúng tôi đi cho ngựa ăn, rửa chân tay, đợi ông đỡ rồi sẽ đi!”
Sinh cởi khăn nằm xuống gối, phút chốc mơ màng, tựa hồ như mộng. Bỗng thấy hai vị sứ giả mặc áo tía, quỳ lạy, nói với sinh rằng: “Quốc vương nước Hòe An sai tiểu thần đến kính mời ngài!” Sinh bất giác xuống giường, sửa lại y phục, rồi theo hai sứ giả ra cửa, thấy có cỗ xe nhỏ sơn xanh, đóng bốn con ngựa khỏe, cùng bảy, tám người tả hữu tùy tòng, cùng đỡ sinh lên xe, đi ra khỏi cổng lớn, tiến thẳng lại phía hốc cây hòe cổ thụ. Sứ giả lập tức ruổi xe chạy vào hốc cây. Sinh lấy làm kinh ngạc vô cùng, nhưng không dám hỏi. Chợt thấy núi sông phong cảnh, cây cỏ đường xá, khác hẳn nơi nhân thế. Đi tiếp mấy chục dặm nữa, thấy có thành trì hào quách, người xe qua lại, tấp nập trên đường. Bọn tả hữu đánh xe cho sinh truyền hô rất nghiêm ngặt, hành nhân đều xô nhau giạt hết sang hai bên đường. Lại vào thành lớn, thấy cửa son, trên có trùng lâu, với biển đề mấy chữ vàng: “Đại Hòe An Quốc”. Những người canh cửa bái chào rồi lăng xăng bôn tẩu. Có một người phi ngựa đến truyền rằng: “Vương thấy phò mã từ xa mới đến, sai hãy tạm nghỉ ở Đông Hoa quán!”, rồi đi trước dẫn đường. Phút chốc thấy một cửa vòm mở rộng, sinh xuống xe đi vào. Hiên sơn cột chạm, dị thảo kỳ hoa, trồng thành dãy dưới sân; Bàn ghế đệm chân, rèm quây món quý, bày la liệt trên sảnh. Sinh trong lòng lấy làm thích lắm. Lại nghe thấy có tiếng hô lớn: “Hữu tướng đã đến!” Sinh xuống thềm Lạy chào, thấy một người áo tía hốt ngà bước vào, chủ khách cùng trọn lễ nghi mà chào hỏi. Hữu tướng nói: “Vua chúng tôi không quán tệ quốc xa xôi, xin phụng nghênh ngài đến đây, để ủy thác chuyện hôn nhân.” Sinh nói: “Tôi tấm thân hèn kém, đâu dám vọng tưởng như thế!” Hữu tướng bèn mời sinh cùng vào triều. Đi được chừng trăm bước, qua một của son, mâu kích phú việt la liệt hai bên tá hữu, có mấy trăm quân sĩ, cùng đứng tránh cả ở bên đường. Có một người vốn là bạn rượu với sinh, tên là Châu Biền, cùng đi lẫn trong đó. Sinh thầm mừng trong dạ, nhưng không dám tiến lên hỏi. Hữu tướng dẫn sinh lên một điện lớn, ngự vệ nghiêm cẩn, tựa như nơi của bậc chí tôn. Thấy có một người to lớn nghiêm trang, ngồi trên vương vị, mặc áo lụa trắng, trâm đỏ mũ hoa. Sinh run rẩy sợ sệt, không dám nhìn lên. Quân hầu tả hữu, lệnh cho sinh lạy chào. Vương nói: “Trước đây, vâng mệnh phụ thân ngài không chê nước ta nhỏ, ta đã hứa đem thứ nữ là Dao Phương cho hầu hạ quân tử.” Sinh chỉ biết lĩnh mệnh phục lạy, không dám nói gì. Vương nói: “Hãy tạm lui về tân quán, để chuẩn bị lễ nghi.” Rồi lệnh cho Hữu tướng cùng với sinh về tân quán. Sinh thầm nghĩ trong lòng, khi cha mình làm tướng ngoài biên, nhân bị quân giặc bắt, giờ không biết sống thác, có nhẽ cha mình đã hòa thân với Bắc phiên[2], nên có việc này chăng? Càng nghĩ càng nghi hoặc, không biết ra sao. Tối ấy, dê nhạn[3], tiền lụa, các đồ nghi trượng, đàn sáo kỹ nhạc, đèn đuốc trân tu, ngựa xe lễ vật... đều chẳng thiếu thứ gì. Có một toán con gái, kẻ xưng Hoa Dương cô, kẻ xưng Thanh Khê cô, kẻ xưng Thượng tiên tử, kẻ xưng Hạ tiên tử... rất đông, mỗi người lại đi cùng mấy chục thị tòng, đội mũ thúy phượng, mặc áo kim hà, trang sức vàng ngọc, rực rỡ chói mắt. Bọn họ dạo chơi vui đùa, qua lại dưới cửa, tranh nhau trêu chọc Thuần Vu lang, dáng vẻ yêu kiều, nói năng hoạt bát, khiến sinh không tài nào ứng đối được.
Có một nàng nói với Phần rằng: “Ngày Thượng tỵ’ hồi trước, tôi theo Linh Chỉ phu nhân qua chùa Thiền Trí, đến Thiên Trúc viện xem múa Bà La môn. Tôi cùng các chị em ngồi trên sập đá ở cửa sổ phía bắc. Khi ấy chàng còn thiếu niên, cũng xuống ngựa đứng xem. Chàng cứ cố sán lại làm thân, nói cười trêu cợt. Tôi với Cùng Anh muội, mới tết cái khăn đỏ, treo trên cành trúc, không biết chàng còn nhớ không? Lại đến ngày mười sáu tháng Bảy, tôi theo hầu Thượng Chân Tử ở chùa Hiếu Cảm, nghe Khế Huyền pháp sư giảng Quan Âm kinh. Giảng xong, tôi có bỏ hai chiếc thoa Kim phượng, Thượng Chân Tử cũng bỏ một cái hộp Thủy tê để cúng dường. Khi ấy, chàng cũng dự buổi giảng kinh, đến chỗ pháp sư mượn thoa và hộp để xem, rồi khen ngợi là vật dị thường mãi, lại quay sang nhìn chúng tôi bảo: “Người cùng với vật, đều chẳng phải trên thế gian có thể có được.” Lại hỏi họ tên và chỗ ở, nhưng tôi không đáp. Chàng tình ý quyến luyến, cứ nhìn theo mãi không rời. Há chàng lại không nhớ chuyện ấy ư?” Sinh nói: “Trong lòng còn nhớ, khi nào quên được.” Đám con gái lại nói: “Thật không ngờ hôm nay lại được thành thân thích với chàng.”
Lại có ba người, áo mũ nghiêm chỉnh, đến trước mặt bái chào sinh, nói: “Phụng mệnh đến lo việc giúp phò mã.” Trong bọn, có một người là bạn cũ, sinh nhận ra, trỏ kẻ ấy bảo: “Ông có phải là Điền Tử Hoa ở Phùng Dực[4] không?”
Điền nói: “Phải.” Sinh đến bên cầm tay hỏi thăm hồi lâu, rồi lại nói: “Làm sao ông lại ở đây?” Tử Hoa nói: “Tôi đi ngao du, được Hữu tướng Vũ Thành hầu Đoàn công biết đến, nhân đó lưu lại.” Sinh lại hỏi: “Châu Biền cũng ở đây, ông có biết không?” Tử Hoa nói: “Châu sinh là bậc quý nhân, giữ chức Tư lệ[5], quyền thế rất lớn, tôi cũng mấy bận được che chở giúp cho.” Bèn cùng nhau nói cười vui vẻ, giây lát có tiếng truyền rằng: “Phò mã có thể vào rồi!” Ba người kia cùng giúp sinh đeo kiếm, đội mũ, thay y phục. Tử Hoa nói: “Không ngờ hôm nay lại được xem thịnh lễ này, ắt hẳn suốt đời không quên.” Rồi đó, có mấy chục tiên nữ, cùng tấu những khúc nhạc rất lạ, nghe uyển chuyển véo von, khúc điệu thê thiết, cõi nhân gian chưa từng nghe thấy. Lại có mấy chục người cầm đuốc dẫn đường, hai bên tả hữu tàn lọng xanh vàng, lung linh rực rỡ, liên tiếp mấy dặm. Sinh ngồi ngay ngắn trên xe, tâm ý hoảng hốt, không yên trong dạ. Điền Tử Hoa phải liên tục nói cười cho khuây khỏa. Toán đàn bà con gái khi trước, ai nấy đều ngồi xe cánh phượng, cùng đi trong đoàn. Đến một cửa lớn, có đề chữ Tu Nghi Cung, bọn đàn bà con gái, lũ lượt đứng hầu hai bên, bảo sinh xuống xe chào hỏi, quỳ bái, cũng giống như nhân gian. Bỏ tàn ngả quạt ra rồi, thấy một nữ tử, mọi người gọi là Kim Chi công chúa, tuổi chừng mười bốn, mười lăm, đẹp tựa thần tiên. Các nghi lễ cưới xin, đều cực kỳ long trọng.
Từ đó, sinh ý tình ngày càng khắng khít, vinh hiển ngày càng lớn thêm. Xe cộ y phục ra vào, yến tiệc tân khách, chỉ kém có vương giả. Vương lệnh cho sinh cùng với quần thần sửa sang võ vệ, chuẩn bị để đi săn ở núi Linh Quy ở phía tây. Nơi ấy núi đồi tươi đẹp, sông dài đầm rộng, rừng rậm tốt tươi, chim bay thú chạy chẳng gì không có. Quân tướng săn bắn được nhiều lắm, đến tối thì quay về. Hôm khác, sinh nhân tâu hỏi vương rằng: “Bữa trước, khi thần sắp thành hôn, đại vương có nói phụng theo lời cha thần. Cha thần trước vốn làm tướng ngoài biên, dụng binh thất lợi, bị quân Hồ bắt mất. Từ đó đến nay tuyệt vô âm tín đã mười tám năm rồi. Đại vương đã biết cha thần ở đâu, xin cho thần biết để đến thăm cha.” Vương bèn nói: “Ông thân gia nay chức giữ đất Bắc, tin tức vẫn tới luôn. Khanh chỉ nên viết thư hỏi thăm, chứ chưa tiện tới được.” Sinh bèn bảo vợ chuẩn bị lễ vật làm quà, sai người mang cùng thư đi. Qua mấy đêm liền có thư đáp. Sinh mở thư ra xem ý tứ, thấy đúng là bút tích bình sinh của cha. Trong thư nói những điều nhớ mong dặn bảo, tình ý ủy khúc, hệt như thuở trước. Lại hỏi thăm sinh những chuyện họ hàng còn mất, làng xóm hưng suy thế nào, và nói đường xá xa xôi, gió sương cách trở, lời lời buồn khổ, chữ chữ đau thương, lại không cho sinh đến gặp, bảo: “đến năm Đinh Sửu, thì sẽ cùng con gặp mặt”. Sinh cầm thư nghẹn ngào, đau buồn không thôi.
Ngày khác, người vợ bảo sinh rằng: “Chàng không nghĩ đến việc làm quan ư?” Sinh nói: “Ta vốn phóng đãng, không hợp với việc chính sự.” Vợ nói: “Chàng cứ làm đi, thiếp sẽ giúp sức.” Rồi nàng liền tâu với vương. Ít hôm sau, vương nói với sinh rằng: “Đất Nam Kha của ta chính sự bê trễ, quan Thái thú bị phế truất, muốn dùng tài khanh, mong khanh chịu ủy khúc, mà cùng với tiểu nữ của ta đến đó.” Sinh kính cẩn nhận mệnh. Vương bèn lệnh cho hữu ty chuẩn bị hành lý cho quan Thái thú. Nhân lại đem vàng ngọc, gấm lụa, hòm rương, bộc thiếp, ngựa xe, dàn đầy đường lớn, để tiễn chân công chúa. Sinh hồi trẻ là du hiệp, chưa từng dám có mong muốn đến như thế, nay thấy vậy thì mừng lắm. Nhân dâng biểu rằng:
“Thần là con nhà tướng, vốn không tài nghệ, e gánh chức lớn, tất hỏng chính sự. Mang trọng trách mà lòng buồn lo, sợ cuối cùng tất không nên việc. Những muốn rộng tìm hiền tài cùng đến đất miền nam, để giúp những điều khuyết thiếu. Nay thấy Tư lệ Châu Biền người Dĩnh Xuyên[6], trung thành cương trực, giữ phép nghiêm minh, có tài phù tá. Xử sĩ Điền Tử Hoa người Phùng Dực, cẩn trọng thông biến, có thể giúp chính sự giáo hóa. Hai người ấy với thần đã có mười năm tương giao, biết rõ tài năng, có thể ủy thác chính sự. Xin cho Châu Biền làm chức Nam Kha Tư hiến, Điền Tử Hoa làm chức Nam Kha Tư nông[7], để cùng giúp thần được chính tích vẻ vang, hiến chương không lỗi vậy.”
Vương bèn chuẩn phê tấu biểu sai hai người ấy cùng đi. Tối đó, vương cùng phu nhân mở tiệc tiễn hành ở phía nam thành. Vương bảo sinh rằng: “Nam Kha là quận lớn của nước, đất đai trù phú, nhân vật phồn thịnh, không dụng ân thì chẳng cai trị được. Vả, có hai người Châu, Điền tán trợ, khanh hãy gắng sức, chớ phụ lòng đất nước.” Phu nhân cũng dặn công chúa rằng: “Thuần Vu lang vốn tính cương cường ham rượu, lại đang tuổi trẻ, đạo làm vợ, cốt ở điều nhu thuận, con hãy thờ chồng cho tốt, để ta khỏi phải lo nghĩ vậy. Nam Kha tuy chẳng phải đất xa, nhưng sớm hôm cũng không thế luôn gặp mặt. Hôm nay chia biệt, há chẳng đau buồn sao được,”
Sinh cùng vợ lạy chào để đi về nam, lên xe ruổi ngựa, nói cười vui vẻ. Mấy đêm thì đến quận. Các quan lại, tăng đạo, kỳ lão trong quận cùng đem theo âm nhạc, xe cộ, võ vệ, trống chiêng tranh nhau kéo ra nghênh đón. Người đứng chật đường, trống chiêng vang dậy, suốt mười mấy dặm không dứt. Sinh thấy thành quách đài quán, khí đẹp ngùn ngụt. Vào đến cổng lớn, thấy có biển đề bốn chữ vàng: “Nam Kha Quận Thành”, hiên cao cửa rộng, vô cùng thâm nghiêm. Sinh xuống xe, thăm hỏi phong tục, cứu giúp bệnh khổ, rồi đem chính sự úy thác cho Châu, Điền, trong quận bèn yên ổn. Sau khi sinh coi quận hai mươi năm, phong hóa rộng khắp, trăm họ âu ca, dựng bia công đức, lập đền sinh từ. Vương rất quý trọng, ban thực ấp, thưởng tước vị, cho giữ ngôi đài phụ[8]. Hai người Châu, Điền cũng vì công lao chính trị, được thăng chức lớn. Sinh có năm con trai, hai con gái. Trai thời tập ấm làm quan, gái thời gả cho vương tộc, hiển hách vẻ vang, nhất thời thịnh đạt, không ai sánh bằng.
Năm ấy, bỗng có nước Đàn La đến xâm phạm trong quận. Vương sai sinh luyện tướng rèn quân để đi chinh thảo. Bèn dâng biểu cho Châu Biền đem ba vạn quân, để chống giặc ở thành Dao Đài. Biền cương dũng khinh địch, cuối cùng thua quân. Biền phải một mình một ngựa, quẳng áo chạy trốn, đang đêm về đến thành. Quân giặc cũng thu lấy những xe cộ khí giới rồi rút về. Sinh bèn giam Biền lại mà thinh tội, nhưng vương xá cho cả. Tháng ấy, Tư hiến Châu Biền phát ra cái nhọt ở lưng, mà qua đời. Rồi công chúa vợ Phần cũng bị bệnh, mươi ngày thì mất. Sinh bèn xin bãi chức ở quận để hộ tang về nước. Vương ưng thuận cho, bèn lấy Tư nông Điền Tử Hoa tạm giữ việc Thái thú ở Nam Kha. Sinh đau đớn đưa tang vợ về, nghi lễ long trọng suốt một quãng đường, trai gái khóc than, quan dân tế bái, đưa tiễn chật đất, không biết bao nhiêu mà kể. về đến kinh thành, vương cùng phu nhân mặc đồ tang ra tận ngoài cõi thương khóc, đợi sẵn linh xa đến. Bèn ban thụy cho công chúa là “Thuận Nghi công chúa”, rồi sắp sửa nghi trượng cờ quạt, kèn trống, đưa ra táng ở gò Bàn Long cách phía đông kinh thành mười dặm. Tháng ấy, con của quan cố Tư hiến là Vinh Tín, cũng hộ tang cha về kinh.
Sinh ra trấn cõi ngoài đã lâu, vẫn kết hiếu với trong nước, các nhà hào môn quý tộc, chẳng ai không thân thiết. Từ khi bãi quan về nước, ra vào bất thường, giao du tân khách, uy phúc ngày càng lớn. Vương có ý nghi phòng. Bấy giờ, có người trong nước dâng biểu rằng: “Trời giáng điềm gở, nước tất có biến. Đô ấp đời đổi, tông miếu băng hoại. Họ khác gây hấn, họa trong tường vách.” Khi ấy, ai cũng nghị rằng chuyện đó ứng với việc sinh xa xỉ tiếm lễ. Vì thế, triều đình bèn đoạt lại quân thị vệ của sinh, cấm sinh giao du với bên ngoài, giam lỏng ở phủ đệ. Sinh cậy công giữ quận nhiều năm, chính sự chưa từng có lỗi, nên buông lời oán nghịch, buồn bực không vui. Vương cũng biết thế, bèn nói với sinh rằng: “Nhân duyên gắn bó hơn hai mươi năm, tiểu nữ bất hạnh yểu vong, không được cùng quân tử bách niên giai lão, thật khiến người ta đau lòng.” Phu nhân bèn giữ các cháu ngoại lại nuôi nấng, rồi lại bảo sinh rằng: “Ngươi rời nhà đi đã lâu, khá tạm quay về cố lý, để gặp gỡ thân tộc. Các cháu hãy để cả lại đày, không cần phải mong nhớ. Ba năm nữa, sẽ lệnh cho đón ngươi.” Sinh nói: “Đây là nhà thần, còn biết về đâu nữa?” Vương cười nói: “Ngươi vốn ở nhân gian, nhà không phải tại đây.” Sinh hoảng hốt như người mê ngủ, đờ đẫn hồi lâu, rồi mới nhớ lại chuyện trước, bèn sa nước mắt xin về. Vương bảo tả hữu đưa sinh đi, sinh lạy hai lạy trở ra, thì thấy hai vị sứ giả áo tía lần trước theo đi. Đến ngoài cửa lớn, thấy cỗ xe quá tồi tàn, tả hữu thuộc hạ bộc tòng không có một ai, trong lòng than thở lấy làm lạ vô cùng. Sinh lên xe, đi mấy dặm thì ra khỏi thành lớn, thấy tựa như con đường năm xưa mình từ phía đông đi đến, núi sông đồng ruộng vẫn y nguyên thuở nào. Hai viên sứ giả đưa đi, cũng không có uy thế gì, sinh càng lấy làm buồn bực. Nhân hỏi sứ giả: “Khi nào thì tới quận Quảng Lăng?” Hai sứ giả vẫn thản nhiên ca hát, hồi lâu mới nói: “Chốc lát là tới.”
Chớp mắt, bèn ra khỏi một cửa hang, liền thấy làng xóm quê hương, không khác gì ngày trước, sinh chợt bi thương vô hạn, bất giác lệ trào. Hai sứ giả dẫn sinh xuống xe, vào cổng nhà, lên thềm, thì thấy thân mình đang nằm tại nhà ngang phía đông. Sinh thất kinh, không dám tiến bước. Hai viên sứ giả bèn gọi to tên họ sinh mấy tiếng, sinh mới chợt bừng tỉnh ngộ như trước. Chỉ thấy đầy tớ trong nhà đang cầm chổi quét sân, hai người bạn đang rửa chân bên sập, nắng quái còn chưa ngả vườn tây, mấy chén rượu dưới cửa sổ phía đông vẫn còn đầy. Giấc mộng chốc mòng, mà tựa như đã một đời trải qua vậy.
Sinh thương cảm than thở, bèn gọi hai người bạn lại kể chuyện cho nghe, ai nấy đều kinh ngạc, bèn cùng sinh ra ngoài, tìm cái hang dưới gốc cây hòe. Phần chỉ bảo: “Đây chính là chỗ trong mộng tôi đi vào.” Hai người bạn cho là ắt có giống hồ ly, mộc tinh tác quái ra thế, bèn lệnh cho đầy tớ mang búa ra, chặt cành cong, đào rễ nổi, tìm tòi đến cùng hang huyệt. Cách đó hơn một trượng, thấy có cái hang lớn, rễ cây làm thành vòm rỗng, có thể chứa được một cái giường. Bên trên có đất đắp, tựa như hình trạng thành quách lâu đài. Có đến mấy hộc kiến, ẩn tụ ở trong. Trong đó có một cái đài con, dường như sắc đỏ, có hai con kiến lớn, cánh trắng đầu đỏ, dài đến ba tấc. Xung quanh mấy chục con kiến lớn khác bảo vệ, kiến khác đều không dám đến gần. Đó là đại vương khi trước, và đây chính là kinh đô của Hòe An quốc vậy. Lại lần đến cùng một hang nữa, thẳng theo cành phía nam đến bốn trượng, uốn lượn quanh co, lại có thành quách lâu đài đất, đàn kiến cũng tụ tập bên trong, ấy tức là quận Nam Kha mà sinh từng lĩnh nhậm vậy. Lại một nhánh hang nữa, đi sang phía tây hơn trượng, vắng vẻ bùn lầy, mấp mô khác lạ, có một cái mai rùa đã mục nát, to bằng cái đấu. Nước mưa đọng ướt, cỏ dại mọc đầy, um tùm rậm rạp, che kín cái mai, đó tức là núi Linh Quy mà sinh từng đi săn vậy. Lại lần hết một nhánh hang nữa, sang phía đông hơn trượng, thấy những rễ cây uốn khúc quanh co, như hình rồng rắn, giữa có một nấm đất nhỏ, cao độ hơn thước, tức là gò Bàn Long chỗ sinh chôn cất vợ mình vậy. Hồi tưởng chuyện cũ, trong lòng sinh cảm thán khôn nguôi, truy tìm dấu tích, đều hợp với chuyện trong mộng. Sinh không muốn hai người bạn phá hủy, bèn bảo lấp kín lại như cũ.
Tối ấy, mưa to gió lớn. Sáng ra xem cái hang, thì không thấy đàn kiến nữa, không biết đi đâu. Câu nói khi trước rằng: “nước tất có biến, đô ấp đời đổi”, đến đây quả nhiên ứng nghiệm. Sinh nhớ đến chuyện nước Đàn La xâm phạm, lại mời hai bạn đi tìm dấu tích ở ngoài. Cách phía đông nhà một dặm, có con suối cạn, bên bờ có một cây gỗ đàn lớn, đây leo chằng chịt, ánh nắng mặt trời cũng không lọt qua. Bên cạnh có một cái hang nhỏ, cũng có đàn kiến quần tụ bên trong. Nước Đàn La, há chẳng phải là chỗ này ư?
Than ôi! Loài kiến cỏn con mà sự linh dị còn không thể hiểu hết được, huống chi là sự biến hóa của những giống núi thẳm rừng sâu to lớn? Khi ấy, những bạn rượu của sinh là Châu Biền, Điền Tử Hoa đều ở trong huyện Lục Hợp[9] cả, đã hơn chục ngày nay chưa qua lại. Sinh bèn sai gia đồng cấp tốc qua thăm, thì Châu sinh đã bị bạo bệnh qua đời, còn Điền Tử Hoa cũng đang ốm liệt giường. Sinh cảm thán nỗi phù hư ở Nam Kha, bèn ngộ ra điều giả tạm nơi nhân thế, từ đó bèn để tâm học đạo, dứt tuyệt tửu sắc. Ba năm sau, nhằm năm Đinh Sửu, thì mệnh chung tại nhà. Khi ấy, sinh bốn mươi bảy tuổi, cũng khớp với cái hạn trong giấc mộng vậy.
Mùa thu, tháng Tám, năm Trinh Nguyên thứ mười tám, Công Tá từ đất Ngô đến đất Lạc, đậu thuyền nghỉ tạm bên bờ sông Hoài, ngẫu nhiên trông thấy đi tượng của Thuần Vu sinh, bèn hỏi thăm đi tích, trăn trở vài phen, việc đều xác thực, bèn ghi chép thành truyện, dành cho những người hiếu sự xem chơi. Tuy là câu chuyện kỳ quái, việc chẳng giống thường, nhưng những kẻ trộm được tước vị mà mưu sinh, cũng nên lấy đó làm răn. Các bậc quân tử đời sau, khá coi câu chuyện Nam Kha là sự ngẫu nhiên, chớ đem danh vị mà làm kiêu giữa vòng trời đất vậy.
Ông Lý Triệu trước từng làm Hoa Châu Tham quân, có lời tán rằng:
Quý cực tước vị,
Quyền nghiêng đô kỳ.
Đạt nhân coi đó,
Kiến tụ khác chi!
[1] Đông Bình: tên quận đời Đường, tức Vận Châu, nay là khu vực đông bắc huyện Hà Trạch, Sơn Đông.
[2] Bắc phiên: đời Đường chỉ các tộc người thiểu số phía bắc như Khiết Đan, Mạt Hạt...
[3] Nguyên văn “cao nhạn: dê non, chim nhạn” thời cổ là lễ diện kiến của các quan khanh, đại phu. Sau chỉ sính lễ hôn sự.
[4] Phùng Dực: tên quận đời Đường, tức Đồng Châu, địa bàn tương đương các huyện Đại Lệ, Hợp Dương, Hàn Thành, Trừng Thành, Bạch Thủy, tỉnh Thiểm Tây ngày nay.
[5] Tư lệ: tức Tư lệ hiệu úy, là chức vụ coi việc tri an ở kinh thành và các quận thuộc địa hạt.
[6] Dĩnh Xuyên: tên quận đời Đường, tức Hứa châu, ước tương đương khu vực các huyện Hứa Xương, Trường Cát, Yên Lăng, tỉnh Hà Nam ngày nay.
[7] Tư hiến: chức quan chủ quản việc tư pháp.Tư nông: chức quan chủ quản việc nông nghiệp, tiền lương.
[8] Đài phụ: chỉ chức vị tam công.
[9] Lục Hợp: nay là huyện Lục Hợp, tỉnh Giang Tô.