Bạch Hành Giản

Đường Tống Truyền Kỳ (Châu Hải Đường dịch)

Lượt đọc: 325 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
LÝ OA TRUYỆN

❊ ❊ ❊

(TRUYỆN LÝ OA)

Khiên Quốc phu nhân Lý Oa, là một kỳ nữ trong làng ca xướng ở thành Trường An, tiết hạnh cao tuyệt, đáng để khen ngợi, nên Giám sát ngự sử Bạch Hành Giản viết truyện này để thuật lại.

Đời Thiên Bảo, có quan Thứ sử Thường Châu là Huỳnh Dương công, xin lược họ tên không chép ở đây, uy vọng cao tột, gia tư giàu có. Đến tuổi tri thiên mệnh[1], thì con trai duy nhất mới tuổi đội mũ[2]. Chàng vốn thông tuệ, văn tài xuất chúng, nên được mọi người nể phục. Người cha rất yêu quý con, thường nói: “Đó là thiên lý mã nhà ta vậy!”

Kịp đến kỳ thi hương để tuyển tú tài, sinh sắp lên đường, cha bèn sắm sanh đầy đủ y phục, đồ dùng, xe ngựa, tính toán chỉ phí ăn ở trên kinh sư, rồi bảo: “Ta xem tài của con, tất đánh một trận mà nên bá nghiệp. Nay chuẩn bị sẵn phí dụng hai

năm, cho con chi dùng thoải mái, để lập chí vậy.” Sinh cũng tự phụ, nghĩ việc thi đậu đã nắm trong lòng bàn tay. Bắt đầu xuất phát từ Tì Lăng[3], hơn một tháng thì đến Trường An, ở trọ trong làng Bố Chính.

Một lần, sinh đi chơi chợ Đông về, vào cửa đông Bình Khang, định tới thăm người bạn ở phía tây nam. Đến ngõ Minh Kha, thấy một ngôi nhà sân ngõ không lớn lắm, nhưng phòng xá thâm nghiêm. Qua cánh cổng khép hờ, thấy có người thiếu nữ đứng vịn vai một đứa nữ tỳ tóc để hai bím, vẻ yêu kiều diễm lệ, tuyệt thế vô song. Sinh hốt nhiên nhìn thấy, bất giác dừng ngựa hồi lâu, bần thần không rời chân nổi. Bèn vờ đánh rơi roi ngựa xuống đất, đợi bọn tùy tòng đến nhặt lên giúp. Sinh cứ liếc nhìn thiếu nữ mãi, nàng cũng chăm chú ngoái nhìn, ý tình vô cùng mến mộ, nhưng rốt sinh không dám nói gì rồi đi.

Từ ấy, sinh ý tình thảng thốt tựa như mất vật quý gì, bèn bí mật hỏi thăm những bạn bè thông thạo chốn Trường An. Bạn nói: “Đó là nhà của kỹ nữ họ Lý vậy.” Sinh nói: “Có thể cầu được cô ấy không?” Người bạn đáp: “Lý thị cao giá lắm. Trước nay chỉ qua lại với những nơi quý thích hào tộc, được rất nhiều tiền. Nếu không có trăm vạn, thì không thể khiến nàng động tâm đâu.” Sinh nói: “Chỉ lo việc bất thành, chứ tiếc gì trăm vạn?”

Ngày khác, sinh bèn ăn mặc tươm tất, cùng đông đảo tùy tòng, đến gõ cửa nhà Lý thị. Một lát thấy có con hầu ra mở cửa. Sinh hỏi: “Dám hỏi, đây là phủ đệ của ai?” Con hầu không đáp, chạy nhanh vào kêu to: “Là chàng rơi roi ngựa bữa trước!” Thiếu nữ cả mừng, nói: “Bảo chàng đợi chút. Ta trang điểm thay y phục rồi sẽ ra.” Sinh nghe vậy mừng thầm. Rồi đó, bèn ra mời sinh vào trong nhà, thấy có một bà lão tóc bạc lưng còng, tức là mẹ thiếu nữ, sinh quỳ bái, hỏi thăm rằng: “Tôi nghe ở đây có phòng trống, muốn thuê làm chỗ ở, không biết có phải chăng?” Bà già nói: “Chỉ e tồi tàn chật chội, không xứng cho bậc trưởng giả ở thôi, đâu dám nói đến thuê mướn?” Rồi mời sinh đến nhà khách, thấy nhà cửa vô cùng đẹp đẽ. Bà lão cũng ngồi nói chuyện, nhân bảo: “Tôi có đứa con gái nhỏ, tài non nghệ mọn, nay mừng có khách quý đến, xin cho nó ra gặp mặt.” Bèn gọi thiếu nữ ra. Thấy mắt sáng tay ngà, cử chỉ diễm lệ, sinh cả kinh đứng dậy, không dám nhìn thẳng. Chào hỏi xong xuôi, cùng nhau trò chuyện, thiếu nữ mọi vẻ mọi ưa, chưa từng thấy qua. Lại cùng ngồi xuống, pha trà rót rượu, khí dụng vô cùng tinh sạch. Lúc lâu, trời đã về chiều, bốn bề trống điểm. Bà lão hỏi sinh cư ngụ xa gần. Sinh bèn vờ bảo: “Tôi ở ngoài cửa Diên Bình mấy dặm.” Thầm mong vì xa xôi mà lưu lại. Không ngờ bà già bảo: “Trống thu không đã điểm, nên mau ra về, kẻo phạm cấm.” Sinh nói: “May được tiếp đón vui vẻ, không biết ngày đã về chiều. Đường xá xa xôi, trong thành lại không có người thân thích, không biết làm sao bây giờ?” Thiếu nữ nói: “Nếu không chê tồi tàn vắng vẻ, thì xin cứ nghỉ lại đây, có làm sao đâu?” Sinh đưa mắt nhìn bà già mấy lần. Bà già nói: “Được, được.” Sinh bèn vẫy bọn gia đồng, mang hai sấp lụa, xin chuẩn bị giúp một bữa tiệc đêm. Thiếu nữ cười, ngăn lại bảo: “Cái nghĩa chủ khách, đâu cần phải vậy. Phí dụng đêm nay, xin cứ để nơi bần xá, cơm rau một bữa mời chàng tùy nghi. Còn lại thì đợi đến khi khác hãy hay.” Sinh cố chối từ, nhưng không được. Một lát cùng sang ngồi ở nhà mé tây, giường màn rèm trướng, rực rỡ chói lòa, chăn gối nữ trang, cũng đều quý phái. Bèn thắp đèn bầy tiệc, vô cùng thịnh soạn. Tiệc tan, bà già đứng dậy đi ra. Sinh cùng thiếu nữ trò chuyện thắm thiết, nói cười trêu đùa, chẳng thiếu điều gì. Sinh nói: “Bữa trước ngẫu nhiên qua nhà nàng, thấy nàng đang đứng bên tường bình phong. Từ đó trong lòng nhớ nhung, khi ăn khi ngủ cũng không quên được.” Thiếu nữ đáp: “Lòng thiếp cũng như thế.” Sinh nói: “Nay ta đến đây, nào chỉ muốn xin được nhờ trọ, mà chính là muốn được thỏa nguyện bình sinh. Chẳng hay ý nàng thế nào?” Còn chưa dứt lời, thì bà già đã đi đến, vặn hỏi duyên do, sinh nói hết cho biết, bà già cười nói: “Nam nữ với nhau, vẫn có điều ham muốn lớn. Tình đã tương đắc, thì dẫu mệnh lệnh cha mẹ, cũng không thể ngăn cản được. Con gái tôi vốn quê mùa, đâu xứng để hầu gối chăn cho người quân tử?” Công tử bèn xuống thềm, bái lạy cảm tạ rằng: “Xin cho phép tôi được làm kẻ hầu người hạ.” Bà già bèn coi như chàng rể, rồi mọi người cùng uống say mới tan. Đến sáng, sinh bèn đem hết hành trang lại, rồi ở luôn nhà họ Lý.

Từ đó, sinh ẩn tích giấu mình, không chơi bời giao du với thân hữu nữa, ngày nào cũng tụ tập với đám ca kỹ yến ẩm vui chơi. Đến khi tiền túi đã cạn, bèn bán cả ngựa cưỡi, cùng gia đồng. Hơn một năm, thì tiền của, người hầu, ngựa cưỡi đều hết sạch sành sanh. Từ đó, bà già dần có ý lạnh nhạt, nhưng thiếu nữ thì tình càng thắm thiết.

Một hôm, thiếu nữ nói với sinh rằng: “Cùng chàng ăn ở đã một năm rồi, mà thiếp vân chưa có mang. Thường nghe có Trúc Lâm thần, báo ứng tình thiêng lắm, thiếp muốn tới dâng lễ cầu tự, có được chăng?” Sinh không biết là kế của nàng, nên mừng lắm. Bèn đem cầm áo xống, lấy tiền sắm sửa lễ vật, rồi cùng thiếu nữ đến miếu thần cầu đảo, ở lại hai đêm rồi về. Sinh cưỡi lừa đi phía sau, đến cửa bắc làng, cô gái bảo: “Từ đây ngoặt sang mé đông, vào một ngõ nhỏ, thì đến nhà dì của thiếp. Chúng ta hãy rẽ vào thăm mà nghỉ lại một lát, có được chăng?” Sinh nghe lời, cùng đi về phía trước chưa quá trăm bước, quả nhiên thấy một cổng ngõ, nhìn sang bốn bên, thấy vô cùng rộng rãi. Một con hầu ở phía sau xe, ngăn lại và nói: “Đến rồi!”. Sinh bước xuống, thì thấy một người đi ra hỏi: “Ai đấy?” Đáp: “Lý Oa đây.” Người kia vào bẩm, lát sau thì có một bà tuổi chừng hơn bốn mươi đi ra đón sinh, nói: “Cháu rể ta đến đấy hẳn?” Thiếu nữ xuống xe, bà ta lại ra đón, hỏi: “Sao lâu lắm không thấy qua?” Hai người cùng nhìn nhau mà cười, thiếu nữ dẫn sinh đến lạy chào, rồi mọi người cùng vào sân phía tây cổng lớn. Trong sân thấy có núi non đình gác, tùng trúc xanh tươi, hồ nước thủy tạ u nhã vô cùng. Sinh nói với thiếu nữ: “Đây là nhà riêng của dì ư?” Nàng chỉ cười không đáp, nói lảng sang chuyện khác. Một lát, thì thấy có trà quả dâng lên, ngon lạ vô cùng. Chừng ăn xong bữa cơm, thấy có một người cưỡi con ngựa Đại Uyển[4], mồ hôi nhễ nhại chạy đến, nói: “Bà mắc bạo bệnh nặng lắm, không nhận ra ai nữa rồi. Xin mau về ngay.” Thiếu nữ nói với dì: “Trong lòng cháu rối loạn quá. Xin đi ngựa về trước, rồi sẽ cho xe quay lại để đón dì với chồng cháu.” Sinh định theo đi, nhưng người dì với đứa hầu cùng khuyên can, xua tay bảo: “Bà sắp mất rồi, cậu nên ở lại cùng chúng ta lo bàn việc tang giúp khi việc gấp, chứ theo nó về làm gì?” Sinh bèn ở lại bên ngoài, cùng lo liệu các đồ dùng làm ma trai tế.

Tới chiều muộn, xe vẫn chưa quay lại. Bà dì nói: “Không thấy ai phục mệnh báo tin là sao? Cháu hãy về trước xem thế nào, rồi ta sẽ tới liền.” Sinh bèn về trước, đến nhà cũ, thấy cửa đóng then cài rất kỹ, lại niêm phong cẩn thận. Sinh kinh hoảng, hỏi thăm láng giềng, họ nói: “Họ Lý thuê nhà này ở, nay hết kỳ hạn, chủ nhà thu lại. Bà Lý đã chuyển chỗ ở khác hai hôm nay rồi.” Lại hỏi: “Chuyển đi đâu?” Đáp: “Cũng không biết đâu cả.” Sinh định quay lại làng Tuyên Dương để hỏi người dì, thì trời đã tối, không thể đi được nữa. Sinh phải cởi y phục, cầm cố đế lấy bữa ăn chốn ngủ qua đêm. Trong lòng vô cùng tức giận, từ tối đến sáng, không chợp được mắt chút nào.

Trời vừa sáng, sinh liền cưỡi lừa đi. Đến nơi, gõ cửa mãi, chừng ăn xong bữa cơm cũng không thấy ai đáp lời. Sinh gọi to ba, bốn lần, thì thấy có một quan viên thong thả đi ra. Công tử vội hỏi: “Bà dì có trong nhà không?” Người ấy đáp: “Không có ai như thế cả.” Sinh nói: “Chiều qua vẫn còn ở đây, làm sao lại giấu?” rồi lại hỏi đây là phủ đệ của nhà ai. Người ấy nói: “Đây là nhà của Thôi Thượng thư. Hôm qua có một người thuê tạm sân này, nói là để đợi một người bà con tít xa tới. Chưa đến tối thì họ đã đi cả rồi.” Sinh nghi hoặc hốt hoảng hóa cuồng, không biết phải làm thế nào, bèn quay về chỗ trọ cũ ở làng Bố Chính. Chú nhà trọ thương tinh cho ăn. Sinh phẫn hận, tuyệt thực ba ngày, thành ra mắc bệnh, hơn chục hôm thì nguy kịch. Chú nhà trọ sợ không qua khỏi, bèn cho chuyển sang cửa hiệu tang lễ. Sinh thoi thóp hồi lâu, cả hiệu ai cũng thương tình mà cho ăn uống, về sau, bệnh tình sinh dần bớt, có thể chống gậy đứng lên được, từ đó của hiệu tang lễ mỗi ngày lại thuê cầm phướn tang, để tự kiếm chút tiền độ nhật. Mấy tháng sau sinh dần khỏe lại, nhưng mỗi khi nghe thấy những bài hát ai điếu, đều tự than thở rằng mình chẳng bằng người chết, rồi sụt sùi rơi lệ, không sao ngăn được. Khi về lại bắt chước học hát theo. Sinh vốn là người thông tuệ, chẳng bao lâu đã nắm được hết những chỗ tính diệu của các khúc hát ấy, khắp thành Trường An không ai bì được.

Trước đây, hai cửa hiệu cho thuê đồ tang lễ cùng tranh cạnh với nhau. Hiệu phía đông xe đòn đều rất đẹp đẽ, không đâu bì được, duy có người khóc mướn thì kém. Người chủ biết sinh hát ai điếu tuyệt diệu, bèn đem hai vạn tiền đến mướn. Những người kỳ cựu trong nhóm, cùng thử so tài, rồi ngầm dạy cho những điệu mới, lại cùng hòa theo đệm giọng, đã hơn chục hôm, mà không một ai biết cả. Chủ hai cửa hiệu cùng hẹn với nhau rằng: “Chúng ta cùng đem những đồ cửa hiệu mình cho thuê, ra phố ngoài cửa Thiên môn mà so đấu xem ai hơn kém. Kẻ nào kém thì phải phạt năm vạn, để sắm sửa tiệc rượu, được không?” Hai bên đồng ý, bèn lập văn khế làm bằng, rồi cùng so đấu. Trai gái cùng tụ tập đến xem, đông đến mấy vạn. Vì vậy, Lý tư bẩm với quan Tặc tào, Tặc tào lại bẩm cho quan Kinh doãn[5] biết, người khắp bốn phương, đều kéo nhau tới, các ngõ đều vắng bóng người. Sáng sớm bắt đầu thi, đến giữa trưa, đem hết các đồ xe đòn nghi trượng ra, cửa hiệu bên phía tây đều không thắng được. Ông chủ có vẻ thẹn, bèn

cho dặt cái sập mấy tầng ở góc phía nam, rồi có một người râu dài cầm mõ bước vào, theo sau là mấy người hộ vệ. Ông ta vểnh râu giương mày, chắp tay cúi đầu bước lên sập, hát khúc Bạch mã[6], cậy rằng xưa nay mình vẫn thắng, nhìn phải quay trái, không coi ai ra gì. Mọi người cùng nhất tề tán thưởng, liền tự cho là đứng đầu bấy giờ, không ai có thể hơn được.

Chốc lát, ông chủ hiệu phía đông cũng cho đặt mấy cái sập ở góc phía bắc, rồi có một thiếu niên đội khăn đen, tay cầm quạt vả, cùng năm, sáu người tả hữu đi ra, chính là sinh vậy. Chàng sửa sang y phục, cử chỉ từ tốn, trắng giọng cất lời, nét mặt sầu thảm. Rồi hát bài Giới lộ[7], giọng ca trong vắt, vang động cây rừng, hát chửa dứt câu, mà người nghe ai cũng sụt sùi nhỏ lệ. Ông chủ hiệu phía tây bị mọi người chê cười, thì càng thêm nhục thẹn, lén để số tiền mình bị thua ở trước mặt, rồi trốn đi luôn. Người xem bốn bên kinh ngạc ngây nhìn, không thể ngờ được.

Bấy giờ, thiên tử vừa có chiếu, cho đòi những quan trấn nhậm ở cõi ngoài, mỗi năm phải một bận vào chầu, gọi là “nhập kế”. Khi ấy, vừa gặp dịp cha của sinh cũng ở kinh sư, cùng với đồng liêu đổi mặc thường phục đến xem so đấu. Có người lão bộc, vốn là chồng của vú nuôi sinh, trông thấy cử chỉ dáng điệu của chàng, định nhận nhưng lại không dám, chỉ biết sa nước mắt mà khóc. Cha sinh ngạc nhiên vặn hỏi, lão bộc liền bảo: “Trông dáng vẻ người hát kia, rất giống công tử đã mất nhà ta.” Cha sinh nói: “Con ta vì mang theo nhiều tiền của nên bị bọn trộm cướp giết hại, làm gì có chuyện tới đây được?” Nói xong, cũng khóc. Tới khi ra về, người lão bộc thừa cơ vội tới cửa hiệu, hỏi những người đồng bạn của sinh rằng: “Người hát khi nãy là ai, mà hát hay như thế?” Chúng đều nói cho biết họ, nhưng tên thì đã đổi đi rồi. Lão bộc giật mình kinh ngạc, bèn tiến lại gần quan sát kỹ. Sinh thấy người lão bộc thì biến sắc, quay mình định lẩn vào đám đông. Lão bộc níu tay áo, nói: “Chẳng phải là công tử đó ư?” Hai người cùng cầm tay nhau mà khóc, lão bộc bèn đưa chàng theo trở về. Đến nhà rồi, người cha mắng bảo: “Chí hạnh ngươi như thế, thật ô nhục gia môn nhà ta, còn mặt mũi nào mà đến đây gặp nhau nữa?” Bèn lôi chàng đi ra, đến phía đông Hạnh Viên ở Khúc Giang, lột hết y phục, lấy roi ngựa đánh luôn mấy trăm roi. Sinh đau đớn không chịu nổi, chết ngất đi, người cha bèn vứt bỏ lại mà đi.

Có người được thầy dạy hát sai ngầm bám theo chàng, thấy vậy, bèn quay về nói cho đồng bạn biết, ai nấy cùng thương xót thở than. Thầy dạy bèn sai hai người mang cái chiếu sậy đến định bó chàng đem chôn. Đến nơi, thấy ngực sinh vẫn còn ấm, nâng dậy, hồi lâu thì chàng thở lại được. Họ bèn cõng chàng về, lấy ống sậy cho ăn uống, qua một đêm thì sống lại. Hơn một tháng sau, sinh vẫn không cử động được chân tay, những chỗ bị đòn đều sưng vỡ lở loét, vô cùng bẩn thỉu. Đám đồng bạn lo sợ phiền hà, một tối bèn đem chàng ra vứt bỏ bên đường. Người qua đường đều lấy làm thương cảm, thường đem những thức ăn thừa vứt cho chàng, vì vậy cũng có cái cho vào bụng. Độ mươi tuần thì sinh có thể chống gậy đứng dậy được. Chàng mặc cái áo cừu bằng vải thô, vá víu đến trăm mảnh, trông rách rưới như con chim giẻ, cầm một chiếc âu mẻ đi quanh các ngõ xóm mà xin ăn. Thu qua đông tới, sinh cứ đêm rúc đống phân mục để ngủ, ngày loanh quanh xóm chợ xin ăn.

Một hôm, trời đổ tuyết lớn, sinh vừa đói vừa rét, đội tuyết bò ra, cất tiếng xin ăn rất thống khổ, ai nghe thấy cũng không thể cầm lòng. Khi ấy tuyết đang rơi mạnh, mọi nhà phần đa đều không mở cửa. Đến cửa đông làng An Ấp, đi theo tường rào phía bắc làng, đến nhà thứ bảy, thứ tám, thì thấy có một nhà mở hé cánh cửa bên trái, chính là nhà Lý Oa vậy. Sinh nào có biết, chỉ liên mồm kêu “đói rét quá chừng”, giọng điệu thê thảm, nghe chẳng đành lòng. Lý Oa ở trên gác nghe thấy, bảo với con hầu rằng: “Đó tất là chàng rồi. Ta nghe giọng là biết” Rồi vội vã chạy ra, trông thấy sinh gầy mòn lở loét, không còn ra hình người. Lý Oa có ý cảm thương, bèn bảo: “Chẳng phải là chàng đó ư?” Sinh phần giận ngã vật xuống, miệng không nói nên lời, chỉ gật gật đầu mà thôi. Lý Oa chạy lại ôm lấy cổ, lấy áo thêu choàng vào rồi đỡ lại bên mái tây, buồn thảm khóc lạc giọng nói: “Khiến cho chàng ra nông nỗi này, chính là tội của thiếp vậy”, tưởng như chết đi sống lại. Bà già kinh hãi chạy đến, hỏi: “Có chuyện gì vậy?” Oa nói: “Là chàng.” Bà già vội nói: “Đuổi nó đi! Làm sao lại cho nó đến đây?” Lý Oa nghiêm mặt bảo: “Không được. Chàng vốn là con nhà lương gia. Khi xưa đi xe lớn, cầm túi vàng đến nhà ta, chửa bao lâu thì hết sạch. Nhà ta lại bày quỷ kế, rủ bỏ đuổi đi, thật không phải tình người. Khiến cho người ta thất chí, bị người nhà coi thường. Đạo cha con vốn là thiên tính, vậy mà ta khiến họ đến nỗi tuyệt tình, cha giết bỏ con, để chàng ra đến nông nỗi này. Người trong thiên hạ, ai mà chẳng biết là do nhà chúng ta gây ra? Thân thích của chàng làm quan đầy triều, một khi có kẻ quyền hành, xét rõ ra được việc này thì nhà ta tránh sao khỏi tai họa? Huống chi, việc dối trời lừa người, quỷ thần chẳng giúp, ắt sẽ tự chuốc họa vào thân. Con là con của mẹ, đến nay đã hai mươi năm rồi, tính ra số tiền kiếm được cho mẹ, cũng đã tới ngàn vàng. Nay mẹ đã hơn sáu mươi tuổi, con xin đem tiền của trả cho mẹ phí dụng hai mươi năm cơm ăn áo mặc để mà chuộc thân, rồi sẽ cùng chàng tìm một nơi khác mà ở. Con sẽ tìm nơi không xa chỗ này, để sớm hôm có thể thăm nom mẹ, như vậy thì con cũng thỏa nguyện rồi vậy.” Bà già liệu rằng không lay chuyển được ý Lý Oa, đành phải bằng lòng.

Trả hết tiền nong rồi, còn dư được trăm lượng vàng, bèn thuê một căn nhà nhỏ ở góc phía bắc cách đó bốn, năm nhà. Rồi bèn tắm rửa thay quần áo mới cho sinh, trước cho ăn cháo loãng để nhuận tràng, sau cho ăn sữa để nhuận tạng. Hơn tuần mới bắt đầu cho ăn những đồ ăn khác. Khăn đầu tất chân, đều là những loại tốt quý cả. Mấy tháng sau, sinh đã dần có da có thịt, hết một năm thì bình phục như thường.

Một hôm, Lý Oa nói với sinh: “Chàng sức đã khỏe, chí đã mạnh rồi. Chàng hãy tĩnh tâm suy nghĩ lại xem, những nghệ nghiệp cũ, có thể nhớ lại chăng?” Sinh ngẫm nghĩ rồi nói: “Mười phần chỉ được hai, ba.” Lý Oa bảo đánh xe cho mình ra ngoài, sinh cưỡi ngựa đi theo. Đến cửa hiệu bán sách vở ở ngoài cửa nam Kỳ Đình, bảo chàng chọn lấy những sách vở cần thiết mua về, phí tổn trăm vàng. Từ đó, bắt sinh phải dứt mọi lo toan mà để chí vào việc học, đêm cũng như ngày, dùi mài chăm chí. Lý Oa thường ngồi bên, nửa đêm mới nghỉ, hễ sinh mỏi mệt, lại bảo làm thơ phú tiêu khiển. Như vậy hai năm, học nghiệp của sinh đã thành, văn chương hải nội, chẳng gì chưa từng xem qua. Sinh bảo Lý Oa rằng: “Có thể ghi danh thi cử rồi.” Lý Oa nói: “Chưa được. Chàng hãy rèn luyện cho tinh thục, để bách chiến bách thắng.” Lại thêm một năm nữa, Lý Oa mới nói: “Chàng có thể đi thi được rồi.” Sinh đi thi chỉ một lần bèn đỗ Giáp khoa[8], tiếng tăm lừng lẫy trường thi. Dù các bậc tiền bối, đọc văn sinh cũng đều lấy làm kính mộ, mong được làm bạn mà còn chưa xong. Lý Oa nói: “Chưa được. Hiện giờ, các bậc tú sĩ vừa mới thi đỗ một khoa, đã tự cho là có thể giành được ngôi cao trong triều, đoạt mỹ danh nơi thiên hạ. Chàng phẩm hạnh thấp kém, việc xưa còn nhơ, không bằng người khác, nên giũa rèn thêm cho sắc bén, để lại chiến thắng lần nữa, mới có thể sánh ngang mọi người, mà tranh bá trong đám quần anh được.” Sinh vì vậy lại ra sức chăm chỉ luyện rèn, thanh giá ngày một cao.

Năm ấy, gặp kỳ đại thí, có chiếu trưng vời hiền sĩ bốn phương, sinh ứng thí khoa Trực ngôn cực gián[9], văn sách được lấy đỗ đệ nhất danh, bổ làm Tham quân phủ Thành Đô. Từ tam công trở xuống, đều là bạn bè. sắp lên đường nhậm chức, Lý Oa nói: “Nay chàng đã lấy lại được thân phận của mình, vậy là thiếp đã không phụ chàng rồi. Xin cho thiếp được đem những năm tháng còn lại về phụng dưỡng mẹ già. Chàng nên chọn nhà vọng tộc mà kết nhân duyên, để lo việc thờ phụng tổ tiên. Dù là lấy người trong kinh hay ngoài cõi, chàng cũng không được làm ô uế bản thân mình. Hãy tự bảo trọng, thiếp từ đây xin được ra đi.” Sinh khóc bảo: “Nếu nàng bỏ ta, ta sẽ lập tức đâm cổ chết ngay.” Lý Oa cố sức từ chối không nghe, sinh càng ra sức khẩn cầu. Lý Oa khóc nói: “Xin tiễn chàng qua sông, đến Kiếm Môn thì cho thiếp quay lại.” Sinh bằng lòng. Đi hơn một tháng, đến Kiếm Môn. Chưa kịp đi tiếp thì có chiếu thư bổ nhiệm đưa đến, cha sinh được điều từ Thường Châu về triều, rồi bổ làm Thành Đô doãn, kiêm Kiếm Nam Thái phỏng sứ. Độ mười hai hôm thì người cha tới nơi. Sinh nhân đưa danh thiếp, đến bưu đình[10] gặp mặt. Người cha còn ngờ không dám nhận, sau nhìn thấy tên họ quan chức ông cha ghi trên danh thiếp của sinh, mới giật mình kinh ngạc, cho gọi lên thềm, ôm lấy khóc lóc hồi lâu, rồi bảo: “Ta với con nay lại được làm cha con như xưa.” Nhân hỏi rõ duyên do, công tử mới đem đầu đuôi mọi sự thuật lại. Người cha lấy làm kỳ lạ, hỏi thăm Lý Oa đang ở đâu? Đáp: “Nàng đưa con đến đây, sắp quay trở về rồi.” Người cha nói: “Không được.” Rồi ngay trong ngày, sai xe đưa sinh đến Thành Đô trước, còn Lý Oa lưu lại ở Kiếm Môn, dựng một biệt quán cho ở. Hòm sau, lập tức sai băng nhân đến làm mai mối, rồi sửa đủ sáu lễ[11] để đón về kết duyên Tần Tấn.

Lý Oa thành hôn với công tử rồi, tuế thời lễ nghi chu đáo, cẩn thận giữ đạo làm vợ, việc nhà nghiêm quản, được thân thích họ hàng rất quý mến. Mấy năm sau, cha mẹ sinh đều qua đời, nàng lại thủ hiếu rất đủ đầy. Bởi vậy mà có linh chi mọc ở lều giữ mộ, một cây lúa trổ ba bông, quan địa phương đem chuyện tấu lên. Lại có mấy chục con chim bạch yến đến làm tổ trên mái nhà. Thiên tử lấy làm sự lạ, ân tứ ban khen. Mãn tang, sinh liên tục được thăng lên giữ những chức vụ quan trọng, trong vòng mười năm, trải coi mấy quận. Lý Oa được phong làm Khiên Quốc phu nhân, sinh được bốn con trai, đều làm quan to, người thấp nhất cũng là Thái Nguyên doãn. Mấy người con đều lấy con những nhà vọng tộc, nội ngoại đều hưng thịnh, không nhà nào sánh được.

Than ôi, một người con gái xuất thân kỹ nữ, mà tiết hạnh như vậy, tuy rằng những bậc liệt nữ đời xưa, cũng chẳng hơn được. Ai có thể không than thở ngợi khen? Bá tổ của ta từng làm châu mục Tấn Châu, rồi chuyển về Hộ bộ, làm Thủy lục vận sứ, ba lần nhậm chức đều là thay chức của sinh, cho nên rất rõ chuyện này. Niên hiệu Trinh Nguyên, ta với Lý Công Tá người Lũng Tây cùng nói chuyện về phẩm cách tiết tháo của các bậc liệt nữ, nhân mới thuật lại chuyện của Khiên Quốc phu nhân. Công Tá vỗ tay lắng nghe, rồi bảo ta viết lại thành truyện. Ta bèn cầm bút thấm ngòi, mà biên ra lưu lại. Bấy giờ là mùa thu tháng Tám, năm Ất Hợi, Bạch Hành Giản người Thái Nguyên viết.

[1] Tuổi tri thiên mệnh: tức tuổi năm mươi.

[2] Tuổi đội mũ: chỉ con trai độ hai mươi tuổi. Thời xưa, khi con trai hai mươi tuổi thi làm lễ đội mũ, đội mũ của người lớn, coi như đã trưởng thành.

[3] Tì Lăng: tên quận đời Đường, tức Thường Châu, Giang Tô ngày nay.

[4] Đại Uyển: tên một nước ở vùng Tây Vực xưa, vốn sản nhiều giống ngựa tốt.

[5] Lý tư: một chức quan nhỏ, quản lý ở phố phường. Tặc tào: một chức thuộc quan quản lý trật tự tri an. Kinh doãn: tức Kinh triệu doãn, chức quan quản lý kinh thành.

[6] Xưa dung ngựa trắng kéo xe tang nên có khúc hát ai điếu tên là Bạch mã.

[7] Giới lộ: tên khúc ai điếu, ý nói đời người mong manh như hạt sương (lộ) trên ngọn cây kiệu (giới).

[8] Giáp khoa: đời Đường, thi Tiến sĩ chia làm hai khoa Giáp, Ất; thi Minh kinh chia làm bốn khoa: Giáp, Ất, Bính, Đinh. Đỗ Giáp khoa là khoa cao nhất.

[9] Trực ngôn cực gián: là một khoa thi đặc biệt để tuyển chọn nhân tài dưới đời Đường.

[10] Bưu đình: đình dựng bên đường để cho các quan viên, người đưa thư từ nghỉ chân ở lại.

[11] Sáu lễ: chỉ sáu lễ trong nghi thức hôn nhân xưa, gồm nạp thái (đưa lễ dạm), vấn danh (hỏi tên tuổi), nạp cát (đưa lễ cầu hôn), nạp trưng (nạp sính lễ, tức lễ hỏi), thỉnh kỳ (hỏi định ngày cưới), thân nghênh (đón dâu).

Châu Hải Đường dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.