Lý Triều Uy

Đường Tống Truyền Kỳ (Châu Hải Đường dịch)

Lượt đọc: 337 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
LIỄU NGHỊ TRUYỆN

❊ ❊ ❊

(TRUYỆN LIỄU NGHỊ)

Đời Nghi Phượng[1], có chàng nho sinh tên là Liễu Nghị, đi thi không đỗ, chuẩn bị quay về Tương Tần, chợt nhớ ra có người cùng làng hiện đang ở Kinh Dương[2], bèn đến từ biệt. Đi được sáu, bảy dặm đường, chợt có con chim vụt bay, khiến ngựa giật mình, chạy dạt sang mé trái đường. Lại chạy chừng sáu, bảy dặm nữa mới dừng. Bỗng gặp một người con gái đang chăn dê ở bên đường, Nghị lấy làm lạ chăm chú nhìn, thấy vô cùng xinh đẹp, nhưng mặt mày ủ dột, khăn áo cũ nát, đang đứng lặng như có điều trông đợi ai đây. Nghị cất tiếng hỏi: “Cớ làm sao nàng lại tự đầy đọa mình ra thế?” Cô gái tạ ơn, vẻ rất đau khổ, rồi khóc mà đáp rằng: “Tiện thiếp bất hạnh, khiến cho bậc trưởng giả phải cất công hỏi đến. Nhưng nỗi oán hận thấu tận xương tủy, thiếp sao có thể e thẹn mà trốn tránh được? Xin kể ngài nghe. Thiếp là con gái nhỏ của Long quân ở hồ Động Đình, được cha mẹ gả cho làm vợ người con thứ của Long quân ở Kinh Xuyên[3]. Thế nhưng chồng thiếp chỉ biết chơi bời lêu lổng, lại bị bọn tỳ bộc mê hoặc, ngày càng trở nên tệ bạc. Thiếp đành phải thưa lên cha mẹ chồng, nhưng cha mẹ chồng lại chiều con trai, chẳng răn đe được. Thiếp khẩn thiết nói nhiều, thành ra đắc tội với cha mẹ chồng, nên bị cha mẹ chồng ruồng bỏ, đuổi đến nơi đây.” Nói xong lại sụt sùi rơi lệ, vô cùng buồn tủi. Cô gái lại nói: “Từ Động Đình tới đây, không biết cách nhau xa biết bao nhiêu? Trời đất mênh mang, tin thư chẳng tới. Héo ruột đứt gan, niềm đau ai tỏ. Nghe nói ngài sắp về đất Ngô, tất phải qua Động Đình, thiếp muốn nhờ đưa giúp bức thư, chẳng hay ngài có bằng lòng chăng?” Nghị nói: “Tôi vốn là người trọng nghĩa. Nghe nàng nói, máu nóng đã dâng trào, chỉ hận không có cánh để mà bay được thôi, sao còn hỏi đến câu có được hay chăng nữa! Nhưng hồ Động Đình là nơi nước thẳm. Tôi là người trần, há có thể giúp truyền đạt được tâm ý? Chỉ e sáng tối hai đường, không cùng thông đạt, mà phụ lời ủy thác, trái với lòng nàng mong mỏi. Nàng có thuật gì, chỉ cho tôi được chăng?” Người con gái buồn bã khóc mà lạy tạ, nói: “Nếu ngài trân trọng nhận lời, thì không còn gì phải nói nữa. ơn ngài chuyển giúp thư về, thiếp dù chết cũng nhất định cảm tạ. Ngài chưa hứa giúp, thiếp sao dám nói. Nay đã hứa mà hỏi, thì hồ Động Đình cũng như nơi đô ấp, có khác gì nhau đâu.” Nghị xin được nói rõ cho nghe. Cô gái nói: “Phía nam hồ Động Đình, có một cây quất lớn, thôn dân vẫn gọi là xã quất. Ngài hãy cởi cái dây lưng này ra, lấy cái khác mà thắt, rồi gõ vào cây ba tiếng, thì sẽ có người trả lời. Rồi đi theo họ, sẽ không trở ngại gì cả. Đội ơn quân tử, ngoài thư từ gửi gắm ra, thiếp xin ký thác tất cả những lời phế phủ, muôn vàn xin chớ để lỡ!” Nghị nói: “Xin kính cẩn vâng lời!” Cô gái bèn lấy bức thư trong vạt áo ra, bái lạy mà đưa, rồi buồn bã trông về phía đông, tựa như không thể nhẫn nỗi. Nghị rất thương cảm, bèn cất thư vào túi, nhân lại hỏi rằng: “Không biết nàng chăn dê này là để làm gì? Há thần linh cũng phải cần dê để giết thịt ư?” Người con gái nói: “Không phải dê đâu! Đó là thợ làm mưa vậy.” Hỏi: “Thợ làm mưa là thế nào?” Đáp: “Cũng như sấm chớp vậy.” Nghị quay ra nhìn, thì thấy lũ dê đều cúi đầu nhìn thấp, bước đi dữ dằn, nết ăn uống cũng rất khác. Nhưng vóc dáng lông sừng thì hệt như dê thường mà thôi. Nghị lại nói: “Tôi làm sứ giả cho nàng, ngày khác về Động Đình, xin chớ tránh nhau!” Cô gái đáp: “Nào chỉ không tránh thôi đâu, mà còn coi như thân thích vậy.” Nói rồi từ biệt, Nghị đi về phía đông. Được mấy chục bước, quay đầu lại nhìn thì cô gái cùng đàn dê đều đã biến mất không thấy đâu nữa.

Tối ấy, Nghị vào ấp chia tay người bạn, hơn một tháng sau thì về đến quê. Tới nhà rồi, Nghị bèn hỏi thăm hồ Động Đình, phía nam hồ quả nhiên có cây xã quất. Nghị bèn đổi thắt lưng, rồi gõ ba cái vào gốc cây. Phút chốc, bỗng thấy một võ phu rẽ sóng bước ra, bái chào rồi hỏi: “Quý khách từ đâu tới đây?” Nghị không trả lời, chỉ bảo: “Đến yết kiến đại vương.” Võ phu bèn rẽ nước dẫn dường, đưa Nghị đi xuống hồ, và bảo: “Ngài hãy nhắm mắt lại, chỉ khoảnh khắc là tới nơi thôi.” Nghị làm theo như lời, bèn đến ngay cung điện. Chỉ thấy đài gác trập trùng, tới ngàn vạn cửa, kỳ hoa dị thảo, chẳng thứ gì không có. Viên võ phu bảo Nghị dừng lạt đứng cạnh tòa nhà lớn mà rằng: “Quý khách hãy đợi ở đây.” Nghị hỏi: “Đây là nơi nào?” Đáp: “Đây là điện Linh Hư.” Nghị đưa mắt nhìn, thì thấy tất cả mọi thứ trân bảo ở nhân gian, ở đây đều có hết. Cột bằng bạch bích, gạch bằng ngọc xanh, giường bằng san hô, rèm bằng thủy tinh, chạm lưu ly làm mi cửa, sức hổ phách trên rui mè, vô cùng đẹp đẽ diệu kỳ, không thể nói hết được. Rất lâu vẫn không thấy Long vương ra, Nghị lại nói với võ phu: “Động Đình quân đang ở đâu?” Đáp: “Vua ta vừa đến gác Huyền Châu, cùng Thái Dương đạo sĩ giảng ‘Hỏa kinh’, ông đợi chút sẽ tới.” Nghị nói: “Hỏa kinh là gì?” Võ phu đáp: “Vua ta là rồng, rồng coi nước là thần, vẩy một giọt có thể ngập chìm đồi núi. Còn đạo sĩ là người, người thì lấy lửa làm thánh, châm một mồi có thể thiêu rụi A Phòng[4]. Thế nhưng linh dụng chẳng giống nhau, huyền hóa cũng có khác. Thái Dương đạo sĩ tình thông lẽ người, nên vua ta cho mời xuống đây để nghe giảng vậy.” Nói xong thì cửa cung mở, chỉ thấy bóng mây vấn vít, một người mặc áo tía, cầm ngọc xanh. Võ phu mừng nói: “Là vua ta đó.” Rồi đến trước mặt bẩm tấu. Long vương nhìn Nghị hỏi: “Chẳng phải người trên nhân gian đó ư?” Nghị đáp: “Phải” rồi bái chào. Long vương cũng chào lại, rồi mệnh cho ngồi dưới điện Linh Hư, bảo Nghị rằng: “Thủy phủ thâm sâu, quả nhân tăm tối, không biết phu tử chẳng quản xa xôi ngàn dặm, tới đây có chuyện chỉ vậy?” Nghị nói: “Nghị là người đồng hương với đại vương. Lớn lên ở Sở, du học ở Tần. Vừa mới hỏng thi, thong thả đi qua bờ sông Kinh, gặp ái nữ của đại vương đang chăn dê ở trên đồng, mưa gió dãi dầu da tóc, thật không đành lòng mà nhìn. Nghị nhân hỏi thăm, thì thấy nói: ‘Vì gặp người chồng bạc bẽo, cha mẹ chồng lại chẳng thương, cho nên ra nông nỗi ấy.” Nói rồi buồn thảm khóc than, thực khiến người ta phải đau lòng. Vì vậy mới đem thư nhờ Nghị gửi tới đại vương. Nghị đã nhận lời, nên nay mới phải tới đây.” Nói rồi đem thư dâng lên. Động Đình quân đọc thư xong, đưa tay áo che mặt mà khóc bảo: “Cha già có tội, chẳng hay biết gì, ngồi như câm điếc, khiến cho khuê nữ yếu đuối, gặp hại chốn xa xôi. Ngài là người dưng qua đường, mà có thể cứu giúp như thế. Lão phu may còn răng tóc, thì sao dám quên ơn đức!” Nói xong, lại đau đớn than thở hồi lâu, tả hữu đều rơi lệ. Khi ấy có một viên thị thần ở bên, long vương bèn đưa bức thư, bảo chuyển vào trong cung. Chốc lát, trong cung thảy đều bi thương than khóc. Long vương kinh hãi bảo tả hữu: “Mau nói trong cung, chớ có khóc to, kẻo Tiền Đường biết được.” Nghị hỏi: “Tiền Đường là ai?” Long vương nói: “Đó là ái đệ của ta, xưa cai quản sông Tiền Đường, nay đã bãi rồi.” Nghị hỏi: “Cớ sao lại không được để cho ông ấy biết?” Đáp: “Vì nó vốn dũng mãnh hơn người vậy. Xưa, đời vua Nghiêu bị nạn hồng thủy chín năm, chính là do một cơn giận của nó mà ra. Gần đây, nó thất ý với tướng nhà trời, dâng nước ngập cả năm núi. Thượng đế nể tình quả nhân xưa nay có chút đức mỏng, nên mới khoan thứ cho tội lỗi nó. Nhưng bắt phải lưu giữ nó ở đây, nên người Tiền Đường, vẫn ngày đêm trông ngóng.” Còn chưa dứt lời, bỗng thấy tiếng động ầm ầm, trời long đất lở, cung điện chao đảo, mây khói mịt mù, chốc lát một con rồng đỏ dài hơn ngàn thước, mắt sáng như điện, lưỡi đỏ như máu, vẩy son râu lửa, cổ đeo khóa vàng, khóa vào trụ ngọc, sấm vang chớp giật, vấn vít quanh thân, bụi tuyết bóng mưa, nhất thời đổ xuống, rồi xé toạc bầu trời mà bay đi. Nghị sợ hãi ngã vật xuống đất. Long vương đích thân đỡ dậy, nói: “Ngài chớ sợ. Không can chi đâu!” Hồi lâu, Nghị mới hơi bình tâm định thần, nhân cáo từ rằng: “Xin cho được toàn mạng mà về, tránh lúc ông ấy trở lại.” Long vương nói: “Không như vậy nữa đâu. Khi đi thì như thế, chứ khi nó về thì không. Xin ngài hãy lưu lại ít lâu để được thỏa tình quyến luyến.” Rồi sai người bầy tiệc khoản đãi.

Chốc lát, thấy gió nhẹ mây lành, êm hòa hây hây, cờ quạt lung linh, tiêu thiều vi vút. Rồi ngàn vạn mỹ nữ, tươi tắn nói cười, sau có một người, mày ngài tươi tốt, châu ngọc điểm trang, lụa là tô điểm. Đợi đến gần nhìn xem, thì hóa ra chính cô gái nhờ gửi thư bữa trước, vẻ vừa mừng vừa tủi, giọt lệ đầm đầm. Giây lát, khói hồng vờn bên tả, mây tía tỏa bên hữu, hương thơm thoảng ngát, mà đi vào trong cung. Long vương cười nói với Nghị rằng: “Kẻ bị đày ải ở sông Kinh đã về rồi.” Rồi từ biệt trở vào trong cung. Một lúc, lại nghe những lời oán than mãi không thôi. Hồi lâu, Long vương mới trở ra cùng Nghị yến ẩm. Lại có một người, mặc áo tía, cầm ngọc xanh, dung mạo uy nghi như thần, đứng ở bên trái Long vương. Long vương nói với Nghị: “Đây chính là Tiền Đường.” Nghị đứng dậy lạy chào. Tiền Đường cũng tận lễ tiếp đãi, mà nói với Nghị: “Cháu gái ta bất hạnh, bị thằng nhãi ấy làm nhục. May nhờ người quân tử tín nghĩa sáng tỏ, đến đây cho biết nỗi oan khuất phương xa. Nếu không đã thành nắm đất chốn Kinh Lăng rồi. Ơn đức của ngài, thật không thể nói hết được.” Nghị xua tay lui lại mà từ tạ, chỉ biết vâng dạ cúi đầu. Rồi Tiền Đường quay lại nói với anh rằng: “Khi nãy, giờ Thìn em ra khỏi cung Linh Hư, giờ Tỵ đến Kinh Dương, giờ Ngọ thì giao chiến, đến giờ Mùi thì quay lại đây. Giữa đường, đã bay lên trời, cáo với Thượng đế. Thượng đế biết nỗi oan, nên cũng thứ tội cho. Việc khiển trách ngày trước, cũng nhân đó được xá. Thế nhưng lúc trước ra đi, giận dữ vội vàng, không kịp từ biệt, làm kinh động trong cung, khiến quý khách phải sợ hãi, thật lấy làm có lỗi, hổ thẹn vô cùng.” Nói rồi, lui lại mà bái tạ hai lạy. Long vương hỏi: “Giết hại bao nhiêu?” Đáp: “Sáu mươi vạn.” Hỏi: “Làm hại mùa màng thế nào?” Đáp: “Tám trăm dặm.” Hỏi: “Kẻ bạc tình đâu rồi?” Đáp: “Đã ăn thịt rồi.” Long vương buồn rầu nói: “Thằng nhãi lòng dạ tệ bạc như vậy, thật không thể chịu nổi. Nhưng em làm vậy cũng quá hấp tấp. May nhờ Thượng đế hiển thánh, lượng nỗi oan khuất, nếu không thì ta biết ăn nói làm sao. Từ nay trở đi, chớ có như vậy.” Tiền Đường quân lại lạy tạ. Tối ấy, bèn cho Nghị nghỉ lại ở điện Ngưng Quang.

Hôm sau, lại khoản đãi Nghị ở cung Ngưng Bích, tụ họp thân hữu, bày biện nhã nhạc, rượu ngon để đầy, thời trân la liệt. Mở đầu, tiếng trống hiệu sừng, tính kỳ kiếm kích, có vạn võ phu múa ở bên hữu, một người bước lên thưa: “Đây là khúc Tiền Đường phá trận.” Chỉ thấy bóng cờ tiếng binh sang sảng, sát khí đằng đằng đáng sợ, những khách ngồi xem, đều kinh hãi dựng tóc. Rồi lại thấy tiếng kim thạch ty trúc, lụa là châu Ngọc, có ngàn vũ nữ múa ở bên tả, một người bước lên thưa: “Đây là khúc Quý chủ hoàn cung.” Chỉ thấy âm thanh uyển chuyến, như thưa như mến, những khách ngồi nghe, bắt giác rơi lệ. Hai điệu múa xong rồi, Long vương mừng lắm, ban thưởng lụa là, phân phát cho những vũ công, rồi dâng tiệc lên khắp các bàn, vui say thỏa thích. Rượu say rồi, Động ; Đình quân bèn gõ bàn mà hát rằng:

Trời cao thăm thẳm chừ, đất rộng mênh mang;

Ai có chí nấy chừ, há dễ nghĩ lường?

Cáo thần chuột thánh chừ, khoét miếu đào tường[5].

Một trận lôi đình chừ, ai kẻ dám đương?

Ơn người cứng cỏi chừ, tín nghĩa trường.

Cho cốt nhục chừ, về cố hương.

Bao lời hổ thẹn chừ, khắc ghi lòng

Động Đình quân hát xong, Tiền Đường quân bái tạ, rồi cũng hát rằng:

Thượng thiên phối hợp chừ, sống chết đôi đường;

Đây chẳng nên vợ chừ, kia chẳng nên chồng.

Tấc lòng khốn khổ chừ, một xó Kinh Dương.

Áo xiêm mưa tuyết chừ, da tóc gió sương.

Nhờ minh công chừ, thư một phong.

Cho cốt nhục chừ, được lại gia đường.

Mãi xin trân trọng chừ, khi nào không.

Tiền Đường quân hát xong, Động Đình quân lại đứng dậy nâng chén mời Nghị. Nghị kính cẩn đón chén rượu, uống cạn, lại rót hai chén kính mời lại hai vị Long quân, rồi hát rằng:

Mây xanh dằng dặc chừ, sông Kinh đông lưu.

Thương người đẹp chừ, mưa khóc hoa sầu.

Phong thư xa gửi chừ, giải nỗi lo ưu.

Oan khuất rửa sạch chừ, về chốn thanh u.

Nghe nhu nhạc chừ, nếm trân tu.

Quê nhà vắng vẻ chừ, khólâu.

Sắp phải từ biệt chừ, dạ buồn đau.

Hát xong, lại chúc câu vạn tuế. Động Đình quân bèn mớ hòm ngọc, lấy sừng tê rẽ nước, Tiền Đường quân lại mở mâm hồng phách, lấy ngọc dạ quang, cùng đưa tặng Nghị. Nghị cảm tạ mà nhận. Rồi những người trong cung, thảy đều tặng lụa là châu báu để cả bên cạnh Nghị. Quà tăng rực rỡ chói lòa, chốc lát đã chất đống trước sau. Nghị thẹn thùng cười nói đáp tạ không lúc nào ngơi. Mọi người tận hoan tàn tiệc, Nghị cáo từ đứng dậy, lại đến điện Ngưng Quang tạm nghỉ.

Hôm sau, lại bầy tiệc ở gác Thanh Quang mời Nghị. Tiền Đường quân mượn rượu nghiêm mặt, nói với Nghị rằng: “Ngài có nghe, đá cứng có thể vỡ chứ không thể uốn, nghĩa sĩ có thể giết không thể sỉ nhục chứ? Ta có điều tâm sự, muốn thổ lộ với ngài. Nếu như được, thì cùng ở nơi tiên cảnh, nhược bằng không, thì cùng thành bùn đất. Ngài thấy thế nào?” Nghị nói: “Xin được nghe.” Tiền Đường quân nói: “Vợ của Kinh Dương, là ái nữ của Dộng Đình quân. Tính nết đoan trang, khí chất tươi tốt, thân thích chín họ đều quý trọng. Chẳng may gặp phải kẻ chẳng ra gì sỉ nhục, nay dã dứt tuyệt rồi, đương muốn tìm người cao nghĩa mà gửi gắm, để đời đời làm thân thích. Khiến cho kẻ chịu ơn biết chỗ quay về, người yêu mến biết nơi gửi gắm, há chẳng phải là cái đạo thúy chung của người quân tử ư?” Nghị nghiêm một, cười nhạt mà nói: “Thực không nghĩ Tiền Đường quân lại là người hèn yếu như thế! Nghị mới dầu nghe nổi, ngài lội chín châu, dìm ngũ nhạc, để thỏa phẫn hận, lại thấy ngài dứt khóa vàng, bỏ trụ ngọc, để cứu nguy nan, vẫn cho là người cương nghị chính trực, thật không ai bằng. Phàm, bị người phạm chẳng sợ phải chết, được người cảm, chẳng tiếc mạng sống, đó thật là cái chí trượng phu. Cớ sao đàn sáo vừa tâu, khách khứa vừa hợp, lại chẳng nghĩ đến chính đạo, mà uy bức người khác như vậy? Há đó lại là điều người ta hằng trông mong ư? Nếu như gặp ngài ở giữa chốn sóng dồi, giữa nơi núi thẳm, ngài chỉ cần đưa râu gại vẩy, làm mây làm mưa, mà bức Nghị vào chỗ chết, thì Nghị cũng coi như là loài cầm thú, có gì đáng hận đâu! Còn như ngày nay mặc áo đội mũ, ngồi bàn lễ nghĩa, trọn chí tính theo ngũ thường, giữ yếu chỉ của bách hạnh, thì dù những bậc hiền tài trên nhân thế cũng không bằng, huống chi là giống linh ở nơi sông hồ? Nếu lại muốn lấy cái thân ngu xuẩn, cái tính hung hãn, giả nhân hơi rượu, mà bức bách người, thì há lại là chính trực ư? Vả chăng sức Nghị này, chẳng đáng để bận đến một cái vẩy của vương, nhưng Nghị cũng dám đem cái tâm bất phục, để thắng cái khí vô đạo của vương vậy. Xin vương xét cho!” Tiền Đường quân bèn luống cuống tạ lỗi, nói: “Quả nhân lớn lên trong chốn cung điện, không được nghe những bàn luận chính đính. Vừa rồi nói năng lỗ mãng, lỡ xúc phạm bậc cao minh, bây giờ nghĩ lại, thực là tội không thể tha được. Mong người quân tử không vì thế mà xa cách.” Tối đó, lại cùng nhau tiệc tùng vui vẻ như trước. Từ đó Nghị với Tiền Đường quân thành bạn tri tâm.

Hôm sau, Nghị từ biệt ra về, phu nhân của Động Đình quân, lại đặt tiệc riêng mời Nghị ở điện Tiềm Cảnh, nam nữ bộc thiếp tất thảy đều tới dự. Phu nhân khóc nói với Nghị rằng: “Con ta nhận ơn sâu của người quân tử, chỉ hận chưa tỏ được tấm lòng cảm tạ với ngài, mà đã phải biệt ly rồi.” Đoạn gọi người con gái gặp ở Kinh Dương thuở trước đến lạy chào Nghị để tạ ơn. Phu nhân lại nói: “Lần này chia tay, há lại có ngày tương ngộ chăng?” Nghị tuy ban đầu không nhận lời thỉnh cầu của Tiền Đường quân, nhưng trước tiệc hôm nay, cũng có vẻ than thở oán hận. Tiệc tan, từ biệt, cả cung đều buồn thảm. Những đồ trân bảo tặng tống, không thể kể hết được. Nghị bèn lại theo đường cũ lên bờ, có mười mấy người gánh tay nải theo sau, đến tận nhà rồi mới từ biệt ra về.

Nghị bèn đến cửa hiệu bán ngọc ở Quảng Lăng[6], bán những thứ mình được tặng, trăm phần chưa tới một, mà đã được số tiền đến ức triệu. Những nhà giàu có ở Hoài Hữu[7], chẳng nhà nào bằng. Nghị bèn lấy con gái họ Trương, chẳng may vợ chết, lại lấy con gái họ Hàn. Mấy tháng sau, họ Hàn lại cũng chết.

Nghị bèn đời nhà đến Kim Lăng[8], thường vẫn thương cảm về nỗi lẻ loi cô quạnh, cũng tính sẽ lấy vợ mới. Một bà mối nói với Nghị: “Có con gái họ Lư ở Phạm Dương, cha là Lư Hạo, từng làm quan tể Thanh Lưu[9], về già mộ đạo, một mình rong chơi sơn thủy, nay không biết ở chỗ nào. Còn mẹ là Trịnh thị. Năm ngoái con gái họ Lư được gả cho họ Trương ở Thanh Hà[10], chẳng may họ Trương mất sớm. Mẹ thương còn trẻ, tiếc là người xinh đẹp thông tuệ, muốn chọn người có đức mà gả cho. Không biết ý ngài thế nào?” Nghị bèn chọn ngày làm lễ. Hai nhà trai gái đều là phú hào, nên lễ vật cưới xin, vô cùng phong thịnh, người Kim Lăng, ai cũng ngưỡng mộ.

Cùng ở với nhau hơn tháng, một tối Nghị vào buồng, nhìn vợ thấy rất giống con gái Long vương thuở trước, nhưng nét đẹp tươi đầy đặn lại có phần hơn. Nhân kể chuyện ngày xưa, người vợ nói với Nghị rằng: “Cõi nhân thế nhẽ nào lại có chuyện như vậy?”

Hơn một năm, sinh được một con trai, Nghị càng thêm yêu quý. Sinh con được hơn một tháng, vợ Nghị bèn thay y phục, trang điểm thật đẹp, rồi mời thân thích đến nhà. Trong khi tụ họp đông đủ, nàng cười bảo Nghị rằng: “Chàng chẳng nhớ thiếp khi xưa ư?” Nghị nói: “Trước đây chúng ta chưa từng gặp nhau, làm sao ta có thể nhớ được.” Người vợ bèn nói: “Thiếp chính là con gái của Động Đình quân đây. Nỗi oan ở Kinh Xuyên, chàng đã gỡ giúp, thiếp vẫn đội ơn chàng, nguyện sẽ báo đáp. Từ khi Tiền Đường thúc phụ bàn chuyện hôn nhân mà chàng không theo, thành ra trắc trở, mỗi người một phương, không thể hỏi thăm được. Cha mẹ muốn gả thiếp cho con trai út của Trạc cẩm[11] Long quân. Thiếp vẫn mang nặng lời tâm thệ, nhưng mệnh cha mẹ khó mà trái, mà chàng lại đã từ tuyệt, chia cách không biết ngày nào gặp lại. Nỗi oan khuất khi xưa, tuy đã thưa cùng cha mẹ, nhưng lời thề báo đáp, lại chẳng được như lòng, vì vậy lại muốn đến thưa cùng chàng. Vừa vặn chàng mấy phen lấy vợ, trước là họ Trương, rồi lại họ Hàn, đến khi họ Trương, họ Hàn đều qua đời, chàng dời nhà đến đây, cho nên cha mẹ thiếp mới mừng cho thiếp vì có thể báo đáp được chàng như ý nguyện. Nay may mắn được hầu hạ chàng, cho đến cuối đời, thiếp dẫu chết cũng không oán hận nữa.” Rồi sụt sùi rơi lệ, bảo với Nghị rằng: “Lúc đầu thiếp không nói ra, vì biết chàng không có lòng chuộng sắc đẹp. Nay mới giải bày, vì biết chàng cũng cảm cái tình ý của thiếp. Đàn bà phận mỏng, chẳng đáng để chàng dành hậu tâm mãi mãi. Vậy xin chàng yêu lấy con, coi như thiếp còn sống vậy. Chẳng hay ý chàng thế nào? Thiếp trong lòng buồn sợ, không thể nguôi được. Ngày chàng giúp chuyển thư, có cười bào thiếp rằng ‘ngày khác về Động Đình, xin chớ tránh nhau.’ Thực không biết chàng khi ấy, há lại có ý như chuyện ngày nay chăng? Về sau, thúc phụ ngỏ ý với chàng, chàng lại nhất định không nghe. Ấy là chàng thực không thể nghe theo, hay là tức giận mà nói vậy? Xin chàng hây nói cho biết!” Nghị nói: “Âu cũng là số mệnh vậy. Khi ta mới gặp nàng, ở bên sông Kinh, oan khuất tiều tụy, ta thực sự có ý bất bình. Nhưng ta cũng tự hẹn với lòng mình, giải nỗi oan cho nàng, chứ ngoài ra không cầu gì cả. Càu nói “xin chớ tránh nhau”, cũng chỉ là ngẫu nhiên mà thôi, chứ há có ý gì? Đến khi Tiền Đường quân bức bách, xét lý đã thấy không chính đáng, nên mới khiến cho ta nổi giận vậy. Chí ta ban đầu là làm việc nghĩa, há có thể giết chồng mà cướp vợ ư? Đó là một điểm không thế vậy. Ta xưa nay vốn lấy thực tâm làm trụng, há lại có điều chịu khuất người mà làm trái với tâm mình hay sao. Đó là hai điểm không thể vậy. Và chăng, tỏ rõ ý mình, giữa nơi tiệc rượu đông người, la chỉ cốt biện minh sự lý, chứ chẳng nghĩ đến tai họa. Nhưng tới khi sắp từ biệt, thấy nàng ý tình quyến luyến, trong lòng ta cũng ân hận không đành. Sau rốt vì việc nhân gian ước thúc, không làm sao đáp tạ được. Ôi, ngày nay nàng lại là Lư thị, nhà ở nhân gian, thì lòng ta mới không còn áy náy nữa. Từ nay về sau, mãi mãi sum vầy, không phải lo lắng gì trong lòng nữa.” Vợ Nghị cảm động khóc ròng, hồi lâu mới ngừng.

Một lát, lại bảo Nghị rằng: “Chàng chớ cho thiếp là dị loại, mà thành vô tâm, thiếp cũng biết báo ơn chứ. Giống rồng thọ đến vạn năm, thiếp xin được với chàng cùng như vậy. Thủy lục qua lại tùy ý, chớ cho là thiếp nói xằng.” Nghị khen ngợi nói: “Ta đâu biết rằng bậc quốc sắc lại còn có thể giúp mình thành thần tiên được như thế nữa!” Bèn cùng nhau đến thăm Động Đình quân. Tới nơi rồi, chủ khách cùng vui mừng yến ẩm linh đình, không thể nói hết được.

Sau, Nghị đến ở Nam Hải[12], chỉ bốn mươi năm, mà phủ đệ, xe ngựa, châu báu, y phục, dù là nhà công hầu cũng không bằng. Họ tộc của Nghị cũng đều được ân trạch. Thấy Nghị tuổi tác đã nhiều, mà dung mạo vẫn trẻ trung, người ở Nam Hải, chẳng ai không kinh ngạc. Từ đời Khai Nguyên, Hoàng thượng để tâm vào thuật thần tiên, tìm tòi đạo thuật, Nghị không được ở yên, bèn cùng vợ quay về Động Đình. Hơn chục năm sau, thì không ai biết tông tích đâu nữa.

Đến cuối đời Khai Nguyên, em họ Nghị là Tiết Hỗ làm chức Kinh Kỳ lệnh, bị biếm quan đến miền đông nam, khi đi qua hồ Động Đình, ngày tạnh nhìn ra phía xa, chợt thấy núi xanh hiện ra trên sóng. Những người đi thuyền đứng bên cạnh, đều nói: “Ở đây vốn không có núi, e rằng là giống thủy quái vậy!” Trong khi đang chỉ trỏ cho nhau xem, thì thuyền đã tiến gần tới núi, chợt có một chiếc thuyền tô vẽ rất đẹp từ phía núi tiến lại, đón hỏi Hỗ. Trong đó có một người gọi lớn rằng: “Liễu công dã đến đợi ở đây!” Hỗ bỗng nhiên nhớ ra, bèn tiến đến dưới núi, vén áo bước nhanh lên. Trên núi có cung khuyết như nhân gian, thấy Nghị đứng ở bên trong cung điện, phía trước sắp dàn nhạc, phía sau bầy châu Ngọc lụa là, đồ trân ngoạn rất nhiều, gấp mấy lần nhân gian. Nghị nói năng càng huyền bí, dung nhan càng trẻ trung, bước xuống dưới thềm đón Hỗ, cầm tay nói: “Mới chia biệt chưa lâu mà sao tóc râu đã bạc cả.” Hỗ cười nói: “Huynh là thần tiên, đệ là xương khô, âu cũng là mệnh vậy.” Nghị nhân lấy năm chục viên thuốc hoàn đưa cho Hỗ, nói: “Thuốc này, một viên có thể tăng thêm một tuổi vậy. Hết tuổi thọ rồi, thì đệ lại đến đây, chớ ở lâu trên nhân thế cho thêm khổ não.” Yến ẩm vui vẻ xong, Hỗ bèn từ biệt mà đi. Từ đó về sau, bèn tuyệt tăm tích. Hỗ từng đem chuyện ấy kể cho mọi người nghe. Hết bốn kỷ[13], cũng không thấy Hỗ đâu nữa.

Lý Triều Uy người Lũng Tây, chép chuyện này, mà than rằng: “Đứng đầu trong năm loài[14], tất phải là giống linh, để thấy khác với các giống khác. Người là giống linh của loài khỏa trùng, giữ tín nghĩa với rồng là giống linh của loài lân trùng. Động Đình quân hành vi chính trực, Tiền Đường quân lỗi lạc quang minh, phẩm đức nên được kế thừa. Tiết Hỗ thuật lại chuyện mà không ghi chép, chỉ riêng mình được tới chốn thần tiên. Ta tán thưởng nghĩa khí, nên chép lại chuyện ra đây vậy.

[1] Nghi Phượng: niên hiệu Đường Cao tông Lý Trị, từ năm 676 đến năm 678.

[2] Kinh Dương: tên huyện đời Đường, ở phía đông nam huyện Kinh Dương, Thiểm Tây ngày nay.

[3] Kinh Xuyên: tức sông Kinh, bắt nguồn từ Ninh Hạ, chảy qua Cam Túc, Thiểm Tây, đổ vào sông Vị.

[4] A Phòng: cung điện do Tần Thủy hoàng xây dựng, chu vi hơn ba trăm dặm, sau bị Hạng Vũ thiêu hủy.

[5] Câu này xuất phát từ chữ “xã thử thành hồ”, nghĩa là: con cáo đào hang ở tường thành, con chuột đào hang dưới nền miếu thần xã, người ta không dám đào bắt hun đốt (vi sợ hỏng tường thành, cháy miếu thờ) thì lại ngỡ mình là thánh thần.

[6] Quảng Lăng: tên quận đời Đường, cũng gọi là Dương Châu, nay là Dương Châu, tỉnh Giang Tô. Đời Đường ở đây buôn bán rất sầm uất, có nhiều tiệm kinh doanh châu ngọc đá quý.

[7] Hoài Hữu: chi khu vực phía tây sông Hoài, tức vùng Hợp Phố, Nghi Phượng, tỉnh An Huy ngày nay.

[8] Kim Lăng: nay là Nam Kính, tỉnh Giang Tô.

[9] Thanh Lưu: tên huyện đời Đường, nay là huyện Trừ, tỉnh An Huy.

[10] Thanh Hà: tên quận, trị sở ở huyện Thanh Hà, tỉnh Hà Bắc ngày nay.

[11] Trạc Cấm: sông Trạc Cấm, tức là Cán Hoa khê ở Thành Đô, Tứ Xuyên ngày nay.

[12] Nam Hải: tên quận đời Đường, trị sở ở Quảng Châu, Quảng Đông ngày nay.

[13] Kỷ: một kỷ là mười hai năm.

[14] Năm loài (ngũ trùng). Người xưa chia động vật ra làm năm loài là: Khỏa trùng (loài người), vũ trùng (loài chim), mao trùng (loài thú), lân trùng (loài cá), giới (giáp) trùng (loài rùa). Sách Khổng Tử gia ngữ chép: “Lân trùng có ba trăm sáu mươi giống thì rồng là đứng đầu. Khỏa trùng có ba trăm sáu mươi giống thì người là đứng đầu.”

Châu Hải Đường dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.