Hoàng Phủ Mai

Đường Tống Truyền Kỳ (Châu Hải Đường dịch)

Lượt đọc: 325 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHI YÊN TRUYỆN

❊ ❊ ❊

(TRUYỆN PHI YÊN)

Võ Công Nghiệp ở Lâm Hoài[1], đời Hàm Thông[2] làm chức Công tào tham quân ở phủ Hà Nam, có người thiếp yêu tên gọi Phi Yên, họ Bộ, dung mạo xinh đẹp yểu điệu, tựa như không mang nổi lụa là. Lại giỏi hát giọng Tần, thích văn chương bút mực, đặc biệt tài gõ âu, âm vận có thể hòa với tiếng tơ tiếng trúc được, nên Công Nghiệp rất sủng ái.

Hàng xóm bên cạnh, là nhà họ Triệu người Thiên Thủy, vốn cũng là gia tộc trâm anh, không tiện nói rõ tên. Người con trai tên là Tượng, tuấn tú nho nhã, tuổi mới đôi mươi, bấy giờ đang ở nhà cư tang. Bỗng một hôm, Tượng nhìn trộm qua khe tường phía nam, trông thấy Phi Yên, tưởng như điên đảo thần hồn, từ ấy bỏ ăn quên ngủ. Chàng bèn đem hậu lễ đút cho tên canh cửa nhà Công Nghiệp, mà kể hết tâm tình cho biết. Tên canh cửa lấy làm khó, nhưng lại động lòng vì món lễ hậu, bèn bảo vợ hắn lựa khi Phi Yên có một mình, thì đem tâm ý của Tượng ra mà nói cho biết. Phi Yên nghe xong, chỉ mỉm cười ngưng thần không đáp. Mụ gác cửa kể lại cho Tượng nghe. Tượng trong lòng xao xuyến phát cuồng, không biết làm sao được, bèn lấy giấy Tiết Đào[3], đề một bài tuyệt cú rằng:

Vừa thấy trang khuynh quốc,

Lòng trần suy đoán hoài.

Chẳng theo Tiêu Sử đó,

Hay học Đỗ Lan[4] đây?

Rồi đem bài thơ phong kín lại, nhờ mụ gác cửa đưa gửi Phi Yên. Yên đọc xong, than thở hồi lâu, nói với bà ta rằng: “Tôi cũng từng trộm thấy Triệu lang rồi, thực có tài mạo lắm. Tôi đời này bạc phúc, không được sánh cùng.” Hóa ra, nàng vẫn chê Võ sinh là người thô bạo, chẳng được xứng đôi. Bèn cũng đáp lại một bài thơ, viết vào giấy Kim Phượng[5] rằng:

Nhíu chặt mày xanh thảm thiết thay,

Vì chưng buồn hận bởi thơ này.

Lòng chàng hẳn giống đàn, u oán

Muôn nỗi tình xuân tỏ với ai?

Rồi phong lại bảo mụ gác cửa chuyển cho Tượng. Tượng mở thư, ngâm ngợi mấy lần, rồi vỗ tay mừng bảo: “Việc của mình thành rồi.” Lại lấy giấy Diệm Khê ngọc diệp[6], viết một bài thơ đáp tạ rằng:

Giai nhân trân trọng tặng thơ hay,

Giấy bút đôi tình đẹp ngát thay.

Tờ mỏng cách ve, hờn khó thỏa,

Chữ ken đầu nhặng2, dạ khôn bày.

Hoa rơi động biếc ngờ mê lối,

Mưa nhẹ u hoài tưởng rắc đầy.

Trăm lượt tin chờ, ngàn lượt mộng,

Biên gửi đàn xanh khúc hát dài.

Thơ gửi đi đã mươi ngày, mà không thấy mụ gác cửa chuyển tin lại. Tượng lo lắng chẳng hay việc bị tiết lộ ra, hay là Phi Yên đã hối lại. Đêm xuân, ngồi một mình trước sân, lại viết một bài thơ:

Xanh ẩn, hồng tàng, khói lấp vùi.

Trước sân ôm hận bóng đơn côi.

Đêm trường vắng lặng, cùng ai ngỏ?

Sao cách Ngân Hà, nguyệt nửa trời.

Sớm hôm sau, vừa trở dậy ngâm nga, thì mụ gác cửa đến, truyền lời của Phi Yên nói rằng: “Chớ ngạc nhiên thiếp mươi ngay nay không có tin tức, chỉ là hơi không được khỏe mà thói.” Nhân lại chuyển cho Tượng một cái túi thơm bằng gấm liên thiền, cùng một tờ giấy Bích đài[7] chép bài thơ rằng:

Gượng dậy tô son tựa cửa song,

Trộm đề bức gấm ý khôn cùng.

Bấy nay vướng bệnh thương xuân mãi,

Liễu yếu hoa nghiêng sợ gió xông.

Tượng buộc túi gấm thơm vào bên người, đọc mãi tờ thư, lại sợ Phi Yên suy tư thêm ốm, bèn cắt giấy ô ty[8] viết thư hồi âm rằng:

“Cảnh xuân la đà, lòng người sầu thảm. Từ khi trộm thấy, đeo đẳng mộng hồn. Tuy tiên khách phàm nhân, khó bề hội hợp, mà đan tâm bạch nhật, thề sẽ chu toàn. Bữa trước chim xanh Dao Đài[9] chợt đến, ân cần lời gửi. Tặng cho túi thơm thiền cẩm, ngan ngát tình đầy, đeo luôn trong mình, luyến lưu thắm thiết. Vả lại nghe nàng, tiết xuân đa cảm, ngọc thể thất hòa, tổn hao vẻ đẹp tuyết băng, buồn uất hơi thơm lan huệ. Lo buồn quá đỗi, hận chẳng cánh bay. Mong hãy thư lòng, khỏi nên tiều tụy. Chớ phụ mấy lời, ngày sau vui sướng. Đau buồn tấc dạ, thư nói khôn cùng, kiêm mấy vần quê, nối theo lời đẹp. Những mong được nàng để mắt.”

Thơ rằng:

Vì xuân thương cảm, thấu cho nhau,

Phong gấm, mày xanh hẳn đã chau!

Thưa để nàng Yên nên biết rõ,

Hại người đệ nhất ấy phong lưu.

Mụ gác cửa được thư hồi âm rồi, đưa thẳng vào gác cho Phi Yên. Võ sinh là duyện thuộc trong phủ, công việc bận rộn, có khi phải trực liền mấy đêm, có khi cả ngày không về. Khi ấy vừa vặn gặp buổi Võ phải vào phủ tào, Yên Phi bóc thư, có thể thong dong xem kỹ. Xem xong, nàng thở dài nói: “Chí trượng phu, tình nhi nữ, ý hợp tâm đầu, thì coi xa cũng như gần vậy.” Bèn đóng cửa buông rèm, viết thư đáp rằng:

“Tiện thiếp bất hạnh, từ nhỏ mồ côi. Nửa chừng bị mai mối dối lừa, phải sánh duyên với loại bỉ lậu. Mỗi lúc trăng trong gió mát, nắn phím ngọc lại thêm buồn; những khi thu trướng đông đèn, vuốt sợi đồng mà gửi hận. Đâu ngờ công tử, bỗng gửi lời hay. Mở thư hoa mà xốn xang lòng, ngâm lời ngọc mà đăm đắm mắt. vẫn hận, sông Lạc sóng cách, Giả Ngọ[10] tường cao. Lên mây chẳng được giống đài Tần; Vào mộng lại xa hơn núi Sở2. Chỉ mong, trời chiều tâm nguyện, thần giúp thời cơ, được bái kiến dung quang, thì dẫu chết không hận. Lại đề thơ ngắn, để gửi u hoài. Mong chàng không chê mà ngâm đọc vậy.”

Thơ rằng:

Hiên son cái én nên cùng ở,

Bờ nước đôi uyên há lẻ chia.

Các bạn nguồn đào còn hận mãi,

Trong hoa thong thả tiễn chàng đi[11].

Phong kín thư xong, lại gọi mụ gác cửa, sai đưa cho Tượng. Tượng xem thư với thơ, thấy Phi Yên ý đã thắm thiết, mừng rỡ khôn cầm, chỉ còn biết quét buồng sạch sẽ, đốt hương khẩn cầu mà đợi tin tức.

Một hôm, trời sắp tối, thì mụ gác cửa rảo bước đi vào, vái chào cười bảo: “Cậu Triệu có muốn gặp thần tiên không?” Tượng kinh sợ, liên mồm hỏi mãi. Bà ta bèn truyền lời của Phi Yên rằng: “Tối nay công tào trực trong phủ, thật là thời cơ tốt. Sân sau nhà thiếp, tức là tường trước nhà chàng. Nếu chàng ý tốt chưa sờn, thiếp vẫn riêng trông tới đó. Muôn nỗi trong lòng, gặp nhau sẽ nói.” Trời vừa sẩm tối, Tượng bèn bắc thang trèo qua tường. Phi Yên cũng đã sai người chồng hai cái sập ở dưới. Tượng xuống tới nơi, thấy Phi Yên trang điểm ăn mặc đẹp ngời, đứng ở trước sân, bái chào nhau xong, ai nấy đều vui mừng không nói nên lời. Bèn dắt tay nhau theo cửa sau vào trong nhà, che đèn rủ trướng, cùng thỏa ý quyến luyến bấy lâu. Tới tận khi chuông sớm vừa ngân, mới lại tiễn Tượng ra đến chân tường. Phi Yên cầm tay Tượng nói: “Hôm nay tương ngộ, ấy là nhân duyên từ kiếp trước vậy. Chớ cho rằng thiếp không có cái chí trinh như tùng, sạch như ngọc, mà buông tuồng như thế. Chỉ vì phong tư tình điệu của chàng, mà không thể tự chế được thôi. Mong chàng xét kỹ cho.” Tượng nói: “Nàng chẳng những dung mạo hiếm có ở đời, mà tâm tư cũng hơn người vậy. Ta xin thề với thần linh, mãi mãi cùng nàng hoan hợp.” Nói xong, Tượng trèo qua tường mà về.

Hôm sau, Tượng lại nhờ mụ gác cửa đưa tặng Phi Yên một bài thơ rằng:

Thập Động, Tam Thanh[12] tuy cách lối,

Có tâm vần được đen Dao Đài.

Hương lành gió thoảng canh khuya nhớ,

Cung Nhụy[13] xe tiên biết tới nơi.

Phi Yên xem thơ, mỉm cười, lại tặng cho Tượng một bài thơ rằng:

Tương tư chỉ sợ không tương thức;

Tương kiến còn lo lại biệt chàng.

XÙI hóa cành tùng đôi hạc đậu;

Cùng nhau bay vút, khuất mày vàng.

Rồi phong thơ đưa cho mụ gác cửa, lại bảo nói với Tượng rằng: “May mà thiếp cũng có thể viết mấy cân ngâm ngợi què mùa, nếu không chàng hẳn còn tỏ ra là một trang đại tài thế nào nữa?” Từ đó, cứ chưa đến mươi ngày, hai người lại gặp nhau một lần ở hậu đình, cùng thổ lộ u tình, dốc bầu tâm sự, cho là ma quỷ không hay, thần người tương trợ. Có khi mắt nhìn cảnh vật, tình gửi câu ca, qua lại dần nhiều, không thể ghi lại tất cả. Như vậy đà tròn một năm.

Không ngờ, Phi Yên có mấy lần vì lỗi nhỏ mà đánh đòn một con hầu, nó thầm oán hận, mói thừa cơ đem chuyện kể hết cho Công Nghiệp biết. Công Nghiệp nói: “Mày hãy cẩn thận chớ nói năng gì, để ta sẽ xem xét.” Sau, đón ngày phiên trực, Công Nghiệp bí mật xin nghỉ. Đến đêm, vẫn vào phù trực như thường, rồi ẩn mình ở cổng làng, đợi đến trống cầm canh, mới lẻn bò về. Men tường đến sân sau, thấy Phi Yên đang tựa cửa cất tiếng ngâm thơ nho nhỏ, còn Tượng vin tường liếc nhìn. Công Nghiệp không khỏi tức giận, xông tới định bắt. Tượng thấy, toan chạy trốn. Nghiệp túm theo, chỉ được nửa manh áo. Bèn vào buồng, gọi Phi Yên ra vặn hỏi. Phi Yên sắc biến giọng run, nhưng chẳng chịu nói thực. Công Nghiệp càng giận, trói nàng vào cột lớn, đánh đến đổ máu, nhưng Phi Yên chỉ nói: “Sống đã được yêu nhau, chết cũng có gì hận.” Đến khuya, Công Nghiệp mệt mỏi ngủ gật. Phi Yên gọi đứa hầu yêu, bảo: “Cho ta một chén nước.” Nước đưa tới nơi, nàng uống xong thì chết. Công Nghiệp tỉnh dậy, đang định lại đánh nữa, thì nàng đã chết rồi. Bèn cởi trói, bế vào trong gác, gọi tên liên hồi, rồi nói thác rằng Phi Yên bị bạo bệnh mà chết. Mấy hôm sau, thì đem nàng chôn ở núi Bắc Mang[14]. Nhưng làng xóm đều biết là Phi Yên bị đánh chết vậy.

Tượng cũng thay hình đổi dạng, cải tên thành Viễn rồi trốn đến vùng Giang, Thết. Các tài sĩ ở đất Lạc có người viết thành Phi Yên truyện, trong truyện có hai người Thôi, Lý, thường cùng giao du trong duyện tào với Võ. Thôi có làm bài thơ, câu cuối là: “Chẳng khác chuyền hoa, người vãn tiệc, Một cành đẹp nhất vứt giường trơ!” Tối hôm ấy, nền mộng thấy Phi Yên đến cảm tạ, nói: “Thiếp tuy dung mạo chẳng đẹp bằng đào mận, mà luân lạc thì lại quá hơn. Đọc lời thơ hay của ngài, thật lấy làm hổ thẹn.” Còn thơ của Lý, thì có câu cuối là: “Phách đẹp hồn thơm như có hiển; Cũng nên thẹn gặp kẻ gieo lầu[15].” Tối ấy, bèn mộng thấy Phi Yên túm lấy tay mà mắng rằng: “Kẻ sĩ có bách hạnh, người có toàn cả không? Làm sao lại đem lời khắc bạc, mà trách cứ ta. Nay hãy chịu khó cùng xuống âm ty, để đối chứng.” Mấy hôm sau, thì Lý chết. Người đương thời chẳng ai không lấy làm lạ.

Viễn sau được điều đi nhận chức Chủ bạ ở huyện Lỗ Sơn, Nhữ Châu. Sau, Lý Viên người Lũng Tây thay chức ấy. Cuối đời Hàm Thông, ta lại thay chức Viên, mà từ nhỏ vốn cùng chơi bời với Viễn, cho nên những chuyện bí mật ở đất Lạc, cũng đều biết. Viên lại có ghi chép lại chuyện này, cho nên còn được truyền lại.

Tam Thủy[16] nói: “Ôi! Dung nhan xinh đẹp, thì đời nào cũng có, mà tiết tháo trong sạch, thì người ít được thấy. Cho nên, kẻ sĩ ngạo tài thì đức bạc, nữ nhân cậy sắc hay trộm tình. Nếu có thể cẩn trọng như bưng vật đầy, như đến bên vực, thì đều là bậc chính sĩ, thục nữ vậy. Tội của Phi Yên tuy chẳng thể trốn được, nhưng xét tấm lòng, cũng đáng thương thay.”

[1] Lâm Hoài: tên huyện đời Đường, nay ở đông nam huyện Tứ, An Huy, từng là trị sở Tứ Châu.

[2] Hàm Thống: niên hiệu Đường Ý tông, từ năm 860 đến năm 874.

[3] Tiết Đào tự Hồng Độ, người Trường An, là danh kỹ đời Đường. Tiết Đào từng ở Cán Hoa khê, sáng tạo ra thứ giấy màu đỏ đế viết thơ, người ta gọi là giấy Tiết Đào.

[4] Đỗ Lan: tức Đỗ Lan Hương là một tiên nữ trong truyền thuyết xưa. Can Bào đời Tấn trong Sưu thần ký - Đỗ Hương Lan biệt truyện có chép: Đỗ Hương Lan từng vi mắc tội mà bị biếm xuống nhân gian.

[5] Giấy Kim Phượng: giấy có hoa văn chim phượng bằng kim sa.

[6] Diệm Khê: tên sông ở huyện Thặng, Triết Giang, tức thượng du sông Tào Nga. Nước sông dung vào việc làm giấy rất tốt, đời xưa nổi tiếng là nơi sản xuất giấy bằng mây và tre, trong đó có một loại trắng bóng như ngọc, gọi là giấy “ngọc diệp”.2. Đàu nhặng: chữ Hán “Dăng đầu”, tức “dăng đầu tiểu khải” là một thuật ngữ thư pháp chỉ lối chữ khải viết nhỏ như đầu ruồi, đầu nhặng.

[7] Giấy Bích Đài: giấy làm bằng loại rêu nước.

[8] Giấy ô ty: giấy viết thư có vẽ sợi tơ đen.

[9] Chim xanh Dao Đài: tương truyền chim xanh là sứ giả của Tây Vương mẫu. về sau người ta dùng từ “chim xanh” (thanh điểu) chì người đưa tin.

[10] Đài Tần: nhắc điển cố Lộng Ngọc gặp Tiêu Sử.Núi Sở: nhắc điến cố vua Sở gặp thần nữ núi Vu Sơn.

[11] Hai câu cuối này nhắc đến điển cố Lưu Thần, Nguyễn Triệu thời Đông Hán, vào núi Thiên Thai hái thuốc bị lạc đường, gặp động tiên, ở lại nửa năm. Sau hai người nhớ nhà quá, các tiên nữ đành chỉ đường tiễn hai người về.

[12] Thập động: tức “thập đại động thiên”, Tam thanh: tức Ngọc thanh, Thượng thanh, Thái thanh. Theo kinh điển Đạo giáo, Thập động là nơi thần tiên ở, còn Tam thanh ở trên lần lượt là nơi tiên cảnh mà Nguyên Thủy thiên tôn, Linh Bảo đạo quân, Thái thượng lão quân ở.

[13] Cung Nhụy. (Nhụy cung), tức Nhụy Châu cung, là tên một cung ở Thượng Thanh.

[14] Bắc Mang: tên núi, ở phía đông bắc thành phố Lạc Dương, Hà Nam.

[15] Kẻ gieo lầu: chi nàng Lục Châu gieo mình ở vườn Kim Cốc. (Xem thêm trong truyện 21: Chu Tần hành ký)

[16] Tam Thủy: tức tác giả Hoàng Phủ Mai tự xưng, ông vốn quê ở huyện Tam Thủy nên có danh xưng này.

Châu Hải Đường dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.