Trần Hồng

Đường Tống Truyền Kỳ (Châu Hải Đường dịch)

Lượt đọc: 296 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
ĐÔNG THÀNH LÃO PHỤ TRUYỆN

❊ ❊ ❊

(ÔNG LÃO Ở ĐÔNG THÀNH)

Có ông lão, họ Giả, tên Xương, người làng Tuyên Dương, Trường An, sinh năm Quý Sửu, niên hiệu Khai Nguyên nguyên niên. Đến năm Canh Dần niên hiệu Nguyên Hòa đã chín mươi tám tuổi, tai mắt vẫn tinh, nói năng từ tốn, tâm lực chẳng suy, kể về những chuyện đời Thái Bình đều rõ ràng cả.

Cha lão tên Trung, mình cao chín thước, sức vật nổi trâu, nhờ đó được giữ chức Trung cung mạc sĩ. Năm Cảnh Long[1] thứ tư, Trung cầm cây cọc màn theo Huyền tông vào cung Đại Minh, giết Vi thị[2], tôn Duệ tông lên ngôi, triều hội quần thần, trở thành công thần đời Cảnh Vân[3], thường mang trường đao, làm thân vệ. Bèn có chiếu cho đời nhà đến phía đông cửa Vân Long.

Khi Xương lên bảy, nhanh nhẹn hơn người, có thể bám cột trèo xà, lại giỏi ứng đối, hiểu được tiếng chim.

Lúc Huyền tông còn ở ngôi vương, thường thích trò chọi gà mỗi dịp tết Thanh minh ở dân gian. Kịp khi lên ngôi, cho dựng xới gà ở sân giữa hai cung, tìm gà chọi ở Trường An, chọn lấy cả ngàn con, toàn lông vàng cựa sắt, mào dựng đuôi vươn, cả ngàn con, đem về nuôi. Lại chọn lấy năm trăm đứa tiểu nhi trong sáu quân, sai nuôi dạy số gà ấy. Bề trên đã chuộng, dân chúng càng theo, vương tử, ngoại thích, quý tộc, chư hầu, đều dốc hết của nả ra mua bằng được gà tốt. Trai gái khắp thành, đều theo việc chơi gà, nhà nghèo thì chơi gà giả. Hoàng đế xuất du, trông thấy Xương chơi gà gỗ ở bên đường ngoài cửa Vân Long, bèn triệu vào cung, làm đứa nhỏ trong Kê phường, cấp ăn mặc như Hữu Long Vũ quân. Đứa trẻ ba thước, vào giữa đàn gà, như cầm đầu tụi nhỏ, con khỏe, con yếu, con bạo, con nhát, khi cho ăn uống, lúc mắc bệnh tật, đều biết rõ hết. Xương chọn hai con gà, thuần dưỡng được chúng, có thể sai khiến như người. Trung yết giả Vương Thừa Ân trông coi Kê phường liền đem chuyện nói với Huyền tông, bèn triệu vào sân điện thử, đều hợp ý Huyền tông, ngay trong ngày liền cho Xương đứng đầu bọn năm trăm tiểu nhi. Lại vì Xương trung hậu cẩn mật, nên vua càng yêu quý, vàng lụa thưởng ban, ngày nào cũng có.

Năm Khai Nguyên thứ mười ba, Xương đem ba trăm lồng gà, theo vua làm lễ phong thiện ở Đông Nhạc. Cha Xương mất dưới Thái Sơn, Xương được theo lễ làm con, phụng tống xác cha về chôn ở Ưng Châu. Quan huyện cho chuẩn bị xe tang cùng các đồ táng khí, đi xe trạm về Lạc Dương. Tháng Tư năm sau, Xương mặc áo chọi gà, đến Ôn Tuyền gặp Huyền tông, bấy giờ thiên hạ đều gọi Xương là “Thần kê đồng”. Người đương thời có câu rằng:

Sinh con biết chữ làm gì,

Chọi gà đua ngựa hơn bề thơ ca.

Con họ Giả, tuổi mười ba,

Thế mà phú quý vinh hoa ai bằng.

Thắng thua giỏi khiến cựa vàng,

Áo thêu, lụa trắng được thường theo vua.

Dặm ngàn cha chết ngoài xa,

Kéo xe, đẹp lối, sai nha đưa về.

Khi Chiêu Thành Hoàng hậu còn ở phủ Tương vương[4], sinh Hoàng đế vào ngày mồng năm tháng tám. Sau khi trung hưng, bèn lấy ngày ấy làm tiết Thiên thu, ban thưởng trâu rượu cho bàn dân thiên hạ được ăn uống vui chơi trong ba ngày, mệnh gọi là “bô”, lấy làm lễ thường, tụ họp nhạc công tấu nhạc ở trong cung. Cũng có năm làm lễ “bô” ở đất Lạc. Còn ngày Nguyên hội[5] và lễ Thanh minh thì đều ở Ly Sơn. Mỗi khi đến những ngày ấy, muôn nhạc cùng tấu, sáu cung theo hầu. Xương đội mũ gắn hoa vàng ngọc chạm, mặc áo gấm xiêm thêu, cầm thanh la mở đường, bầy gà theo thứ tự đứng sắp hàng trên sân. Xương mắt liếc hữu thần, chí huy đâu ra đấy. Bầy gà dựng lông giương cánh, gại mỏ mài cựa, sẵn sàng quyết thắng, tiến lui như hẹn, theo ngọn roi Xương chỉ, không sai mảy may. Xương liệu thắng bại đã rõ, cho con mạnh trước, con yếu sau, theo Xương tuần tự đi về Kê phường. Bọn võ sĩ đấu vật, múa kiếm trèo sào, đá cầu đi đây, nhào lộn trên đầu cột, đều kinh sợ thất sắc, chần chừ không dám ra sân diễn nữa. Nhẽ nào Xương chính như kẻ dạy vượn luyện rồng đó ư?

Năm thứ hai mươi ba, Huyền tông cho Xương lấy con gái của đệ tử Lê viên Phan Đại Đồng. Chú rể đeo ngọc, cô dâu áo thêu, đều từ ngự phủ ra.

Xương có hai con trai là Chí Tín, Chí Đức. Đời Thiên Bảo, Phan thị vợ Xương nhờ tài ca múa được Dương Quý phi rất ưa thích. Hai vợ chồng được ân sủng suốt bốn mươi năm không hề kém sút, há chẳng phải là nhờ ngón nghề tình tường, tâm tính cẩn thận ư? Hoàng thượng sinh giờ Dậu năm Ất Dậu, lại cho kẻ chọi gà mặc triều phục, ấy là điềm loạn ngay ở đời thái bình, mà tâm chẳng ngộ ra vậy.

Năm (Thiên Bảo) thứ mười bốn, rợ Hồ vây hãm Lạc Dương, Đồng Quan thất thủ. Xa giá đến Thành Đô, Xương chạy theo hộ giá, đang đêm ra khỏi cửa Tiện Môn, ngựa bị sụt xuống hố trên đường, Xương bị thương ở chân, không thể đi được, phải chống gậy vào Nam Sơn. Mỗi khi đến ngày diễn gà cho vua xem, Xương lại ngoảnh mặt về phía tây nam khóc rống. An Lộc Sơn năm xưa về kinh triều kiến, từng gặp Xương ở ngoài Hoành Môn. Kịp đến khi gây loạn hai kinh, bèn treo thưởng ngàn vàng cho kẻ nào bắt được Xương ở chợ Lạc Dương, Trường An. Xương bèn thay tên đổi họ, nương tựa cửa chùa, quét lá gõ chuông, dốc lòng thờ Phật.

Sau khi Thái thượng hoàng về cung Hưng Khánh, Túc tông thụ mệnh lên ngôi ở biệt diện, thì Xương mới về quê cũ.

Nhà cửa bị giặc cướp bóc, không còn thứ gì, áo vải tiều tụy, không được vào cấm môn nữa. Hôm sau, Xương lại ra cửa Nam Trường An, giữa đường gặp vợ con ở làng Chiêu Quốc, đều xanh xao thê thảm: con đang gánh củi, vợ mặc áo gai. Xương ôm lấy mà khóc, rồi quyết biệt giữa đường. Sau ở luôn trong phật tự ở Trường An, theo học đại sư Phật Chỉ.

Năm Đại Lịch nguyên niên, Xương nương tựa đại đức tăng Vận Bình ở chùa Tư Thánh, trụ ở Hải Trì, Đông Thị, dựng Đà La Ni thạch tràng[6]. Xương chỉ biết chữ đủ viết tên họ, nhưng đọc kinh Phật, cũng có thể hiểu được chỗ thâm nghĩa chí đạo, lấy thiện tâm mà giáo hóa người nơi thị tính. Dựng tăng phòng Phật xá, trồng cây cối tốt tươi. Ngày thì vun gốc bồi rễ, gánh nước tưới tre, tối lại công phu nơi thiền thất.

Năm Kiến Trung[7] thứ ba, tăng Vận Bình viên tịch. Phục lễ xong, Xương dựng tháp xá lị ở mé đông chùa Trấn Quốc ngoài cửa đông thành Trường An, tự tay trồng hàng trăm cây tùng cây bách, rồi dựng một chòi nhỏ, ở ngay dưới tháp, sớm tối đốt hương quét tước, thờ thầy như khi còn sống. Thuận tông còn ở Đông cung, bỏ ra ba mươi vạn tiền, giúp Xương lập trai xá và nhà thờ đại sư. Xương lại dựng nhà ở ngoài, cho dân lưu tán thuê lấy tiền sinh sống. Mỗi ngày Xương chỉ ăn một chén cháo, uống một thăng nước, nằm chiếu cỏ, mặc áo bông. Còn dư bao nhiêu, đều để thờ Phật. Phan thị vợ Xương sau cũng không biết ra sao.

Đời Trinh Nguyên[8], người con trưởng là Chí Tín làm việc quân ở Tinh Châu, theo Đại tư đồ Toại về triều kiến, đến thăm Xương ở làng Trường Thọ. Xương coi như mình đã chết rồi, cự tuyệt đuổi đi. Người con thứ là Chí Đức, buôn lụa ở chợ Lạc Dương, qua lại Trường An, hàng năm đều đem vàng lụa biếu Xương, cũng đều tạ tuyệt. Hai người con bèn bỏ đi, không quay lại nữa.

Niên hiệu Nguyên Hòa, Trần Hồng Tổ[9], người Dĩnh Xuyên dắt theo bạn ra cửa Xuân Minh, thấy tùng trúc rậm rạp, hương khói ngạt ngào, bèn xuống ngựa vào tiếp kiến Xương ở dưới tháp, nghe Xương nói chuyện, quên cả ngày đã về chiều. Xương bèn cho Hồng Tổ ở trai xá, kể về xuất xử bản thân, chuyện đâu ra đấy. Nói tới vương chế, Hồng Tổ bèn hỏi đến chuyện trị, loạn trong đời Khai Nguyên. Xương nói: “Khi lão đây còn nhỏ, lấy sự chọi gà mà được vua yêu. Nhưng vua chỉ coi như đám con hát, cho ở ngoài cung, sao biết được chuyện triều đình. Song cũng có mấy điều có thể nói cho ngài biết. Lão đây từng được thấy Hoàng môn Thị lang Đỗ Tiêm làm Trách Tây Tiết độ sứ, kiêm giữ Ngự sử đại phu, đem pháp độ kỷ cương trấn nhiếp được cõi xa. Thấy Ca Thư Hàn trấn giữ Lương Châu, hạ Thạch Bảo, giữ thành Thanh Hải, xuất quân Bạch Long, vượt Thông Lĩnh, chặn Thiết Quan, tổng quản Hà Tả đạo, vua bảy lần hạ lệnh mới nhận chức Ngự sử đại phu. Thấy Trương Duyệt ra lĩnh U Châu, mỗi năm vào ải, đều kéo xe to cộ lớn, chở vải lụa trưng thu được từ Hà Gian, Kế Châu, xe nối đuôi nhau, chen chúc vào ải. Nhưng chuyển vào vương phủ chỉ có vải lụa ở vùng Giang Hoài, gấm vóc của vùng Ba Thục, và những thứ đồ chơi cho hậu cung mà thôi. Đạo Đôn Hoàng ở Hà Châu, hàng năm lập đồn điền, có đủ quân lương biên viễn, còn dư chuyển đến Linh Châu, xuôi dòng Hoàng Hà, nhập kho Thái Nguyên, để phòng khi Quan Trung gặp năm đói. Còn thóc lúa của Quan Trung, đều để trong dân chúng cả. Thiên tử đến Ngũ Nhạc, quan binh đi theo tới ngàn xe vạn ngựa, nhưng không hề lấy của dân ăn. Lão đây mỗi ngày lễ tiết được về nhà, đi qua những nơi phố thị, thấy có bán áo trắng, vải cuộn trắng. Qua chỗ xóm giềng, có người cúng giải bệnh, theo phép cần dùng một tấm vải đen, ra giá cao mà cũng không mua được, rốt cuộc phải lấy khăn bọc đầu tạm dùng thay. Gần đây, lão có chống gậy ra ngoài, xem xét phố xá, nhìn khắp đông tây nam bắc, nhưng người mặc áo trắng thấy chẳng tới một trăm. Há rằng người thiên hạ đều đi lính cả rồi sao? Năm Khai Nguyên thứ mười hai, có chiếu rằng chức Thị lang ở tam sảnh[10] còn khuyết, cần tìm những người từng nhậm chức Thứ sử để bổ vào. Chức Lang quan còn khuyết, trước tiên tìm ở những người từng làm Huyện lệnh. Tới nay, lão đây thấy, bốn mươi vị lang lại ở tam sảnh, có tài năng giỏi hình luật, lớn thì ra làm Thứ sử ở quận, nhỏ thì đi trấn ở huyện. Từ khi lão đây sống ở bên đường lớn này, thường có các quan Thái thú ở quận, đến dừng ngựa nghỉ chân, ai nấy đều thê thảm không vui vì bị triều đình sa thải cho ra coi ngoài quận. Đời Khai Nguyên, chọn kẻ sĩ, chứ từ những kẻ hiếu đễ hiểu người mà thôi.. Chứ chưa nghe nói lựa chọn từ những khoa tiến sĩ hoành từ để lấy người. Đại khái là như vậy.” Đoạn rơi nước mắt. Lại nói: “Thượng hoàng, phía bắc thì thần phục Khung Lư[11], phía đông thần phục Kê Lâm, phía nam thần phục Điền Trì, phía tây thần phục Côn Di, cứ ba năm một lần đến hội. Lễ nghi triều kiến, ân trạch ban ra, cho mặc gấm vóc, cho ăn rượu thịt, khiến xong việc thì về, trong kinh đô không lưu khách ngoại quốc. Ngày nay, người Hồ phương bắc ở lẫn lộn chốn kinh sư, lấy vợ sinh con. Bọn trung thiếu niên ở Trường An, đều có Hồ tâm vậy. Ngài hãy nhìn những thứ y phục trang sức chế ra, chẳng còn giống xưa, chẳng phải là thứ yêu vật ư?” Hồng Tổ chỉ biết lặng im, không dám đáp lại, rồi đi.

[1] Cảnh Long: niên hiệu Đường Trung tông, từ năm 707 đến năm 710.

[2] Vi thị: Hoàng hậu của Đường Trung tông Lý Hiến. Vi hậu hạ độc giết hại Trung tông, tự lập làm Hoàng thái hậu, lâm triều nhiếp chính. Lý Long Cơ (Huyền tông) bèn lập mưu khởi binh đánh vào nội cung giết chết Vi hậu, tôn phụ thân là Lý Đán (em Trung tông) lên làm vua tức Duệ tông.

[3] Cánh Vân: niên hiệu Đường Duệ tông, từ năm 710 đến năm 712.

[4] Chiêu Thành Hoàng hậu: thân mẫu Huyền tông. Duệ tông khi chưa làm Hoàng đế, được phong là Tương vương

[5] Nguyên hội: ngày Nguyên Đán, Hoàng đế tụ tập triều kiến quần thần, gọi là “Nguyên hội’’, cũng gọi “Chính hội”.

[6] Thạch tràng: cột đá có khắc kính, chú, hoặc danh hiệu Phật.

[7] Kiến Trung: niên hiệu Đường Đức tông, từ năm 780 đến năm 783.

[8] Trinh Nguyên: niên hiệu Đường Đức tông, từ năm 785 đến năm 805.

[9] Tác giả truyện là Trần Hồng, ở đây lại chép cuộc trò chuyện của Giả Xương với Trần Hồng Tố, có người cho Trần Hồng Tố với Trần Hồng là một. Chúng tôi xin dịch theo như nguyên văn.

[10] Tam sảnh: tức Thượng thư sảnh, Trung thư sảnh, Môn hạ sảnh.

[11] Khung Lư: chỉ Hung Nô và các dân tộc du mục phương bắc. Trong đoạn tiếp theo, Kê Lâm chỉ Tân La, Triều Tiên; Điền Trì chỉ Nam Chiếu, thuộc khu vực Đại Lý, tỉnh Vân Nam ngày nay; Côn Di: chỉ các nước nhỏ phía vùng Tây vực đời Đường.

Châu Hải Đường dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.