Tân Thuần

Đường Tống Truyền Kỳ (Châu Hải Đường dịch)

Lượt đọc: 344 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
ĐÀM Ý CA TRUYỆN

❊ ❊ ❊

(ĐÀM Ý CA)

Đàm Ý Ca, tiểu tự Anh Nô, theo cha mẹ đến Anh Châu[1]. Sau, cha chết, phải lưu lạc đến Trường Sa, nay là Đàm Châu. Năm lên tám, mẹ lại chết, Ý Ca phải gửi nuôi ở nhà thợ thủ công Trương Văn. Văn làm những đồ dùng bằng tre để sinh sống qua ngày.

Một hôm, có ca kỹ của quan phủ là Đinh Uyển Khanh đi qua nhà Văn, trông thấy Ý Ca, thầm nghĩ rằng nếu có được người này thì chỗ ta tất có giá, bèn mời Văn uống rượu, rồi không nói gì mà đi. Ngày khác, lại đem tiền lụa đến cho Văn, biếu tặng rất hậu. Văn nói với Uyển Khanh: “Văn này chỉ là một tên thợ hèn ở ngoài chợ, mà lại được nhận hậu ý như thế, cảnh nhà nghèo hèn không có gì để báo đáp. Không biết người muốn điều gì? Người có điều gì, xin cứ nói ra, tôi dẫu ngu dốt cũng xin báo đáp lại chút nào hậu ý.” Uyển Khanh nói: “Ta bấy lâu không nói, thực là sợ sẽ làm cho ông nổi giận. Nay ông đã khẩn cầu như vậy, thì ta mới dám nói. la trộm biết rằng, Ý Ca không phải là con đẻ của ông, mà ta rất mến nhan sắc của nó. Nếu như ông có thể bán nó cho ta, thì chẳng phải chỉ ngày nay ta hậu tạ, mà sau này tất còn thu được nhiều lợi lộc nữa. Chớ để nó ở lại nhà ông mà cùng chịu cơ hàn. Ý ông thế nào?” Văn nói: “Văn đã ngầm hiểu ý người từ lâu, nên mới dám bẩm trước. Như thế, sao dám không vâng mệnh.”

Bấy giờ, Ý Ca mới vừa mười tuổi, biết ý Văn và Uyển Khanh như thế, Ý Ca tức giận vặn hỏi Văn rằng: “Cháu chẳng phải con ông, nhưng sao ông nỡ lòng đem vứt cháu vào nhà ca kỹ thế? Nếu ông có thể gả chồng cho cháu, thì dù nghèo hèn cháu cũng xin bằng lòng.” Nhưng rốt Văn vẫn quyết ý đưa đến chỗ Uyển Khanh. Lúc đi ra khỏi cửa, Ý Ca khóc toáng nên bảo: “Tôi côi cút một thân, lưu lạc muôn dặm, thế cô sức yếu, tuổi nhỏ ấu thơ, không có người thương cứu, chẳng được theo về nhà lương gia.” Những người nghe thấy thế, chẳng ai không than thở thương xót.

Uyển Khanh ngày ngày dùng trăm phương ngàn kế dụ dỗ, lấy châu ngọc trang sức cho đeo, lấy lụa là ấm áp cho mặc, lấy món tươi của ngon cho ăn, chăm chút suốt thời gian dài, chẳng khác mẹ hiền chăm con vậy. Ngày qua tháng lại, Ý Ca trong lòng dần cũng yêu quý, mà trở nên có thiện cảm với Uyển Khanh. Thấy Ý Ca đã quên đi chí hướng thuở xưa, còn chưa tới tuổi cập kê, Uyển Khanh đã kén người để gả bán. Ý Ca da dẻ trắng trẻo, vóc dáng thanh tú, tóc đen mày dài, cổ tay nõn nà, vòng eo thon thả, nổi danh khắp bấy giờ. Xe ngựa khắp nơi kéo về, cửa nhà đông như họp chợ. Lại thêm nàng thông minh mẫn tuệ, thông hiểu âm luật, chữ đẹp thơ hay, nên đám thiếu niên sẵn lòng ngàn vàng mua lấy tiếng cười, chỉ sợ chậm chân hơn người khác. Quận quan mỗi khi yến hội, cũng đều đem xe tới mời.

Bấy giờ chuyển vận sứ Chu công yến hội khách khứa trong phủ, Ý Ca đến phủ trước, có viên Y bác sĩ tên Cập vì công việc cũng vừa tới phủ, lên sảnh bái yết Chu công. Cập có chòm râu rất đẹp, Chu công nhân cười nói: “Ta có câu này, ngài có thể đối được không?” Cập nói: “Xin được nghe.” Chu công bèn đọc: “Y sĩ bái thời tu phất địa” (Y sĩ bái chào râu quét đất). Cập còn chưa kịp đối lại, thì Ý Ca đứng bên nói: “Thiếp xin đối thay bác sĩ.” Chu công bằng lòng, Ý Ca bèn đọc: “Quận hầu yến xứ mạc xâm thiên” (Quận hầu yến hội rạp che trời.) Chu công nghe rất vui lòng.

Ý Ca bị ốm vừa khỏi, ra gặp gỡ phủ quan, thường tự viết trong danh thiếp là biết uống rượu làm thơ. Có người tên Tưởng Điền, đọc thấy thế, có ý châm chọc, bèn bắt đối câu, rồi chỉ vào mặt Ý Ca đọc rằng: “Đông qua sương hậu tần thiêm phấn” (Bí đao sau sương má thêm nhiều phấn). Ý Ca bèn nắm lấy tay áo ông ta, đối rằng: “Mộc táo thu lai dã trước phi” (Mộc táo thu sang cũng mặc áo đỏ). Tưởng Điền vừa thẹn vừa thích thú, mọi người nghe đối đều cùng nhau tán thưởng.

Quan Gián nghị họ Ngụy ra trấn thủ Trường Sa, đi chơi núi Nhạc Lộc, có Ý Ca theo xe, biết Ý Ca giỏi thơ, bèn gọi bảo: “Nàng có đối được câu này của ta không?” Rồi đọc: “Chu y lại dẫn đăng thanh chướng” (Quan áo đỏ, dắt lên núi xanh). Ý Ca bèn đối ngay: “Hồng tụ nhân phù hạ bạch vân” (Tay áo hồng đỡ xuống mây trắng). Quan vui lòng lắm, nhân đặt tên cho Ý Ca là Văn Uyển, tự Tài Cơ. Y Ca lạy tạ, nói: “Thiếp là kẻ nhỏ mọn, mà ngài lại lập danh, tự cho, thật vinh hạnh hơn được ban thưởng muôn lạng vàng vậy.”

Lưu tể tướng ra trấn Trường Sa, một hôm lên cửa Bích Tương hóng mát, các quan mạc liêu đều đi theo. Lưu gọi Ý Ca bảo đối đáp. Ý Ca nói: “Thiếp là kẻ thấp kém, sao dám so đối lại tài của ngài. Nhưng ngài đã ra lệnh, thì không dám chối từ.” Hồi lâu, nhìn ra bãi sông Tương mãi ngoài xa, thấy nhà tre mái cỏ, có người ngư phủ xách hai con cá đi vào một ngõ sâu. Lưu đọc rằng: “Song ngư nhập thâm hạng” (Hai cá vào ngõ nhỏ). Ý Ca bèn đối: “Xích tố kỷ thùy gia” (Thước lụa[2] gửi nhà ai). Lưu công rất thích, khen ngợi nàng hồi lâu. Hôm khác, Ý Ca lại theo xe Lưu công đi chơi núi Nhạc Lộc, qua động Bão Hoàng[3], đến đình Vọng Sơn ngâm thơ, khách khứa đều làm thơ họa lại. Ý Ca cũng viết một bài thơ dâng lên rằng:

Thần tiên xa khuất đã ngàn năm,

Bốn phía đình cao mắt vút tầm.

Trời thẳm Ngũ vân xe thấp thoáng,

Dấu xưa Tam Đảo dặm xa xăm.

Lối mòn nghiêng dốc, cây ngâm gió,

Vách núi ban mai, vượn hú trăng.

Cưỡi hạc khi nào về cố lý,

Giang Thành ắt hẳn ít người thân.

Lưu công đọc thơ càng thêm kinh ngạc khen ngợi, khách khứa truyền tay nhau xem, chẳng ai không tâm phục. Lưu công nói: “Đây quả là thi yêu vậy.” Lưu công hỏi lai lịch Ý Ca, nàng kể rõ thực tình, Lưu công nghe xong càng thêm thương cảm. Ý Ca bèn nói: “Ý Ca được biên vào danh sách ca kỹ của quan phủ, nằm trong đội ngũ nghênh đón phục dịch các quan đã mấy năm nay, không dám kêu ca mệt nhọc. Nay may gặp được ngài, nếu ngài giúp cho Ý Ca được ra khỏi danh sách mà hầu hạ quét dọn cho nhà lương gia, thì dẫu chết cũng xin cảm tạ ơn ngài.” Lưu công bèn hứa sẽ giúp cho ra khỏi kỹ tịch. Ngày khác, Ý Ca đến quan phủ dâng đơn xin, Lưu công bằng lòng cho. Ý Ca bèn có ý tìm lương ngẫu, nhưng đã lâu mà chưa gặp được ai.

Ít lâu sau, có Trương Chính Tự người Nhữ Châu làm Trà quan ở Đàm Châu, Ý Ca vừa trông thấy liền bảo với mọi người rằng: “Tôi tìm được chàng rể rồi.” Hỏi lại, thì nàng nói: “Người ấy phong độ, tài học đều trúng ý tôi.” Trương nghe thấy vậy, cũng có ý ưng.

Một hôm, Trương hẹn Ý Ca gặp nhau ở giang đình. Khi ấy, đình cao gió lớn, sông rộng trăng trong, vén trướng buông rèm, gió vào cửa sổ, rèm thưa trăng lọt, lò bạc tỏa hương. Gối ngọc kề liền, chăn thêu đắp thấp, gảy đàn tâm sự, lãng đãng tình xuân. Hai người tựa đôi hoa tịnh đế[4], như đôi con cá chung dòng, vui vầy tương đắc, dù chết chẳng buông. Hôm sau, Ý Ca thu dọn hết hành trang về theo Trương. Có kẻ hữu tình tặng một bài thơ rằng:

Tài sắc tương phùng vừa đắc ý,

Phong lưu cơ ngộ việc càng hay.

Mẫu đơn dời đến vườn tiên ở,

Hoa đẹp Tương Đông hết tự đây.

Hai năm sau, Trương bị điều đi làm quan nơi khác, lại đến gặp mặt. Ý Ca bèn đặt tiệc tiễn hành ở ngoài thành. Trương lên đường, Ý Ca cầm tay dặn rằng: “Chàng vốn con nhà danh gia, còn thiếp là kẻ ca xướng, đem hèn sánh quý, chẳng phải duyên lành. Huống chi chàng, buồng trong chưa có người chủ trì, nhà ngoài lại song thân tóc bạc. Hôm nay chia biệt, nhất định chẳng có kỳ sau.” Trương nói: “Một lời minh thề, sáng soi nhật nguyệt, nếu như ta phụ ước, chẳng phải là coi thường thần minh ư?” Ý Ca nói: “Trong bụng thiếp đã mang giọ t máu của chàng được mấy tháng rồi. Đó chính là cốt nhục của chàng, chàng hãy thương đến.” Hai người cùng đau thương vô hạn, rồi từ biệt mà đi. Ý Ca đóng cửa không đi đâu ra ngoài, dù là hàng xóm cũng không trông thấy mặt. Lâu sau, Ý Ca viết thư cho Trương rằng: “Đông hết xuân về, đã qua năm tháng, bóng chim tăm cá, âm tín tuyệt không. Đầu xuân thời tiết nóng lạnh thất thường, chàng hãy giữ gìn bảo trọng. Chàng trọ nơi kinh kỳ xe ngựa, hẳn được thấy nhiều điều mới lạ. Chỉ có người ở nơi xa vắng, lòng vẫn dõi theo, mong chàng trở về, mà thấy ngày dài như năm vậy. Nhân có một bài thơ nhỏ, gửi gắm tâm tình, còn nữa chỉ mong chàng muôn vàn bảo trọng.”

Bài thơ viết rằng:

Tiêu Tương mặt nước gió xuân bay,

Tan hết băng sương, rụng hết mai.

Chỉ nguyện chàng như xuân sắc đó,

Một năm lại một độ về đây.

Hơn một năm, mà Trương vẫn chưa quay về, Ý Ca cũng không hay tin Trương đã lấy vợ, lại viết một bức thư rằng: “Từ khi xa cách đến nay đã lại năm mới, đất Tương Đông ấm áp càng được vẻ xuân nhiều. Mai bên khe vừa rơi cánh ngọc, hạnh trước hiên đã trổ đóa hồng, én cũ vừa về, oanh xuân đã hót. Trông cảnh vật như cũ, thêm cảm sự mà buồn. Có khi miễn cưỡng nói cười, mà chẳng hay lệ nhỏ. Mấy tháng nay thiếp chẳng màng ăn uống, tựa bệnh mà không phải bệnh, chẳng thể khỏi được. Con nhỏ vẫn bình an (con Ý Ca đã hai tuổi), chàng không cần phải lo lắng. Lời xưa kia thiếp từng nói trước mặt chàng, vốn chẳng phải tự dối lòng mình vậy. Chàng chẳng thể trái lời cha mẹ, lại không thể bỏ qua sự tốt đẹp cho mình, nên mong được kết duyên với nơi cao vọng, cũng chẳng biết làm sao được. Hoặc có đoái tới kẻ hèn mọn này, hạ cố giữ điều chung thủy, thì ơn trăm năm ấy, thiếp đến hết đời cũng không báo hết. Dù chết hay sống, từ đầu chí cuối, cũng không đủ đáp tạ lòng chàng. Nỗi lòng day dứt, dù có viết cùn bút lông mười thỏ, hết giấy dó Tam Giang, cũng không thể nói được hết để chàng nghe, cầm bút mà bất giác lệ rơi xuống nghiên xuống án. Tình ý muộn phiền, không thể cầm lòng cho được. Mong chàng muôn vàn tùy thời giữ gìn sức khỏe, chớ vì thế mà lo nghĩ vậy. Thiếp có hai bài ca ngắn, vốn chẳng phải là lời đáng cho bậc quân tử ngâm nga, chỉ cốt để tỏ tâm tình mình mà thôi.”

Một bài theo điệu Cực tương tư lệnh:

Được xuân trước nhất ấy Tương Đông,

Hòa khí ấm dường bông.

Thanh minh qua tiết, hoa tàn lối ngõ, còn thấy đu trồng.

Trước cảnh cảm thời tâm sụ rối, tình giấu kín, chim biếc đưa suông.

Dưới trăng trước gió, suốt mùa hoa nở, nước mắt tuôn ròng.

Lại một bài theo điệu Trường tương tư lệnh:

Én cũ vừa về, hoa lê ngập lối, khí trời man mác êm hòa.

Đường khô ngõ tạnh, khắp chốn xe êm ngựa tốt, yến ẩm sênh ca.

Bạn cũ nào đâu, trước ngày vui, vẫn thấy lạc thiểu sầu đa.

Mãi tự chau mày, buồng khuê lòng nặng tình xa.

Chính thảm thiết không lời, thương cảm lầu cao trông ngóng, suông gửi yên ba.

Vốn nên việc tốt, hà cớ trời xui đôi chốn quan hà.

Nén lòng cười gượng, hỏi gần đây sao rộng áo là?

Tựa chốn nào người đang tiều tụy, vì ai cam chịu lòng ta.

Trương được thơ từ của Ý Ca, buồn thương mãi lâu không dứt, lại riêng đem thư của Ý Ca cho những người thân thiết xem, kẻ hữu tình chẳng ai không lấy làm than thở. Trương bên trong thì bị cha mẹ răn đe bức bách, bên ngoài thì bị mọi người lời ra tiếng vào, hơn một tháng sau, cha mẹ bèn đính ước hôn nhân cho Trương với con gái của Điện thừa Tôn Thế. Dạm hỏi xong rồi, bà mối thúc giục chọn ngày lành tháng tốt, chỉ trong vòng mấy hôm liền làm lễ thành hôn. Trương trong lòng lo uất, cảm thương rơi lệ. Đang ngày lành cảnh đẹp, mà nhìn vui hóa buồn, tựa lan can buồn bã trông xa, chỉ lặng im không nói. Sau cùng chàng vẫn không dám viết thư báo tin cho Ý Ca. Hơn một năm sau, Ý Ca mới biết, bèn viết thư cho Trương rằng:

“Thiếp vốn biết rõ mình chỉ là kẻ thấp hèn. Việc của người quân tử, đâu dám hỏi nhiều. Từ vào chốn phòng khuê, chỉ biết lo giữ đạo làm vợ, sớm hôm cung thuận, há đám kêu than mệt nhọc? Tự giữ việc quét dọn lau chùi, đến nay đã được ba năm, nếu có điều thất kính, thì chàng cứ dạy cho biết. Chứ không dưng ruồng bỏ, thật khiến thiếp thất vọng. Xét về nhân tình, tựa hồ bạc ác, so trong thiên lý, cũng chẳng thể dung. Thiếp đã đem thân theo chàng, chẳng thể làm điều sai quấy được. Có nghĩa thì hợp, trong thư trước đã thưa trình, Vô cớ xa rời, ngẫm nhỏ mọn càng đau đớn. Thề có thể phụ, chẳng cần nói lại làm gì. Nhưng con nhỏ nay đã ba tuổi, mới vừa biết đi, muốn được nên người, còn nhiều trông đợi. Trong túi thiếp vẫn còn mấy trăm quan tiền, có thể mua lấy chút ruộng vườn ngoài thành, hàng ngày cùng với các lão nông trồng trọt cấy cày, nhà dột chăn thô, đào giếng tưới vườn, dạy cho con biết giáo huấn thi thư, coi trọng lễ nghĩa, mong cho nó sau này làm nên, để thiếp có thể nhờ cậy đến cuối đời. Chỉ có vậy mà thôi. Còn như chuyện lầu cao gió mát, hiên rộng trăng thanh, thưởng tâm lạc sự, từ lâu đã không dám nghĩ tới. Nay thiếp có mấy lời như vậy, chàng hẳn chẳng tin, đợi đến ngày sau, sẽ biết lòng thiếp. Tân hôn vừa mới, mong quân tử hãy vui vầy, Hoa quỳ góc vườn, vẫn một lòng theo bóng nhật. Từ nay kẻ bị ruồng bỏ này, sẽ chẳng dám trông cao, nỗi nhớ theo mây trắng, hồn phách gửi chân trời, u hoài chất chứa, chẳng thể nói hết được. Chàng làm quan nơi nào, xin nhờ gió đưa tin tới, thiếp chẳng phải có ý gì, chỉ mong biết động tĩnh của chàng mà thôi. Nuốt lệ viết thư, nỗi niềm chẳng hết. Chàng hãy muôn vàn bảo trọng!”

Trương được thư của Ý Ca, ngày đêm than thở buồn bã. Ba năm sau, Tôn thị vợ Trương qua đời, nhưng ở đất Hồ Ngoại[5] cũng không hề có tin tức. ít lâu, có người khách từ Trường Sa trở về, gặp Trương ở dinh Nam sảnh[6]. Trương hỏi thăm khách tình hình Ý Ca bấy lâu thế nào. Người khách chợt vỗ tay mắng bảo: “Trương sinh thật là kẻ vô tình gỗ đá vậy. Nếu như có kẻ hữu tình gặp được, tất giết chết không tha.” Trương nói: “Sao lại nói vậy?” Khách nói: “Ý Ca từ sau khi Trương đi, liền đóng cửa không ra ngoài, dù là hàng xóm cũng không thấy mặt. Nghe tin Trương đã lấy người khác, nhưng Ý Ca vẫn bền lòng, vừa mua một trăm mẫu ruộng ở ngoài thành để làm kế sinh nhai. Lại trị nhà trong sạch nghiêm cẩn, không để cho mảy may lời dị nghị nào có thể vào được, tự mình dạy lấy con. Tôi cho, như con gái của Lý Trú Mãn đời xưa, cũng chẳng thể hơn thế được. Nếu tôi mà gặp Trương sinh, tất sẽ nhổ vào mặt mà mắng cho.” Trương hổ thẹn hồi lâu, bèn mời người khách vào quán uống rượu, bảo: “Tôi chính là Trương sinh đây. Ông trách mắng tôi phải lắm. Nhưng ông không biết cho, nhà tôi còn có song thân, thế không thể làm sao được.” Khách nói: “Thật tôi không biết ngài lại chính là Trương sinh.” Hồi lâu rồi mới chia tay.

Trương sinh bèn đi Trường Sa, mấy ngày thì tới nơi, bèn cải trang đi chơi các quán xá, hỏi thăm những việc làm của Ý Ca, thấy chẳng ai không luôn miệng khen ngợi nàng. Lẳng lặng hỏi thăm láng giềng, thì họ đều nói chẳng ai trông thấy nàng cả. Nhìn cửa ngõ im lìm, sân nhà vắng vẻ, Trương không khỏi buồn rầu. Ý Ca trông thấy Trương, vội đóng chặt cửa không ra. Trương nói: “Ta không dưng lội sông sâu, trèo núi thẳm, vượt mấy ngàn dặm đất đến đây, là bởi tâm để ở nàng. Sao nàng lại cự tuyệt quá đỗi như thế, phải vì khi xưa ta đối xử tệ bạc với nàng chăng?” Ý Ca nói: “Chàng đã có vợ, thiếp mới giữ niềm trong sạch để toàn chí mình. Chàng nên về đi, chớ làm vấy bẩn đến thiếp.” Trương nói: “Vợ ta đã mất rồi.” Ý Ca nói: “Trước đây, thiếp mến chàng, bỗng dưng bèn chạy theo chàng, cho nên bị vứt bỏ dễ dàng như thế. Nếu như chàng không ruồng rẫy, thì chàng nên nhờ mai mối, mà làm đủ theo lễ, thì thiếp mới dám vâng mệnh. Nếu không sẽ chẳng còn dịp gặp nhau nữa đâu.” Rồi rốt cuộc vẫn không ra.

Trương bèn làm theo như lời, đủ nạp thái, vấn danh, như lễ Tấn Tần thuở trước. Việc đâu đấy cả, bèn đưa Ý Ca về kinh sư. Ý Ca sửa trị khuê môn, rất có lễ pháp, khiến thân tộc đều có lòng ơn, nội ngoại đều được hòa mục, gia đạo lập nên. Sau, Ý Ca lại sinh thêm một con trai, thi đậu tiến sĩ, cuối đời nàng được phong là mệnh phụ. Vợ chồng cùng sống với nhau đến già, con cháu đề huề. Ôi chao, thực là bậc hiền vậy!

[1] Anh Châu: tên châu xưa, trị sở tại Anh Đức, Quảng Đông ngày nay.

[2] Thước lụa (xích tố) ở đây chỉ thư tín. Sái Ung trong bài thơ Ẩm mã Trường thành quật hành viết: Khách tòng viễn phương lai, Di ngã song lý ngư. Hô nhi phanh lý ngư, Trung hữu xích tố thư (Khách từ phương xa tới, Cho ta đôi cá chép. Gọi trẻ mổ cá chép; Trong có thước lụa trắng). Đàm Ý Ca lấy ý thơ của Sái Ung đối đáp, nên được khen ngợi.

[3] Động Bão Hoàng: trên núi Nhạc Lộc, người đời Tống là Lê Bạch gặp đạo sĩ Trương Bão Hoàng ở đó, được ông truyền thụ cho bát quái, tu luyện thành đạo, vì vậy gọi động ấy là động Bão Hoàng.

[4] Tịnh đế: tên một loài sen, một đế nở hai bông.

[5] Hồ Ngoại: tức Hồ Nam.

[6] Nam sảnh: tức Thượng thư sảnh. Đời Đường, Thượng thư sảnh đặt ở phía nam cung Đại Minh, nên gọi là Nam sảnh.

Châu Hải Đường dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.