Chạng vạng dần buông, gia nhân nhà họ Lưu đứng trước miếu Ngũ Hiển Linh Quan, ai nấy đều ngồi không yên, liên tục thì thầm to nhỏ. Miếu Ngũ Hiển Linh Quan này là gia miếu của nhà họ Lưu, vừa mới được tu sửa, vàng son lộng lẫy, tấm bảng hiệu trước cửa miếu cũng được dựng vừa cao vừa lớn, toàn xây bằng đá thanh ghép dài. Quản gia họ Hồ ngồi ngay ngắn trên một hòn đá cắm cờ trước miếu, nhìn chiếc kiệu và đồ cúng bày trong đại sảnh của miếu, trong tai nghe đến mức phát bực, cây roi dài trong tay vung mạnh một cái, nổ đét một tiếng, quát lớn: "Câm miệng! Lão gia đã dặn rồi, trời tối mới được đi, nếu không lũ ăn mày kia tới trộm đồ cúng, Ngũ Hiển Linh Quan sẽ nổi giận đấy."
Một tên gia nhân bước đến trước mặt hắn cười làm huề: "Lão gia cũng bảo trời tối mới được đi, thế bây giờ chẳng phải trời đã tối rồi sao?"
"Không được, trời chưa tối hẳn."
Tên gia nhân nọ nhìn xung quanh, lại gần hơn hạ giọng nói: "Hồ quản gia, ngài biết đấy, xung quanh miếu Ngũ Hiển Linh Quan vốn có mấy thứ kỳ lạ mà."
Quản gia họ Hồ giật mình, vung roi lên ra vẻ muốn quất, quát mắng: "Nói nhảm gì thế! Lão gia chúng ta vừa mới sửa miếu Ngũ Hiển Linh Quan, làm gì có thứ kỳ lạ nào." Hắn họ Hồ, chữ "Hồ" phạm vào điều kiêng kỵ của hắn, thế nên xưa nay hắn toàn mắng là "nói nhảm".
Tên gia nhân kia ấm ức vô cùng, kêu lên: "Tôi không nói nhảm đâu, nghe người ta bảo, miếu Ngũ Hiển Linh Quan cứ hễ trời tối là xung quanh sẽ có rất nhiều ngọn đèn nhỏ bay lượn, có kẻ ăn mày gan lợn dạ chó, muốn tới đây qua đêm, thế mà hôm sau bóng người biến mất tăm."
Giọng hắn nói run rẩy, quản gia họ Hồ nghe xong cũng không khỏi rùng mình một cái. Lời tên gia nhân này không phải là không có căn cứ, quả thực có lời đồn như vậy, người bình thường một mình một bóng tuyệt đối không dám đến đây, còn về ban đêm thì lại càng không ai dám bén mảng. Thấy tên gia nhân đó chớp mắt nháy mày còn muốn nói tiếp, lửa giận trong lòng bốc lên, hắn quất một roi, giận dữ quát: "Câm miệng!"
Nào ngờ hắn vừa dứt lời, bên cạnh bỗng có người khác kêu lên "á" một tiếng. Quản gia họ Hồ tức giận khôn cùng, quát lớn: "Kêu cái gì!"
Có tên gia nhân quay đầu lại, chỉ lên sườn núi phía sau miếu mà rằng: "Kia... ngài nhìn kìa..." Giọng hắn run lẩy bẩy, tựa hồ hồn phi phách tán. Trong lòng quản gia họ Hồ nghi hoặc, ngẩng đầu nhìn lên sườn núi phía bên đó. Vừa ngẩng đầu lên, hắn chợt hít ngược một ngụm khí lạnh.
Trên sườn núi, tựa như đột nhiên mọc lên một cái chợ, chi chít một mảng đốm sáng. Mảng đốm sáng ấy di chuyển bất định, nếu bảo là lân hỏa, thì lại không hề chớp lóe. Lúc này trăng đã lên được một nửa, soi rọi mảng đốm sáng ấy, vô cùng quái dị, hắn thất thanh thốt lên: "Đó là cái gì?"
"Là yêu quái!"
Tên gia nhân nọ kêu lên oai oái, đám người đứng bên vốn đã nơm nớp lo sợ, nghe tiếng kêu liền tranh nhau chạy trốn ra phía sau. Quản gia họ Hồ còn định quát dừng lại, nhưng tất cả mọi người đều đang chạy xuống núi, hắn làm sao mà quát dừng được nữa, nhìn sắc trời, cũng sắp tối hẳn rồi, mấy đốm sáng kia lại đang sà trên mặt đất lúc cao lúc thấp, lao thẳng tới chỗ này, hắn lại rùng mình một cái, cuối cùng cũng đành nhập vào đám gia nhân tháo chạy xuống núi.
Họ chạy rất gấp, cửa miếu hỗn độn một mảnh, người vừa đi khuất, cánh cửa miếu vốn khép hờ liền "rầm" một tiếng khép lại, một trận gió kỳ lạ từ dưới đất cuộn lên. Quản gia họ Hồ lẫn trong đám đông đang chạy xuống núi, nghe tiếng động liền ngoảnh đầu nhìn lại, chỉ thấy giữa lá vàng bay lợp cợp, một mảng bụi xám mịt mù bay khắp trời. Bọn họ cách miếu vẫn chưa xa lắm, thế mà đến cái bóng miếu cũng chẳng nhìn thấy rõ nữa. Hắn rùng mình một cái, lắc đầu lầm bầm: "Quái dị, thật là quái dị."
Người vừa đi, cửa miếu bỗng chốc yên ắng trở lại. Đợi bọn họ tản đi hết, trên tấm bảng hiệu trước miếu bỗng có một bóng người rơi xuống.
Chính là Vô Tâm.
Tấm bảng hiệu ấy cao đến hơn hai trượng, thế mà lúc Vô Tâm nhảy xuống lại nhẹ nhàng tựa như một chiếc lá rơi, không giấy bụi vương vấn. Hắn đứng thẳng người, đá đá chân, ngắm nhìn bức hoành phi trên miếu. Mấy chữ "Ngũ Hiển Linh Quan miếu" trên hoành phi vô cùng nổi bật. Nét chữ theo thể Triệu Tùng Tuyết, nhà họ Lưu vô cùng giàu có, vừa mới quét qua một lớp bột vàng, mấy chữ này sáng rực ánh vàng, nhìn trong chạng vạng lại mang theo một thứ cảm giác yêu dị.
Vô Tâm bước lên từng bậc thềm, đẩy cánh cửa miếu đang bị gió thổi khép lại. Ban ngày ngôi miếu này còn chút ít hương khói, nhưng hễ đến tối lại tỏ ra hoang tàn xơ xác. Rõ ràng tượng thần đều mới được tô vẽ màu sắc cách đây chưa lâu, lan can cũng được quét sơn chu sa, màu sơn vẫn còn rực rỡ, thế nhưng lúc này nhìn vào lại luôn cảm thấy mọi thứ đều có chút khác thường.
Những lễ vật cúng bái chất đống trên bàn thờ, một cặp nến đỏ đang cháy rực, soi bóng Ngũ Hiển Linh Quan trong khám thần trợn mắt giận dữ, tựa như đang gầm thét, nhưng chỉ nghe thấy tiếng gió ngoài miếu, còn trong miếu lại tĩnh lặng đến đáng sợ. Ngũ Hiển Linh Quan vốn là năm vị trung thần do Tống Cao Tông Triệu Cấu sắc phong, nhưng đến thời điểm này, Ngũ Hiển Linh Quan được nhân gian thờ cúng kỳ thực đều đã hòa nhập với Ngũ Thông, Ngũ Hiển Linh Quan trong miếu này ăn mặc rách rưới, chính là Ngũ Thông, chỉ không biết vì sao từng người từng người mũi cao mắt sâu, không giống người Trung thổ.
Vô Tâm liếc nhanh qua năm bức tượng đất, lầm bầm lầu bầu: "Biết đói đến mức không có cơm ăn, còn các ngươi những kẻ không biết đói là gì thì luôn có người dâng đồ ăn đến." Hắn lắc đầu, vớ lấy quả lựu trên bàn thờ, cân lên xem nặng nhẹ. Quả lựu này rất to, đã nứt ra một đường kẽ, bên trong lộ ra những hạt lựu đỏ au, đại khái là do nhà họ Lưu tự trồng, nếu trồng ngoài đồng ruộng, trong năm mất mùa đói kém thế này, chỉ sợ chưa đến lúc chín đã sớm bị người dân gặp nạn hái sạch rồi.
Vô Tâm móc ra một hạt lựu ăn thử, chỉ thấy chua ngọt vừa miệng, hắn toét miệng cười, nhét quả lựu vào trong ngực áo. Trên bàn thờ lễ vật rất nhiều, hắn lại vớ thêm mấy quả hoa quả nhét vào ngực, thấy thật sự nhét không nổi nữa, lúc này mới bịn rịn lưu luyến bước về phía chiếc kiệu.
Vừa bước đến trước kiệu, Vô Tâm chợt khựng lại.
Trong tiếng gió bên ngoài, thoắt ẩn thoắt hiện có tiếng bước chân truyền lại. Gió tuy lớn, tiếng bước chân bị xé vụn tơi tả, nhưng Vô Tâm vẫn nghe rõ mồn một. Trong lòng hắn thắt lại, nhìn quanh quẩn một vòng, người đã lộn nhào chui ùm xuống gầm bàn thờ. Chiếc bàn thờ ấy được che xung quanh bằng rèm vải, lộn vào bên trong rồi thì bên ngoài nhìn vào chẳng thấy gì nữa cả.
Vừa chui vào trong, cánh cửa miếu khép hờ đã bị ai đó đẩy mạnh ra một cái. Nhìn ra từ gầm bàn, Vô Tâm nhìn thấy một đôi giày vải trắng của tăng nhân.
Người bước vào, chẳng lẽ lại là một tên hòa thượng ư?
Bước chân người nọ vô cùng vững chãi, ở dưới gầm bàn cũng chẳng nhìn thấy mặt mũi người ta ra sao, nhưng từ sải bước của người đó mà xét, kẻ này công lực thâm hậu, mỗi bước chân giẫm xuống đều có uy thế của long tượng. Từ cửa lớn đến bàn thờ, chẳng qua chỉ hơn chục bước, người nọ bước đi không nhanh không chậm, Vô Tâm nấp dưới gầm bàn mà suýt cảm nhận được mặt đất đang rung chuyển. Hắn không kìm được đặt tay lên chuôi kiếm, cánh tay vận đầy kỗ lực, thanh trường kiếm bằng thép tốt ấy tựa như mãnh hổ trong lồng, chỉ cần chạm vào là sẽ tuột vỏ bay ra.
Người nọ rốt cuộc là ai? Muốn làm gì?
Đúng lúc này, người nọ đã bước đến trước hương án, khựng lại một nhịp, đột nhiên, Vô Tâm nghe thấy một tiếng hít khí thật sâu, tiếp theo lại là một tiếng quát như sấm động, không khí trên đỉnh đầu cũng tựa như đột ngột rách toạc, có một ngọn roi vô hình từ trên đỉnh đầu đánh xuống, hắn cả kinh thất sắc, buột miệng kêu lên: "Đại Nhật Như Lai Kim Giới Kiếm!"
Cái gọi là Đại Nhật Như Lai Kim Cương Kiếm, chính là bí kiếm được truyền đời qua các đời của Mật tông Ngũ Đài sơn, uy lực của thanh kiếm này, nghe đồn có thể phá ma kích tà dễ như trở bàn tay, nhưng chính vì quá cương mãnh, tung ra sẽ ngọc đá cùng nát, các môn phái Mật tông đa số đều niêm phong không dùng đến. Phật môn chia làm hai tông Hiển và Mật, tăng gia Trung nguyên đa phần thuộc Hiển tông, duy chỉ có thiền tự Ngũ Đài sơn lại phần lớn là Mật tông. Vô Tâm trước kia từng nhìn thấy tăng nhân Phục Ma Tự của Ngũ Đài sơn đến giao lưu thể nghệ từng tung ra Mật tông Phát Ma Bát Kiếm, trong đó thủ pháp Đại Nhật Như Lai Kim Cương Kiếm này để lại ấn tượng vô cùng sâu sắc, mệnh danh là "vô kiên bất tồi, vô ma bất phá, vô tà bất tịch", một kiếm đánh ra, ngay cả tảng đá lớn nguyên khối cũng có thể đánh nát vụn. Mà thanh kiếm này khi đánh ra vì tiêu hao chân khí rất lớn, nhất định phải hít một hơi thật sâu, rồi lại phóng xả một hơi thật mạnh, trong đó lúc hít vào phát ra âm thanh "hít", lúc thở ra lại phát ra "ha", kẻ tu vi thâm sâu, tiếng thét lúc thở ra ấy quả thực tựa như một tiếng sét đánh ngang tai. Kẻ ngoài cửa lúc ra kiếm hét lên một tiếng chấn động đại sảnh kêu ong ong, ngay cả bụi bẩn trên xà nhà cũng rơi xuống lả tả, tu vi quả thực không cạn chút nào.
Vô Tâm nhận thức thời cơ rất sớm, lúc thanh Kim Cương Kiếm của người nọ còn chưa giáng xuống, người đã co ro lại như con nhím, tay ấn mạnh xuống đất, hô lên: "Đừng động thủ!" Người đã từ gầm bàn phóng vút ra ngoài. Ngũ Đài sơn là danh môn chính phái, đệ tử dưới trướng tự nhiên không phải là kẻ thù, hắn không dám động thủ phản kích, chỉ đành tránh né kiểu này. Nhưng dưới đòn toàn lực công kích của Đại Nhật Như Lai Kim Cương Kiếm, có thể toàn thân rút lui hay không, chính hắn cũng thật sự không dám đảm bảo.
Vừa lao khỏi gầm bàn, thế nhưng lại không có kình lực ba động như trong tưởng tượng, chỉ giống như có một cơn lốc xoáy nhỏ sà xuống, bức rèm của bàn thờ cũng bị cuốn tung lên. Vô Tâm lộn một vòng trên mặt đất, người đã quỳ một chân xuống đất, một tay chống mặt đất, đầu còn chưa ngẩng lên, đã gọi trước: "Đạo hữu, đừng động thủ." Hắn sợ tên hòa thượng kia thu chiêu không kịp, tiếp tục bồi thêm một đòn tấn công nữa, nhưng ngẩng đầu lên, lại thấy tên hòa thượng đó đứng vững vàng, thanh trường kiếm trong tay lơ lửng trên bàn thờ, vẫn chưa chạm đến mặt bàn, kiếm thế vừa rồi vậy mà lại được thu về một cách cứng ngắc.
Lúc này Vô Tâm mới nhìn rõ khuôn mặt tên hòa thượng ấy, hắn kêu lên: "Là ngươi!" Hóa ra tên hòa thượng này chính là kẻ cùng ăn mì với hắn ở quán mì lúc nãy.
Tên hòa thượng ấy vẫn nhìn chằm chằm hắn, thế kiếm vẫn không thu về, chậm rãi nói: "Ngươi rốt cuộc là kẻ nào?"
Vô Tâm nói: "Tiểu hòa thượng, ta cũng đến để hàng yêu phục ma, đến trước ngươi một bước." Hắn kỳ thực tuổi tác xấp xỉ tên hòa thượng này, lại ra vẻ bề trên mà gọi là "tiểu hòa thượng", tên hòa thượng nọ ngược lại không lấy làm tức giận, chỉ đánh giá hắn từ trên xuống dưới, bỗng nhiên nói: "Không đúng, sư phụ nói đạo gia các người giới luật thanh tịnh tương tự như bọn ta, thế mà ngươi lại ăn thịt, nhất định là kẻ xuất gia phá giới."
Vô Tâm dở khóc dở cười, đáp: "Ta là Hỏa cư đạo sĩ, chẳng lẽ sư phụ ngươi chưa từng nói với ngươi sao? Hỏa cư đạo sĩ không kiêng rượu thịt, thậm chí cưới vợ sinh con cũng được."
Tên hòa thượng kia cứ như nghe thấy lời dơ bẩn nào đó, cúi gằm mặt xuống, thu kiếm về, niệm một câu Phật hiệu nói: "Tội lỗi tội lỗi."
Vô Tâm cười nói: "Tiểu hòa thượng cũng là kẻ giả đạo học đấy chứ, Cưu Ma La Thập các ngươi chẳng phải cũng cưới vợ sinh con, không kiêng rượu thịt đó sao?"
Tên hòa thượng nghiêm túc nói: "Đó là bậc đại đức không thể dùng đạo lý thông thường mà đo lường, không thể tùy tiện đem ra so sánh với người thường được." Hắn nhét kiếm trở lại vỏ kiếm sau lưng, bước về phía chiếc kiệu kia. Người vừa rời đi, bàn thờ bỗng "rắc" một tiếng nứt tung thành một đống mảnh vụn, bánh bao và hoa quả trên bàn cũng văng tung tóe khắp đất, cái nào cái nấy nát bét. Đòn Đại Nhật Như Lai Kim Cương Kiếm vừa rồi của hắn tuy đã thu về, nhưng kiếm thế đã giáng mạnh lên bàn thờ, chiếc bàn thờ ấy tuy kiên cố, cũng không tài nào chống đỡ nổi cú vồ giáng mãnh liệt của Kim Cương lực đạo bực này, bị kiếm thế chấn cho nứt vỡ từng chút một, lại bị luồng gió từ tăng bào của hắn cuốn qua, cuối cùng hoàn toàn vỡ nát tơi bời.
Vô Tâm nhìn thấy mà lí lưỡi tặc lưỡi, thầm nghĩ: "Nếu kiếm này mà giáng lên đầu ta, thì ta đỡ sao nổi." Hắn cũng biết rõ sức mạnh của mình tuyệt đối không thể so sánh với tên hòa thượng này, vừa rồi quả thực là chết đi sống lại, cho đến tận bây giờ sống lưng vẫn đẫm mồ hôi lạnh. Lúc này tên hòa thượng nọ đang bước đến trước kiệu định vén rèm lên, hắn vội vàng lên tiếng: "Tiểu hòa thượng, trong đó là một nữ nhân đấy."
Tên hòa thượng ấy cũng chẳng ngẩng đầu lên, chỉ nói: "Mộng huyễn bọt nước, cũng đều như thế cả."
hắn đưa tay vén rèm lên, tay vừa chạm vào rèm kiệu, bỗng chốc cảm thấy đầu ngón tay như bị kim đâm phải, một cơn đau nhói từ đầu ngón tay lan thẳng tới tận tâm can, toàn thân cũng lập tức như rơi vào hầm băng, hai chiếc răng nanh trắng muốt xuyên qua rèm kiệu, cắn một cái lên đầu ngón tay hắn, rồi cực kỳ nhanh chóng rụt lại, trên rèm có một cái bóng dài lướt qua ẩn khuất đi mất.
Bên trong có độc xà!
Hòa thượng vạn vạn không ngờ lại có chuyện thế này. Con rắn ấy độc tính cực kỳ mãnh liệt, tuy rằng chỉ cắn trúng đầu ngón tay, nhưng từ vết thương lại lờ mờ có một đường chỉ đen dọc theo cánh tay bò ngược lên trên, chỉ sợ chẳng mấy chốc sẽ đến khuỷu tay, toàn thân hắn cũng chỉ trong tích tắc đã cứng đờ, ngay cả cái lưỡi cũng tựa như hóa thành một khúc mộc đầu, khắp từ trên xuống dưới, đến cả ngón chân cũng không nhượng bộ cử động nổi. May mà hắn xưa nay cẩn trọng tỉ mỉ, lúc vén rèm cũng đã kết sẵn một ấn quyết, hai ngón tay bàn tay trái vừa khéo chỉ thẳng vào khuỷu tay, đường chỉ đen kia vừa vươn đến khuỷu tay, liền như bị thứ gì đó cản lại, không tài nào vươn lên thêm nửa tấc, nhưng cả người hắn vẫn đứng yên không thể nhúc nhích.
Vô Tâm ở sau lưng hắn vẫn đang lải nhải: "Tiểu hòa thượng, kỳ thực làm Hỏa cư đạo sĩ cũng không tệ đâu, rượu thịt vợ con, thì tính là tội lỗi gì chứ, sư phụ ta bảo tu chân vốn chỉ tại tu tâm, không tại tu hình, ngày trắng phi thăng tu không tới, tu đến nguyên thần xuất khiếu cũng không tệ. Phải rồi, tiểu hòa thượng ngươi tên là gì?"
Hắn lải nhải hồi lâu, thế nhưng chẳng nghe thấy tên hòa thượng kia đáp lời, có chút không vui, bưng tai nói: "Tiểu hòa thượng, ngươi có ra vẻ cách biệt đến mấy cũng không cần phải đến mức này chứ, ta nói với ngươi cả buổi trời, ngươi phớt lờ ta luôn. Hòa thượng hòa thượng, lấy hòa làm thượng, ngươi đánh ta một kiếm ta cũng đâu có trách cứ gì ngươi, ngươi..."
Nói đến đây, hắn bỗng cảm thấy có điều gì không ổn. Tên hòa thượng vốn đang quay lưng về phía hắn, nãy giờ đã đứng im bất động suốt một hồi lâu, cho dù có ra vẻ cách biệt đến mấy cũng không đến mức thế này, hắn cho dù có vô tâm đến đâu cũng đã phát hiện tình huống có dị biến.
Tay phải hắn thò ra phía thắt lưng, ngón cái khẽ đẩy, lẫy lò xo bật ra, nắm chặt lấy chuôi kiếm, trong tay trái chẳng biết móc thế nào đã cầm sẵn một đạo bùa, khẽ rung lên một cái, đạo bùa ấy lập tức bốc cháy rực lên, năm ngón tay trái của hắn xòe ra rồi khép lại, đã vò viên đám lửa này vào trong lòng bàn tay, rồi khẽ búng lên vai phải của tên hòa thượng một cái. Hòa thượng đang vận công kháng lại độc rắn, độc rắn này thật sự quá lợi hại, hắn vận đầy kình lực, cũng chỉ ép lùi được đường chỉ đen trên cánh tay được chừng nửa tấc, bỗng nhiên bả vai ấm lên, cảm thấy có một luồng lực đạo truyền tới, hòa quyện vào trong kình lực của bản thân hắn, đường chỉ đen kia không chịu nổi lực đạo mạnh mẽ nhường ấy, bị ép phải tháo chạy thục mạng về phía cổ tay, "bốp" một tiếng, tại vết thương ở đầu ngón tay hắn có một cục máu đông nhỏ bị ép văng ra, vừa ra khỏi vết thương liền biến thành một đám sương đen, để lại trên rèm kiệu một vết bẩn hình tròn.
Đường chỉ đen này vừa bị ép ra khỏi cơ thể, hòa thượng mới thở phào một hơi dài nói: "Coi như không sao rồi. Đa tạ đạo hữu."
Vô Tâm đè chuôi kiếm, mắt dán chặt vào rèm kiệu, sắc mặt vẫn vô cùng nghiêm nghị, trầm giọng hỏi: "Bên trong là thứ gì?"
Hòa thượng đáp: "Có một con rắn."
Vô Tâm nhíu mày, tiếng "keng" vang lên, kiếm đã tuốt khỏi vỏ, một kiếm cắt đứt phăng rèm kiệu từ gốc, thanh kiếm ấy lại cực kỳ nhanh chóng thu vào vỏ. Từ lúc rút kiếm đến khi thu kiếm, hầu như chỉ trong chớp mắt, nếu kẻ nào mắt kém, chỉ sợ đến cách hắn ra tay thế nào cũng chẳng nhìn thấy nổi. Kiếm pháp của hắn tuy không có sự vô kiên bất tồi của Đại Nhật Như Lai Kim Cương Kiếm, nhưng sự nhẹ nhàng linh động lại vượt xa gấp bội.
Rèm kiệu nhẹ nhàng rơi xuống, hai người vừa nhìn vào bên trong, bất giác cùng lùi lại phía sau một bước.
Bên trong là một nữ nhân, trên người bị trói bằng dây thừng, trong miệng còn nhét giẻ vải, đại khái là nhà họ Lưu mua nàng ta về để dâng cúng, sợ nàng ta khóc lóc om sòm, nên mới trói kỹ rồi đưa vào kiệu. Trên cổ nàng ta, lại quấn một con rắn lớn đan xen hai màu đen trắng, một chiếc đầu rắn hình tam giác đang ngoe nguẩy sang trái sang phải, chiếc lưỡi đỏ như máu liên tục thụt thò, tựa như một ngọn lửa nhỏ bốc lên từ trong miệng. Con rắn này quấn quanh cổ nữ nhân ấy, nữ nhân kia cũng chẳng biết đã chết hay ngất xỉu rồi, bất động tại chỗ.
Vô Tâm nhỏ giọng hỏi: "Đây là rốt cuộc chuyện gì thế?" Trong núi có rắn rết vốn chẳng có gì lạ, nhưng con rắn này lại chui vào trong kiệu quấn lấy nữ nhân này, cảnh tượng này quả thực quá mức quái dị.
Hòa thượng hạ thấp giọng: "Là rắn." Hắn xưa nay vẫn luôn bình tĩnh điềm nhiên, vừa rồi ngón tay bị rắn cắn trúng cũng không hoảng hốt, nhưng lúc này giọng nói lại có chút run rẩy. Vô Tâm cũng chẳng để ý, nói: "Nói nhảm, ta tất nhiên nhận ra đây là rắn. Ta hỏi đây là chuyện thế nào?"
Hòa thượng lắc đầu đáp: "Ta không biết. Thế nhưng, nàng ta đa phần đã bị hạ cấm chú rồi, chỉ là ta nhìn không thấu đó là cấm chú gì." Hắn bước lên một bước, con rắn kia lại "xịt" một tiếng ngẩng đầu lên, tựa như một chiếc lò xo bị ép chặt, bất cứ lúc nào cũng có thể bắn vọt ra. Hòa thượng lại tựa như chẳng nhìn thấy gì, hai tay kết thành một ấn quyết, lớn tiếng niệm: "Úm ma ni bát mê hồng!"
Đây là Lục tự Liên hoa chú chân ngôn của Mật tông, thế nhưng hắn vừa niệm ra, con rắn ấy lại tựa như nuốt phải một quả trứng gà, cơ thể đột ngột to lên một vòng, nữ nhân kia vốn đã bị quấn chặt cổ, bây giờ lại càng bị siết chặt hơn, phát ra một tiếng rên khe khẽ, Vô Tâm cũng kinh hô lên: "Cẩn thận, đừng niệm nữa!"
Hòa thượng buông ấn quyết, chán nản nói: "Không được, cấm chú này quá mạnh, ta giải không nổi."
Vô Tâm đặt tay lên vai hòa thượng, nhỏ giọng bảo: "Để ta xem nào."
Hắn bước lên một bước, ngắm nghía nữ nhân kia, con rắn thấy có người tới, lại đột ngột ngẩng đầu lên, thè lưỡi, bất cứ lúc nào cũng sẽ tấn công. Vô Tâm nhìn một lát, chợt mỉm cười nói: "Nàng ta trông xinh đẹp thật đấy."
Vô Tâm trước đó vốn ra vẻ nghiêm túc, hòa thượng ban đầu cứ nghĩ hắn đang quan sát sơ hở của cấm chú này, nào ngờ lại thốt ra một câu nói như vậy, hắn dẫu có không phạm sân giới, cũng không khỏi cảm thấy có chút tức giận, bèn hỏi: "Ngươi rốt cuộc đang nhìn cái gì thế?"
Vô Tâm thu lại nụ cười, quan sát xung quanh, ngón cái tay trái bấm vào các lóng tay còn lại, chẳng biết đang suy tính điều gì, hồi lâu sau, bỗng nhiên lên tiếng: "Ở đây có người bố trí Trì Long chú."
Trong miếu tối tăm mờ mịt không một ngọn đèn, trăng cũng dần nhô lên, nhưng vẫn chưa chiếu rọi được vào trong miếu. Hòa thượng cũng nhìn quanh bốn phía, chỉ cảm thấy trong bóng tối tứ phía dường như có vô số đôi mắt nhỏ xíu đang chằm chằm nhìn mình, trong lòng hắn thắt lại, rùng mình một cái, hỏi: "Trì Long chú? Ngươi có biết phá không?"
Vô Tâm phủi phủi bụi trên mặt đất, chợt ngồi bệt xuống, mỉm cười nói: "Tiểu hòa thượng, ngươi tên là gì?"