
Chúng ta hãy tạm nói về đứa bé, sinh linh nhỏ bé ấy, mà cuộc đời ngây thơ của nó đã nảy nở, theo sắc lệnh nhiệm mầu của Đấng Quan Phòng, như một bông hoa xinh đẹp và bất tử mọc lên từ chốn u uất đầy tội lỗi. Trông mới kỳ lạ làm sao đối với người phụ nữ bất hạnh, khi nàng ngắm nhìn sự lớn khôn, vẻ đẹp ngày càng rực rỡ hơn, và trí tuệ chiếu những tia nắng lay động lên khuôn mặt bé nhỏ của đứa trẻ! Bé Ngọc của nàng!—Hester đã gọi con như thế; không phải vì cái tên ấy thể hiện vẻ bề ngoài của con, vốn chẳng có chút ánh sáng điềm đạm, trắng ngần và vô cảm nào như sự so sánh ấy gợi lên. Nhưng nàng đặt tên cho đứa bé là “Ngọc”, bởi con là một hòn ngọc báu giá trị khôn cùng,—được đổi bằng tất cả những gì nàng có,—là báu vật duy nhất của người mẹ! Quả là kỳ lạ biết bao! Con người đã đánh dấu tội lỗi của người phụ nữ này bằng một chữ cái màu đỏ, mang uy lực tai hại đến mức không một sự đồng cảm nào của con người có thể chạm đến nàng, trừ phi đó là sự đồng cảm tội lỗi giống như nàng. Thượng Đế, như một hệ quả tất yếu từ tội lỗi mà con người đã trừng phạt ấy, lại ban cho nàng một đứa trẻ xinh xắn, có vị trí ngay trên cội ngực ô nhục đó, để gắn kết mãi mãi dòng dõi người mẹ với loài người phàm trần, và cuối cùng sẽ trở thành một linh hồn ban phước trên thiên đàng! Thế nhưng, những suy nghĩ ấy lại khiến Hester Prynne lo lắng nhiều hơn là hy vọng. Nàng biết hành động của mình là xấu xa; vì thế, nàng không thể có chút niềm tin nào rằng kết quả của nó sẽ tốt đẹp. Ngày qua ngày, nàng đầy sợ hãi dõi theo bản tính đang lớn dần của đứa trẻ, luôn nơm nớp lo sợ phát hiện ra một nét kỳ dị đen tối và hoang dại nào đó, tương ứng với tội lỗi đã tạo ra sinh mệnh của con.
Quả thực, chẳng hề có khiếm khuyết thể chất nào. Với thân hình hoàn hảo, sự cường tráng và sự khéo léo bẩm sinh trong việc sử dụng mọi chân tay chưa từng thử sức, đứa trẻ xứng đáng được sinh ra nơi vườn Eden; xứng đáng được để lại nơi ấy, làm trò chơi cho các thiên thần, sau khi cội nguồn loài người bị đuổi khỏi đó. Đứa trẻ có vẻ duyên dáng tự nhiên không phải lúc nào cũng đi kèm với một nhan sắc hoàn mĩ; trang phục của con, dù giản dị đến đâu, vẫn luôn tạo cho người nhìn ấn tượng rằng đó chính là bộ cánh phù hợp với con nhất. Nhưng bé Ngọc không hề mặc những bộ đồ thô kệch. Người mẹ, với một tâm địa bệnh hoạn có lẽ sẽ được thấu hiểu rõ hơn về sau, đã mua những thứ vải vóc lụa là thượng hạng nhất có thể kiếm được, và thả cho trí tưởng tượng của mình bay bổng hết cỡ trong việc sắp xếp, trang trí những bộ váy áo mà đứa trẻ mặc trước mắt công chúng. Thân hình nhỏ bé trông thật lộng lẫy khi được diện trang phục ấy, và vẻ rực rỡ từ chính nhan sắc của bé Ngọc tỏa sáng xuyên qua những xiêm y lộng lẫy vốn có thể lu mờ một vẻ đẹp nhợt nhạt hơn, đến mức xung quanh con dường như tỏa ra một vòng hào quang tuyệt đối trên sàn căn lều tối tăm. Thế nhưng, một chiếc áo dài bằng vải thô nâu, rách rưới và vấy bẩn vì những trò chơi nghịch ngợm của đứa trẻ, cũng vẽ nên hình ảnh về con hoàn hảo chẳng kém. Diện mạo của Ngọc thấm đượm một thứ bùa phép muôn hình vạn trạng; chỉ trong một đứa trẻ này lại hàm chứa biết bao đứa trẻ, bao trùm toàn bộ biên độ từ nét đáng yêu hoang dã của một đứa bé nhà nông cho đến sự uy nghi thu nhỏ của một tiểu công chúa.
Tuy nhiên, xuyên suốt tất cả, vẫn có một nét đam mê, một chiều sâu sắc thái nào đó mà con không bao giờ đánh mất; và nếu như trong bất kỳ sự đổi thay nào, con trở nên nhợt nhạt hay phai mờ hơn, thì con đã ngừng là chính mình—đó sẽ chẳng còn là bé Ngọc nữa!
Sự biến đổi bề ngoài này biểu thị, và thể hiện một cách trọn vẹn, những tính chất đa dạng trong đời sống nội tâm của con. Bản tính của con dường như cũng mang chiều sâu bên cạnh sự phong phú; nhưng—nếu không phải những nỗi sợ hãi của Hester đánh lừa nàng—thì nó lại thiếu đi sự liên hệ và thích ứng với thế giới nơi con được sinh ra. Đứa trẻ không thể nào chịu khuất phục trước các quy tắc. Khi ban cho con sự sống, một thứ luật pháp lớn lao đã bị phá vỡ; và kết quả là một sinh linh có các yếu tố có lẽ đẹp đẽ và rực rỡ đấy, nhưng lại hoàn toàn hỗn độn; hoặc mang một trật tự kỳ lạ của riêng chúng, giữa một cõi mà điểm mốc của sự đa dạng và sắp xếp thật khó khăn hoặc không thể nào tìm thấy. Hester chỉ có thể lý giải tính cách của đứa trẻ—và khi ấy cũng vô cùng mơ hồ, bất thành—bằng cách hồi tưởng lại chính bản thân nàng trong khoảng thời gian trọng đại ấy, khi Ngọc đang hấp thụ linh hồn từ thế giới tâm linh và thể xác từ vật chất cõi trần. Trạng thái đầy xúc cảm của người mẹ chính là trung gian truyền tải những tia sáng đạo đức cuộc đời đến đứa trẻ chưa chào đời; và dù ban đầu có trắng ngô và trong trẻo đến đâu, chúng cũng đã nhiễm những vết hằn sâu đậm của sắc đỏ thẫm và vàng rực, ánh sáng rực lửa, bóng tối mịt mờ, và thứ ánh sáng gay gắt của thể chất chen vào giữa. Hơn hết, cuộc giao tranh trong tâm hồn Hester vào thời kỳ đó đã được bất tử hóa nơi bé Ngọc. Nàng có thể nhận ra tâm trạng cuồng dại, bất chấp, ngạo mạn của mình, sự thất thường trong tính khí, và thậm chí cả những hình mây u ám, chán nản từng bảng lảng trong tim nàng. Giờ đây, chúng được soi sáng bởi ánh ban mai trong tính cách của một đứa trẻ thơ, nhưng về sau trong cuộc đời trần thế, chúng rất có thể sẽ sinh sôi ra bão tố và cuồng phong.
Kỷ luật gia đình vào thời đại ấy nghiêm khắc hơn bây giờ rất nhiều. Ánh mắt nghiêm nghị, lời quở trách gay gắt, việc thường xuyên dùng roi vọt theo Kinh Thánh dạy bảo, được áp dụng không chỉ như một hình phạt cho những lỗi lầm thực tế, mà còn như một phương pháp lành mạnh để nuôi dưỡng và thúc đẩy mọi đức tính của tuổi thơ. Mặc dù vậy, Hester Prynne, người mẹ cô độc của đứa con duy nhất này, lại chẳng mấy khi mắc sai lầm theo hướng quá đỗi khắc nghiệt. Tuy nhiên, ý thức được những lỗi lầm và bất hạnh của chính mình, từ sớm nàng đã tìm cách áp dụng sự kiểm soát dịu dàng nhưng nghiêm ngặt đối với sinh linh bất tử được phó thác cho mình. Nhưng nhiệm vụ ấy vượt quá khả năng của nàng. Sau khi thử cả nụ cười lẫn cái cau mày, và chứng minh rằng chẳng phương pháp nào có tầm ảnh hưởng tính toán được, cuối cùng Hester buộc phải đứng sang một bên, để mặc đứa trẻ bị chi phối bởi những thôi thúc của chính mình. Sự ép buộc hay kìm hãm về thể xác đương nhiên vẫn có hiệu quả trong lúc áp dụng. Còn đối với bất kỳ hình thức kỷ luật nào khác, dù hướng đến tâm trí hay trái tim con, bé Ngọc có thể tiếp thu hoặc không, tùy thuộc vào cơn hứng khởi chi phối từng khoảnh khắc. Người mẹ, khi Ngọc hãy còn là một đứa bé, đã làm quen với một cái nhìn kỳ lạ nào đó, thứ cảnh báo nàng khi nào thì việc khăng khăng, thuyết phục hay nài nỉ cũng chỉ là công cốc. Đó là một cái nhìn vừa thông minh đến khó hiểu, lại vừa ương ngạnh, đôi khi có vẻ tinh quái ác ý, nhưng thường đi kèm với dòng năng lượng hoang dã dạt dào, khiến những lúc ấy Hester không khỏi tự hỏi liệu Ngọc có phải là một đứa trẻ loài người. Con trông giống một thứ yêu tinh uyển chuyển hơn, sau khi đùa giỡn những trò quái quỉ trong chốc lát trên sàn nhà tranh, sẽ vút bay đi với một nụ cười nhạo báng. Bất cứ khi nào cái nhìn ấy xuất hiện trong đôi mắt hoang dại, sáng rực và đen thẫm của con, nó lại khoác lên mình con một sự xa cách và vô hình kỳ lạ; cứ như thể con đang lơ lửng giữa không trung và có thể biến mất, tựa một ánh sáng lung linh chẳng biết từ đâu tới, đi chẳng biết về đâu. Chứng kiến điều đó, Hester bị thúc giục phải lao về phía đứa con—phải đuổi theo con yêu tinh nhỏ trong cuộc trốn chạy mà con luôn bắt đầu—phải ôm chầm lấy con vào ngực với cái siết chặt và những nụ hôn tha thiết,—không hẳn vì tình yêu trào dâng, mà để tự nhủ rằng Ngọc thực sự là da thịt chứ không phải điều gì hoàn toàn hão huyền. Thế nhưng tiếng cười của Ngọc khi bị tóm được, dẫu tràn ngập niềm vui và âm nhạc, lại khiến người mẹ càng thêm hoài nghi hơn trước.
Đau đớn khôn cùng trước thứ bùa phép bối rối và khó hiểu ấy, thứ thường xuyên đứng giữa nàng và báu vật duy nhất, người nàng đã phải đổi bằng giá quá đắt và là cả thế giới của nàng, Hester đôi khi bật khóc nức nở. Rồi có lẽ—vì chẳng thể đoán trước nó sẽ tác động ra sao đến con—Ngọc sẽ cau mày, siết chặt nắm đấm nhỏ xíu, và làm cứng ngắc các nét trên khuôn mặt nhỏ nhắn thành một vẻ bất mãn nghiêm nghị, thiếu đồng cảm. Không ít lần, con sẽ lại cười vang, to hơn cả trước, như một sinh vật không tài nào hiểu nổi nỗi buồn của con người. Hoặc—nhưng điều này ít khi xảy ra hơn—con sẽ co giật trong cơn thịnh nộ của nỗi buồn, nấc lên tình yêu dành cho người mẹ bằng những lời đứt quãng, và tỏ ra quyết tâm chứng minh rằng mình có một trái tim, bằng cách làm nó tan nát. Thế nhưng Hester khó lòng mà yên tâm nương tựa vào thứ tình cảm giông bão ấy; nó qua đi nhanh chóng hệt như lúc nó tới. Ngẫm nghĩ về tất cả những chuyện này, người mẹ cảm thấy mình giống như kẻ vừa triệu hồi một linh hồn, nhưng do có chút sai sót trong quy trình cúng bái, đã không thể nắm được từ khóa tối cao để điều khiển thứ trí tuệ mới mẻ và khó hiểu này. Niềm an ủi thực sự duy nhất của nàng là khi đứa trẻ nằm ngủ trong sự bình yên. Lúc đó nàng mới thực sự nắm giữ được con, và tận hưởng những giờ phút hạnh phúc tĩnh lặng, đượm buồn, ngọt ngào; cho đến khi—có lẽ cùng với nét biểu cảm ương ngạnh ấy thấp thoáng dưới hàng mi đang hé mở—bé Ngọc thức giấc!
Mới chớp mắt thôi—quả thật với tốc độ kỳ lạ biết bao!—Ngọc đã bước vào độ tuổi có thể giao lưu xã hội, vượt ra ngoài nụ cười sẵn có và những lời nói vu vơ của người mẹ! Và khi ấy, thật hạnh phúc biết bao nếu Hester Prynne có thể nghe thấy giọng nói trong trẻo như chim hót của con hòa lẫn vào tiếng ồn ào của những giọng trẻ thơ khác, có thể nhận ra và bóc tách những âm điệu của cục cưng đời mình giữa muôn vàn tiếng la ó hỗn độn của một nhóm trẻ đang đùa giỡn! Nhưng điều đó không bao giờ có thể xảy ra. Ngọc vốn là một kẻ bị gạt ra ngoài lề thế giới trẻ thơ. Là một tiểu yêu tinh nghịch, là biểu tượng và sản phẩm của tội lỗi, con chẳng có quyền gì ở nơi những đứa trẻ đã chịu phép rửa tội. Không gì đáng chú ý hơn cái bản năng, dường như thế, mà qua đó đứa trẻ thấu hiểu sự cô độc của chính mình; định mệnh đã vẽ ra một vòng tròn bất khả xâm phạm xung quanh con; tóm lại là toàn bộ sự kỳ lạ trong vị thế của con đối với những đứa trẻ khác. Kể từ khi ra tù, Hester chưa từng xuất hiện trước công chúng mà không có con bên cạnh. Trong mọi buổi dạo phố, Ngọc cũng ở đó; thoạt đầu là đứa bé bồng trên tay, rồi sau đó là cô bé nhỏ nhắn, người bạn đồng hành của mẹ, nắm trọn lấy một ngón trỏ và lững thững bước đi với nhịp ba bốn bước chân của con mới bằng một bước của Hester. Con nhìn những đứa trẻ trong khu định cư, bên thảm cỏ ven đường hay trước ngưỡng cửa nhà, đang vui đùa theo cái kiểu nghiêm nghị mà sự nuôi dưỡng theo lối Thanh giáo cho phép; có khi chơi trò đi nhà thờ; hay trò đánh roi trừng phạt người Quaker; hoặc lấy da đầu trong một trận chiến giả với người da đỏ; hay hù dọa nhau bằng những trò phù thủy bắt chước. Ngọc nhìn thấy, và chăm chú dõi theo, nhưng chưa bao giờ tìm cách làm quen. Nếu có ai bắt chuyện, con nhất định không thèm đáp lời. Nếu lũ trẻ vây quanh con, như chúng đôi khi vẫn làm, Ngọc sẽ trở nên thực sự đáng sợ trong cơn giận dữ nhỏ nhoi của mình, chồm lấy đá ném vào chúng với những tiếng kêu sắc lẹm, rời rạc khiến người mẹ phải run sợ, bởi chúng nghe giống hệt những lời nguyền rủa của phù thủy bằng một thứ ngôn ngữ xa lạ nào đó.
Sự thật là, những đứa trẻ Thanh giáo nhỏ tuổi ấy, vốn thuộc dòng dõi cố chấp nhất từng tồn tại, đã mơ hồ nhận ra điều gì đó kỳ quái, phi nhân thế, hoặc khác lạ với những lề thói thông thường ở hai mẹ con; và vì thế chúng khinh miệt họ từ đáy lòng, và không ít lần lăng mạ họ bằng lời nói. Ngọc cảm nhận được tình cảm ấy, và đáp trả bằng nỗi căm hận cay đắng nhất có thể nung nấu trong lồng ngực một đứa trẻ. Những đợt bùng nổ tính khí dữ dội ấy lại mang một giá trị nào đó, thậm chí là sự an ủi, cho người mẹ; bởi ít nhất trong tâm trạng ấy vẫn có sự mãnh liệt dễ hiểu, thay vì thứ tính khí thất thường cứ hay phá hoại nàng trong biểu hiện của đứa trẻ. Mặc dù vậy, nàng vẫn hoảng hốt khi lại nhận ra nơi đây hình ảnh phản chiếu mờ ảo của tội lỗi từng tồn tại trong chính bản thân nàng. Toàn bộ sự thù hằn và đam mê ấy đều do Ngọc thừa hưởng, bằng quyền không thể chối cãi, từ trái tim của Hester. Mẹ và con cùng đứng trong một vòng tròn cách ly khỏi xã hội loài người; và trong bản tính của đứa trẻ dường như vẫn lưu truyền những yếu tố bất ổn từng dằn vặt Hester Prynne trước khi Ngọc chào đời, nhưng từ đó đã bắt đầu được xoa dịu bởi những ảnh hưởng dịu dàng của tình mẫu tử.
Ở nhà, trong và quanh ngôi nhà tranh của mẹ, Ngọc không hề thiếu một vòng tròn quan quen thuộc rộng lớn và phong phú. Phép màu của sự sống phát ra từ tinh thần luôn sáng tạo của con, truyền sang hàng ngàn vật thể, giống như ngọn đuốc thắp lên ngọn lửa bất cứ nơi nào nó chạm tới. Những vật liệu vô lý nhất—một nhành cây, một nắm vải vụn, một bông hoa—đều là những con rối trong phép thuật của Ngọc, và chẳng cần trải qua bất kỳ sự biến đổi bề ngoài nào, vẫn tự động thích nghi về mặt tinh thần với bất kỳ vở kịch nào đang chiếm lĩnh sân khấu thế giới nội tâm của con. Giọng nói non nớt duy nhất của con phục vụ cho vô số nhân vật tưởng tượng, già có trẻ có, để trò chuyện cùng. Những cây thông già nua, đen đúa và u ám, phát ra những tiếng rên rỉ và âm thanh sầu muộn theo gió thổi, chẳng cần biến hóa mấy cũng có thể đóng vai các trưởng lão Thanh giáo; những loại cỏ dại xấu xí nhất trong vườn chính là lũ con của họ, bị Ngọc đánh đập và nhổ bật gốc một cách tàn nhẫn nhất. Thật kỳ diệu làm sao, vô vàn hình thái mà con trút trí tuệ của mình vào, quả thực không có sự liên tục nào, mà cứ vọt lên rồi nhảy múa, luôn ở trạng thái hoạt động siêu nhiên—rồi chìm xuống rất nhanh như thể kiệt sức bởi dòng đời quá nhanh và sốt sược—và được kế tiếp bởi những hình thái khác có cùng nguồn năng lượng hoang dại tương tự. Nó chẳng giống cái gì ngoài màn trình diễn ảo ảnh của ánh sáng phương bắc. Tuy nhiên, trong sự đùa cợt của trí tưởng tượng và sự ham vui của một tâm trí đang phát triển, có lẽ chẳng có gì hơn ngoài những gì có thể quan sát thấy ở những đứa trẻ thông minh khác; ngoại trừ việc Ngọc, trong hoàn cảnh thiếu thốn những bạn chơi là con người, bị đẩy nhiều hơn vào đám đông ảo tưởng do chính mình tạo ra. Sự kỳ lạ nằm ở thái độ thù hằn mà đứa trẻ dành cho tất cả những sản phẩm của trái tim và tâm trí mình. Con chưa bao giờ tạo ra một người bạn, mà dường như luôn gieo rắc khắp nơi những chiếc răng rồng, sinh ra một mùa gặt kẻ thù vũ trang, để rồi con lao vào chiến đấu chống lại chúng. Thật đau buồn khôn xiết—và khi ấy nỗi buồn sâu sắc biết bao đối với một người mẹ thấu cảm được nguyên nhân trong chính trái tim mình!—khi phải quan sát ở một đứa trẻ còn quá nhỏ sự thừa nhận liên tục này về một thế giới thù địch, và sự rèn luyện quá dữ dội các năng lượng sẽ làm nên lẽ phải cho con trong cuộc chiến chắc chắn sẽ xảy ra.
Ngắm nhìn Ngọc, Hester Prynne thường buông thõng công việc trên đầu gối, và kêu lên bằng một nỗi thống khổ mà nàng hằng muốn giấu kín nhưng nó vẫn cứ thốt ra, nằm giữa lời nói và tiếng rên rỉ,—“Ôi Cha trên Thiên Đàng—nếu Ngài vẫn là Cha của con—sinh linh mà con mang đến thế gian này là gì thế này!” Và Ngọc, nghe lỏm được lời cảm thán ấy, hay nhận biết qua một kênh tinh tế hơn nào đó những nhịp đập đau đớn ấy, sẽ quay khuôn mặt nhỏ nhắn sinh động và xinh đẹp về phía mẹ, mỉm cười với sự thông minh tựa yêu tinh, rồi lại tiếp tục trò chơi của mình.

Một nét đặc trưng trong hành vi của đứa trẻ vẫn chưa được kể ra. Điều đầu tiên mà con chú ý trong đời là gì?—không phải nụ cười của người mẹ, đáp lại nó, như những đứa trẻ khác thường làm bằng nụ cười mầm mống mờ nhạt của cái miệng nhỏ, được ghi nhớ đầy ngờ vực về sau, với biết bao bàn tán say đắm liệu đó có thực sự là một nụ cười hay không. Hoàn toàn không phải thế! Nhưng đối tượng đầu tiên mà Ngọc dường như nhận thức được lại là—chúng ta có nên nói ra không?—chữ cái màu đỏ trên ngực Hester! Một ngày nọ, khi người mẹ cúi người over chiếc nôi, đôi mắt đứa bé đã bị thu hút bởi ánh lấp lánh của đường thêu vàng quanh chữ cái; và, đưa bàn tay nhỏ xíu lên, con vồ lấy nó, mỉm cười, không chút ngờ vực, mà với một tia sáng quyết đoán, mang lại cho khuôn mặt con vẻ ngoài của một đứa trẻ lớn hơn rất nhiều. Khi ấy, thở hổn hển, Hester Prynne đã túm lấy biểu tượng định mệnh ấy, theo bản năng cố gắng gié rách nó ra; nỗi đau đớn do cái chạm thông minh từ bàn tay nhỏ bé của Ngọc gây ra thật vô bờ bến. Lại một lần nữa, cứ như thể cử chỉ đau đớn của người mẹ chỉ cốt để mua vui cho mình, bé Ngọc nhìn thẳng vào mắt nàng và mỉm cười! Kể từ thời điểm đó, trừ khi đứa trẻ đang ngủ, Hester chưa bao giờ cảm thấy an toàn lấy một phút; chưa từng một phút nào thảnh thơi tận hưởng con. Sự thật là, đôi khi có những tuần trôi qua mà cái nhìn của Ngọc không một lần dán vào chữ cái màu đỏ; nhưng rồi, nó lại xuất hiện bất ngờ, tựa đòn sát thủ giáng xuống, và luôn mang theo nụ cười kỳ lạ cùng biểu cảm khó hiểu trong ánh mắt.
Có lần, cái vẻ ngông cuồng, yêu tinh ấy xuất hiện trong mắt đứa trẻ, khi Hester đang nhìn hình bóng chính mình phản chiếu trong đó, như các bà mẹ vẫn thích làm; và, đột nhiên—vì những người phụ nữ sống cô độc, với trái tim đầy sóng gió, thường bị ám ảnh bởi những ảo tưởng không tài nào lý giải nổi—nàng tưởng tượng rằng mình không nhìn thấy bức chân dung thu nhỏ của chính mình, mà là một khuôn mặt khác trong tấm gương đen nhỏ xíu ở mắt Ngọc. Đó là một khuôn mặt tựa ác ma, tràn ngập sự ác ý mỉm cười, nhưng lại mang dáng dấp của những nét mà nàng quen thuộc lắm, dẫu hiếm khi thấy chúng cười, và chưa bao giờ thấy chứa sự ác ý trong đó. Cứ như thể một linh hồn tà ác đã chiếm đoạt lấy đứa trẻ, và vừa mới hé mặt ra chế nhạo lúc ấy. Rất nhiều lần sau đó, Hester đã bị tra tấn, dẫu ít sống động hơn, bởi chính ảo tưởng ấy.
Vào buổi chiều của một ngày hè nọ, sau khi Ngọc lớn khôn để có thể chạy nhảy, con tự khuây khỏa bằng cách hái những nắm hoa dại, rồi ném từng bông một vào ngực mẹ; nhảy nhót tưng bừng như một yêu tinh nhỏ mỗi khi ném trúng chữ cái màu đỏ. Phản ứng đầu tiên của Hester là lấy hai tay đan vào nhau che ngực lại. Nhưng, dù vì kiêu hãnh hay sự nhẫn nhịn, hay cảm giác rằng sự chuộc tội của mình có lẽ sẽ được thực hiện tốt nhất qua nỗi đau khôn tả này, nàng đã cưỡng lại thôi thúc ấy, và ngồi thẳng người, xanh xao như chết, buồn bã nhìn vào đôi mắt hoang dại của bé Ngọc. Những đợt tấn công bằng hoa vẫn tiếp diễn, hầu như lúc nào cũng bắn trúng đích, phủ lên ngực người mẹ những vết thương mà nàng không thể tìm thấy thuốc xoa dịu ở thế giới này, cũng chẳng biết cách tìm kiếm ở thế giới khác. Cuối cùng, khi số đạn hoa đã cạn sạch, đứa trẻ đứng im và nhìn chằm chằm vào Hester, với hình ảnh cười cợt nhỏ xíu của một con quỷ đang thấp thoáng hé nhìn—hoặc, dù nó có hé nhìn hay không, người mẹ vẫn tưởng tượng ra như thế—từ vực thẳm không thể dò thấu trong đôi mắt đen của con.
“Con hỡi, con là gì thế?” người mẹ kêu lên.
“Ôi, con là bé Ngọc của mẹ đây mà!” đứa trẻ đáp.
Nhưng vừa nói xong, Ngọc vừa cười rộ lên, rồi bắt đầu nhảy nhót tưng bừng với điệu bộ ngổ ngáo của một tiểu yêu, mà trò quái tiếp theo có thể là bay vụt lên ống khói.
“Con có thực sự là con của mẹ không?” Hester hỏi.
Và nàng không hề hỏi bâng quơ, mà trong khoảnh khắc ấy, mang theo một phần sự chân thành thực sự; bởi vì, trí tuệ kỳ diệu của Ngọc lớn đến mức người mẹ nửa ngờ ng vực liệu con có biết rõ về bùa chú bí mật của sự tồn tại mình và liệu bây giờ có tự hé lộ hay không.
“Có chứ; con là bé Ngọc mà!” đứa trẻ lặp lại, tiếp tục những trò hề của mình.
“Con không phải con của mẹ! Con chẳng phải hòn ngọc nào của ta cả!” người mẹ nửa đùa nửa thật nói; bởi vì thường thì một sự thôi thúc vui đùa lại trào dâng trong nàng giữa chốn khổ đau sâu sắc nhất. “Vậy hãy nói cho ta hay, con là cái gì, và ai đã sai con đến đây.”
“Mẹ hãy nói cho con đi!” đứa trẻ nghiêm túc nói, bước lại gần Hester và áp sát vào đầu gối nàng. “Chính mẹ hãy nói cho con đi!”
“Cha trên Thiên Đàng của con đã sai con đến!” Hester Prynne đáp.
Nhưng nàng nói với một vẻ ngập ngừng không thể thoát khỏi sự sắc sảo của đứa trẻ. Dù chỉ vì tính hay thay đổi thông thường của mình, hay vì một linh hồn tà ác xui khiến, con đưa ngón trỏ nhỏ xíu lên và chạm vào chữ cái màu đỏ.
“Ngài không hề sai con đến!” con quả quyết kêu lên. “Con chẳng có Cha trên Thiên Đàng nào cả!”
“Nào Ngọc, im đi! Con không được nói thế!” người mẹ đáp, cố nén tiếng rên rỉ. “Ngài đã đưa tất cả chúng ta đến thế gian này. Ngài thậm chí còn sai cả mẹ, người sinh ra con. Thế thì, huống chi là con! Hoặc nếu không, hỡi đứa trẻ kỳ lạ và yêu tinh kia, con từ đâu đến?”
“Mẹ nói đi! Mẹ nói đi!” Ngọc lặp lại, không còn vẻ nghiêm túc nữa, mà vừa cười vừa nhảy nhót khắp sàn nhà. “Chính mẹ mới là người phải nói cho con chứ!”
Nhưng Hester không thể giải đáp được thắc mắc ấy, bản thân nàng đang lạc vào một mê cung nghi ngờ tối tăm. Nàng nhớ lại—nằm giữa nụ cười và nỗi rùng mình—những lời bàn tán của người dân trong các thị trấn láng giềng; những kẻ mỏi mệt tìm kiếm gốc gác cha đứa trẻ ở nơi khác, và quan sát một số đặc tính kỳ lạ của con, đã loan tin rằng bé Ngọc tội nghiệp chính là dòng dõi yêu ma; loại sinh sinh mà kể từ thời Công giáo cổ xưa vẫn thỉnh thoảng xuất hiện trên trái đất, thông qua sự xúi giục từ tội lỗi của người mẹ, và nhằm mưu đồ những mục đích nhơ nhớp, tàn độc. Luther, theo những lời đồn ác ý từ kẻ thù tu sĩ của ông, cũng là một đứa trẻ thuộc giống loài địa ngục ấy; và Ngọc cũng không phải là đứa trẻ duy nhất mang cái gốc gác bất hạnh ấy, giữa những người Thanh giáo ở New England.

