Bí Ẩn Căn Phòng Màu Vàng

Lượt đọc: 45 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 21
Canh Gác

❊ ❊ ❊

Hành động đó đã làm tôi chấn động, nhưng dường như lại không tác động mấy đến Rouletabille. Chúng tôi quay trở lại phòng cậu ấy và, thậm chí chẳng đả động gì đến những gì vừa mục sở thị, cậu ấy dặn dò tôi những điều cuối cùng cho đêm nay. Đầu tiên, chúng tôi sẽ đi ăn tối; sau bữa tối, tôi sẽ vào vị trí trong phòng chứa đồ tối và chờ ở đó bao lâu tùy ý—để đề phòng những chuyện có thể xảy ra.

“Nếu anh thấy bất cứ điều gì trước tôi,” cậu giải thích, “anh phải báo cho tôi biết. Nếu gã đó đột nhập vào dãy hành lang ‘bên phải’ bằng một lối nào khác ngoài dãy hành lang ‘rẽ nhánh’, anh sẽ thấy hắn trước tôi, bởi vì anh có tầm nhìn bao quát toàn bộ chiều dài của dãy hành lang ‘bên phải’, trong khi tôi chỉ kiểm soát được tầm nhìn về phía hành lang ‘rẽ nhánh’. Tất cả những gì anh cần làm để báo cho tôi là cởi sợi dây buộc tấm màn cửa của cửa sổ hành lang ‘bên phải’ ở gần phòng chứa đồ tối nhất. Tấm màn sẽ tự rủ xuống và lập tức để lộ một ô vuông bóng tối ở nơi trước đó từng là một ô vuông ánh sáng. Để làm việc này, anh chỉ cần thưa tay ra khỏi phòng chứa đồ, tôi sẽ hiểu ngay tín hiệu của anh.”

“Và sau đó?”

“Rồi anh sẽ thấy tôi xuất hiện ở góc khuất của hành lang ‘rẽ nhánh’.”

“Lúc đó tôi phải làm gì?”

“Anh sẽ lập tức tiến về phía tôi, đi sau gã đó; nhưng tôi đã tóm được hắn từ trước rồi, và sẽ nhìn thấy mặt hắn.”

Tôi gượng nở một nụ cười nhợt nhạt.

“Sao anh lại cười? Chà, anh cứ cười đi chừng nào còn có thể, nhưng tôi dám cá là chỉ vài tiếng nữa thôi anh sẽ chẳng còn thời gian mà cười đâu.”

“Và nếu gã đó trốn thoát thì sao?”

“Thì càng hay chứ sao,” Rouletabille điềm tĩnh đáp, “tôi không muốn bắt giữ hắn. Hắn muốn chuồn kiểu gì cũng được. Tôi sẽ để hắn đi—sau khi tôi đã nhìn rõ mặt hắn. Tôi chỉ cần có thế. Hỏi xong tôi sẽ biết mình phải làm gì để đối với tiểu thư Stangerson, hắn ta sẽ coi như đã chết dù vẫn đang sống nhăn. Nếu tôi bắt sống hắn, có lẽ tiểu thư Stangerson và Robert Darzac sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi! Mà tôi lại muốn giữ được thiện cảm và sự tôn trọng của họ.

Chứng kiến cảnh tiểu thư Stangerson bỏ thuốc mê vào ly của cha mình ngay lúc nãy, để ông không tỉnh giấc mà phá hỏng cuộc trò chuyện giữa cô ta và kẻ sát nhân, anh có thể tưởng tượng được rằng cô ta sẽ chẳng mảy may biết ơn tôi nếu tôi dẫn gã đàn ông ở Căn Phòng Vàng và dãy hành lang quái quỷ đó, với tay chân bị trói ngoằng và miệng bị nhét giẻ, đến trước mặt cha cô ta đâu. Giờ thì tôi nhận ra rằng nếu muốn cứu người phụ nữ bất hạnh ấy, tôi phải làm cho kẻ kia phải câm nín chứ không phải bắt giữ hắn. Tước đoạt mạng sống của một con người đâu phải chuyện nhỏ. Hơn nữa, đó không phải việc của tôi, trừ khi chính gã ta tự đẩy mình vào hoàn cảnh đó. Mặt khác, việc làm cho hắn vĩnh viễn câm lặng mà không có sự đồng thuận và tin tưởng của người phụ nữ ấy chẳng khác nào tự hành động theo ý mình và phỏng đoán mọi thứ mà không có lấy một căn cứ nào. May thay, bạn tôi ạ, tôi đã đoán ra, không, tôi đã suy luận ra tất cả rồi. Tất cả những gì tôi đòi hỏi gã đàn ông sắp tới vào đêm nay chỉ là mang theo bộ mặt của hắn, để nó lọt vào—”

“Vào vòng tròn ấy hả?”

“Chính xác! Và bộ mặt của hắn sẽ chẳng làm tôi ngạc nhiên đâu!”

“Nhưng tôi tưởng cậu đã nhìn thấy mặt hắn vào đêm cậu lao vào căn phòng đó rồi cơ mà?”

“Chỉ thấy mờ ảo thôi. Ngọn nến nằm dưới sàn; và bộ râu của hắn—”

“Liệu tối nay hắn có để râu không?”

“Tôi nghĩ mình có thể đoán chắc là có. Nhưng hành lang đủ sáng và, giờ thì, tôi biết—hoặc—ít ra, bộ óc của tôi đã biết—và đôi mắt tôi sẽ nhìn thấy.”

“Nếu chúng ta ở đây chỉ để nhìn thấy hắn rồi thả cho hắn trốn mất, thì sao lại phải mang theo vũ khí?”

“Bởi vì, nếu gã đàn ông ở Căn Phòng Vàng và dãy hành lang quái quỷ đó biết rằng tôi đã biết chuyện, hắn có khả năng làm bất cứ điều gì! Khi đó chúng ta sẽ phải tự vệ.”

“Và cậu chắc chắn hắn sẽ đến vào đêm nay chứ?”

“Chắc như đinh đóng cột rằng anh đang đứng ở đó! Sáng nay, lúc mười giờ rưỡi, tiểu thư Stangerson, bằng cách khôn ngoan nhất trên đời, đã thu xếp để tối nay không có y tá nào trực cả. Cô ta cho họ nghỉ phép hai mươi bốn tiếng đồng hồ với một vài lý do hợp lý, và không muốn bất kỳ ai ở bên cạnh ngoài cha mình trong thời gian họ vắng mặt. Cha cô ta, người sẽ ngủ ở phòng khách nhỏ, đã vui vẻ đồng ý với sự sắp đặt này. Sự ra đi của Darzac và những gì anh ta kể với tôi, cũng như những biện pháp phi thường mà tiểu thư Stangerson đang áp dụng để được ở một mình vào đêm nay không còn để lại cho tôi chút nghi ngờ nào nữa. Cô ta đã dọn đường cho sự xuất hiện của kẻ mà Darzac hằng khiếp sợ.”

“Thật kinh khủng!”

“Đúng thế!”

“Và việc chúng ta thấy cô ta làm là để chuốc thuốc mê cha mình ư?”

“Phải.”

“Thế thì công việc đêm nay chỉ có hai chúng ta thôi sao?”

“Bốn người; bác gác cổng và vợ sẽ canh chừng bằng mọi giá. Tôi không đánh giá cao họ trước khi mọi chuyện xảy ra—nhưng bác gác cổng có thể hữu ích sau đó—nơi có màn đổ máu nào đó!”

“Vậy cậu nghĩ sẽ có án mạng thật sao?”

“Nếu hắn muốn thế.”

“Sao cậu không gọi cả lão Jacques vào?—Cậu không định nhờ cậy gì ông ấy trong hôm nay à?”

“Không,” Rouletabille đáp cụt lủn.

Tôi im lặng một lát, rồi vì số nóng lòng muốn biết suy nghĩ của cậu ấy, tôi hỏi thẳng:

“Sao không nói cho Arthur Rance biết?—Ông ta có thể giúp ích rất nhiều cho chúng ta đấy?”

“Ồ!” Rouletabille bực bội nói, “thế ra anh muốn cho cả thiên hạ biết bí mật của tiểu thư Stangerson à?—Thôi, chúng ta đi ăn tối đi; đến giờ rồi. Tối nay chúng ta ăn ở phòng của Frédéric Larsan,—ít nhất là nếu hắn không bám riết lấy Darzac. Hắn kè kè theo lão đó như đỉa đói ấy. Nhưng dẫu sao, nếu bây giờ hắn không có ở đó, tôi chắc chắn tối nay hắn sẽ có mặt! Hắn chính là kẻ mà tôi sắp sửa hạ gục đấy!”

Đúng lúc đó, chúng tôi nghe thấy tiếng động ở căn phòng bên cạnh.

“Chắc là hắn rồi,” Rouletabille nói.

“Tôi quên chưa hỏi cậu,” tôi lên tiếng, “rằng liệu chúng ta có nên đả động gì đến chuyện đêm nay khi ở trước mặt tay cảnh sát này không. Tôi cho là không nên. Đúng thế chứ?”

“Hiển nhiên rồi. Chúng ta sẽ hành động một mình, vì tài sản và danh dự cá nhân của chúng ta.”

“Vậy là tất cả vinh quang sẽ thuộc về chúng ta sao?”

Rouletabille cười lớn.

Chúng tôi dùng bữa tối với Frédéric Larsan ngay trong phòng của hắn ta. Hắn bảo vừa mới về tới và mời chúng tôi ngồi vào bàn. Chúng tôi ăn uống trong tâm trạng vô cùng thoải mái, và tôi dễ dàng nhận thức được cảm giác chắc chắn mà cả Rouletabille lẫn Larsan đang mang trong lòng. Rouletabille bảo với ngài Fred vĩ đại rằng tôi ghé qua tình cờ, và cậu đã nhờ tôi ở lại giúp giải quyết đống bản thảo ngập đầu phải gửi cho tờ “Epoque”. Cậu bảo tôi sẽ quay về Paris bằng chuyến tàu lúc mười một giờ, mang theo “bài vở” của cậu, được viết dưới dạng một câu chuyện kể lại các tình tiết chính trong những bí ẩn tại Glandier.

Larsan mỉm cười trước lời giải thích đó ra vẻ một kẻ không dễ bị lừa phỉnh nhưng lịch sự giữ gìn không đưa ra dù chỉ một bình luận nhỏ về những thứ không liên quan đến mình.

Với sự thận trọng vô cùng trong từng câu chữ, và thậm chí trong cả âm điệu giọng nói, Larsan và Rouletabille đã thảo luận hồi lâu về sự xuất hiện của ông Arthur Rance tại lâu đài, cùng quá khứ của ông ta ở Mỹ, điều mà họ bày tỏ mong muốn được tìm hiểu thêm, ít ra là về mối quan hệ của ông ta với gia đình Stangerson. Có lúc, Larsan, người có vẻ không được khỏe cho lắm, cất lời với một chút gắng gượng:

“Tôi nghĩ, thưa ngài Rouletabille, chúng ta không còn nhiều việc phải làm ở Glandier nữa đâu, và chúng ta cũng chẳng ngủ lại đây thêm mấy đêm nữa làm gì.”

“Tôi cũng nghĩ vậy, thưa ngài Fred.”

“Vậy là anh nghĩ vụ án đã đi đến hồi kết rồi sao?”

“Quả thật tôi nghĩ chúng ta chẳng còn gì để phải tìm hiểu thêm nữa,” Rouletabille đáp.

“Anh đã tìm ra hung thủ rồi chứ?” Larsan hỏi.

“Còn anh?”

“Rồi.”

“Tôi cũng vậy,” Rouletabille nói.

“Liệu có cùng là một người không nhỉ?”

“Tôi không biết là anh có lung lay khỏi ý định ban đầu của mình không,” viên phóng viên trẻ nói. Rồi cậu bồi thêm với giọng đầy quả quyết: “Ngài Darzac là một người trung thực!”

“Anh chắc chắn về điều đó chứ?” Larsan hỏi. “Chà, tôi thì chắc chắn ông ta không phải thế. Vậy là chúng ta phải đối đầu nhau rồi nhỉ?”

“Đúng, là một cuộc chiến. Nhưng tôi sẽ đánh bại anh, thưa ngài Frédéric Larsan.”

“Tuổi trẻ chẳng bao giờ hoài nghi điều gì cả,” ngài Fred cười vang nói, rồi chìa tay ra với tôi như một cách kết luận.

Câu trả lời của Rouletabille vang lên như một tiếng vọng:—

“Chẳng bao giờ cả!”

Đột nhiên Larsan, người vừa đứng dậy để chúc chúng tôi ngủ ngon, đưa cả hai tay ôm ngực và lảo đảo. Hắn buộc phải vị lấy Rouletabille để làm điểm tựa và để khỏi bị ngã.

“Ối! Ối!” hắn kêu lên. “Tôi bị sao thế này?—Mình bị đầu độc à?”

Hắn nhìn chúng tôi với đôi mắt thất thần. Chúng tôi gặng hỏi vô ích; hắn không trả lời. Hắn đã khuỵu xuống chiếc bành ky và chúng tôi chẳng thể cạy ra nổi một lời nào từ miệng hắn. Chúng tôi vô cùng hoảng hốt, lo cho cả hắn lẫn chính mình, bởi vì chúng tôi đã nếm qua tất cả các món mà hắn vừa ăn. Hắn có vẻ không còn đau đớn nữa; nhưng cái đầu nặng trĩu đã gục xuống vai và mi mắt nhắm nghiền lại. Rouletabille cúi người áp tai ngực hắn để nghe nhịp đập của trái tim.

Tuy nhiên, nét mặt của bạn tôi lúc đứng thẳng lên lại bình thản hệt như khoảnh khắc bấn loạn khi nãy.

“Ông ta ngủ rồi,” cậu nói.

Cậu dẫn tôi về phòng mình, sau khi đã khép cửa phòng Larsan lại.

“Thứ thuốc đó á?” tôi hỏi. “Tiểu thư Stangerson muốn cho tất cả mọi người chìm vào giấc ngủ vào đêm nay sao?”

“Có lẽ thế,” Rouletabille đáp; nhưng tôi có thể nhận thấy cậu đang mải nghĩ về chuyện khác.

“Nhưng còn chúng ta thì sao?” tôi kêu lên. “Làm sao chúng ta biết chắc rằng mình chưa bị chuốc thuốc mê?”

“Anh có cảm thấy trong người khó chịu không?” Rouletabille điềm nhiên hỏi tôi.

“Không một chút nào.”

“Anh có thấy buồn ngủ không?”

“Hoàn toàn không.”

“Vậy thì, bạn tôi ơi, hãy hút điếu xì gà tuyệt hảo này đi.”

Và cậu trao cho tôi một điếu Havana thượng hạng, món mà ngài Darzac từng tặng cậu, trong lúc bản thân châm chiếc tẩu gỗ—chiếc tẩu gỗ bất ly thân của cậu.

Chúng tôi ở trong phòng cậu mãi cho đến khoảng mười giờ mà chẳng thốt ra lời nào. Chìm đắm trong chiếc ghế bành, Rouletabille ngồi hút thuốc đều đặn, trán đăm chiêu suy nghĩ và ánh mắt nhìn đăm đăm vào cõi xa xăm. Khi đồng hồ điểm mười giờ, cậu cởi giày ra và ra hiệu cho tôi làm điều tương tự. Đứng trên đôi tất chân, cậu thì thầm nhỏ đến mức tôi phải dùng linh cảm để đoán thay vì nghe rõ từ đó:

“Súng lục.”

Tôi rút khẩu súng lục ra khỏi túi áo khoác.

“Lên cò đi!” cậu bảo.

Tôi làm theo đúng lời chỉ dẫn.

Rồi tiến về phía cửa phòng, cậu mở hé nó ra với sự cẩn trọng tột cùng; cánh cửa không hề phát ra một tiếng động nhỏ. Chúng tôi đã ở ngoài dãy hành lang ‘rẽ nhánh’. Rouletabille lại ra hiệu cho tôi một lần nữa, tôi hiểu ý cậu là mình phải vào vị trí trong phòng chứa đồ tối.

Khi tôi đã đi cách một khoảng, cậu quay lại bắt tay ôm lấy tôi; và rồi tôi thấy cậu, với sự thận trọng y hệt, quay trở lại phòng mình. Bất ngờ trước cái ôm ấy, và có đôi chút bất an vì nó, tôi tiến đến dãy hành lang bên phải mà không gặp khó khăn gì, băng qua chiếu nghỉ và tới được căn phòng chứa đồ tối.

Trước khi bước vào, tôi kiểm tra sợi dây rèm của cửa sổ và nhận ra mình chỉ cần dùng ngón tay gỡ nó ra khỏi chỗ buộc là tấm màn sẽ tự đổ xuống bằng trọng lượng của chính nó, che khuất ô vuông ánh sáng khỏi tầm mắt của Rouletabille—đó chính là tín hiệu đã thỏa thuận. Tiếng bước chân khiến tôi khựng lại trước cửa phòng của Arthur Rance. Hóa ra ông ta vẫn chưa đi ngủ! Tại sao lại thế nhỉ, đã ở trong lâu đài, sao ông ta lại không dùng bữa tối cùng ngài Stangerson và con gái ông ta? Lúc chúng tôi ngó vào, tôi chẳng hề thấy ông ta ngồi ăn cùng họ.

Tôi lui vào trong phòng chứa đồ tối. Tôi nhận thấy vị trí của mình quá ư đắc địa. Tôi có thể phóng tầm mắt quan sát toàn bộ chiều dài của hành lang. Không gì, tuyệt đối không một thứ gì có thể lọt qua đó mà tôi không nhìn thấy. Nhưng điều gì sắp xảy ra ở đây nhỉ? Cái ôm của Rouletabille chợt hiện về trong tâm trí tôi. Tôi tự nhủ người ta chỉ chia tay nhau theo cách đó trong những hoàn cảnh trọng đại hoặc hiểm nghèo. Phải chăng tôi đang gặp nguy hiểm?

Bàn tay tôi siết chặt lấy báng súng và tôi chờ đợi. Tôi không phải là anh hùng; nhưng cũng chẳng phải kẻ hèn nhát.

Tôi chờ khoảng một tiếng đồng hồ, và trong suốt khoảng thời gian ấy, tôi chẳng thấy có điều gì bất thường. Cơn mưa vốn bắt đầu nặng hạt từ tầm chín giờ nay đã tạnh hẳn.

Bạn tôi đã bảo rằng, có lẽ, sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra trước nửa đêm hoặc một giờ sáng. Thế nhưng, mới hơn mười một giờ rưỡi, tôi đã nghe thấy cửa phòng Arthur Rance mở ra rất chậm rãi. Cánh cửa cứ hé mở như thế suốt một phút mà với tôi dài đằng đẵng. Vì nó mở hướng ra hành lang, nghĩa là mở ra phía ngoài, nên tôi không thể thấy những gì đang diễn ra trong căn phòng phía sau cánh cửa.

Đúng lúc đó, tôi nhận thấy một âm thanh kỳ lạ, lặp lại ba lần, phát ra từ phía công viên. Thông thường tôi sẽ chẳng thèm bận tâm đến nó nhiều hơn tiếng mèo kêu trên mái nhà. Nhưng đến lần thứ ba, tiếng kêu ấy sắc lẹm và xuyên thấu đến mức tôi chợt nhớ lại những gì mình từng nghe về tiếng thét của Con Quái Vật Chúa Trời. Vì tiếng kêu ấy đã đi kèm với mọi biến cố ở Glandier, tôi không khỏi rùng mình khi nghĩ tới điều đó.

Ngay sau đó, tôi thấy một người đàn ông xuất hiện ở bên ngoài cửa, rồi khép cửa lại phía sau hắn. Ban đầu tôi không thể nhận ra hắn, bởi vì hắn quay lưng về phía tôi và đang cúi người bên trên một gói đồ khá cồng kềnh. Khi đã đóng cửa và nhấc gói đồ lên, hắn quay mặt về phía phòng chứa đồ tối, và lúc đó tôi mới nhận ra hắn là ai. Hắn chính là người giữ rừng, Gã Người Xanh. Hắn mặc nguyên bộ trang phục từng mặc khi tôi lần đầu nhìn thấy hắn trên con đường trước quán trọ Donjon. Không còn nghi ngờ gì nữa, đích thị là tay giữ rừng. Khi tiếng kêu của Con Quái Vật Chúa Trời vang lên lần thứ ba, hắn đặt gói đồ xuống và tiến đến cửa sổ thứ hai, tính từ phòng chứa đồ tối đếm sang. Tôi không dám mạo hiểm thực hiện bất kỳ chuyển động nào, vì sợ làm lộ tung tích của mình.

Đến bên cửa sổ, hắn ngó đầu ra ngoài công viên. Đêm nay trời đã sáng sủa hơn, ánh trăng thỉnh thoảng lại ló dạng. Gã Người Xanh giơ hai tay lên trời hai lần, ra hiệu những động tác mà tôi không thể hiểu nổi; rồi rời khỏi khung cửa sổ, hắn xách lại gói đồ và tiếp tục di chuyển dọc theo hành lang về hướng khu vực chiếu nghỉ.

Rouletabille đã dặn tôi tháo dây rèm cửa khi nhìn thấy bất cứ điều gì. Liệu Rouletabille có đang mong đợi điều này không? Đó không phải việc của tôi để mà thắc mắc. Tất cả những gì tôi phải làm là tuân thủ chỉ thị. Tôi tháo sợi dây cửa sổ; trong lúc tim đập thình thịch như muốn nhảy tung cả ra ngoài. Gã đàn ông đã đến khu vực chiếu nghỉ, nhưng đến làm tôi kinh ngạc tột độ—tôi cứ đinh ninh sẽ thấy hắn tiếp tục rảo bước dọc hành lang—tôi lại thấy hắn bước xuống cầu thang dẫn xuống sảnh lớn.

Tôi phải làm gì đây? Tôi ngây ngốc nhìn chằm chằm vào tấm màn dày đã che khuất ánh sáng từ cửa sổ. Tín hiệu đã được phát đi, và tôi chẳng thấy Rouletabille xuất hiện ở góc khuất của hành lang rẽ nhánh. Chẳng có ai cả. Tôi vô cùng hoang mang bối rối. Nửa tiếng đồng hồ trôi qua, dài như cả một thế kỷ với tôi. Giờ thì tôi nên làm gì, ngay cả khi nhìn thấy thứ gì đó cơ chứ? Tín hiệu một khi đã phát đi thì không thể phát lại lần thứ hai. Liều lĩnh bước ra hành lang có thể làm hỏng toàn bộ kế hoạch của Rouletabille. Suy cho cùng, tôi chẳng có gì phải trách cứ bản thân, và nếu có chuyện gì xảy ra mà bạn tôi không lường trước được thì cậu ta chỉ có thể tự trách mình mà thôi. Không thể giúp gì thêm cho cậu ấy bằng tín hiệu được nữa, tôi rời khỏi phòng chứa đồ tối và, vẫn đi trên đôi tất chân, tôi dò dẫm từng bước tìm đường ra hành lang ‘rẽ nhánh’.

Chẳng có ai ở đó cả. Tôi tiến đến cửa phòng Rouletabille và lắng tai nghe. Không có tiếng động nào. Tôi gõ nhẹ cửa. Không có tiếng trả lời. Tôi vặn tay nắm cửa và cánh cửa bật mở. Tôi bước vào. Rouletabille đang nằm sõng soài bất động trên sàn nhà.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.