Bảy Dặm Đến Arden

Lượt đọc: 25 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Arden

❊ ❊ ❊

Mùa hè chắc hẳn đã dụng tâm nhào nặn một ngày tháng Sáu làm phông nền cho một vở hài kịch đồng quê; rồi sự tình lại vô tình chớp lấy nó, như một tên gian xảo tốt bụng, và trao tận tay đoàn Sylvan Players. Chưa từng có một nhóm người nào đứng từ triền dốc của một khán đài tự nhiên nhìn xuống một khung cảnh nên thơ hơn thế; một khu rừng Arden được kiến tạo bởi người họa sĩ sân khấu vĩ đại nhất từ thuở khai thiên lập địa. Chim chóc bay lượn quanh những tán cây và hót vang — bất cứ khi nào dàn nhạc cho phép; một vài chú thỏ lách mình chui ra từ bụi đỗ quyên rồi nhảy nhót theo điệu bộ ngượng ngùng của một thiếu nữ ngây thơ băng qua sân khấu; trong khi phía bên trên, bầu trời xanh ngắt, lặng gió rải ánh hào quang lên cả diễn giả lẫn khán giả.

Gạt bỏ đi phần lớn vẻ hào nhoáng kịch nghệ của những buổi biểu diễn sân khấu thông thường, nơi đây tràn ngập sự chân thực và sức hút khiến khán giả nồng nhiệt vỗ tay tán thưởng không ngớt, tựa như những ngụm thần dược rót vào lòng người diễn. Những ai diễn tròn vai đều thể hiện rất xuất sắc; những ai diễn tốt thì lại càng vượt qua chính mình, và Patsy đã lấn át tất cả.

Cô sống trọn từng phút giây trong suốt ba tiếng đồng hồ tái hiện khoảnh khắc quật ngã võ sĩ Charles cùng lời hứa “sẽ san bằng tất cả mọi chuyện”. Tiếng cười rôm rả của cô không hề phảng phất chút thô tục, điệu bộ giả trang cũng chẳng có vẻ nghênh ngang của kẻ du thủ du thực; tất cả đều toát lên nét nữ tính đầy tinh tế và không thể cưỡng lại. Còn George Travis, theo dõi từ góc khuất ở hàng ghế cuối, đấmm đét vào đầu gối vì đắc thắng và thề sẽ lừng danh hóa cô thành nữ diễn viên kịch Shakespeare vĩ đại nhất thời đại.

Khi Hymen cất lên khúc ca từ biệt, Patsy đảo mắt nhìn khắp biển người phía bên kia luống cây bách xù vốn đóng vai trò như dãy đèn ánh sáng chân sân khấu. Từ nãy cô đã nhận ra Travis, Janet Payne cùng nhóm bạn của cô ấy, những vị khách từ Quality House vẫn đang nhìn cô trân trân đầy kinh ngạc, và chàng thanh niên Peterson-Jones trông có vẻ u sầu, cận thị và đậm chất thơ hơn trước. Nhưng gương mặt duy nhất mà cô thầm mong tìm kiếm lại vắng bóng, thậm chí chẳng thấy đâu giữa những kẻ lai vãng ở phía sau; và cô đã phải dùng hết sức bình sinh để kìm nén sự thất vọng cùng cảm giác tổn thương kỳ lạ trong giọng nói khi cất lời thoại kết.

Trên đường về lều — có khoảng mười chiếc được dựng làm phòng hóa trang phía sau sân khấu — George Travis đuổi kịp cô. “Mọi chuyện tuyệt lắm, cô gái. Em đã thành công vang dội hơn cả những gì anh mong đợi. Anh định sẽ thử sức em trong—”

Patsy cắt ngang lời anh. “Anh ngồi ở hàng ghế cuối. Anh có thấy cậu lãng tử nào quanh quẩn đâu đây không — dáng đi hơi khập khiễng ấy?”

Người quản lý nhìn cô với ánh mắt bao dung đầy thích thú. “Chẳng lẽ một tên đàn ông phàm tục lại quan trọng hơn cả thành công của em vào lúc này sao? Ồ này, không giống phong cách của em chút nào đâu, cô nàng Patsy A-len-xê!”

Cô đỏ bừng mặt, và vị quản lý không trêu chọc thêm nữa. “Chúng ta sẽ diễn ở Greyfriars vào ngày mai và quay lại Brambleside vào ngày kia; và anh đã quyết định sẽ để em thử vai Juliet ở trượt. Nếu em xử lý bi kịch cũng cừ khôi như hài kịch, anh sẽ lăng xê em thành ngôi sao trên sân khấu Broadway vào mùa đông tới. Ôi, tương lai của em coi như đã rộng mở rồi, cô gái may mắn ạ!”

Nhưng Patsy, khi vén màn bước vào lều, hầu như chẳng lọt tai câu nói cuối. Nếu ngày mai họ diễn ở Greyfriars, điều đó có nghĩa là họ sẽ rời Arden trên chuyến tàu đầu tiên ngay sau khi thu dọn hành lý; và điều đó đồng nghĩa với việc cô sẽ vĩnh viễn bước ra ngoài tầm với của anh thợ hàn. Trong lòng cô dâng lên một nỗi buồn âm ỉ mà cô chẳng buồn giải thích hay phân tích; nó cứ hiện hữu ở đó — thế là đủ. Với những ngón tay nóng vội, cô giật phăng bộ xiêm y cưới của Rosalind và tẩy đi lớp phấn son hóa trang. Sau đó, cô cứ tần ngần mãi bên việc thay đồ, hy vọng có thể tránh mặt các thành viên khác trong đoàn cũng như bất kỳ người bạn nào đang rảnh rỗi ghé qua để chúc mừng. Cô muốn được một mình chìm đắm trong những kỷ niệm — được ôm ấp và gìn giữ chúng thêm chút nữa trước khi chúng phai mờ và trôi đi quá xa.

Một bàn cào nhẹ vào vạt lều cắt ngang dòng suy tưởng của Janet Payne: “Tụi mình có thể gặp cậu một lát được không? Tụi mình xin hứa danh dự là sẽ không nán lại lâu đâu.”

Patsy vén vạt lều lên và cố nặn ra vẻ mặt chào đón nồng nhiệt nhất có thể.

“Diễn xuất đỉnh quá xá!” đám đông nhà Dempsy Carter đồng thanh reo lên, mỗi người nắm chặt một bên tay cô.

Janet Payne nhìn cô với ánh mắt ngưỡng mộ ngập tràn. “Tuyệt vời nhất, quả là tuyệt vời nhất từ trước đến nay mà tớ từng thấy cậu hay bất kỳ ai khác thể hiện. Lần đầu tiên nhân vật Rosalind hiện lên như một cô gái bằng xương bằng thịt thực sự.”

Nhưng chính giọng nói của Gregory Jessup mới là thứ át đi những âm thanh khác: “Cô đã nghe tin gì chưa, thưa cô O’Connell? Burgeman đã qua đời tối qua, và Billy ở cạnh ông ấy lúc cuối đời. Cậu ấy đã trở về nhà rồi.”

“Trời ạ! Thế thì điềm báo cuối cùng cũng ứng nghiệm rồi.”

Cả nhóm chìm vào im lặng. Patsy bất giác vươn tay ra. “Tôi mừng cho anh ấy — tôi cũng mừng cho cô; và tôi hy vọng mọi chuyện đã kết thúc tốt đẹp. Anh có gặp anh ấy không?”

“Chỉ vài phút thôi. Không có thời gian để nói nhiều; nhưng trông cậu ấy giống như một kẻ vừa chiến thắng trở về. Cậu ấy bảo cậu ấy và ông già đã có một buổi trò chuyện tử tế lần đầu tiên trong đời — bảo rằng điều đó đã mang lại cho cậu ấy một người cha mà ký ức về ông sẽ chẳng bao giờ khiến cậu ấy phải hổ thẹn hay cay đắng. Tôi muốn kể cho cô nghe, để cô không phải bận tâm suy nghĩ về cậu ấy nữa.”

Cô mỉm cười hồi tưởng. “Cảm ơn anh; nhưng tôi đã vứt gánh nặng ấy ra khỏi đầu gần hai mươi tư tiếng đồng hồ rồi.”

Khi chỉ còn lại một mình, cô hoàn tất việc thu dọn hành lý; rồi thắt dưới cằm chiếc mũ trùm đầu nhỏ xíu ngộ nghĩnh bằng lụa trắng kết hoa ngô, hãy còn hơi nhàu nhĩ vì bị giam cầm lâu ngày trong rương, cô quay trở lại để ngắm nhìn khu Rừng và cội cây Cổ thụ thêm lần cuối.

Nơi đây đã vắng lặng, ngoại trừ mấy người đánh xe vừa đến để chở lều bãi và rương hòm đạo cụ. Một vệt trắng nổi bật giữa sắc xanh của tán lá thu hút ánh nhìn của cô; trong khoảnh khắc, cô tưởng đó là một trong những áng thơ của Orlando, bị bỏ sót trong lúc diễn và lãng quên từ đó đến nay. Do tò mò, cô với tay giật lấy và đọc nó — một lần, hai lần, ba lần:

Nơi đôi sồi xào xạc gió ngàn,

Có chàng trai đợi nàng Rosalind.

Nếu nàng vẫn thắm tình đằm thắm,

Biết đâu xoa dịu cõi lòng đăm đăm

Chẳng gì cứu vãn — trừ nàng Rosalind.

Với một tiếng kêu vui sướng, cô vò nát tờ giấy trong tay và lao đi, thẳng tắp như chú chim hoạ mi bay về phía bạn tình, hướng đến hai cây sồi đôi khổng lồ vốn là những cột mốc quen thuộc trong khu rừng. Đôi mắt cô rảo tìm hình bóng gã lang thang trong bộ đồ rách rưới; thế nên chẳng có gì lạ khi chúng phớt lờ người đàn ông diện bộ comple màu xám lịch lãm đang tì một bên người vào thân cây và một bên dựa vào chiếc gậy hành hương. Cô đứng chôn chân ngẩn ngơ nhìn mà chẳng hé môi chào một câu.

“Nào, thế là ái nữ nhà Công tước đã tìm thấy vần thơ của mình rồi ư?”

“Tôi có thèm nhận anh làm quen đâu nào. Thật đấy, trông anh chẳng còn chút dáng vẻ nào của một tên thợ hàn chân chất nữa; có lẽ tốt nhất chúng ta nên đường ai nấy đi thôi — trước khi kịp gặp lại nhau.”

Nhưng anh thợ hàn đã nắm chặt lấy cả hai tay cô. “Muộn mất rồi em. Anh chắc chắn sẽ mặc đồ rách nếu chúng còn mảnh nào nguyên vẹn, nhưng đó lại là những thứ duy nhất anh định vứt bỏ. Và em có biết không — anh siết chặt tay cô hơn — khi đi ngang qua đây, anh đã gặp một người quen và được hắn cho biết với đôi mắt trố cả lên rằng, cô tiểu thư kỳ diệu từng diễn xuất làm say đắm hàng trăm trái tim hóa ra lại chính là đầu bếp nhà hắn suốt ba ngày trời. Ồ, cô bé! Cô bé ngốc nghếch! Sao em lại có thể làm thế cơ chứ!”

“Thật tình! Chúa phú cho em tài nấu nướng còn giỏi hơn cả đóng kịch. Chẳng lẽ anh lại nỡ muốn em vứt bỏ hoàn toàn tác phẩm của Người sao?”

Anh thợ hàn lắc đầu nhìn cô. “Em có biết anh muốn nói gì với tất cả những con người đã theo dõi em không? Anh muốn nói rằng: ‘Các người nghĩ cô ấy là một nữ diễn viên tuyệt vời; cô ấy còn hơn thế nữa. Cô ấy là một người phụ nữ hiếm có, ngọt ngào và chân thực, cao quý và tuyệt vời hơn bất kỳ vở kịch nào cô ấy từng tham gia hay bất kỳ vai diễn nào cô ấy hóa thân. Ta, một tên thợ hàn, đã khám phá ra điều đó; và ta hiểu cô ấy hơn bất kỳ ai trên thế giới này’.”

“Vậy sao?” Một chút châm chọc tinh nghịch thoáng hiện trong giọng nói của Patsy. “Tiếc thật đấy, giá mà gã quản lý nghe được những lời này; biết đâu hắn sẽ cho anh cơ hội đóng thế vai Orlando ấy chứ.”

“Và em nghĩ anh bằng lòng đóng thế cho bất kỳ ai á? Này nhé, anh sắp sửa đá bay Orlando ra khỏi khu rừng Arden; anh sẽ lôi gã William Shakespeare khỏi mồ và bắt hắn viết lại toàn bộ vở kịch — giao vai chính cho một thợ hàn.”

“Và anh muốn hắn biến nó thành một vở bi kịch phăng-te-si chắc?”

“Làm sao mà bi kịch được khi rước một tên thợ hàn về ‘dù sướng khổ ra sao’?”

“Trời ạ! Thế thì còn tùy thuộc vào gã thợ hàn đó nữa.”

“Ô hay, hóa ra mọi chuyện đều tùy thuộc vào anh thợ hàn cơ đấy? Này, anh thợ hàn sẽ chứng minh điều ngược lại; anh xin cam đoan sẽ giữ cho vở kịch diễn trọn thành một vở hài kịch thuần túy cho đến tận hồi kết. Thế là quyết định xong nhé, tiểu thư Patricia O’Connell — hay còn gọi là Rosalind, hay còn gọi là nữ đầu bếp — hay còn gọi là Patsy — người bạn đồng hành tuyệt vời nhất mà một kẻ cô độc từng tìm thấy. Anh sẽ cưới em vào ngày kia, ngay tại khu rừng Arden này.”

Patsy đăm chiêu nhìn anh hồi lâu từ dưới bóng râm đầy quyến rũ của chiếc mũ vành bằng lụa trắng kết hoa ngô. “Thật là uổng phí khi phải làm nhụt chí một kẻ gan lợn tự phong làm... thợ hàn. Nhưng em sẽ không có mặt ở đây vào ngày kia đâu. Hơn nữa, kẻ nào lấy vợ chỉ vì cô đơn và vì cô ấy biết nấu ăn thì kẻ đó đúng là đồ ngốc.”

Đôi mắt anh thợ hàn lóe lên vẻ tinh nghịch. “Anh không biết nữa. Đàn ông đôi khi vẫn kết hôn vì những lý do ngớ ngẩn hơn thế nhiều.” Rồi đột nhiên anh trở nên nghiêm túc, ánh mắt xoáy sâu vào đôi mắt cô. “Nhưng em biết và anh cũng thừa biết đó không phải là lý do khiến anh muốn có em, hay lý do khiến em chấp nhận anh.”

“Em đâu có nói là em sẽ nhận lời anh.” Lần này đến lượt đôi mắt Patsy lấp lánh nét cười. “Anh nghĩ việc từ bỏ sự nghiệp của em lại dễ dàng thế sao — cái thành công lớn lao mà em hằng mong mỏi, phấn đấu và chờ đợi — chỉ vì... chỉ vì một tên thợ hàn ư? Em đúng là đồ ngốc nếu nghĩ đến chuyện đó.” Cô thầm mỉm cười trước khả năng hùng biện của chính mình, thứ đã biến những điều cô chẳng màng tới thành những chuyện quan trọng vô bờ bến.

Nhưng anh thợ hàn bật cười rạng rỡ. “Thế em vừa bảo ngày kia em sẽ có mặt ở đâu nhỉ?”

“Đó lại là một chuyện khác mà em không hề nói. Nếu anh muốn cưới em thì việc tìm ra em là bổn phận của anh đấy.” Cô giật tay ra và quay người bước đi mà không buồn liếc lại lấy một cái.

“Patsy, Patsy!” anh gọi với theo sau lưng cô, “em không muốn biết tên của người chồng sắp cưới của mình sao?”

Cô quay lại đối mặt với anh. Được bao bọc bởi vành lá xanh mướt của ngàn cây, cô hiện lên trong mắt anh chính là hiện thân của mùa hè tuổi trẻ — linh hồn tự do, phóng khoáng của Arden. Ngay từ lần gặp đầu tiên, anh đã ngày càng ý thức rõ hơn về con người cô: một bản năng tràn trề sức sống, xinh đẹp, dịu dàng, chưa từng bị vấy bẩn bởi những giông bão cuộc đời — luôn tin tưởng và xứng đáng để được tin cậy; nhưng phải đến khoảnh khắc này, anh mới thực sự nhận ra tiềm năng rực rỡ trong tương lai của cô. Và nhận thức ấy đã thổi bùng ngọn lửa tình yêu đang âm ỉ trong lòng, ánh lên qua từng ánh mắt và bờ môi. Anh dang rộng vòng tay hướng về phía cô với một lời khẩn cầu đầy tha thiết.

“Patsy — Patsy! Biết tên anh thì có thay đổi được gì không?”

“Tại sao lại phải thay đổi chứ?” cô thách thức đáp lời với vẻ đanh đá đầy điệu nghệ. “Em lấy con người anh chứ có lấy cái tên của anh đâu. Nếu em chịu đựng được con người anh, chắc em cũng ráng chịu đựng được cái tên ấy thôi. Dù sao thì nó cũng sẽ nằm trên giấy đăng ký kết hôn vào ngày kia, và ngần ấy thời gian là quá đủ rồi.”

“Em thực sựu định lấy một người đàn ông mà không hề biết tên tuổi, gia thế, thu nhập — hay bất cứ thứ gì về anh ấy sao...?”

“Đó mới là cách sống văn minh phải không nào? — tìm hiểu rõ mọi thứ trước tiên; rồi sau khi kết hôn mới thong thả làm quen với chồng mình cũng chưa muộn. Nhưng đó không phải là con đường dẫn lối ra khỏi khu rừng Arden — và chắc chắn đó không phải là cách của em. Em đã thấu hiểu người đàn ông của mình rồi — Chúa phù hộ cho anh ấy.” Và cô tung tăng chạy vút qua những tán cây rồi khuất dạng.

Anh thợ hàn dõi theo những hàng cây và bụi rậm đang khẽ lay động rồi khép lại che khuất lối đi của cô. Anh đứng lặng người đầy căng thẳng đến mức người ta có thể ngờ rằng anh đang dùng thứ phép thuật giản đơn của trái tim và ý chí để triệu hồi cô quay trở lại. Tuy nhiên, màn phù phép ấy lại mang đến kết quả đầy hụt hẫng; những lùm cây xanh lại rẽ ra, nhưng không phải để đưa Patsy trở lại. Thay vào đó, một người đàn ông bước ra khoảng trống, hướng về phía những cây sồi lớn, và chỉ một thoáng nhìn qua cũng đủ kéo ký ức anh thợ hàn quay ngược về một buổi chiều nọ tại ngã tư đường. Anh như thấy lại chính mình đang ngồi tựa vào cây cột mốc, dõi theo cánh cửa của một ngôi nhà thờ trắng nhỏ, trong khi ở phía con đường bên kia, một cỗ xe ngựa hai bánh đang lao đi rầm rập. Và kẻ cầm cương hôm đó — kẻ đang bám đuôi Patsy — chính là người đàn ông đang tiến về phía anh lúc này, với ánh mắt dò tìm... một ai đó.

“Anh có thấy...” hắn cất lời định hỏi, nhưng anh thợ hàn đã ngắt lời:

“Chắc là không rồi. Tôi đứng đây ngắm đoàn kịch giải tán nãy giờ. Khá là thú vị đối với những ai chưa quen với cảnh tượng ấy — anh có nghĩ vậy không?”

Hắn nheo mắt săm soi anh; rồi thận trọng làm ra vẻ hờ hững quá mức cần thiết. “Đúng thế thật — anh bạn trẻ. Này, anh có vô tình để ý kỹ hơn tới nữ chính của đoàn không đấy? Tôi cứ có cảm giác cô ấy là tuýp người dễ làm xiêu lòng các chàng trai,” rồi hắn dùng ngón tay cái thúc nhẹ vào người anh thợ hàn với vẻ cợt nhả.

Anh thợ hàn lập tức đáp lại bằng một điệu bộ cười ngốc nghếch. “Có lẽ là có; nhưng mà tôi đen đủi lắm. Chắc cô ấy đi cùng một đám bạn rồi. Tôi thấy họ đón cô ấy đi mất tăm trên một chiếc xe ô tô mui trần cỡ lớn — có lẽ giờ này họ đang thết tiệc cô ấy ở câu lạc bộ đồng quê rồi ấy chứ.”

Hắn chẳng buồn nán lại để tiếp tục trò chuyện xã giao. Hắn bước đi theo hướng mà anh thợ hàn vừa chỉ, và anh thợ hàn dõi theo bóng hắn khuất dần với tiếng cười khúc khích nén chặt trong lồng ngực.

“Đôi khi lịch sử cứ lặp lại một cách kỳ quặc thật đấy. Chà, nếu gã nhân viên đạo cụ kia nói chuẩn xác thì đoàn kịch chắc chắn đã rời khỏi Arden an toàn từ đời nào rồi, trước cả khi một chiếc xe mui trần kịp chạy đến câu lạc bộ đồng quê rồi quay lại đây.” Nhưng niềm vui thích của anh thợ hàn chẳng kéo dài được bao lâu. Với một tiếng kêu chế giễu, anh đấm mạnh một cách bực bội vào túi quần.

“Đúng là một thằng ngốc hết thuốc chữa! Tại sao quỷ tha ma bắt lại không đưa quách chúng cho hắn để chấm dứt cái trò thám tử này trước khi nó thực sự đẩy cô ấy vào rắc rối cơ chứ? Đúng là một hành động ngớ ngẩn... vô tích sự hết chỗ nói...” và dựa người vào cây gậy hành hương, anh lê bước chầm chậm theo chính con đường mà mình vừa chỉ cho gã kia.

Một tin tức cuối cùng liên quan đến Billy Burgeman đến tai Patsy trước khi cô rời khỏi Arden vào chiều hôm đó. Gregory Jessup có mặt ở nhà ga để tiễn cô, và anh kéo cô ra một góc trong khoảng thời gian ngắn ngủi trước khi tàu đến.

“Tôi đã rủ Billy đi cùng — nghĩ rằng việc gặp cô sẽ có ích cho cậu ấy; nhưng cậu ấy nhất quyết không chịu bước chân đi. Tôi đoán là cậu ấy vẫn còn chút cay đắng với phụ nữ. Cô hiểu ý tôi chứ, không có ý xúc phạm cá nhân gì đâu nhé?”

Patsy đương nhiên là hiểu rõ — thậm chí còn rõ hơn những gì bạn cậu ta tưởng tượng. Trong thâm tâm, cô đang cố hết sức để tỏ ra hào hứng và biết ơn Cậu ấm nhà giàu vì đóng góp vô tình của anh ta vào hạnh phúc của cô. Nếu không có anh ta, đã chẳng có cuộc hành trình nào, chẳng có con đường nào; và nếu không có con đường đó, sẽ chẳng có anh thợ hàn; và thiếu anh thợ hàn thì làm gì có hạnh phúc. Tuy nhiên, việc cố tỏ ra hứng thú lúc này quả là chẳng dễ dàng gì, nhất là khi tâm trí cô vừa từ bỏ công việc cô đơn là ngắm nhìn ký ức để chuyển sang thứ nghề thủ công kỳ diệu nhất của tâm hồn — xây dựng tương lai. Cô giật mình thu hồi tâm trí khi Gregory Jessup cất lời trở lại.

“Billy vừa kể cho tôi nghe lý do tại sao cậu ấy bỏ đi trước khi tôi xuống đây; và tôi muốn kể lại cho cô nghe. Cô không biết nhiều về tiếng tăm của ông già nhà cậu ấy đâu, nhưng ông ta nổi tiếng là người chủ cay nghiệt nhất đối với công nhân mà cô có thể tìm thấy ở bất cứ bờ bên nào của đại dương. Thuở ban đầu, ông ta phất lên bằng cách bóp nghẹt tiền lương và vắt kiệt sức lao động của công nhân — và chẳng màng chút tình nghĩa nào. Đó là châm ngôn của ông ta. Không biết ông ta duy trì điều đó vì thói quen hay vì bản tính cay độc thuần túy, nhưng đó chính là lý do thực sự khiến Billy không bao giờ muốn nhúng tay vào việc kinh doanh của gia đình — cậu ấy không thể chịu nổi sự keo kiệt tàn nhẫn ấy. Thư ký riêng của ông già đã làm giả một tấm séc trị giá mười ngàn đô; Billy phát hiện ra và tự mình thanh toán nó — để cứu gã thư ký. Cậu ấy gánh tội thay để bố mình không mỉm mai nghi ngờ gã đó rồi lùng sục truy cùng diệt tận.”

“Tôi biết,” Patsy nói, quên béng mất rằng theo lý ra cô chẳng hề hay biết gì về chuyện này. “Nhưng vì cớ quái gì mà gã thư ký lại phải đi làm giả séc cơ chứ?”

“Tại sao người ta lại làm giả séc chứ? Vì hắn túng tiền chứ sao. Lúc Billy bắt quả tang, gã già đó đã suy sụp hoàn toàn và kể một câu chuyện khá thương tâm. Cô thấy đấy, hắn đã làm thư ký cho Burgeman ngót nghét gần hai mươi năm, cống hiến những năm tháng đẹp nhất cuộc đời cho ông ta — làm trâu làm ngựa — nói dối thay ông ta — kiếm tiền về cho ông ta. Billy bảo bố cậu ta coi gã như một cỗ máy văn phòng xuất sắc, và đối xử với gã chẳng khác nào một món đồ vật. Khổ nỗi gã tội nghiệp ấy lại luôn gặp vận hạn xui xẻo; người vợ thì đau yếu bệnh tật, ba bốn đứa con thì lúc nào cũng cần tiền lo thuốc men, lại thêm đám họ hàng bên ngoại cứ nhe nanh đòi tiền trợ giúp mà hắn không tài nào từ chối nổi. Khoản tiền thuốc men, quần áo — cộng thêm đám họ hàng — khiến hắn chẳng tài nào tiết kiệm nổi một xu. Cuối cùng thì hắn kiệt sức, bác sĩ bảo hắn phải sống ngoài trời và tránh xa hoàn toàn áp lực khi phải phục vụ một kẻ như Burgeman — nếu không thì chuẩn bị sẵn hòm xiểng là vừa. Thế là hắn đến gặp Burgeman, xin ông ta cho vay tiền để đầu tư vào một trang trại trồng cây ăn quả, hứa sẽ trả dần bất cứ khi nào có thể.”

“Rồi sao nữa?” Cuối cùng thì Patsy cũng thấy hứng thú.

“Thì đấy, ông già từ chối phắt — quẳng vào mặt hắn cái câu châm ngôn ‘không tình nghĩa’ của lão, và nhún vai phớt lờ những gì bác sĩ đã nói. Lão bảo thẳng thừng rằng một kẻ không tiết kiệm nổi một xu trong suốt hai mươi năm thì cũng chẳng khá khẩm hơn trong hai mươi năm tới; và lão chỉ rót tiền vào những khoản đầu tư sinh lời thôi. Gã tội nghiệp bỏ đi trong cơn hoảng loạn, tự suy diễn rằng mình xứng đáng có được cơ hội cuối cùng ấy; và khi Billy nghe được câu chuyện, cậu ấy cũng nghĩ thế. Cuối cùng, Billy tự móc tiền túi thanh toán tấm séc, đưa số tiền đó cho gã thư ký, rồi cả hai cuốn gói đi nơi khác. Cậu ấy biết thừa rằng, nếu bố cậu ta mà mảy may nghi ngờ sự thật, lão sẽ cho người truy lùng gã tội nghiệp kia lôi cổ về chịu trừng phạt trước pháp luật — gã cùng toàn bộ gia đình không sót một ai.”

Patsy mỉm cười đầy vẻ tinh nghịch. “Nghe qua thì mọi chuyện thật đơn giản và dễ tin khi được giải thích tường tận; nhưng giá mà Billy Burgeman biết rằng từ ngay điểm xuất phát đã có ít nhất một người tin tưởng cậu ta mà chẳng cần đến bất kỳ lời giải thích nào thì tuyệt biết mấy.”

“Ai cơ?”

“Trời ạ! Sao tôi lại biết được chứ? Tôi đoán mò thế thôi.”

Nhưng khi bước lên tàu, Patsy thầm lầm bầm trong miệng: “Tụi mình coi như huề cả làng. Nếu cậu ta bỏ lỡ việc biết điều đó, thì tôi cũng bỏ lỡ việc được làm quen với một chàng trai tuyệt vời rồi.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.