Tôi từng hứa với Ántonia rằng mình sẽ quay lại, nhưng dòng đời xô đẩy, để rồi hai mươi năm trôi qua tôi mới thực hiện được lời hứa ấy. Thỉnh thoảng tôi vẫn nghe ngóng tin tức về cô; rằng chẳng bao lâu sau lần cuối chúng tôi gặp nhau, cô đã kết hôn với một thanh niên người Bohemia, họ hàng của Anton Jelinek; rằng gia cảnh họ nghèo khó và có một đàn con đông đúc. Một bận đi nước ngoài, tôi có ghé qua Bohemia, và từ Praha, tôi đã gửi tặng Ántonia mấy bức ảnh chụp ngôi làng chôn rau cắt rốn của cô. Vài tháng sau, tôi nhận được thư cô đáp lại, ghi rõ tên và tuổi của đám con đông đúc, còn lại chẳng có mấy tin tức khác; bức thư ký tên: “Bạn cũ của cậu, Ántonia Cuzak.” Lúc gặp Tiny Soderball ở Salt Lake, cô ấy bảo rằng cuộc đời Ántonia “không mấy khá giả”; chồng cô không phải là người tháo vát, và cô đã phải trải qua một cuộc sống nhọc nhằn. Có lẽ chính sự hèn nhát đã giữ chân tôi suốt bao năm dài đến thế. Công việc đưa tôi về miền Tây vài lần mỗi năm, và trong thâm tâm, tôi vẫn luôn tự nhủ thế nào cũng có ngày mình ghé qua Nebraska để thăm Ántonia. Nhưng tôi cứ khất lần khất lữa mãi cho đến chuyến đi tiếp theo. Tôi không muốn nhìn thấy một Ántonia già nua, tàn tạ; thực tình tôi rất sợ điều đó. Giữa dòng đời bận rộn suốt hai mươi năm, người ta phải chia tay với biết bao ảo ảnh. Tôi không muốn đánh mất những hoài niệm thuở ban đầu. Có những ký ức chính là hiện thực, và chúng tuyệt vời hơn bất cứ điều gì có thể xảy ra với một người về sau.
Tôi phải cảm ơn Lena Lingard vì cuối cùng tôi đã đến thăm Ántonia. Hai mùa hè trước, tôi có mặt ở San Francisco đúng lúc cả Lena và Tiny Soderball đều ở trong thành phố. Tiny sống trong ngôi nhà của riêng mình, còn cửa tiệm của Lena nằm ở một khu chung cư ngay sát góc phố. Sau bao năm cách biệt, việc nhìn thấy hai người phụ nữ ấy ở bên nhau khiến tôi rất đỗi thích thú. Thỉnh thoảng Tiny giúp Lena kiểm toán và đầu tư tiền bạc; bù lại, Lena có vẻ như luôn canh chừng để Tiny không trở nên quá keo kiệt. “Nếu có điều gì mà tôi không thể chịu đựng nổi,” cô ấy nói với tôi trước mặt Tiny, “đó chính là một người phụ nữ giàu có nhưng xuề xoà.” Tiny mỉm cười ý vị và quả quyết với tôi rằng Lena sẽ chẳng bao giờ chịu xuề xoà mà cũng chẳng bao giờ giàu nổi. “Và tôi cũng chẳng muốn giàu,” người kia thản nhiên hùa theo.
Lena kể cho tôi nghe về Ántonia với một giọng điệu vui vẻ và giục tôi hãy đến thăm cô ấy.
“Cậu thực sự nên đi đấy, Jim ạ. Điều đó sẽ mang lại niềm an ủi lớn lao cho cô ấy. Đừng bận tâm Tiny nói gì. Cuzak chẳng có vấn đề gì phải chăng cả. Cậu sẽ mến anh ta thôi. Anh ta không phải là kẻ chụp giật, nhưng một kẻ thô lỗ thì muôn đời không hợp với Tony đâu. Tony có những đứa con dễ thương — chắc bây giờ cũng phải mười một, mười hai đứa rồi ấy chứ. Bản thân tôi thì chẳng ham hố gì một gia đình đông đúc đến thế, nhưng ngẫm lại thì điều đó lại vừa vặn hoàn hảo với Tony. Cô ấy sẽ rất thích khoe chúng với cậu đấy.”
Trên đường trở về miền Đông, tôi dừng chân tại Hastings, bang Nebraska, rồi thuê một chiếc xe ngựa mui trần cùng một con tuấn mã khá tốt để lên đường tìm trang trại nhà Cuzak. Hơn trưa một chút, tôi biết mình sắp đến đích. Nằm khuất trên một dải đất nhô lên ở phía bên tay phải, tôi thấy một ngôi nhà trang trại rộng rãi, bên cạnh là một cái kho đỏ, một lùm cây tần bì, và những khu chuồng gia súc hướng mặt ra con đường cái quan. Tôi kéo cương dừng lại, đang phân vân không biết có nên đánh xe vào trong đó không thì nghe thấy những tiếng nói thì thầm. Phía trước mặt, trong một lùm mận sát vệ đường, tôi thấy hai cậu bé đang cúi lom khom bên xác một con chó. Cậu nhỏ hơn, chắc chỉ tầm bốn, năm tuổi, đang quỳ sụp xuống, hai tay chắp lại, cái đầu húi cua trọc lốc cúi gằm xuống vẻ vô cùng chán nản. Đứa lớn đứng bên cạnh, đặt một tay lên vai em, đang an ủi bằng một thứ ngôn ngữ mà lâu lắm rồi tôi không được nghe. Khi tôi dừng xe ngay sát bên họ, cậu anh nắm tay em bước về phía tôi. Trông cậu bé cũng vô cùng nghiêm túc. Rõ ràng đây là một buổi chiều buồn bã đối với bọn trẻ.
“Các cháu là con của bà Cuzak phải không?” tôi hỏi.
Cậu út không ngẩng đầu lên; chú bé đang chìm đắm trong nỗi buồn của riêng mình, nhưng người anh đã nhìn tôi bằng đôi mắt xám lanh lợi. “Dạ phải, thưa chú.”
“Mẹ cháu ở trên ngọn đồi kia phải không? Chú đang định đến thăm cô ấy đây. Lên xe đi cùng chú nào.”
Cậu bé liếc nhìn đứa em đang ngập ngừng. “Chắc chúng cháu đi bộ thôi ạ. Nhưng chúng cháu sẽ mở cổng cho chú.”
Tôi đánh xe đi theo con đường nhỏ còn bọn trẻ thong thả bước theo sau. Khi tôi dừng xe lại trước chiếc cối xay gió, một cậu bé khác đầu tóc xoăn tít, chân đất, từ trong chuồng chạy ra cột ngựa giúp tôi. Trông thằng bé thật khôi ngô, da trắng tàn nhang, má đỏ hây hây với một lớp lông tơ mịn màng dày như lông cừu non mọc lún phún sau gáy. Chỉ với hai động tác xoay tay thoăn thoắt, nó đã cột xong con ngựa, rồi gật đầu khi tôi hỏi mẹ nó có ở nhà không. Khi liếc nhìn tôi, khuôn mặt nó bỗng lúm đồng tiền với một nụ cười tinh nghịch bất chợt, rồi nó thoăn thoắt leo vút lên tháp cối xay gió với một vẻ nhanh nhẹn khiến tôi thấy có chút gì đó nghênh ngang. Tôi thừa biết nó đang lom khom nhìn xuống tôi từ trên cao khi tôi bước về phía ngôi nhà.
Đàn vịt và ngỗng kêu quạc quạc chạy cắt ngang lối đi. Những con mèo trắng đang nằm sưởi nắng giữa những quả bí ngô vàng óng trên bậc thềm hiên nhà. Tôi nhìn qua khung cửa lưới vào căn bếp rộng rãi, ngập tràn ánh sáng với sàn nhà lát gạch trắng. Tôi thấy một chiếc bàn dài, những dãy ghế gỗ kê sát tường, và một chiếc bếp lò sáng loáng ở góc phòng. Hai thiếu nữ đang đứng rửa bát bên bồn rửa, vừa cười nói rôm rả, còn một đứa bé gái mặc chiếc tạp dề ngắn đang ngồi trên chiếc ghế đẩu chơi với con búp bê giẻ rách. Khi tôi hỏi tìm mẹ chúng, một trong hai thiếu nữ buông chiếc khăn tay xuống, dùng đôi chân trần không một tiếng động bước vụt qua sàn nhà rồi biến khuất. Người chị lớn hơn, đi giày và tất hẳn hoi, ra tận cửa để đón tiếp tôi. Đó là một cô gái phúng phính với mái tóc và đôi mắt đen láy, điềm tĩnh và vô cùng chững chạc.
“Mời chú vào nhà ạ. Lát nữa là mẹ cháu ra ngay.”
Khoảnh khắc kỳ diệu ấy diễn ra còn trước khi tôi kịp ngồi xuống chiếc ghế cô bé vừa mời; đó là một trong những phút giây tĩnh lặng bóp nghẹt tâm can, đòi hỏi nhiều sự can đảm hơn cả những chốn ồn ào, náo nhiệt trong đời. Ántonia bước ra và đứng trước mặt tôi; một người phụ nữ vạm vỡ, ngực lép, mái tóc nâu xoăn đã điểm chút hoa râm. Đương nhiên là tôi không khỏi bàng hoàng. Gặp lại người quen sau bao năm dài cách biệt lúc nào cũng đem lại cảm giác ấy, nhất là khi họ đã trải qua một cuộc đời nhiều thăng trầm và vất vả như người phụ nữ này. Chúng tôi đứng lặng nhìn nhau. Ánh mắt đang đăm đăm nhìn tôi lo lắng ấy — suy cho cùng vẫn chính là ánh mắt của Ántonia. Từ lần cuối nhìn vào đôi mắt ấy cho đến nay, dẫu đã ngắm qua bao vạn khuôn mặt người, tôi chưa từng thấy ánh mắt nào giống như vậy. Khi tôi đối mặt với cô, những đổi thay phai nhạt dần trong tôi, và bản ngã của cô trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Cô đang đứng đó, với trọn vẹn sức sống mãnh liệt của mình, dẫu tơi tả nhưng không hề suy suyển, đang nhìn tôi, đang nói với tôi bằng chất giọng khàn khàn, hơi thở gấp gáp mà tôi nhớ đến khắc ghi.
“Chồng tôi không có nhà, thưa anh. Tôi có thể giúp gì được cho anh không?”
“Cậu không nhận ra tôi à, Ántonia? Tớ thay đổi nhiều đến thế cơ à?”
Cô cau mày nheo mắt trước luồng ánh sáng mặt trời xiên khoai khiến mái tóc nâu trông đỏ hơn thực tế. Bỗng nhiên mắt cô mở to, cả khuôn mặt như dãn ra rộng hơn. Cô nín thở rồi chìa ra hai bàn đảo đã hằn in vết sương gió.
“Ối chao, là Jim đấy ư! Anna, Yulka mau ra đây, anh Jim Burden đây mà!” Cô vừa tóm chặt lấy tay tôi vừa lộ vẻ hoảng hốt. “Có chuyện gì thế hả? Có ai bề gì sao?”
Tôi vỗ nhẹ lên cánh tay cô.
“Không. Lần này tôi không đến để dự đám tang đâu. Tôi xuống tàu ở Hastings rồi đánh xe đến đây thăm cô và gia đình đây.”
Cô buông tay tôi ra và bắt đầu cuống cuồng chạy đi chạy lại. “Anton, Yulka, Nina, tụi mày đâu hết rồi? Anna, chạy đi tìm mấy đứa con trai mau. Chúng nó lại đi lùng con chó ở xó xỉnh nào rồi kìa. Cả gọi thằng Leo về nữa. Thằng Leo đâu rồi cơ chứ!” Cô lùa tụi nhỏ ra từ mấy xó xỉnh rồi gom chúng lại giống như một con mèo mẹ đang lùa bầy mèo con. “Chắc anh không phải đi ngay đâu đấy, Jim? Thằng con cả của tôi không có nhà. Nó đi hội chợ phố ở Wilber cùng tía nó rồi. Tôi không cho anh đi đâu! Anh phải ở lại gặp thằng Rudolph và tía mấy đứa nhỏ chứ.” Cô nài nỉ nhìn tôi, thở hổn hển vì quá đỗi phấn khích.
Trong lúc tôi trấn an cô và bảo rằng thời gian còn rủng rỉnh chán, mấy đứa con trai chân đất từ ngoài sân đã lủ lượt lách vào bếp và vây quanh mẹ.
“Nào, kể tên và tuổi của tụi nhỏ cho tôi nghe xem nào.”
Khi lần lượt đếm tên từng đứa, cô nhầm lẫn tuổi tác đến mấy lần khiến tụi nhỏ được dịp cười phá lên. Đến lượt cậu bạn chân són chân thoăn thoắt ở cối xay gió, cô bảo: “Đây là thằng Leo, nó đủ lớn để biết điều hơn là cái nết hay quậy phá của nó đấy.”
Thằng bé chạy ào lại chỗ mẹ, dùng cái đầu xoăn tít húc húc vào người cô một cách tinh nghịch như một chú cừu non, nhưng giọng nói thì có vẻ vô cùng tuyệt vọng. “Mẹ quên mất tiêu rồi! Lúc nào mẹ cũng quên con hết. Tệ thật đấy! Mẹ nói cho chú ấy nghe đi!” Nó giậm chân ấm ức rồi ngước lên nhìn mẹ đầy khẩn nix.
Cô xoắn ngón trỏ vào mớ tóc xoăn vàng của nó rồi kéo nhẹ, vừa nhìn con vừa cười. “Thế mày bao nhiêu tuổi rồi hả?”
“Con mười hai tuổi,” nó thở hổn hển, mắt không nhìn tôi mà dán chặt vào mẹ; “con mười hai tuổi rồi, và con sinh vào đúng ngày Lễ Phục sinh!”
Cô gật đầu xác nhận với tôi. “Đúng thế đấy. Nó là đứa trẻ sinh vào ngày Lễ Phục sinh.”
Lũ trẻ đều đăm đăm nhìn tôi, cứ như thể chúng đang mong chờ tôi bày tỏ sự ngạc nhiên hay thích thú trước thông tin này. Rõ ràng chúng rất tự hào về nhau, và tự hào vì nhà mình có đông anh em đến vậy. Sau màn chào hỏi giới thiệu xong xuôi, Anna, người chị cả đã đón tôi ngoài cửa, nhẹ nhàng tản đám trẻ ra rồi cầm một chiếc tạp dề trắng buộc vàohông cho mẹ.
“Thôi, mẹ ngồi xuống nói chuyện với chú Burden đi ạ. Mấy chị em cháu sẽ dọn nốt đống bát đĩa thật khẽ để không làm phiền hai người.”
Ántonia ngơ ngác đảo mắt xung quanh. “Ừ, con bé này, nhưng sao chúng ta không mời chú ấy ra phòng khách nhỉ, dù gì nhà mình bây giờ cũng có một phòng khách hẳn hoi để tiếp khách cơ mà?”
Cô con gái cười xòa chiều chuộng mẹ, rồi tiện tay cầm lấy chiếc mũ của tôi. “Thôi, mẹ cứ ở đây đi ạ, mẹ mà ngồi đây thì cả Yulka với cháu cũng được hóng chuyện cùng. Lát nữa hẵng hay.” Cô mỉm cười với tôi rồi quay lại bồn rửa bát cùng cô em. Con bé út ôm búp bê giẻ rách tìm được một chỗ ngồi trên bậc thềm thấp của cầu thang xoắn phía sau, thu mình lại, ngước nhìn chúng tôi đầy mong đợi.
“Nó tên là Nina, đặt theo tên của cô Nina Harling đấy,” Ántonia giải thích. “Mắt nó có giống mắt cô Nina không cơ chứ? Thật tình mà nói, Jim ạ, tôi yêu quý tụi trẻ nhà anh chị bao nhiêu thì cũng yêu thương con cái mình bấy nhiêu. Mấy đứa nhỏ nhà tôi đứa nào cũng biết tường tận chuyện về anh, về Charley với Sally, cứ như thể chúng cùng lớn lên với các anh chị vậy. Tôi cuống cuồng quá chẳng biết phải mở lời từ đâu nữa. Hơn nữa, tiếng Anh của tôi cũng rơi rụng đi nhiều rồi. Dạo này tôi có mấy khi dùng đến nó đâu. Toàn bảo với lũ trẻ là ngày trước tôi nói tiếng Anh giỏi lắm đấy nhé.” Cô bảo ở nhà cả nhà toàn nói tiếng Bohemia. Mấy đứa nhỏ hoàn toàn không biết tiếng Anh — phải đến lúc đi học chúng mới bắt đầu được học.
“Tôi không thể tin được là anh đang ngồi đây, ngay trong căn bếp nhà tôi đấy. Chắc anh chẳng nhận ra tôi nữa phải không, Jim? Anh vẫn giữ được vẻ trẻ trung quá. Nhưng đàn ông thì dễ thế hơn. Chẳng hiểu sao tôi nhìn thấy anh Anton chẳng già đi tẹo nào so với hồi chúng tôi cưới nhau. Răng anh ấy vẫn đẹp nguyên. Răng tôi thì rụng gần hết rồi. Nhưng tôi vẫn thấy mình trẻ trung như ngày nào, và vẫn làm lụng khỏe re. Ồ, bây giờ chúng tôi đâu phải quăng quật vất vả thế nữa! Nhà có khối người phụ giúp vợ chồng tôi cơ mà. Thế còn anh, anh có mấy mặt con rồi, Jim?”
Khi tôi bảo mình không có đứa con nào, cô tỏ vẻ ngượng ngùng. “Ối chao, tiếc thế nhỉ! Hay là bây giờ anh bế tạm một đứa hư đốn nhà tôi về nuôi nhé? Thằng Leo kia kìa; nó là đứa nghịch ngợm nhất nhà đấy.” Cô nghiêng người về phía tôi mỉm cười. “Thế mà tôi lại cưng nó nhất đấy,” cô thì thầm.
“Mẹ kìa!” hai cô con gái trách yêu từ bên bồn rửa bát.
Ántonia ngẩng đầu cười lớn. “Biết làm sao được. Tụi bay thừa biết là tao thiên vị nó mà. Chắc tại nó sinh vào ngày Lễ Phục sinh, tôi cũng chịu. Mà lúc nào nó cũng gây chuyện quậy phá không chịu ngồi yên một phút!”
Vừa ngắm nhìn cô, tôi vừa thầm nghĩ những thứ như hàm răng sứt mẻ của cô có sá gì đâu. Tôi biết bao nhiêu người phụ nữ giữ lại được tất cả những thứ mà cô đã đánh mất, nhưng ánh lửa trong tâm hồn họ thì đãụ lụi tàn. Dù có mất đi bất cứ thứ gì đi chăng nữa, Ántonia chưa bao giờ đánh mất ngọn lửa của sự sống. Làn da rám nắng, chai sần của cô không hề có vẻ nhão nhoét, hệt như nhựa sống bên trong chưa từng bị ai len lén rút cạn.
Trong lúc chúng tôi đang chuyện trò, cậu con trai tên là Jan bước vào và ngồi xuống bậc thềm cạnh Nina, dưới vòm cầu thang. Nó mặc một chiếc tạp dề vải sọc dài trông ngộ nghĩnh như một chiếc áo blouse trùm ngoài quần, đầu thì được hói sát đến mức trông trọc lơ và trắng hếu. Nó cứ đăm đăm nhìn chúng tôi bằng đôi mắt xám to tròn, đượm buồn.
“Nó muốn kể cho mẹ nghe về con chó đấy ạ. Tụi nó tìm thấy nó chết rồi,” Anna vừa nói vừa đi ngang qua chúng tôi để tới chỗ tủ chén.
Ántonia ra hiệu gọi cậu bé lại gần. Nó đứng bên ghế mẹ, gác khuỷu tay lên đầu gối cô và mân mê dải buộc tạp dề bằng những ngón tay mảnh khảnh, rồi thì thầm kể lại câu chuyện bằng tiếng Bohemia. Những giọt nước mắt chực trào rưng rưng đọng lại trên hàng mi dài của nó. Người mẹ chăm chú lắng nghe, dịu dàng trấn an con và thì thầm hứa hẹn điều gì đó khiến nó chợt nở nụ cười rạng rỡ đẫm nước mắt. Nó lủi đi và thầm thì bí mật của mình với Nina đang ngồi sát bên, che miệng thì thầm sau bàn tay.
Khi Anna dọn dẹp xong xuôi và rửa tay sạch sẽ, cô bước lại đứng sau lưng ghế mẹ. “Sao chúng ta không dẫn chú Burden đi xem hầm hoa quả mới của nhà mình nhỉ?” cô đề xuất.
Chúng tôi bắt đầu đi băng qua sân với đám trẻ bám rít gót chân. Mấy đứa con trai đang đứng cạnh cối xay gió bàn tán về con chó; vài đứa chạy vụt lên trước để mở cửa hầm. Khi chúng tôi bước xuống, tất cả đều lũ lượt kéo theo sau, đứa nào cũng ra vẻ tự hào về căn hầm chẳng kém gì mấy cô con gái.
Ambrosch, đứa con trai có vẻ trầm ngâm suy tư đã chỉ đường cho tôi ở lùm mận lúc nãy, kéo sự chú ý của tôi vào những bức tường gạch kiên cố và sàn láng xi măng. “Vâng, nó nằm hơi xa nhà một chút ạ,” chú bé thừa nhận. “Nhưng chú thấy đấy, vào mùa đông lúc nào cũng có vài người trong nhà quanh quẩn ở đây để ra lấy đồ đạc.”
Anna và Yulka chỉ cho tôi ba chiếc chum nhỏ; một chum đầy dưa chuột muối chua, một chum đầy dưa chuột băm muối, và một chum đầy vỏ dưa hấu ngâm chua.
“Anh không thể tưởng tượng nổi nuôi từng này miệng ăn thì tốn kém thế nào đâu, Jim ạ!” mẹ chúng thốt lên. “Anh phải tận mắt chứng kiến lượng bánh mì mà chúng tôi nướng vào các ngày thứ Tư và thứ Bảy ấy! Thảo nào tội nghiệp tía chúng nó làm hoài chẳng giàu nổi, phải tẻ khối tiền mua đường để nhà tôi làm mứt. Lúa mì thì nhà tự xay thành bột đấy — nhưng bù lại số đem bán được sẽ ít đi bấy nhiêu.”
Nina, Jan cùng một cô bé tên là Lucie cứ rụt rè chỉ cho tôi xem những chiếc kệ bày đầy lọ thủy tinh. Chúng chẳng nói năng gì, chỉ liếc nhìn tôi rồi dùng đầu ngón tay vẽ theo đường viền những quả anh đào, dâu tây và táo dại bên trong qua lớp kính, cố gắng dùng biểu cảm rạng rỡ hạnh phúc để cho tôi thấy chúng ngon lành đến nhường nào.
“Mẹ cho chú xem mấy hũ mận tẩm gia vị đi mẹ. Người Mỹ không có món đó đâu ạ,” một đứa con trai lớn lên tiếng.
Leo hạ thấp giọng chêm vào vài câu đầy vẻ khinh khỉnh bằng tiếng Bohemia.
Tôi quay sang nó. “Cậu tưởng tôi không biết bánh kolaches là gì chắc? Cậu lầm to rồi đấy, chàng trai trẻ ạ. Tôi đã được ăn bánh kolaches do tay mẹ cậu làm từ lâu lắm rồi, trước cả cái ngày Lễ Phục sinh mà cậu ra đời cơ.”
“Lúc nào cũng lanh chanh hết biết,” Ambrosch nhún vai bình luận.
Leo lẩn ngay ra sau lưng mẹ và nhăn nhở cười hềnh hệch nhìn tôi.
Chúng tôi quay người bước ra khỏi hầm; Ántonia và tôi đi lên trước, lũ trẻ chờ sẵn ở phía sau. Khi chúng tôi đứng bên ngoài chuyện trò, tất cả lũ trẻ từ lớn đến bé, tóc vàng hoe, tóc vàng óng cho đến tóc nâu, cùng những đôi chân trần thoăn thoắt đều ùa chạy lên bậc thềm; hệt như một vụ nổ của sự sống từ trong lòng hầm tối tăm bừng sáng ra dưới ánh mặt trời. Cảnh tượng ấy khiến tôi choáng váng trong giây lát.
Mấy đứa con trai hộ tống chúng tôi ra phía mặt tiền của ngôi nhà mà tôi vẫn chưa có dịp ngắm nhìn; ở những căn nhà trang trại, chẳng hiểu sao người ta cứ ra vào bằng cửa sau là chính. Mái nhà dốc đến nỗi phần hiên ló ra gần như che khuất cả một rừng hoa thăng quỳ cao ngất giờ đã ngả màu nâu và đơm đầy hạt. Ántonia bảo suốt tháng Bảy, ngôi nhà như chìm ngập trong sắc hoa ấy; tôi nhớ người Bohemia lúc nào cũng thích trồng hoa thăng quỳ. Khoảng sân trước được vây quanh bởi một hàng rào gai ba lá, và ngay cổng mọc lên hai cái cây bạc màu trông tựa những con bướm thuộc họ trinh nữ. Từ đây phóng tầm mắt xuống, người ta có thể nhìn thấy khu chuồng gia súc với hai cái ao dài, cùng một khoảng đồng rạ rộng thênh thang mà tụi nhỏ bảo mùa hè chính là cánh đồng lúa mạch đen.
Cách nhà một quãng về phía sau là lùm cây tần bì và hai vườn cây ăn quả: một vườn anh đào với những luống lý chua ta và lý chua đen xen giữa các hàng, và một vườn táo được che chắn cẩn thận bởi một hàng rào cao để chống lại những cơn gió nóng. Đám trẻ lớn quay gót trở lại khi chúng tôi đi đến sát hàng rào, nhưng Jan, Nina và Lucie lại luồn qua một chiếc lỗ chỉ riêng chúng biết để ẩn nấp dưới những tán dâu tây thấp lè tè.
Khi chúng tôi đi xuyên qua khu vườn táo mọc đầy cỏ lồng vực cao ngút, Ántonia cứ liên tục dừng lại để kể cho tôi nghe về từng gốc cây một. “Tôi yêu quý chúng hệt như con người vậy,” cô vừa nói vừa xoa bàn tay lên lớp vỏ sần sùi. “Hồi chúng tôi mới đến đây, quanh đây chẳng có lấy một bóng cây. Tất cả đều do một tay chúng tôi vun trồng, lại còn phải gánh nước tưới cho chúng nữa chứ — sau một ngày dài quần quật làm việc ngoài đồng. Tía chúng nó vốn là người thành phố nên đôi lúc hay nản lòng. Nhưng dù có mệt mỏi thế nào đi nữa, tôi vẫn không thể dửng dưng mà lo lắng khôn nguôi cho mấy cái cây này mỗi khi hạn hán kéo dài. Chúng cứ canh cánh trong lòng tôi hệt như tụi nhỏ vậy. Đêm nào chồng tôi đã chìm vào giấc ngủ, tôi cũng lén dậy xách nước tưới cho đám tội nghiệp ấy. Và giờ thì anh thấy đấy, chúng ta đã được hưởng thành quả. Chồng tôi từng làm việc trong các vườn cam ở Florida nên anh ấy rành rẽ mọi kỹ thuật ghép cây. Xung quanh đây chẳng có nhà hàng xóm nào có vườn cây ăn quả cho năng suất trọn vẹn như nhà chúng tôi đâu.”
Giữa vườn táo, chúng tôi bắt gặp một giàn nho, dọc hai bên có kê sẵn ghế ngồi và một chiếc bàn gỗ cong vênh. Ba đứa nhỏ đang chờ sẵn ở đó. Chúng ngước nhìn tôi bẽn lẽn rồi thưa thỉnh mẹ điều gì đó.
“Chúng muốn tôi kể cho anh nghe về việc cô giáo thường tổ chức buổi dã ngoại của trường ở đây vào mỗi năm như thế nào. Mấy đứa này chưa đến tuổi đi học nên chúng cứ tưởng mọi thứ đều vui như buổi dã ngoại vậy.”
Sau khi tôi đã hết lời khen ngợi giàn hoa, lũ trẻ liền chạy tót đến một bãi đất trống mọc đầy hoa cẩm chướng Pháp hoang dã, tụm năm tụm ba ngồi xổm xuống giữa đám cỏ, bò lê bò lườn rồi dùng sợi dây để đo đạc.
“Thằng Jan muốn chôn con chó ở chỗ đó,” Ántonia giải thích. “Tôi đành phải chiều ý nó. Nó có nét tính cách hệt như cô Nina Harling ngày trước; anh còn nhớ cô ấy hay để tâm mấy chuyện vặt vãnh đến mức nào không? Nó có mấy cái suy nghĩ ngộ nghĩnh y hệt cô ấy vậy.”
Chúng tôi ngồi xuống và lặng ngắm nhìn tụi nhỏ. Ántonia tì khuỷu tay lên mặt bàn. Khung cảnh trong vườn táo tràn ngập một sự bình yên sâu lắng đến lạ kỳ. Nơi này được bao bọc bởi một lớp rào ba tầng; ngoài cùng là hàng rào dây thép gai, tiếp đến là hàng rào cây gai ba lá, và trong cùng là hàng rào dâu tằm giúp chắn những cơn gió nóng mùa hè đồng thời giữ lại lớp tuyết ấm áp cho mùa đông. Các hàng rào mọc cao ngút tầm mắt khiến chúng tôi chẳng thấy gì ngoài bầu trời xanh thẳm phía trên, không thấy cả mái kho lẫn cối xay gió. Ánh nắng buổi chiều rọi thẳng xuống chúng tôi qua những tán lá nho đang héo dần. Khu vườn táo ngập tràn nắng vàng hệt như một chiếc cốc đầy, thoang thoảng hương táo chín thơm lừng trên cành. Những trái táo dại chi chít bám trên cành trông như chuỗi hạt cườm, mang sắc đỏ thẫm phủ một lớp màng bạc mỏng manh. Vài con gà và vịt đã luồn qua kẽ rào để mổ những quả táo rụng. Đám vịt trống trông thật oai vệ, thân mang sắc xám ánh hồng, phần đầu và cổ phủ đầy những chiếc lông xanh óng ánh sắc cầu vồng mọc dày dặn, chuyển sang sắc xanh biếc hệt như cổ công. Ántonia bảo chúng lúc nào cũng gợi cô nhớ đến những người lính — về một bộ quân phục nào đó mà cô từng nhìn thấy ở quê nhà khi còn là một đứa trẻ.
“Bây giờ quanh đây còn con chim cút nào không cô?” tôi hỏi. Tôi nhắc cô nhớ lại hồi mùa hè cuối cùng trước khi chúng tôi chuyển lên thị trấn, cô thường hay đi săn cùng tôi thế nào. “Hồi đó thiện xạ ra phết đấy chứ, Tony ạ. Cậu còn nhớ mình từng nài nỉ trốn đi bắn vịt cùng tớ và Charley Harling không?”
“Tôi nhớ chứ, nhưng bây giờ thì tôi sợ nhìn thấy súng ống lắm rồi.” Cô nhặt một con vịt đực lên và dùng ngón tay vuốt ngược bộ lông vũ xanh ngắt trên đầu nó. “Từ ngày có con đến giờ, tôi chẳng muốn tước đoạt sinh mạng của bất cứ thứ gì nữa. Cứ nghĩ đến cảnh vặn cổ một con ngỗng già là tôi lại thấy xây xẩm mặt mày. Lạ lắm phải không, Jim?”
“Tớ thấy bình thường mà. Nữ hoàng Ý trẻ tuổi cũng từng nói y như vậy với một người bạn của tớ. Trước kia ngài ấy là một thợ săn cự phách, nhưng giờ thì cũng có cảm giác giống như cậu, và chỉ bắn chim bồ câu đất thôi.”
“Thế thì tôi dám chắc ngài ấy là một người mẹ tốt,” Ántonia ấm áp đáp lời.
Cô kể cho tôi nghe về việc cô và chồng đã đến vùng đất mới này như thế nào, hồi mà đất đai nông nghiệp còn rẻ mạt và có thể trả góp dễ dàng. Mười năm đầu tiên là một cuộc đấu tranh gian khổ. Chồng cô chẳng biết gì về nghề làm ruộng và thường xuyên nản lòng. “Chúng tôi chẳng thể trụ vững nổi nếu tôi không có sức vóc. Ơn Chúa là tôi luôn có sức khỏe tốt, nhờ thế mà tôi có thể phụ giúp anh ấy làm đồng áng mãi cho đến sát ngày sinh tụi nhỏ. Tụi lớn biết bảo ban nhau chăm sóc các em rất ngoan. Con bé Martha, đứa mà anh nhìn thấy hồi nó còn ẵm ngửa ấy, đã phụ giúp tôi rất nhiều, và nó còn huấn luyện cho Anna tháo vát y hệt như nó vậy. Con bé Martha nhà tôi bây giờ lấy chồng rồi và cũng đã sinh con đầu lòng. Anh thử nghĩ xem, Jim!”
“Không, chưa bao giờ tôi nản lòng cả. Anh Anton là một người tốt, tôi yêu thương con cái và luôn tin rằng chúng sẽ nên người. Tôi sinh ra là để gắn bó với đồng ruộng. Sống ở đây tôi chưa từng thấy cô đơn hệt như hồi ở thị trấn. Anh còn nhớ những cơn buồn chán đến ngẩn ngơ mà tôi từng mắc phải ngày trước không, những lúc chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra với mình ấy? Ra đây rồi tôi chẳng bao giờ bị thế nữa. Và tôi chẳng ngán việc gì sất, miễn là không phải chịu đựng nỗi buồn.” Cô chống cằm nhìn đăm đăm xuống khu vườn táo, nơi ánh nắng chiều đang ngả dần sang sắc vàng óng ả.
“Lẽ ra cậu không bao giờ nên lên thị trấn mới phải, Tony ạ,” tôi ngạc nhiên thốt lên.
Cô hào hứng quay sang phía tôi.
“Ôi, tôi lại thấy mừng vì mình đã đi đấy chứ! Nếu không có lần đó thì đời nào tôi biết nấu nướng hay tề gia nội trợ là gì. Tôi đã học được những nếp sống tao nhã ở nhà Harlings, nhờ thế mà tôi mới có thể nuôi dạy con cái chu đáo hơn nhiều. Anh có nghĩ tụi nhỏ nhà tôi ngoan ngoãn so với lũ trẻ vùng quê khác không? Nếu không nhờ những gì bà Harling dạy dỗ, có khi tôi đã thả tụi nó lớn lên như lũ thỏ rừng rồi cũng nên. Không đâu, tôi mừng vì mình đã có cơ hội học hỏi; nhưng tôi cũng thầm tạ ơn vì các cô con gái của tôi sau này sẽ chẳng đứa nào phải đi làm thuê làm mướn vất vả nữa. Cái thói hư tật xấu của tôi chính là việc không bao giờ có thể tin rằng những người mình yêu thương lại có thể làm điều xấu xa, Jim ạ.”
Trong lúc chúng tôi đang chuyện trò, Ántonia quả quyết rằng cô có thể giữ tôi lại ngủ qua đêm. “Nhà tôi thừa chỗ mà. Mấy đứa con trai vẫn thường ngủ ở gác xéo chứa cỏ khô cho đến khi trời trở lạnh, nhưng bây giờ thì chẳng cần thiết thế đâu. Thằng Leo lúc nào cũng nài nỉ được ngủ ở đó, còn Ambrosch thì đi theo để canh chừng nó.”
Tôi bảo cô rằng tôi rất thích được ngủ trên gác xéo cùng lũ trẻ.
“Anh muốn sao cũng được cả. Rương lúc nào cũng đầy chăn sạch cất đi để dành cho mùa đông. Bây giờ tôi phải đi đây, nếu không mấy đứa con gái lại gánh hết việc mất, mà tôi thì muốn tự tay nấu bữa tối cho anh cơ.”
Khi chúng tôi đi về phía ngôi nhà, chúng tôi gặp Ambrosch và Anton đang xách xô đi lùa bò về chuồng. Tôi nhập đoàn cùng hai cậu bé, còn Leo thì cứ chạy tùng tùng đằng trước cách một quãng, thỉnh thoảng lại nhổm dậy từ mấy lùm cỏ dại gọi với lại: “Con là thỏ rừng đây,” hay “Con là một con rắn hổ mang lớn đây.”
Tôi đi ở giữa hai cậu con trai lớn — những thanh niên vóc dáng ngay ngắn, cân đối với cái đầu thông minh và đôi mắt sáng. Chúng trò chuyện về trường lớp, về cô giáo mới, kể cho tôi nghe về mùa màng, vụ gặt, và số lượng bò thịt mà chúng sẽ vỗ béo trong mùa đông tới. Chúng tỏ ra thoải mái và cởi mở với tôi, hệt như thể tôi là một người bạn lâu năm của gia đình — mà lại chưa quá già. Đi bên cạnh chúng, tôi có cảm giác mình cũng chỉ là một thiếu niên, và bao nhiêu sở thích tưởng chừng đã ngủ quên bỗng chốc trỗi dậy trong tôi. Hóa ra, việc bước đi dọc theo hàng rào thép gai dưới ánh hoàng hôn hướng về phía cái ao đỏ quạch, rồi nhìn cái bóng của mình ngả dài sang bên phải trên thảm cỏ cắt tỉa gọn gàng lại mang một vẻ tự nhiên đến thế.
“Mẹ đã cho anh xem mấy bức ảnh anh gửi từ quê nhà chưa?” Ambrosch hỏi. “Chúng cháu đem lộng khung và treo cả trong phòng khách rồi đấy. Mẹ vui lắm khi nhận được chúng. Cháu chưa bao giờ thấy mẹ mừng rỡ đến thế vì bất cứ điều gì.” Giọng nói cậu bé phảng phét một sự biết ơn chân thành khiến tôi thầm ước mình giá như nên tặng cô nhiều thứ hơn thế.
Tôi đặt tay lên vai cậu bé. “Cậu biết không, mẹ cháu từng được tất cả chúng tôi vô cùng yêu mến. Cô ấy là một thiếu nữ rất xinh đẹp.”
“Ôi, tụi cháu biết chứ!” Cả hai đứa cùng lên tiếng; có vẻ hơi ngạc nhiên khi tôi lại thấy cần thiết phải nhắc đến điều đó. “Ai mà chẳng quý mến mẹ cháu phải không chú? Nhà Harlings, bà của chú, và cả mọi người ở thị trấn nữa.”
“Đôi khi,” tôi ngập ngừng nói, “lũ con trai thường không nghĩ rằng mẹ chúng cũng từng có những năm tháng trẻ trung và xinh đẹp.”
“Ôi, tụi cháu biết thừa chứ!” tụi nó lại nhiệt thành đáp lời. “Bây giờ mẹ cháu cũng có già lắm đâu,” Ambrosch nói thêm. “Chẳng lớn hơn chú là bao.”
“Thế thì,” tôi bảo, “nếu tụi cháu không đối xử tử tế với mẹ, chú sẽ cầm gậy đến tẩn cho một trận đấy. Chú không thể chịu nổi nếu tụi cháu vô tâm hoặc xem mẹ chỉ như một kẻ ăn kẻ ở chuyên lo lắng cho tụi cháu đâu. Cháu thấy đấy, chú từng say đắm mẹ cháu một thời, và chú thừa biết chẳng có ai trên đời này sánh bằng cô ấy cả.”
Lũ trẻ cười vang, vừa có vẻ hào hứng lại vừa ngượng ngùng.
“Mẹ chưa bao giờ kể chuyện đó cho tụi cháu nghe cả,” Anton nói. “Nhưng lúc nào mẹ cũng nhắc nhiều về chú, và kể về những khoảng thời gian vui vẻ ngày trước. Mẹ còn giữ một tấm ảnh cắt từ tờ báo Chicago hồi xưa, còn Leo thì bảo nó nhận ra ngay chú khi chú đánh xe đến cối xay gió đấy. Mà cũng chẳng chắc được đâu chú ạ, thỉnh thoảng thằng Leo cứ thích ra vẻ thông minh thế đấy.”
Chúng tôi lùa đàn bò về đến góc gần chuồng nhất, và tụi nhỏ bắt đầu vắt sữa trong lúc màn đêm buông xuống. Mọi thứ đều vô cùng trọn vẹn: mùi hương nồng đượm của hoa hướng dương và cỏ dại trong sương đêm, bầu trời xanh ngắt ánh vàng, ngôi sao hôm, tiếng sữa bắn vào xô lách tách đều đặn, tiếng ục ục và tiếng ré lên của bầy lợn đang tranh nhau bữa tối. Tôi bắt đầu cảm nhận được sự cô quạnh của những đứa trẻ nhà nông khi chiều tà buông xuống, lúc mà công việc nhà cứ lặp đi lặp lại mãi không dứt và thế giới ngoài kia thì quá đỗi xa xôi.
Bữa tối quây quần mới đông đúc làm sao: hai hàng đầu tóc nhốn nháo dưới ánh đèn lam, và biết bao đôi mắt háo hức dán chặt vào Ántonia khi cô ngồi ở đầu bàn, múc đầy đĩa thức ăn và chuyền tay nhau những món ăn. Lũ trẻ ngồi theo một trật tự nhất định; một đứa nhỏ ngồi cạnh một đứa lớn hơn để có trách nhiệm canh chừng hành vi và đảm bảo nó được ăn uống đầy đủ. Anna và Yulka thỉnh thoảng lại rời ghế để bưng những đĩa bánh kolaches mới nướng cùng những bình sữa đầy ắp ra bàn.
Ăn tối xong, chúng tôi dắt nhau ra phòng khách để Yulka và Leo chơi đàn cho tôi nghe. Ántonia đi đầu, tay cầm chiếc đèn lọi. Ghế trong phòng không đủ cho tất cả mọi người nên mấy đứa nhỏ đành ngồi bệt xuống sàn nhà trống trải. Bé Lucie thì thầm vào tai tôi rằng chúng sẽ được mua một tấm thảm phòng khách nếu bán được lúa mì với giá chín mươi xu. Leo sau một hồi lục đục vật lộn cũng lôi được chiếc vĩ cầm ra. Đó là cây đàn của ông cụ Shimerda mà Ántonia vẫn luôn gìn giữ cẩn thận, khổ nỗi nó lại quá khổ so với cậu bé. Dù vậy, đối với một đứa trẻ tự học thì cậu chơi khá mượt mà. Về phần tội nghiệp Yulka thì những nỗ lực của con bé không mấy suôn sẻ cho lắm. Trong lúc hai chị em đang biểu diễn, bé Nina bỗng đứng dậy khỏi góc phòng, bước thẳng ra giữa nhà và bắt đầu nhún nhảy những bước vô cùng đáng yêu trên sàn gỗ bằng đôi chân trần. Chẳng một ai thèm bận tâm đến con bé, và khi múa xong, nó lủi thủi quay về chỗ ngồi cạnh anh trai mình.
Ántonia nói gì đó với Leo bằng tiếng Bohemia. Cậu bé cau mày nhăn mặt. Trông nó có vẻ đang cố gắng làm mình làm mẩy, nhưng sự cố chấp ấy chỉ làm lúm đồng tiền xuất hiện ở những vị trí kỳ lạ trên mặt. Sau khi vặn vẹo chỉnh sửa mấy con ốc trên cần đàn, cậu bắt đầu kéo vài bản nhạc dân gian Bohemia mà không cần tiếng đàn organ hỗ trợ, nhờ thế mà giai điệu nghe thuận tai hơn hẳn. Thằng bé hiếu động đến mức từ nãy đến giờ tôi chẳng có dịp ngắm kỹ mặt nó. Ấn tượng ban đầu của tôi hoàn toàn chính xác; trông nó hệt như một vị thần rừng nhỏ tuổi. Phần đầu đằng sau mang tai của nó khá hẹp, còn lớp tóc tơ màu vàng sậm mọc dày dặn rủ xuống tận gáy. Đôi mắt nó không hề ngay thẳng và rộng mở như mấy đứa con trai khác, mà trũng sâu, mang sắc vàng lục và có vẻ vô cùng nhạy cảm với ánh sáng. Mẹ nó bảo nó là đứa hay bị thương tích nhiều hơn tất cả mấy đứa còn lại cộng lại. Nó cứ hay chồm chồm đòi cưỡi ngựa con khi chúng chưa được thuần hóa, trêu chọc gà tây đực, hay thử xem con bò đực sẽ chịu đựng được sắc đỏ đến mức nào và cây rìu mới sắc bén ra sao.
Sau buổi hòa nhạc thu nhỏ, Ántonia lôi ra một chiếc hộp đựng đầy những bức ảnh: ảnh cô và Anton trong bộ đồ cưới nắm chặt tay nhau; anh trai cô là Ambrosch cùng người vợ vô cùng mập mạp đang sở hữu một nông trại riêng, và nghe nói cô vợ này rất hay lấn lướt chồng khiến tôi vô cùng thích thú; ảnh ba cô nàng Mary người Bohemia cùng gia đình đông đúc của họ.
“Anh không thể ngờ được mấy cô nàng ấy giờ lại trở nên chín chắn và tháo vát đến thế đâu,” Ántonia nhận xét. “Mary Svoboda là người làm bơ giỏi nhất vùng này đấy, lại còn là một tay quán xuyến cừ khôi. Tương lai con cái cô ấy sẽ sung sướng lớn rộng cho coi.”
Khi Ántonia lật giở từng bức ảnh, đám trẻ nhà Cuzak quây quần đứng đằng sau ghế mẹ, rướn người qua vai cô với vẻ mặt đầy hào hứng. Nina và Jan sau khi cố rướn người nhìn qua mấy anh chị lớn bèn lẳng lặng khiêng một chiếc ghế ra, leo lên đó và đứng sát rạt vào nhau để ngắm. Cậu nhóc quên béng cả sự rụt rè ban nãy, nhe răng cười thích thú khi bắt gặp những gương mặt quen thuộc xuất hiện trong ảnh. Quanh quẩn bên Ántonia, tôi cảm nhận được một thứ hòa khí gắn kết về mặt thể xác. Chúng tựa người vào nhau, nghiêng ngả đủ hướng và chẳng hề e dè khi chạm vào người đối diện. Chúng ngắm nghía những bức ảnh với sự nhận diện đầy hào hứng; trầm trồ khen ngợi một số bức như thể những nhân vật trong thời thiếu nữ của mẹ chúng là những nhân vật vô cùng lỗi lạc. Mấy đứa nhỏ không biết nói tiếng Anh thì thầm to nhỏ với nhau bằng thứ ngôn ngữ cổ xưa giàu cảm xúc của chúng.
Ántonia giơ lên một bức ảnh chụp Lena được gửi từ San Francisco vào dịp Giáng sinh năm ngoái. “Trông cô ấy bây giờ vẫn thế phải không? Sáu năm rồi cô ấy chưa về thăm nhà.” Đúng thế, bức ảnh y hệt như Lena ngoài đời, tôi đáp; một người phụ nữ đẫy đà, có phần hơi mập mạp trong chiếc mũ rộng vành quá khổ, nhưng vẫn giữ nguyên đôi mắt lười biếng ngày nào cùng vẻ ngây thơ lúm đồng tiền thoắt ẩn thoắt hiện nơi khóe miệng.
Có một bức ảnh chụp Frances Harling mặc bộ đồ cưỡi ngựa có đính ren rườm rà mà tôi nhớ rất rõ. “Trông chị ấy oai ghê!” mấy đứa con gái thầm thì trầm trồ. Tất cả đều đồng tình gật gù. Ai nấy đều thấy rằng Frances đã trở thành một nhân vật huyền thoại mang tầm vóc anh hùng trong câu chuyện gia đình. Chỉ có mỗi Leo là dửng dưng không chút cảm xúc.
“Còn đây là ông Harling, trong chiếc áo khoác lông thú sang trọng. Ông ấy giàu khủng khiếp phải không mẹ?”
“Ông ấy có giàu bằng Rockefeller đâu,” cậu cả Leo lẩm bẩm với chất giọng cực kỳ nhỏ, khiến tôi nhớ lại cái cách mà bà Shimerda từng bảo rằng ông ngoại tôi “nào phải Chúa Giê-su đâu.” Sự hoài nghi cố hữu ấy hệt như một thứ gia sản di truyền trực tiếp từ người đàn bà lớn tuổi đó.
“Đừng có mà lanh chanh thốt ra mấy câu khôn vặt thế nữa,” Ambrosch nghiêm khắc quở trách.
Leo lè cái lưỡi đỏ hỏn mềm mại ra trêu tức anh, nhưng chỉ một tích tắc sau lại cười khúc khích khi nhìn thấy một tấm ảnh thẻ chụp hai người đàn ông đang ngồi với tư thế khá gượng gạo, đứng giữa họ là một cậu thiếu niên vụng về mặc bộ đồ rộng thùng thình: Jake, Otto và tôi! Tôi nhớ tấm ảnh này được chụp khi chúng tôi đến Black Hawk vào dịp Lễ độc lập đầu tiên mà tôi trải qua ở Nebraska. Tôi rất vui khi được nhìn thấy nụ cười hềnh hệch của Jake cùng bộ ria mép dữ tợn của Otto một lần nữa. Tụi nhỏ nhà Cuzak biết tường tận về họ. “Hắn là người đóng quan tài cho ông ngoại phải không ạ?” Anton hỏi.
“Họ đều là những chàng trai tốt phải không Jim?” Mắt Ántonia ngấn lệ. “Đến tận bây giờ tôi vẫn thấy hổ thẹn vì đã cãi cọ với Jake kiểu đó. Hồi đó tôi xấc xược và hỗn láo với anh ấy lắm, Leo ạ, y như cái cách mà thỉnh thoảng cậu hay xấc với mọi người ấy, và ước gì hồi đó có ai trị cho tôi một trận nên thân.”
“Tụi cháu vẫn chưa tính sổ xong với chú đâu đấy nhé,” tụi nó cảnh cáo tôi. Chúng chìa ra một bức ảnh chụp ngay trước khi tôi lên đường đi học đại học: một thiếu niên cao kều mặc chiếc quần sọc và đội mũ rơm, đang cố tỏ ra thật tự nhiên và phóng khoáng.
“Kể cho tụi cháu nghe đi chú Burden,” Charley nói, “về con rắn chuông mà chú đã đập chết ở khu làng chó thảo nguyên ấy. Nó dài bao nhiêu vậy chú? Lúc thì mẹ bảo sáu bộ, lúc lại bảo năm bộ.”
Lũ trẻ này có vẻ thân thiết với Ántonia chẳng khác nào đám trẻ nhà Harling cách đây nhiều năm về trước. Chúng dường như cũng dành cho cô niềm tự hào tương tự, và luôn mong chờ cô kể chuyện hay mang lại tiếng cười vui vẻ hệt như chúng tôi ngày trước.
Đã mười một giờ đêm khi tôi cuối cùng cũng xách túi cùng mấy chiếc chăn lên đường ra chuồng ngựa cùng lũ trẻ. Mẹ chúng theo ra tận cửa, và chúng tôi dừng chân lại giây lát để ngắm nhìn sườn dốc trắng phau của bãi quây gia súc, hai cái ao đang say giấc dưới ánh trăng, và dải đồng cỏ trải dài ngút ngàn dưới bầu trời lấp lánh ánh sao.
Mấy đứa con trai bảo tôi tự chọn chỗ ngủ trong gác xéo cỏ khô, và tôi ngả lưng ngay trước một khung cửa sổ lớn được mở toang để đón gió trời, hướng tầm mắt ra bầu trời đầy sao. Ambrosch và Leo rúc vào một hốc cỏ sâu hoắm tít phía trong góc mái, khúc khích cười và thì thầm to nhỏ với nhau. Chúng cù lét nhau rồi lăn lộn vật lộn trên đống cỏ khô; để rồi bỗng chốc, tựa như vừa bị trúng tên, cả hai im bặt. Chỉ cách nhau chưa tới một phút từ những tiếng cười khúc khích cho đến khi chìm vào giấc ngủ say nồng.
Tôi thức trắng suốt một quãng thời gian dài, ngắm vầng trăng di chuyển chậm chạp ngang qua cửa sổ trên hành trình đi lên đỉnh vòm trời. Tôi miên man suy nghĩ về Ántonia và những đứa con của cô; về sự ân cần chu đáo của Anna, tình cảm sâu đậm nghiêm túc của Ambrosch, và tình yêu thương mang bản năng mãnh liệt, có chút ghen tị của Leo. Khoảnh khắc tất cả tụi nhỏ cùng ào ra khỏi hốc tối ngập tràn dưới ánh sáng là một cảnh tượng mà bất cứ ai cũng sẵn sàng đi đường dài để được tận mắt chứng kiến. Ántonia luôn là người để lại trong tâm trí người khác những hình ảnh không bao giờ phai mờ — thậm chí còn trở nên mạnh mẽ hơn theo năm tháng. Trong ký ức của tôi là một chuỗi những bức tranh như thế, được khắc ghi hệt như những bức tranh khắc gỗ trong cuốn sách vỡ lòng đầu tiên: Ántonia giẫm đôi chân trần lên mạn ngựa của tôi khi chúng tôi khải hoàn trở về mang theo con rắn; Ántonia mặc chiếc khăn choàng đen và đội mũ lông thú đứng bên nấm mồ người cha giữa trận bão tuyết; Ántonia điều khiển cỗ xe ngựa đi ngang qua đường chân trời lúc chiều tà. Cô mang trong mình những dáng hình nhân loại bất tử mà bản năng mách bảo chúng ta nhận ra đó là những điều phổ quát và chân thật. Tôi đã không lầm. Giờ đây cô là một người phụ nữ phong trần rách rưới chứ không còn là một thiếu nữ kiều diễm nữa; nhưng cô vẫn giữ lại được cái thứ lửa sưởi ấm trí tưởng tượng, vẫn có thể khiến người ta ngưng thở trong khoảnh khắc chỉ bằng một ánh nhìn hay cử chỉ vô tình hé lộ ý nghĩa sâu xa trong những điều bình dị nhất. Cô chỉ cần đứng giữa vườn táo, đặt tay lên một cái cây táo dại nhỏ bé và ngước nhìn những quả táo, là đủ để đánh thức trong lòng người ta sự trân trọng đối với công sức vun trồng, chăm sóc và thu hoạch thành quả. Tất cả những gì mạnh mẽ nhất trong tâm hồn đều bộc lộ qua vóc dáng của cô, người đã không biết mệt mỏi để phụng sự cho những cảm xúc cao cả.
Thảo nào mà những đứa con trai của cô đứa nào đứa nấy đều cao lớn và hiên ngang đến thế. Cô chính là một mỏ vàng trù phú của sự sống, tựa như những bậc tổ tiên khai phá thuở hồng hoang.