Tôi nhớ làm sao căn phòng khách nhỏ nhắn và trang trọng nơi tôi thường chờ Lena: bộ ghế làm bằng lông ngựa cứng ngắc mua từ một phiên đấu giá nào đó, chiếc gương soi dài, những bức tranh mẫu thời trang treo trên tường. Ngay cả khi tôi ngồi xuống dẫu chỉ chốc lát, thể nào lúc đứng lên tôi cũng thấy những sợi chỉ và mảnh lụa màu vương vãi bám dính vào quần áo.
Sự thành công của Lena khiến tôi không khỏi kinh ngạc. Cô ấy vốn dĩ rất thoải mái, chẳng có chút xíu sự xông xáo và tự khẳng định bản thân nào để giúp một người tiến thân trong kinh doanh. Lena đã đến Lincoln như một cô gái nhà quê, chẳng có bức thư giới thiệu nào ngoại trừ vài người họ hàng của bà Thomas đang sinh sống tại đây, thế mà cô ấy đã bắt đầu may quần áo cho những phụ nữ thuộc "giới trẻ mới kết hôn". Rõ ràng là cô có năng khiếu thiên bẩm tuyệt vời đối với công việc của mình. Như cô vẫn thường nói, cô biết "mặc kiểu gì thì đẹp". Cô chưa bao giờ cảm thấy mệt mỏi khi ngấu nghiến lật giở từng trang sách thời trang. Đôi khi vào buổi tối, tôi bắt gặp cô đứng một mình trong phòng làm việc, đang drap những nếp vải satin lên một con ma-nơ-quin bằng thép với vẻ mặt vô cùng hạnh phúc. Tôi không sao kìm được suy nghĩ rằng quãng thời gian mà Lena theo đúng nghĩa đen không có nổi dăm bộ quần áo để che thân có lẽ phần nào liên quan đến niềm đam mê không biết mệt mỏi của cô trong việc chưng diện cho hình hài con người. Các khách hàng của Lena đều nhận xét rằng cô "có phong cách", và nhờ đó họ bỏ qua thói quen hay trễ hẹn của cô. Tôi phát hiện ra rằng cô chưa bao giờ hoàn thành món đồ nào đúng vào thời hạn đã hứa, và cô thường xuyên tiêu tốn tiền mua nguyên liệu vượt quá hạn mức mà khách hàng cho phép. Có lần, khi tôi đến nơi vào lúc sáu giờ, Lena đang tiễn một bà mẹ có tính hay bồn chồn cùng cô con gái vụng về, cao lêu khêu của bà ra cửa. Người phụ nữ ấy níu Lena lại ở cửa để phân trần:
– Cô nhớ làm sao giữ giá dưới năm mươi đồng cho tôi nhé, cô Lingard? Cô thấy đấy, con bé thực sự còn quá non nớt để đến chỗ một thợ may đắt đỏ, nhưng tôi biết cô có thể uốn nắn nó giỏi hơn bất kỳ ai.
– Ồ, chuyện đó sẽ ổn thôi, thưa bà Herron. Tôi nghĩ chúng ta sẽ xoay sở để tạo ra một hiệu ứng thật đẹp, Lena điềm đạm đáp.
Tôi thấy cách ứng xử của cô với khách hàng rất khéo léo, và tự hỏi không biết cô đã học được sự điềm tĩnh đó ở đâu.
Thỉnh thoảng sau khi các lớp học buổi sáng kết thúc, tôi hay bắt gặp Lena ở khu trung tâm thành phố trong bộ đồ nhung và chiếc mũ đen nhỏ, với chiếc mạng che mặt buông lõng mượt mà, trông tươi tắn chẳng khác nào buổi sáng mùa xuân. Có lẽ cô đang xách về nhà một bó hoa thủy tiên vàng hoặc một chậu hoa lan dạ hương. Khi chúng tôi đi ngang qua một tiệm kẹo, bước chân cô lại chần chừ và nấn ná. – Đừng để tôi bước vào nhé, cô thì thầm. – Lôi tôi đi giùm nếu anh có thể. Cô rất thích đồ ngọt, nhưng lại sợ bị tăng cân.
Chúng tôi thường có những bữa sáng ngày Chủ nhật thật tuyệt vời tại căn hộ của Lena. Phía sau căn phòng làm việc dài của cô có một góc lồi cửa sổ, đủ rộng để kê một chiếc ghế bọc da dài và một chiếc bàn đọc sách. Chúng tôi ăn sáng ở khoảng không gian thụt vào đó, sau khi đã kéo những tấm rèm che khuất căn phòng dài với những chiếc bàn cắt vải, ma-nơ-quin bằng thép và những bộ trang phục trùm vải trải dọc các bức tường. Ánh nắng tràn vào, làm cho mọi thứ trên bàn đều tỏa sáng lung linh ngời ngời và ngọn lửa của chiếc đèn cồn như biến mất hoàn toàn. Chú chó sục nước lông đen quăn tít của Lena, tên là Prince, cùng ăn sáng với chúng tôi. Nó ngồi cạnh cô trên chiếc ghế dài và cư xử rất ngoan ngoãn cho đến khi người dạy vĩ cầm gốc Ba Lan ở căn phòng đối diện bắt đầu luyện tập, lúc ấy Prince sẽ gầm gừ và đánh hơi bầu không khí với vẻ đầy ghê tởm. Chủ nhà của Lena, vị đại tá già Raleigh, đã tặng cô con chó này, và thoạt đầu cô chẳng lấy làm thích thú gì cho lắm. Cô đã trải qua quá nhiều năm tháng trong đời phải chăm sóc lũ động vật để mà còn có thể dành nhiều tình cảm sướt mướt cho chúng. Thế nhưng Prince lại là một chú động vật khôn ranh, và dần dần cô đâm ra quý mến nó. Sau bữa sáng, tôi bắt nó phải làm các bài học của mình: giả chết, bắt tay, đứng thẳng như một người lính. Chúng tôi thường đội chiếc mũ học viên sĩ quan của tôi lên đầu nó – tôi phải tham gia huấn luyện quân sự ở trường đại học – và bắt nó cầm một cây thước dây bằng chân trước. Vẻ nghiêm nghị của nó khiến chúng tôi cười nắc nẻ không kìm được.
Cách nói chuyện của Lena lúc nào cũng làm tôi thấy thú vị. Ántonia chưa từng nói chuyện giống như những người xung quanh cô. Ngay cả sau khi đã học nói tiếng Anh thành thạo, trong lời ăn tiếng nói của cô vẫn luôn phảng phất nét bốc đồng và mang đậm chất ngoại kiều. Thế nhưng Lena đã nhặt nhạnh tất cả những biểu cảm thông thường mà cô nghe được ở tiệm may của bà Thomas. Những cụm từ trang trọng ấy, tinh hoa của những phép tắc chốn thị trấn nhỏ, cùng những lời sáo rỗng tẻ nhạt, hầu hết đều mang bản chất đạo đức giả, bỗng trở nên vô cùng hài hước, vô cùng cuốn hút khi được thốt lên bằng giọng nói dịu dàng của Lena, với ngữ điệu âu yếm cùng vẻ ngây thơ ranh mãnh của cô. Chẳng có gì thú vị bằng việc nghe Lena, một người gần như chân thật hệt như tự nhiên, gọi một cái chân là "chiếc chi" hay một ngôi nhà là "tổ ấm".
Chúng tôi thường nấn ná rất lâu bên tách cà phê ở góc phòng ngập nắng ấy. Lena chưa bao giờ xinh đẹp nhường ấy như vào buổi sáng; ngày nào cô cũng thức dậy với sự tươi mới cùng thế giới, và đôi mắt cô lúc đó mang sắc màu đậm hơn, giống như những bông hoa màu xanh chưa bao giờ xanh thắm cho bằng lúc chúng vừa hé nở. Tôi có thể ngồi thừ người suốt cả buổi sáng Chủ nhật chỉ để ngắm nhìn cô. Hành vi của Ole Benson giờ đây không còn là điều bí ẩn đối với tôi nữa.
– Chưa bao giờ có chút tổn hại nào ở Ole cả, cô đã từng nói thế. – Mọi người đâu cần phải bận tâm lo lắng làm gì. Anh ấy chỉ thích đến ngồi bên bờ mương và quên đi vận rủi của mình. Tôi rất thích có anh ấy đến. Bất cứ ai bầu bạn cũng đều được chào đón khi mà anh cứ phải quanh quẩn với đàn gia súc suốt ngày.
– Nhưng chẳng phải anh ta lúc nào cũng ủ rũ hay sao? Tôi hỏi. – Mọi người bảo rằng anh ta chẳng bao giờ nói năng gì cả.
– Chắc chắn là anh ấy có nói, bằng tiếng Na Uy. Anh ấy từng là thủy thủ trên một con tàu Anh và đã chứng kiến rất nhiều vùng đất kỳ lạ. Anh ấy có những hình xăm tuyệt vời. Chúng tôi thường ngồi ngắm nhìn chúng suốt hàng giờ liền; ngoài đó có mấy thứ để mà nhìn ngắm đâu. Anh ấy giống như một cuốn sách tranh vậy. Anh ấy có hình một con tàu và một cô gái hái dâu trên một bên tay, còn tay kia là hình một cô gái đứng trước một ngôi nhà nhỏ, có hàng rào lẫn cổng ngõ đàng hoàng, đang ngóng chờ người yêu của mình. Đi lên phía trên bắp tay một chút, người thủy thủ của cô ấy đã quay về và đang ôm hôn cô ta. "Sự trở lại của người thủy thủ," anh ấy gọi nó như thế.
Tôi thừa nhận thảo nào Ole thích được ngắm nhìn một cô gái xinh đẹp đôi chút, khi mà ở nhà anh ta lại phải chịu đựng một nỗi kinh hoàng như thế.
– Anh biết đấy, Lena thủ thỉ tâm tình, anh ấy cưới Mary vì nghĩ rằng cô ấy là người có tư tưởng vững vàng và sẽ kiềm chế anh ta đi đúng đường. Anh ấy chưa bao giờ giữ được mình ngay ngắn khi ở trên bờ. Lần cuối cùng cập cảng Liverpool, anh ta đã có chuyến hải trình dài đẵng đẵng hai năm trời. Anh ta vừa nhận lương vào một buổi sáng, thế mà sang đến buổi sáng hôm sau trong túi chẳng còn nổi một xu, còn đồng hồ với la bàn thì đã không cánh mà bay. Anh ta dính dáng với mấy người phụ nữ, và họ đã nẫng sạch mọi thứ. Anh ta phải làm thuê để vượt đại dương về đất nước này trên một con tàu chở khách nhỏ. Mary là một tiếp viên trên tàu, và cô ấy đã cố gắng cải đạo cho anh ta trong suốt chuyến hành trình. Anh ta nghĩ cô ấy chính là người có thể giúp anh ta giữ vững tay chèo. Tội nghiệp Ole! Anh ấy hay mang kẹo từ thị trấn về cho tôi, giấu trong chiếc túi đựng thức ăn của ngựa. Anh ta chẳng bao giờ có thể từ chối bất cứ điều gì với một cô gái. Anh ấy hẳn đã đem tặng cả những hình xăm của mình từ lâu rồi, nếu có thể. Anh ấy là một trong những người khiến tôi cảm thấy xót xa nhất.
Nếu tình cờ tôi sang chơi với Lena vào buổi tối và ở lại muộn, người giáo viên vĩ cầm người Ba Lan ở căn phòng đối diện thường bước ra và đứng nhìn tôi đi xuống cầu thang, lẩm bẩm những lời đe dọa đến mức suýt chút nữa là tôi có thể gây gổ với ông ta. Lena từng nói với ông ta rằng cô thích nghe ông luyện tập, thế nên ông ta luôn để ngõ cửa và dòm ngó xem ai đến ai đi.
Có sự lạnh nhạt giữa người đàn ông Ba Lan và chủ nhà của Lena cũng vì cô. Vị đại tá già Raleigh đã đến Lincoln từ Kentucky và đầu tư toàn bộ gia tài thừa kế vào lĩnh vực bất động sản, vào thời điểm giá cả leo thang đỉnh điểm. Giờ đây, ngày qua ngày, ông ngồi lì trong văn phòng của mình ở tòa nhà Raleigh Block, tìm cách khám phá xem tiền của mình đã trôi đi đâu và làm sao có thể đòi lại được một phần. Ông là một gã đàn ông góa vợ, và chẳng tìm thấy mấy sự đồng điệu tâm giao ở cái thành phố miền Tây xô bồ này. Vẻ ngoài xinh đẹp cùng phong cách dịu dàng của Lena đã thu hút ông. Ông nói giọng của cô làm ông nhớ đến những giọng điệu miền Nam, và ông tìm mọi cơ hội có thể để được lắng nghe nó. Mùa xuân năm ấy, ông đã tự tay sơn sửa lại phòng ốc và dán giấy tường cho cô, đồng thời lắp một chiếc bồn tắm bằng sứ thay cho chiếc bồn thiếc vốn từng làm hài lòng người thuê nhà trước đây. Trong suốt quá trình thực hiện việc sửa chữa này, vị lão ông thường xuyên tạt qua để tham khảo ý thích của Lena. Cô từng kể lại cho tôi nghe với vẻ thích thú về việc Ordinsky, người Ba Lan, đã xuất hiện trước cửa phòng cô vào một buổi tối như thế nào, và nói rằng nếu người chủ nhà đang làm phiền cô bằng những sự quan tâm của ông ta, thì anh ta sẽ lập tức chấm dứt chuyện đó.
– Tôi chẳng biết phải xử trí ra sao với anh ta nữa, cô vừa nói vừa lắc đầu, anh ta lúc nào cũng có vẻ hơi hoang dã thế đấy. Tôi không thích việc anh ta thốt ra những lời thô lỗ với người đàn ông lớn tuổi tốt bụng đó. Viên đại tá thì hay nói dài dòng, nhưng tôi đoán là ông ấy cô đơn. Tôi cũng không nghĩ là ông ấy bận tâm mấy đến Ordinsky. Ông từng bảo rằng nếu tôi có bất kỳ điều phàn nàn nào về những người hàng xóm, tôi tuyệt đối đừng ngần ngại lên tiếng.
Vào một tối thứ Bảy nọ khi tôi đang dùng bữa tối cùng Lena, chúng tôi nghe tiếng gõ cửa phòng khách, và kìa, người đàn ông Ba Lan đang đứng ở đó, không khoác áo vest, mặc áo sơ mi dự tiệc và đeo cổ áo cứng. Prince liền chúi người xuống đôi chân trước và bắt đầu gầm gừ hệt như một con chó ngao, trong khi vị khách cất lời xin lỗi, nói rằng anh ta không thể nào đường đường chính chính bước vào trong bộ dạng thế này được, nhưng anh ta khẩn khoản xin Lena cho mượn vài chiếc kìm băng cài áo.
– Ồ, anh phải bước vào đây thôi, anh Ordinsky, và để tôi xem chuyện gì đang xảy ra nào. Cô đóng cửa lại sau lưng anh. – Jim, anh làm ơn dạy dỗ lại con Prince đi chứ?
Tôi gõ vào mũi Prince, trong khi Ordinsky giải thích rằng anh đã lâu không mặc bộ đồ trang trọng của mình, và tối nay, khi anh chuẩn bị đi biểu diễn trong một buổi hòa nhạc, chiếc áo ghi-lê của anh đã bị bục chỉ dọc sống lưng. Anh nghĩ mình có thể dùng kim băng ghim tạm nó lại cho đến khi đem ra cho thợ may.
Lena nắm lấy khuỷu tay anh và quay người anh lại. Cô bật cười khi nhìn thấy vết rách dài trên lớp vải satin. – Anh chẳng bao giờ ghim lại được chỗ đó đâu, anh Ordinsky. Anh đã cất nó gấp gọn quá lâu, và chất vải đã mục mủn hết dọc theo đường nếp gấp rồi. Cởi nó ra đi. Tôi có thể vá bù một miếng lụa lót mới vào đó cho anh trong vòng mười phút. Cô biến mất vào phòng làm việc của mình cùng chiếc áo ghi-lê, để lại tôi đối mặt với người đàn ông Ba Lan, người đang đứng sừng sững dựa vào cửa hệt như một bức tượng gỗ. Anh khoanh tay trước ngực và trừng trừng nhìn tôi bằng đôi mắt nâu xếch lên đầy vẻ dễ kích động. Đầu anh có hình thù giống hệt một viên kẹo sô-cô-la, được bao phủ bởi mái tóc khô khốc màu rơm xù bông lên quanh phần đỉnh đầu nhọn hoắt. Anh chưa bao giờ làm gì hơn ngoài việc lầm bầm với tôi mỗi khi tôi đi ngang qua, và tôi không khỏi ngạc nhiên khi giờ đây anh lại chủ động bắt chuyện với tôi. – Cô Lingard, anh ta cao ngạo tuyên bố, là một người trẻ tuổi mà tôi dành cho sự kính trọng tột bậc, tột bậc.
– Tôi cũng vậy thôi, tôi lạnh lùng đáp.
Anh ta chẳng thèm bận tâm đến lời nhận xét của tôi, mà bắt đầu thực hiện những bài tập ngón tay thoăn thoắt trên ống tay áo sơ mi, trong tư thế đứng khoanh tay chặt chẽ.
– Sự tử tế trong tâm hồn, anh ta tiếp tục, mắt dán trần nhà, tình cảm, đều không được thấu hiểu ở một nơi thế này. Những phẩm chất cao quý nhất lại bị đem ra chế giễu. Đám sinh viên đại học cười cợt, vừa dốt nát lại vừa tự phụ, chúng biết cái quái gì về sự tinh tế cơ chứ!
Tôi kìm chế nét mặt của mình và cố gắng cất giọng nghiêm túc.
– Nếu ý anh là tôi, thưa anh Ordinsky, tôi đã quen biết cô Lingard từ lâu, và tôi nghĩ mình trân trọng lòng tốt của cô ấy. Chúng tôi đến từ cùng một thị trấn, và chúng tôi lớn lên bên nhau.
Ánh mắt anh ta dịch chuyển chậm rãi từ trên trần nhà xuống và dừng lại ở tôi. – Tôi nên hiểu rằng anh đang để tâm đến quyền lợi của cô gái trẻ này hay sao? Rằng anh không hề muốn làm tổn hại danh dự của cô ấy?
– Đó là một từ mà chúng tôi không hay dùng ở đây lắm, anh Ordinsky. Một cô gái tự lập kiếm sống hoàn toàn có thể mời một nam sinh đại học đến ăn tối mà không sợ bị người ta bàn tán dị nghị. Chúng tôi coi một số thứ là chuyện hiển nhiên.
– Vậy thì tôi đã phán đoán sai lầm về anh, và tôi xin lỗi anh – anh ta cúi đầu trang nghiêm. – Cô Lingard, anh ta nói tiếp, là một tâm hồn hoàn toàn tin tưởng người khác. Cô ấy chưa hề học qua những bài học khắc nghiệt của cuộc đời. Còn về phần anh và tôi, noblesse oblige [quý tộc phải hành xử cao thượng] – anh ta dán mắt theo dõi tôi từng ly từng tí.
Lena quay trở lại với chiếc áo ghi-lê. – Vào đây để chúng tôi ngắm anh khi anh bước ra nào, anh Ordinsky. Tôi chưa từng thấy anh mặc bộ đồ vest dự tiệc bao giờ cả, cô nói khi mở cửa cho anh ta.
Chỉ vài phút sau, anh ta xuất hiện trở lại với chiếc hộp đựng đàn vĩ cầm, một chiếc khăn quàng cổ dày quấn quanh cổ và đôi găng tay len dày cộp trên đôi bàn tay xương xẩu. Lena cất lời khích lệ anh, và anh bỏ đi với dáng vẻ chuyên nghiệp quan trọng đến mức chúng tôi phì cười ngay khi vừa khép cửa lại. – Tội nghiệp anh chàng, Lena độ lượng nói, anh ấy cái gì cũng nghiêm trọng hóa lên hết.
Kể từ dạo đó, Ordinsky tỏ ra thân thiện với tôi, và cư xử như thể giữa chúng tôi có một sự thấu hiểu sâu sắc nào đó. Anh ta viết một bài báo sầm sì tức tối, đả kích thị hiếu âm nhạc của thị trấn, và nhờ tôi làm một việc lớn là mang nó đến cho tòa soạn tờ báo buổi sáng. Nếu tòa soạn từ chối in, tôi phải nhắn lại với chủ biên rằng ông ta sẽ phải chịu trách nhiệm trước Ordinsky "tận nơi trực tiếp". Anh ta tuyên bố sẽ không bao giờ rút lại dù chỉ một từ, và hoàn toàn sẵn sàng chấp nhận việc mất hết tất cả học trò của mình. Bất chấp thực tế là chẳng có ai mảy may đả động gì đến bài báo đó sau khi nó được phát hành – với đầy rẫy những lỗi đánh máy mà anh ta tưởng nhầm là do cố ý – anh ta vẫn có được sự thỏa mãn nhất định khi tin rằng những người dân ở Lincoln đã cúi đầu ngoan ngoãn chấp nhận cái danh hiệu "những kẻ dã man thô lỗ". – Anh thấy đấy mọi chuyện là thế đấy, anh ta nói với tôi, nơi nào không có lòng hiệp sĩ, nơi đó chẳng có lòng tự trọng amour-propre. Khi chạm trán anh ta trên những vòng đường quen thuộc giờ đây, tôi có cảm giác anh ta ngẩng cao đầu kiêu kỳ hơn bao giờ hết, sải bước lên những bậc thềm hiên nhà và bấm chuông cửa với sự tự tin ngời ngời. Anh ta khoe với Lena rằng anh sẽ không bao giờ quên được việc tôi đã đứng ra bảo vệ anh thế nào khi anh đang "chịu trận dưới làn đạn".
Suốt khoảng thời gian này, tất nhiên là tôi đang trôi dạt vô định. Lena đã làm tan biến tâm trạng nghiêm túc của tôi. Tôi chẳng còn hứng thú gì với các lớp học nữa. Tôi chơi đùa với Lena và Prince, tôi chơi đùa với gã người Ba Lan, tôi đi xe ngựa dạo chơi cùng vị đại tá già, người đã đem lòng quý mến tôi và hay huyên thuyên với tôi về Lena cùng những "giai nhân tuyệt sắc" mà ông từng quen biết thời trẻ. Cả ba chúng tôi đều đã say đắm Lena.
Trước ngày mùng một tháng Sáu, Gaston Cleric được mời làm giảng viên tại Đại học Harvard, và ông đã nhận lời. Ông gợi ý rằng tôi nên đi theo ông vào mùa thu, và hoàn thành nốt khóa học của mình tại Harvard. Ông đã tìm hiểu về Lena – không phải từ tôi – và ông đã nói chuyện với tôi một cách nghiêm túc.
– Anh sẽ chẳng làm nên trò trống gì ở đây nữa đâu. Anh hoặc là nên bỏ học rồi đi làm, hoặc là chuyển trường đại học và bắt đầu lại một cách nghiêm túc. Anh sẽ chẳng thể tìm lại được chính mình chừng nào còn vờ vĩnh chơi đùa với cô nàng người Na Uy xinh đẹp này. Phải, tôi đã nhìn thấy cô ta đi cùng anh ở nhà hát rồi. Cô ta rất xinh, và theo tôi đánh giá thì hoàn toàn vô trách nhiệm.
Cleric viết thư cho ông nội tôi bày tỏ mong muốn đưa tôi đi cùng về miền Đông. Trước sự ngạc nhiên tột độ của tôi, ông nội đáp thư rằng tôi có thể đi nếu muốn. Tôi vừa mừng vừa tiếc vào ngày lá thư ấy được gửi đến. Tôi ở lì trong phòng suốt cả buổi tối để suy nghĩ thấu đáo mọi chuyện. Thậm chí tôi còn cố gắng tự huyễn hoặc bản thân rằng mình đang ngáng đường Lena – con người ta đôi khi cần phải ra vẻ cao thượng một chút mà! – và rằng nếu cô không có tôi để bầu bạn vui đùa, rất có thể cô sẽ kết hôn và đảm bảo được tương lai cho mình.
Tối hôm sau, tôi sang gọi cửa Lena. Tôi thấy cô đang tựa người trên chiếc ghế dài ở góc cửa sổ lồi, với một bên chân xỏ trong chiếc dép lê cỡ lớn. Một cô bé người Nga ngượng ngập vụng về được cô nhận vào phòng làm việc đã vô tình đánh rơi chiếc bàn ủi là quần áo lên ngón chân Lena. Trên chiếc bàn cạnh bên là một giỏ hoa đầu hạ mà gã người Ba Lan đã mang đến gửi gắm sau khi nghe tin về tai nạn. Anh ta luôn xoay sở để nắm bắt được mọi chuyện diễn ra trong căn hộ của Lena.
Lena đang kể cho tôi nghe vài mẩu chuyện phiếm thú vị về một trong những khách hàng của cô thì tôi cắt ngang và với lấy giỏ hoa.
– Lão già này thế nào cũng có ngày cầu hôn em đấy, Lena.
– Ồ, ông ấy làm thế suốt ấy mà! cô thì thầm.
– Cái gì! Sau khi em đã từ chối ông ta á?
– Ông ấy có bận tâm chuyện đó đâu. Hình như việc nhắc đến chủ đề ấy làm ông ấy thấy phấn chấn hơn thì phải. Mấy người già vốn thế cả mà anh. Chuyện đó làm họ cảm thấy mình quan trọng khi nghĩ rằng họ đang yêu một ai đó.
– Viên đại tá chắc chắn sẽ cưới em trong một nốt nhạc đấy. Anh hy vọng em sẽ không kết hôn với mấy tay già cả nào đó; ngay cả một kẻ giàu có cũng không. Lena dịch chuyển mấy chiếc gối và ngước nhìn tôi đầy kinh ngạc.
– Ơ hay, em có định kết hôn với ai đâu. Bộ anh không biết điều đó à?
– Vớ vẩn nào Lena. Con gái ai chẳng nói thế, nhưng em thừa biết rõ hơn thế chứ. Đương nhiên là mọi cô gái xinh đẹp như em rồi cũng sẽ lấy chồng thôi.
Cô lắc đầu. – Em thì không.
– Nhưng tại sao lại không chứ? Sao em lại nói thế? Tôi gặng hỏi.
Lena bật cười.
– Chà, chủ yếu là vì em không muốn có chồng. Đàn ông làm bạn thì được, nhưng hễ cứ cưới họ về là họ lại biến thành mấy ông bố già cáu kỉnh, ngay cả mấy gã bạt mạng nhất cũng thế. Họ bắt đầu dạy đời em cái gì là khôn ngoan cái gì là ngớ ngẩn, rồi muốn em cứ cắm mặt ở nhà suốt ngày. Em thích được làm ngớ ngẩn mỗi khi hứng chí, và chẳng phải chịu trách nhiệm trước ai sất.
– Nhưng rồi em sẽ cô đơn đấy. Em sẽ chán ngấy lối sống này, và rồi em sẽ muốn có một mái ấm gia đình.
– Không đời nào. Em thích cô đơn cơ. Khi em bắt đầu đi làm thuê cho bà Thomas, em mới mười chín tuổi, và trong đời chưa từng có lấy một đêm được ngủ mà trên giường không có tới ba người. Em chẳng bao giờ có nổi một phút giây cho riêng mình ngoại trừ những lúc đi lùa đàn gia súc ngoài đồng.
Thông thường, khi Lena nhắc đến quãng thời gian sống ở vùng quê, cô luôn gạt phăng đi chỉ bằng một câu nói duy nhất mang sắc thái hài hước hoặc châm biếm nhẹ nhàng. Thế nhưng đêm nay tâm trí cô dường như cứ quẩn quanh hoài về những năm tháng đầu đời ấy. Cô kể với tôi rằng cô chẳng thể nhớ nổi khoảng thời gian thơ bé nào mà mình không phải bế ẵm một đứa bé nặng trịch trên tay, phụ giúp việc giặt giũ cho tụi nhỏ, tìm cách lau chùi đôi bàn tay và khuôn mặt nứt nẻ vì lạnh của chúng. Cô nhớ về mái nhà xưa như một chốn lúc nào cũng đông đúc thừa thãi trẻ con, một người đàn ông cau có và núi công việc cứ chất chồng bủa vây xung quanh một người phụ nữ bệnh tật.
– Đó không phải lỗi của mẹ. Bà hẳn đã mang lại cho chúng em cuộc sống thoải mái nếu có thể. Nhưng đó không phải là cuộc sống dành cho một thiếu nữ! Từ khi em bắt đầu làm nghề chăn dắt và vắt sữa bò, trên người em mãi chẳng bao giờ gột sạch được mùi gia súc. Mấy món đồ lót ít ỏi em có đều được cất trong một chiếc hộp đựng bánh quy. Vào những đêm thứ Bảy, sau khi mọi người đã lên giường đi ngủ hết, lúc đó em mới được tắm táp nếu như không quá mệt mỏi. Em có thể đi hai chuyến ra cối xay gió để xách nước, rồi đun nóng nó trong chiếc thùng giặt trên bếp. Trong lúc đun nước, em có thể khuân một cái chậu tắm từ dưới hầm rượu lên và tắm táp ngay trong nhà bếp. Xong xuôi em có thể mặc một chiếc áo ngủ sạch sẽ lên giường ngủ cùng hai đứa khác, những đứa có khi chẳng đời nào được tắm rửa trừ khi do chính tay em kỳ cọ cho chúng. Anh chẳng thể dạy đời em điều gì về cuộc sống gia đình đâu. Em đã nếm trải quá đủ để tởn tới già rồi.
– Nhưng đâu phải tất cả đều như thế, tôi phản bác.
– Gần như thế cả thôi. Đều là cảnh sống dưới quyền sai khiến của ai đó cả. Có chuyện gì đang vướng mắc trong đầu anh thế, Jim? Sợ rằng có ngày em sẽ bắt anh cưới em à?
Đoạn tôi bảo cô rằng tôi sắp sửa đi xa.
– Sao tự dưng anh lại muốn đi thế, Jim? Em đối xử với anh không tốt chắc?
– Em đối xử với anh cực kỳ tốt luôn ấy chứ, Lena, tôi buột miệng thốt lên. – Anh chẳng thể nghĩ ngợi được mấy thứ khác. Anh sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến thứ gì khác chừng nào còn ở bên em. Anh sẽ chẳng bao giờ chịu ổn định và mài giũa bản thân nổi nếu cứ tiếp tục ở lại đây. Em biết rõ điều đó mà.
Tôi sà xuống bên cạnh cô và ngồi ngẩn ngơ nhìn xuống sàn nhà. Dường như tôi đã quên bẵng đi tất cả những lời giải thích hợp lý của mình.
Lena xích lại sát cạnh tôi, và sự ngập ngừng nhỏ nhoi trong giọng nói từng làm tôi tổn thương giờ đây hoàn toàn biến mất khi cô cất lời lần nữa.
– Lẽ ra em không nên bắt đầu chuyện này phải không anh? cô thì thầm. – Lẽ ra em không nên đến tìm anh vào lần đầu tiên ấy. Nhưng quả thật em rất muốn thế. Chắc là từ xưa đến giờ em vẫn hơi ngốc nghếch khi nghĩ về anh. Em chẳng biết điều gì đã xui khiến em làm thế đầu tiên nữa, trừ phi đó là Ántonia, cứ luôn mồm dặn dò em không được phép giở trò vớ vẩn nào với anh. Dù vậy, em đã để mặc anh yên thân suốt một thời gian dài cơ mà, phải không nào?
Cô quả là một sinh vật ngọt ngào xiết bao đối với những người cô yêu thương, hỡi Lena Lingard ấy!
Cuối cùng cô tiễn tôi ra về bằng một nụ hôn dịu dàng, chậm rãi mang ý nghĩa buông xuôi từ biệt.
– Anh không hối hận vì lần đó đã đến tìm em chứ? cô thì thầm. – Mọi thứ cứ tự nhiên như thế. Em từng nghĩ mình rất muốn trở thành người tình đầu tiên của anh. Anh hồi đó trông cứ ngốc nghếch buồn cười làm sao!
Lúc nào cô cũng hôn người ta hệt như thể cô đang buồn bã và khôn ngoan tiễn đưa họ đi xa mãi mãi.
Chúng tôi đã nói lời tạm biệt nhau biết bao nhiêu lần trước khi tôi rời khỏi Lincoln, nhưng cô chưa từng tìm cách ngăn cản hay níu kéo tôi lại. – Anh sắp đi rồi, nhưng mà anh vẫn chưa đi hẳn đâu phải không? cô thường hay nói thế.
Chương cuộc đời tôi ở Lincoln đã khép lại một cách đột ngột. Tôi về quê thăm ông bà ngoại vài tuần, sau đó đến thăm những người họ hàng ở Virginia cho đến khi hội ngộ với Cleric ở Boston. Lúc ấy tôi tròn mười chín tuổi.