Anne Trên Đảo Nhỏ

Lượt đọc: 99 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
Trong Công Viên

❊ ❊ ❊

– Các cậu dự định làm gì vào ngày hôm nay vậy, hỡi các cô gái? – Philippa cất tiếng hỏi khi ghé vào phòng Anne một buổi chiều thứ Bảy.

– Bọn tớ định đi dạo trong công viên, – Anne đáp. – Lẽ ra tớ phải ở nhà hoàn thành chiếc áo cánh của mình. Nhưng tớ không tài nào khâu vá nổi vào một ngày thế giới tuyệt thế này. Có cái gì đó lơ lửng trong không khí cứ ngấm vào huyết quản tớ, thắp lên một thứ hào quang trong tâm hồn. Ngón tay tớ cứ giật giật lên và thể nào tớ cũng khâu lệch đường chỉ cho mà xem. Thế nên, ta hãy mau hướng về công viên và những rặng thông thôi.

– “Bọn tớ” ở đây có bao gồm ai ngoài cậu và Priscilla không?

– Có chứ, có cả Gilbert và Charlie nữa, và bọn tớ sẽ rất vui nếu có cả cậu tham gia.

– Nhưng khổ nỗi, – Philippa ủ rũ nói, – nếu đi thì tớ sẽ phải đóng vai bóng đèn, và đó sẽ là một trải nghiệm hoàn toàn mới mẻ đối với Philippa Gordon.

– Chà, những trải nghiệm mới sẽ giúp ta mở mang tầm mắt. Cứ đi đi, rồi cậu sẽ có sự đồng cảm với tất cả những tội nghiệp phải thường xuyên đóng vai kỳ đà cản mũi. Mà lũ nạn nhân kia đâu hết rồi?

– Ồ, tớ đã phát chán với bọn họ và đơn giản là hôm nay không muốn bận tâm đến ai cả. Hơn nữa, tớ đang cảm thấy hơi u sầu một chút – chỉ là một sắc xanh nhạt nhòa, vơ vẩn thôi. Nó chưa đủ trầm trọng để thành một màu tối hơn. Tớ đã viết thư cho Alec và Alonzo vào tuần trước. Tớ bỏ thư vào phong bì và đề địa chỉ hẳn hoi, nhưng lại không dán kín mép. Tối hôm đó có một chuyện buồn cười xảy ra. Ý tớ là Alec sẽ thấy nó buồn cười, nhưng Alonzo thì chắc là không. Lúc đó tớ đang vội, nên cứ ngỡ mình vớt được bức thư của Alec ra khỏi phong bì liền viết nguệch ngoạc thêm mấy dòng tái bút. Rồi tớ gửi cả hai bức thư đi. Tớ nhận được thư trả lời của Alonzo vào sáng nay. Các cậu biết không, tớ lại nhét phần tái bút đó vào thư của anh ta và anh ta đã nổi trận lôi đình. Dĩ nhiên là anh ta rồi sẽ nguôi ngoai thôi – mà tớ cũng chẳng thèm quan tâm nếu anh ta không nguôi – nhưng nó đã làm hỏng cả ngày của tớ. Thế nên tớ nghĩ mình phải đến chỗ mấy cục cưng để được vực lại tinh thần. Sau khi mùa bóng bầu dục bắt đầu, tớ sẽ chẳng còn chút thời gian rảnh rỗi nào vào chiều thứ Bảy nữa. Tớ mê bóng bầu dục lắm. Tớ có chiếc mũ và áo len đẹp tuyệt sọc màu của Redmond để mặc đi xem các trận đấu. Thú thật là đứng cách xa một chút trông tớ chẳng khác nào một cột hiệu thợ cạo biết đi. Các cậu có biết rằng cái gã Gilbert của hai người vừa được bầu làm Đội trưởng đội bóng bầu dục năm nhất không?

– Biết chứ, cậu ấy đã kể cho tụi tớ nghe tối qua rồi, – Priscilla lên tiếng, thấy rõ Anne đang hằm hằm không thèm đáp. – Cậu ấy và Charlie đã ghé qua. Bọn tớ biết trước họ sẽ đến, nên đã cực nhọc cất hết mấy chiếc gối của cô Ada đi, không cho khuất mắt thì cũng ở nơi với tay không tới. Riêng chiếc gối thêu nổi rất cầu kỳ đó, tớ thả rơi xuống sàn ở góc phòng phía sau chiếc ghế mà nó đang nằm. Tớ cứ tưởng ở đó là an toàn. Thế mà các cậu có tin được không? Charlie Sloane vừa lao đến chiếc ghế đó, thấy chiếc gối đằng sau, bèn nghiêm trang vớt nó lên và ngồi lù lù trên đó suốt cả buổi tối. Chiếc gối lúc sau trông thật thảm hại làm sao! Hôm nay cô Ada tội nghiệp đã hỏi tớ, vẫn nở nụ cười nhưng ôi chao, đầy trách móc, rằng tại sao tớ lại để cho ai ngồi lên nó. Tớ liền đáp rằng tớ nào có muốn thế – rằng đó là định mệnh kết hợp với bản tính nhà Sloane không sao sửa đổi được và một đứa như tớ thì không tài nào chống lại nổi sự kết hợp ấy.

– Mấy chiếc gối của cô Ada thực sự đang làm tớ phát điên lên rồi đây, – Anne tiếp lời. – Tuần trước cô ấy vừa hoàn thành thêm hai chiếc nữa, được nhồi nhét và thêu thùa đến nghẹt thở. Do hoàn toàn chẳng còn chỗ nào trống không có gối để nhặt chúng đi, cô ấy đành dựng chúng sát vào tường ở chiếu nghỉ cầu thang. Chúng cứ chực đổ nhào xuống suốt và nếu tụi mình đi lên hay đi xuống cầu thang trong bóng tối thì thể nào cũng vấp phải chúng. Chủ nhật tuần trước, khi Tiến sĩ Davis cầu nguyện cho tất cả những ai gặp hiểm nguy trên biển, tớ đã thầm nhủ thêm rằng: “và cho cả những ai sống trong những ngôi nhà mà gối được yêu quý quá đà không đúng chỗ!” Thôi nào! Tụi mình sẵn sàng rồi đấy, và tớ thấy mấy cậu con trai đang đi qua khu Old St. John’s kìa. Cậu có nhập bọn với tụi mình không, Phil?

– Tớ sẽ đi, nếu được đi chung với Priscilla và Charlie. Mức độ làm bóng đèn thế thì còn có thể chịu đựng được. Cái gã Gilbert của cậu đúng là đáng yêu thật đấy, Anne, nhưng sao cậu ta lại cứ hay kè kè đi cùng cái gã Mắt Ếch thế nhỉ?

Anne đanh mặt lại. Bản thân cô chẳng mặn mà gì cho cam với Charlie Sloane; nhưng dù sao anh ta cũng là người Avonlea, nên chẳng người ngoài nào có quyền chế giễu anh ta cả.

– Charlie và Gilbert vẫn luôn là bạn từ trước tới nay, – cô lạnh lùng nói. – Charlie là một chàng trai tốt. Cậu ấy đâu có lỗi gì với đôi mắt của mình.

– Đừng có nói với tớ thế! Cậu ta có lỗi đấy chứ! Chắc chắn cậu ta đã làm điều gì đó tồi tệ lắm trong kiếp trước nên kiếp này mới bị trừng phạt bằng đôi mắt như vậy. Chút nữa Pris với tớ sẽ tha hồ trêu chọc cậu ta cho mà xem. Tụi tớ sẽ chế giễu ngay trước mặt mà cậu ta chẳng bao giờ nhận ra đâu.

Không còn nghi ngờ gì nữa, những “cô nàng P. bất trị” – theo cách gọi của Anne – hẳn đã thực hiện đúng những ý định đầy thiện chí của họ. Nhưng Sloane thì cứ ngây thơ tận hưởng trong hạnh phúc; cậu ta tưởng mình thật bảnh bao khi được đi dạo cùng hai nữ sinh đại học, đặc biệt là Philippa Gordon, gương mặt xinh đẹp và là hoa khôi của lớp. Chắc chắn điều đó sẽ gây ấn tượng mạnh với Anne. Cậu ta muốn cô thấy rằng vẫn có những người biết trân trọng giá trị đích thực của mình.

Gilbert và Anne tụt lại phía sau những người khác một chút, tận hưởng vẻ đẹp tĩnh lặng, êm đềm của buổi chiều mùa thu dưới những rặng thông trong công viên, trên con đường uốn lượn quanh co dọc bờ cảng.

– Sự yên lặng ở đây tựa như một lời cầu nguyện phải không, Anne? – Gilbert nói, ngước gương mặt lên bầu trời rực sáng. – Anh yêu những rặng thông biết bao! Chúng như cắm sâu rễ vào cõi lãng mạn của muôn đời. Thật là an ủi làm sao khi thỉnh thoảng lại được trốn đến đây để trò chuyện thỏa thích với chúng. Em luôn cảm thấy vô cùng hạnh phúc khi ở chốn này.

“Và rồi chốn núi non quạnh quẽ

Sực bủa vây tựa phép màu thiêng,

Mọi lo toan rũ rơi chẳng kể

Như lá thông lả tả bên thềm,”

Gilbert ngâm thơ.

– Chúng khiến những tham vọng cỏn con của chúng ta trở nên thật vụn vặt phải không, Anne?

– Em nghĩ rằng, nếu mai này có nỗi buồn lớn lao nào giáng xuống đời mình, em sẽ tìm đến những rặng thông để kiếm sự vỗ về, – Anne mơ màng nói.

– Anh mong sẽ chẳng có nỗi buồn lớn lao nào giáng xuống đời em cả, Anne, – Gilbert lên tiếng, người không tài nào gắn kết ý niệm về nỗi đau với sinh linh rực rỡ, tràn ngập niềm vui đang đi bên cạnh mình, mà không hề hay biết rằng những ai có thể bay cao đến tận tầng mây cũng có thể lao sâu xuống tận đáy vực thẳm, và những tâm hồn biết thưởng thức niềm vui sâu sắc nhất cũng chính là những kẻ chịu đựng nỗi đau đớn xé lòng nhất.

– Nhưng rồi nó sẽ đến thôi – thế nào cũng có lúc, – Anne trầm ngâm. – Cuộc đời lúc này trông giống như một chén ngọc đầy ắp vinh quang dâng lên bờ môi em. Nhưng chắc chắn trong đó phải có chút cay đắng – chén rượu nào mà chẳng thế. Rồi sẽ có ngày em phải nếm trải phần của mình. Chà, em mong mình sẽ thật mạnh mẽ và can đảm để đối mặt với nó. Và em mong điều đó không phải do lỗi lầm của chính em mà ra. Anh có nhớ lời Tiến sĩ Davis nói tối Chủ nhật tuần trước không – rằng những nỗi buồn Chúa gửi đến cho chúng ta sẽ mang theo sự an ủi và sức mạnh, trong khi những nỗi buồn do chính sự dại dột hoặc tội lỗi của chúng ta gây ra mới là thứ nặng nề khó gạt bỏ nhất? Nhưng tụi mình không được phép nói chuyện buồn trong một buổi chiều thế này. Nó sinh ra là để dành trọn cho niềm vui sống, đúng không anh?

– Nếu được theo ý anh, anh sẽ gạt bỏ mọi thứ khỏi cuộc đời em, chỉ để lại hạnh phúc và niềm vui thôi, Anne, – Gilbert nói bằng giọng điệu mang hàm ý “nguy hiểm phía trước”.

– Thế thì anh kém khôn ngoan lắm đấy, – Anne vội vã đáp lời. – Em chắc chắn chẳng có cuộc đời nào lại có thể phát triển trọn vẹn và viên mãn nếu thiếu đi những thử thách và nỗi buồn – dẫu rằng có lẽ chỉ khi sống khá thỏai mái thì chúng ta mới thừa nhận điều đó. Nào – mọi người đã đến chỗ cái chòi nghỉ và đang vẫy gọi chúng ta kìa.

Tất cả cùng ngồi xuống trong chiếc chòi nhỏ để ngắm hoàng hôn mùa thu với sắc lửa đỏ sẫm và ánh vàng nhạt. Phía bên trái họ là Kingsport, với những mái nhà và ngọn tháp mờ ảo trong lớp màn khói tím. Phía bên phải là hải cảng đang dần khoác lên mình những sắc hồng và ánh đồng khi trải dài ra phía hoàng hôn. Trước mặt họ, mặt nước lung linh phẳng lặng như lụa là và óng ánh sắc xám bạc, và xa xa hơn nữa, hòn đảo William’s Island trơ trụi nổi bật giữa màn sương, sừng sững canh gác thị trấn như một chú chó lùn hung dữ. Ngọn hải đăng chớp lóe qua màn sương giống như một vì sao gở, rồi được đáp lại bằng một ngọn khác ở tận chân trời xa tắp.

– Cậu đã bao giờ thấy một nơi trông vững chãi đến thế chưa? – Philippa hỏi. – Tớ không hẳn là khao khát có được William’s Island, nhưng tớ chắc là dù có muốn tớ cũng chẳng tài nào lấy được nó. Cậu nhìn người lính gác trên đỉnh pháo đài ngay sát lá cờ kìa. Trông anh ta chẳng phải giống như vừa bước ra từ một tiểu thuyết lãng mạn hay sao?

– Nhân nói chuyện lãng mạn, – Priscilla tiếp lời, – tụi tớ đã đi tìm hoa thạch nam – nhưng dĩ nhiên là chẳng tìm thấy đâu cả. Chắc là quá muộn trong mùa rồi.

– Hoa thạch nam! – Anne thốt lên. – Hoa thạch nam đâu có mọc ở châu Mĩ, phải không các cậu?

– Chỉ có đúng hai thảm hoa trên cả lục địa này thôi, – Phil nói, – một thảm ngay tại công viên này, và một thảm ở đâu đó tại Nova Scotia, tớ quên mất rồi. Trung đoàn Highland danh tiếng, Black Watch, từng đóng quân ở đây một năm, và khi họ rũ rơm lót giường vào mùa xuân, một vài hạt giống thạch nam đã bén rễ mọc lên.

– Ồ, thật là tuyệt diệu làm sao! – Anne trầm trồ thích thú.

– Tụi mình về nhà theo đường đại lộ Spofford đi, – Gilbert đề nghị. – Chúng ta có thể ngắm toàn bộ “những ngôi nhà xinh đẹp nơi các bậc quyền quý ở”. Đại lộ Spofford là con phố dân cư đẹp nhất ở Kingsport. Chẳng ai được phép xây nhà ở đây trừ khi là triệu phú.

– Ồ, đi đường đó đi, – Phil giục. – Có một chốn nhỏ xinh xắn tuyệt đỉnh tớ muốn cho các cậu xem này, Anne. Nó không phải do triệu phú xây đâu. Nó là ngôi nhà đầu tiên ngay khi cậu rời khỏi công viên, và chắc hẳn nó đã lớn lên từ khi đại lộ Spofford vẫn chỉ là một con đường làng. Nó thực sự đã lớn lên – chứ không phải được xây cất! Tớ chẳng mến gì mấy căn nhà trên Đại lộ này. Chúng quá mới tinh và toàn kính là kính. Nhưng chốn nhỏ bé này quả là một giấc mơ – và cái tên của nó nữa – nhưng cứ đợi mà xem rồi cậu sẽ rõ.

Họ đã nhìn thấy nó khi bước lên ngọn đồi viền những hàng thông từ công viên dẫn tới. Ngay trên đỉnh đồi, nơi đại lộ Spofford ngã nhịp vào một con đường thông thường, là một ngôi nhà gỗ nhỏ màu trắng với những cụm thông mọc ở hai bên, vươn những cành tay che chở bảo bọc lấy mái nhà thấp lè tè. Ngôi nhà được phủ kín bởi những dây leo đỏ và vàng, xuyên qua đó những ô cửa sổ chớp xanh đang ngó ngoáy nhìn ra ngoài. Trước nhà là một khu vườn nhỏ xinh, được bao quanh bởi bức tường đá thấp. Dù đã là tháng Mười, khu vườn vẫn ngào ngạt hương thơm của những loài hoa và cây bụi cổ điển, mộc mạc, đậm chất điền viên – nào là cỏ thơm, ngải tây, cỏ roi ngựa chanh, alyssum, hoa dạ yến thảo, cúc vạn thọ và hoa cúc. Một lối đi nhỏ lát gạch theo hình xương cá dẫn từ cổng vào hiên trước. Toàn bộ cơ ngơi ấy như thể vừa được bứng gốc từ một ngôi làng quê nghèo hẻo lánh nào đó; thế nhưng nơi đây lại mang một vẻ gì đó khiến cho người hàng xóm sát vách, dinh thự xa hoa vây quanh bởi thảm cỏ của một ông trùm thuốc lá, bỗng trở nên vô cùng kệch cỡm, phô phang và kém sang trọng một cách tương phản. Đúng như lời Phil nhận xét, đó là sự khác biệt giữa một vẻ đẹp bẩm sinh và một vẻ đẹp gọt giũa nhân tạo.

– Đây là nơi đáng yêu nhất mà tớ từng thấy, – Anne vui mừng thốt lên. – Nó mang lại cho tớ một trong những cơn nhức nhối kỳ cục, đáng yêu ngày trước. Nó còn đáng yêu và cổ kính hơn cả ngôi nhà đá của cô Lavendar nữa.

– Cái tên mới là thứ tớ muốn cậu đặc biệt chú ý, – Phil nói. – Cậu nhìn kìa – bằng những chữ cái màu trắng, uốn lượn quanh chiếc cổng vòm trên cánh cổng đó. “Nhà của Patty”. Có buồn cười không cơ chứ? Nhất là trên cái Đại lộ toàn những Pinehurst với Elmwolds và Cedarcrofts này? “Nhà của Patty”, xin thưa với các cậu thế đấy! Tớ mê nơi này quá đi mất.

– Cậu có biết Patty là ai không? – Priscilla hỏi.

– Patty Spofford là tên của bà cụ sở hữu nó, tớ đã dò la được rồi. Bà ấy sống ở đó với cô cháu gái, và họ đã ở đây từ hàng trăm năm nay, tính xấp xỉ thế – có lẽ bớt đi một chút đấy, Anne. Phóng đại chỉ là một chút bay bổng của trí tưởng tượng thi ca mà thôi. Tớ nghe nói những kẻ giàu có đã hết lần này đến lần khác tìm cách mua lại mảnh đất này – thực ra bây giờ nó đáng giá cả một gia tài nhỏ rồi đấy, cậu biết đấy – nhưng “Patty” nhất quyết không bán dưới bất kỳ hình thức nào. Và đằng sau nhà còn có một vườn táo thay cho khoảng sân sau – các cậu sẽ thấy khi tụi mình đi qua thêm một đoạn nữa – một vườn táo chính hiệu ngay trên đại lộ Spofford!

– Tối nay tớ sẽ mơ về “Nhà của Patty” cho mà xem, – Anne nói. – Chà, tớ có cảm giác như thể mình thuộc về nơi này vậy. Không biết liệu có khi nào tụi mình có cơ hội bước chân vào bên trong đó không nhỉ?

– Chắc là không đâu, – Priscilla đáp.

Anne mỉm cười đầy vẻ bí ẩn.

– Không, chắc là không thật. Nhưng tớ tin điều đó sẽ xảy ra. Tớ có một cảm giác là lạ, rờn rợn chạy dọc sống lưng – cậu có thể gọi nó là điềm báo, nếu muốn – rằng “Nhà của Patty” và tớ rồi sẽ còn thân thiết hơn nữa cơ.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.