Cơ sở kinh tế xã hội và mối quan hệ giữa con người trong thời kỳ Chiến Quốc đã phát sinh ra những sự biến động rất to lớn. Những biến động này cũng được phản ánh trên mặt tư tưởng, văn hóa. Những nhân vật đại biểu cho phe phái khác nhau, trước những biến động xã hội kịch liệt đều có những phân tích theo kiểu riêng của mình, nỗ lực nêu ra những tư tưởng và chủ trương của người khác. Một thời gian, các loại học phái sôi nổi như măng mọc sau mưa, người ta trình bày ý kiến, tranh luận nhau, vô cùng sôi nổi. Lịch sử gọi cục diện sinh động này là “Trăm nhà đua tiếng” (bách gia tranh minh)
Chữ “Trăm” trong “trăm nhà đua tiếng” không phải là con số thực, mà là hình dung con số nhiều của các loại học phái. Trên thực tế, những học phái tương đối quan trọng lúc đó chỉ có 6 nhà đó là Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia, Doanh gia, và Ân dương gia. Ngoài ra, còn có Bình gia, Nông gia, Tung hoành gia, Tạp gia... Số nhà tư tưởng nhiều như vậy lại cùng nghiên cứu một đối tượng là xã hội rối loạn mà họ đang ở. Thế nhưng, do vì lập trường và thái độ xử thế của mỗi người không giống nhau, chủ trương của họ cũng mỗi người một khác. Có những người hoàn toàn đối lập nhau, có những người gần giống nhau, thật đến là lắm thuyết khác nhau, muôn màu muôn vẻ, biến đổi khôn lường. Nó ra thật là thú vị. Dưới đây xin giới thiệu sơ lược nội dung học thuyết của mấy nhà.
Người sáng lập Nho gia là Khổng Tử ở cuối thời kỳ Xuân Thu. Ông chủ trương khôi phục lại chế độ điển chương và quy phạm đạo đức của Tây Chu, con người cần phải khiến cho lời nói và việc làm của mình phù hợp với danh phận đẳng cấp. Lý tưởng chính trị của ông là yêu cầu các nhà thống trị thực hành “nhân chính”, ông lại đề xuất ra chủ trương “nhân giả ái nhân”, yêu cầu các nhà thống trị cần phải tiết chế sự bóc lột và sai khiến đối với những người bị thống trị, không được làm ảnh hưởng tới sự sinh tồn của người lao động để tránh cho việc hưởng thụ vật chất của người thống trị không còn nguồn cung cấp nữa. Cho nên “ái nhân” (yêu người) trên thực chất là yêu chính mình. Mặc dù vậy, Khổng Tử đã thừa nhận quyền lợi làm người tối thiểu của những người lao động, khác hẳn với việc coi nô lệ là những công cụ biết nói. ở thời đại Chiến Quốc, Mạnh Kha đã kế thừa và phát huy học thuyết của Khổng Tử. Ông coi trọng “nhân nghĩa” hơn thế, ông đã nhấn mạnh “nghĩa” là tiêu chuẩn để phán đoán đúng sai. Chống lại điều “nghĩa” thì cho dù là nhà vua cũng có thể phản đối. Điều này, ở thời đại đó là sự cả gan rất to lớn. Mạnh Kha được mọi người tôn xưng là Mạnh Tử, là người kế thừa chủ yếu của học thuyết Khổng Tử. Về sau, mọi người còn gọi học thuyết Nho gia là Đạo của Khổng Mạnh. Học thuyết Nho gia có ích lợi rất to lớn đối với việc củng cố chính quyền của những người thống trị, cho nên đã lưu lại những ảnh hưởng sâu xa cho hậu thế.
Một nhà Đại tư tưởng của Nho gia là Tuân Tử, tức Tuân Huống. Tuân Tử tuy là Nho gia, thế nhưng khác với tư tưởng của Mạnh Tử. Ông đã tổng kết có phê phán những quan điểm của Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Danh gia... hấp thu những ưu điểm, đã hình thành những kiến giải riêng độc đáo, đặc sắc, trở thành nhà đúc rút tổng kết hoàn chỉnh của tư tưởng Tiên Tần. Ông vừa chủ trương đổi mới vừa đề xuất tư tưởng duy vật chủ nghĩa: con người có thể nắm vững quy luật tự nhiên để rồi lợi dụng nó. Tuân Tử là nhà tư tưởng duy vật chủ nghĩa vĩ đại nhất trong thời kỳ Chiến Quốc, lại là nhà kiên trì sự thống nhất quốc gia tiến bộ. Nhữnước Ngô nhân vật đại biểu của Pháp gia như Hàn, Phi, Lý Tư đều là học trò của ông.
Học thuyết Pháp không giống Nho gia, nhân vật đại biểu là Hàn Phi đã phản đối “Lễ” và “Nhân” mà Nho gia đề xướng, cho rằng những điều đó thi hành không được thông suốt. Theo ông, sở dĩ xã hội rối loạn là do pháp chế lỏng lẻo, cho nên ông chủ trương “Pháp trị”, tức là do chính phủ ban bố pháp lệnh và chế độ nhất định, bất luận là cao thấp, giàu nghèo, mọ người đều phải tuân thủ, có công tất thưởng, có tội tất phạt, dù là vương công quý tộc mà phạm pháp thì cũng phải trị tội như dân thường. Như vậy mọi người đều sợ hãi và tuân theo, việc xấu xa sẽ có thể giảm bớt. Ngoài “Pháp” ra, ông còn khuyên nhà vua cần coi trọng “Thuật” và “Thế”. Cái gọi là “Thuật” , tức là cần phải có một hệ thống quyền thuật (mưu mô thủ đoạn) để điều khiển Thần tử, “Thế” tức là uy quyền và thế lực dùng để bảo vệ nhà vua. Những thứ này có tác dụng tăng cường tập quyền của nhà vua, cho nên những nhà chính trị cải cách đều tán thành học thuyết của Pháp gia. Tần Vương Doanh Chính một mặt trọng dụng Lý Tư, một mặt còn đặc biệt triệu kiến Hàn Phi.
Người sáng lập ra Đạo gia là Lão Tử ở cuối thời Xuân Thu. Đến thời Chiến Quốc đã phát huy được học thuyết của ông. Chủ trương của Đạo gia khác với Pháp gia, phản đối pháp lệnh hà khắc vụn vặt, cho rằng đây là nguồn gốc làm cho thiên hạ mất an, chủ trương “vô vi nghi tự”, đòi những người thống trị không được có hành động gì, tất thảy đều phải thuận theo sự tự niên của nó. Học thuyết của đạo gia đã phản ánh tư tưởng bất mãn với hiện thực nhưng không trốn tránh hiện thực.
Mặc gia lại có cách nhìn khác. Cụ tổ của Mặc gia lặMc Tử (Mặc Địch), người đã gần Sở đánh Tống. Ông cho rằng sở dĩ xã hội rối loạn, là bởi con người không tương ái, cho nên ông đề xuất chủ trương “kiến ái” và “phi công”, phản đối những việc làm tổn hại đến người khácm phản đối chiến tranh, đòi hỏi mọi người yêu tất cả mọi người, không phân biệt thân sơ xa gần. Ông cho rằng nếu tất cả mọi người đều làm được điều này thì sẽ không thể có các loại tội ác phát sinh. Ông còn yêu cầu bổ nhiệm, sử dụng người tài, làm cho “người đói được ăn, người rét được áo, người vất vả được nghỉ ngơi. Một loạt chủ trương của Mặc Tử là không tưởng, không có khả năng thực hiện trong hoàn cảnh thời đó.
Các học phái muôn màu muôn vẻ, đều cho rằng chủ trương của mình là chính xác, là phương thuốc tốt lành làm cho nước giàu, dân lợi, được những người thống trị sử dụng, cho nên họ đều không tiếc sức tuyên truyền cho học thuyết của mình, đồng thời công kích và phủ định các học phái khác, các cuộc tranh luận giữa các học phái khác nhau không thể chấm dứt được.
Vì vậy, Hàn Phi cho rằng, chỉ có thực hành “Pháp trị”, mới có thể khiến cho đất nước giàu mạnh lên được.
Vì mục đích mở rộng ảnh hưởng học thuyết của mình; các nhà đều hăng hái viết sách lập thuyết “Mạnh Tử”, “Mặc tử”, “Tuân Tử”, “Trang Tử”, “Hàn Phi Tử”, đều là những trước tác nổi tiếng nhất. Thế nhưng ở thời đó còn chưa phát minh ra giấy và thuật ấn loát, chữ viết ở trên thành tre và gỗ, vô cùng bất tiệnh, càng không có khả năng xuất bản ra thành sách được, cho nên việc tiến hành du thuyết và dạy học trở thành một con đường tuyên truyền quan trọng. Mạnh Tử đã từng tới các nước du thuyết, đẩy mạnh chủ trương của mình; học sinh của Mặc Tử có rất nhiều người xuất thân từ tầng lớp lao động; Trang Tử là một nhà tản văn giỏi văn chương; Tuân Tử là một giáo sư có uy tín cực kỳ cao, ông còn theo đuổi sáng tác văn học, đầu thời kỳ Chiến Quốc, tại Tây Thành Môn - Tắc Hạ ở đó Thành Lâm Trung nước Tề đã xây dựng ra học cung, thiết lập những đại giảng đường, tạo điều kiện cho các học giả từ các nước đến dạy học. Đến thời Tề Tuyên Vương, học cung được mở rộng thêm một bước, có thể chứa đựng tới mấy ngàn học sinh. Truyền thuyết kể rằng đến thời Tần Lân Vương, thậm chí có thể chứa đựng tới mấy vạn người. Tuân Tử đã từng làm qua ba khóa “Tế Tửu” (hiệu trưởng) của học cung này. Đối với số học sĩ này, nước Tần đều đãi ngộ lương ăn và học bổng như quan đại phu, tôn trọng họ là “biệt đại phu”. Các nhà đều tranh giành nhau tới nước Tề dạy học, Tắc Hạ đã trở thành trung tâm giao lưu tư tưởng văn hóa lúc đó. Từ đây chúng ta có thể hình dung được cảnh tượng sôi nổi trăm nhà đua tiếng, học thuật phồn vinh thời đó như thế nào.
“Chủ tử bách gia” của thời kỳ Chiến Quốc đã có ảnh hưởng rất to lớn đối với đương thời và đời sau. Học thuyết Pháp gia đắc thế nhất thời đó. Các nước Ngụy, Sở, Tần... lần lượt đẩy mạnh chủ trương của Pháp gia.Nhưng “Pháp trị” của Pháp gia lại có mặt áp bức bóc lột tàn khóc đối với nông dân, rất dễ dàng kích kích mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân, cho nên ách thống trị của vương triều nhà Tần chưa đầy mười mấy năm đã bị ngọn lửa khởi nghĩa của nông dân nuốt sống. Giai cấp thống trị triều Hán kế tiếp hấp thu bài học giáo huấn này, nhận thức được nếu chỉ dựa vào “hình phạt nghiêm pháp luật hà khắc” thì không thể củng cố được nền thống trị của mình, tức thì, họ lại thay đổi đề xướng “Hoàng lão chi học”(1) của đạo gia, dùng biện pháp “vô vi nhi trị”(2) để hòa hoãn mâu thuẫn xã hội, để cho dân chúng được nghỉ ngơi hưu dưỡng, phát triển sản xuất. Về sau, họ lại thay đổi, cải biến thêm tư tưởng của Nho gia, dùng “Trung hậu, nhân nghĩa” làm vũ khí tư tưởng để thống trị nhân dân, hơn thế đã bắt đầu cục diện “bãi truất bách gia, độc tôn nho thuật”. Từ đó về sau, đạo của Khổng Mạnh đã chi phối nền văn hóa tư tưởng của xã hội phong kiến Trung Quốc suốt 2000 năm.