Truyện Thông sử Trung Quốc

Lượt đọc: 1065 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
50. Khổng Tử và Lão Tử

❊ ❊ ❊

Khổng Tử, nhà tư tưởng lớn, nhà giáo dục lớn trong thời cổ đại Trung Quốc, nguyên là người nước Lỗ trong thời kỳ Xuân Thu. Ông họ Khổng, tên Khưu, tự là Trọng Nê, sinh năm 551 trước Công Nguyên. Tư tưởng và học thuyết của ông đã có ảnh hưởng cực kỳ to lớn trong lịch sử Trung Quốc.

Tổ tiên của Khổng Tử là quý tộc nước Tống, đời cụ nội của ông vì lánh nạn nên chạy sang nước Lỗ, cha ông là quan đại phu ở ấp Châu, nước Lỗ. Khi Khổng Tử còn nhỏ, thì cha đã qua đời, người mẹ đem theo Khổng Tử dời tới đô thành Khúc Phụ nước Lỗ, cách Châu ấp không xa, sống cuộc sống nghèo khổ.

Nước Tống là con cháu đời sau của Ân Thương, nước Lỗ lại là đất phong cảnh của Chu Công vào đầu nhà Chu, cả hai nước này đều bảo tồn được rất nhiều văn hóa Thượng Chu cổ xưa; nước Lỗ lại là trung tâm văn hóa được công nhận ở thời đó. Từ nhỏ Khổng Tử đã được hấp thụ nền văn hóa cổ lão này, hiểu được rất nhiều lễ giáo cổ đại, thích dùng các mảnh gỗ nhỏ làm đồ cúng bái, nặn đất làm đồ cúng phẩm, diễn tập các nghi lễ cổ.

Lễ giáo thời đó có rất nhiều loại. Kết hôn, người chết, cũng lễ tổ tiên... đều có một loạt nghi thức rất rườm rà, phức tạp. Lẽ dĩ nhiên, người nghèo không thể màng tới những lễ nghĩa này, nhưng từ vua, chư hầu, quan đại phu đến các chủ nô, các nhà quý tộc nói chung đều rất coi trọng thứ này. Họ cho rằng đây chính là cơ hội tốt để khuyếch trương thế lực và của cải. Mỗi khi gặp chuyện đại sự, tang lễ họ thường thuê một số người tới cử hành các hình thức nghi lễ. Những người làm nghề này gọi là “Nho”. Khổng Tử cũng đã làm qua nghề này cho nên đời sau gọi học thuyết mà Khổng Tử đề xướng là “Nho giáo”.

Lúc Khổng Tử còn nhỏ đã thông thuộc một số hệ thống Chu Lễ, nhưng trong suốt cuộc đời bôn ba của mình ông vẫn không ngừng đào sâu nghiên cứu. Một lần, bước vào miếu đường tế lễ Chu Công của nước Lỗ, trông thấy từng hạng mục lễ tiết, mỗi đồ vật cúng tế, đều khiêm tốn thỉnh giáo những người thành thạo nghề. Có người cười mỉa ông mà rằng:

- Ai bảo con cháu đời sau của quan đại phu Trâu ấp này hiểu được nghi lễ nhỉ? Cứ xem ra ông ta mê mải hỏi như vậy, chứng tỏ ông ta chẳng hiểu gì cả.

Khổng Tử thản nhiên nói:

- Không hiểu thì hỏi, đó chính là lễ vậy!

Khổng Tử lại còn nói:

- Biết thì thưa thớt, không biết dựa cột mà nghe, như vậy mới là người thông minh.

Do khiêm tốn, ham học hỏi, Khổng Tử đã tinh thông Chu lễ. Năm ông 30 tuổi đã có người chuyên tới thỉnh giáo ông về Chu lễ. Trình độ, học thức về các phương diện khác của Khổng Tử cũng rất phong phú, danh tiếng cũng dần được nâng cao.

Tại sao Khổng Tử lai hứng thú với Chu lễ? Vốn là, vào thời đỉnh thịnh của Vương thất nhà Chu, Thiên Vương đã có uy quyền tuyệt đối, tất cả các nước chư hầu đều phải nghe theo sự điều khiển của nhà vua, Chu Công lại dùng hình thức “Đặt ra lễ làm ra nhạc” để phân định sự khác biệt của vua tôi, cha con, cao thấp, sang hèn, củng cố trật tự chính trị. Đến thời kỳ Xuân Thu, Vương thất nhà Chu chỉ còn là một bộ khung trống rỗng, suy vong, hữu danh vô thực, các nước chư hầu đều tranh nhau làm bá chủ. Những vụ việc làm loạn, phạm thượng, hại cha, giết vua thường xuyên xảy ra, chiến tranh thôn tính lẫn nhau liên miên không dứt. Đến Vương thất nhà Chu cũng bị coi thường, dĩ nhiên trong tình hình ấy thì Chu lễ càng chẳng có ai tuân thủ nữa. Khổng Tử cho rằng sự biến động xã hội là kết quả của việc Chu lễ bị phá hoại, cho nên ông muốn thông qua việc phục hưng Chu lễ, hy vọng khôi phục nền thống tri của nhà vua, ổn định xã hội. Do bảo thủ, Khổng Tử rất có ác cảm với một số hành vi “vượt lễ” lúc đó. Năm 35 tuổi, Khổng Tử nghe nói nhà Lý Thị có tổ chức đội ca múa gồm 64 người hợp thành, ông rất bực. Vì sao vậy? Bởi, theo quy định của Chu lễ, đội múa gồm 8 người được gọi là một dật (hàng người đứng múa) chỉ Thiên tử mới được sử dụng đội múa 8 dật do 64 người hợp thành, chư hầu dùng 6 dật, quan đại phu như Lý Thị chỉ được phép sử dụng một đội múa 4 dật do 32 người hợp thành. Hiện tại Lý Thị ngang nhiên bắt chước quy cách mua vui của Thiên tử, há chẳng phải là đại nghịch bất đạo sao? Cho nên Khổng Tử kinh ngạc kêu to: “Một việc vượt lễ như thế mà họ còn làm, hỏi còn việc gì họ không dám?”.

Về sau, Khổng Tử lấy việc dạy học để hành nghề. Khi ông 51 tuổi đã làm tới chức Trung Đô Tể (Trung Đô là huyện Vấn Thượng, tỉnh Sơn Đông ngày nay) của nước Lỗ, sang năm đã thăng lên làm chức Tư Không (chủ quản việc tư pháp). Khổng Tử làm việc rất có hiệu quả, nghe nói thời đó các nước chư hầu đều bắt chước cách làm của ông.

Nước Lỗ và nước Tề là hai quốc gia láng giềng, ngoài mặt và trong lòng đều bất hòa, luôn luôn đề phòng lẫn nhau, không muốn đối phương vượt lên. Hiện tại, về nhiều mặt, nước Lỗ đã khởi sắc, danh tiếng cũng đã được đề cao, nước Tề liền xem đó là sự uy hiếp đối với mình. Tề Cảnh Công phái sứ giả sang nước Lỗ mời Lỗ Định Công tới Hiệp Cốc (huyện Lai Vu, tỉnh Sơn Đông ngày nay) để tiến hành hội thề, điều chỉnh lại mối quan hệ đôi bên. Lỗ Định Công nhận được lời mời rất vui vẻ, đã toan tới dự. Khổng Tử nói:

- Chúa công không nên vội vàng như vậy, lần này Chúa công tới hội thề với nước Tề, tuy nói là chấn chỉnh lại giao hảo, nhưng cũng cứ mang theo võ tướng, đề phòng bất trắc mới được.

Lỗ Định Công tiếp thu ý kiến của Khổng Tử, đem theo các quan tả hữu tư mã, hơn thế, còn chỉ định riêng Khổng Tử làm Tán Lễ quan, rồi kéo tới địa phương Hiệp Cốc. Tề Cảnh Công cũng dùng lễ nghênh tiếp. Sau khi hai bên tặng lễ phẩm cho nhau, đã cử hành yến tiệc thịnh soạn. Trong yến tiệc, Tán Lễ quan nước Tề tấu “Nhạc tứ phương” cho Lỗ Định Công nghe. Chỉ thấy từng đội võ sĩ tay cầm qua, mâu, kiếm, kích, xông ào lên như ong vỡ tổ trong tiếng âm nhạc đệm; nói là nhảy múa nhưng sao sát khí đằng đằng, khiến Lỗ Định Công mặt mày tái xám. Quan tả hữu tư mã phụ trách hộ giá cầm kiếm bảo vệ ở hai bên Lỗ Định Công. Lúc này, Khổng Tử đã thoăn thoắt bước lên trên bậc đài nhìn thẳng vào Tán Lễ quan nước Tề, phẩy ống tay áo, cao giọng quát:

- Vua hai nước đang hội nghị hữu hao, sao lại cho múa qua múa kiếm? Sao ông không đuổi hết bọn chúng đi?

Viên Tán Lễ quan lệnh cho các võ sĩ lui ra. Các võ sĩ không nghe, đưa mắt thăm dò thái độ của Tề Cảnh Công. Tề Cảnh Công đuối lý, đành phải khoát tay bắt bọn chúng lui về, hạ lệnh tấu “nhạc trong cung”. Lát sau, một bọn người lùn bé, nom gớm ghiếc, cợt nhả uốn éo những tiết mục hạ lưu, chướng tai, gai mắt. Khổng Tử lại một lần nữa bước nhanh lên đài, nghiêm khắc chất vấn Tán Lễ quan nước Tề:

- Những thằng oắt này ngang nhiên bỡn cợt chư hầu, làm rối mắt của mọi người, dựa theo luật cần phải chém đầu, ngài còn chờ gì nữa?

Tán Lễ quan đành phải hạ lệnh đem giết chết hết đám người lùn tí hon này. Yến tiệc mất vui, đến đây phải giải tán. Đây chính là Hội Hiệp Cốc nổi tiếng.

Sau cuộc hội thề, Tề Cảnh Công biết vua tôi nước Lỗ không chịu tỏ ra yếu thế, đành phải nhượng bộ, đem các đất Vận, Vấn Dương, Quy Âm... đã xâm chiếm, trả cho nước Lỗ để tỏ ý cáo lỗi. Khổng Tử có công bảo toàn nhà vua, nên càng được Lỗ Định Công tín nhiệm.

Nước Lỗ lúc này là thiên hạ của “Tam Hoàn” - Mạnh Tôn, Thúc Tôn và Lý Tôn, ngay cả đến nhà vua cũng phải nghe theo sự sắp đặt của họ. Khổng Tử lại rất khó chịu, đã nêu kiến nghị tước bỏ “Tam Hoàn”, tăng cường địa vị nhà vua với Lỗ Đình Công, ông nói:

- Chu lễ quy định, trong nhà quan đại phu không được tàng trữ vũ khí, tường thành đất phong không được dài quá 300 trượng. Hiện tại các nhà “Tam Hoàn” đã phá hoại các quy củ, uy hiếp sự an tòan của Chúa Công. Chúa Công nên hạ lệnh bắt họ phá bỏ tường thành trên đất phong, giải trừ võ trang, có thể mới mong trị nước được yên ổn lâu dài.

Lỗ Trang Công cảm thấy rất có lý, vội vàng nói:

- Ta mong sao được như vậy, chỉ sợ “Tam Hoàn” không bằng lòng.

Khổng Tử nói một cách chắc chắn:

- Thần nghĩ chẳng có gì khó.

Tức thì bắt đầu từ gia thần Lý Tôn Thị, rồi móc với hai nhà kia, thế là cả ba đều đồng ý dỡ bỏ tường thành trên đất phong của mình.

Tại sao “Tam Hoàn” đồng ý tước bỏ và làm suy yếu thế lực của mình? Thì ra, suốt một thời kỳ dài “Tam Hoàn” chia nhau nắm giữ đại quyền nhà nước, tiến hành nhiều hoạt động ở đô thành, giao mọi việc ở trên đất phong của mình cho gia thần quản lý. Như vậy là, gia thần đã trở thành người khống chế thực tế ở đất phong, “Tam Hoàn” thực sự cũng không thể chi phối được. Dỡ bỏ tường thành, ngoài mặt là “Tam Hoàn” tước bỏ và tự làm suy yếu thế lực, kỳ thực là tước bỏ và làm suy yếu gia thần, khôi phục lại thế lực của mình. Bởi vậy mà họ đã ra tay? Thế nhưng, các gia thần của “Tam Hoàn” đều kịch liệt phản đối. Gia thần của hai nhà Thúc tôn lần lượt dùng vũ trang làm phản loạn, thậm chí đã đánh vào Đô Thành Khúc Phụ, bao vây chặt Lỗ Định Công. Khổng Tử, một mặt thu hồi vũ trang của “Tam Hoàn”, một mặt lo điều binh khiển tướng, mới tạm gọi là dẹp yên được cuộc phản loạn, rồi thừa thế bỏ hết tường thành của hai nhà.

Cuối cùng chỉ còn lại tường thành của Thành Thành trên đất phong thuộc Mạnh tôn, gia thần Công Liếm Dương kiên quyết không chịu dỡ bỏ. Công Liếm Dương cho rằng tường thành thì không thể dỡ bỏ, sở dĩ hai nhà Thúc Tôn và Lý Tôn phải dỡ bỏ là vì gia thần gây chuyện phản loạn; nếu ta cũng dỡ theo, há chẳng là a tòng với phản thần hay sao? Có điều, dỡ bỏ tường thành là mệnh lệnh của nhà vua, không dễ gì trực tiếp phản đối được. Công Liếm Dương bèn đi tìm Mạnh Tôn Thị, bảo ông ta tới thuyết phục Khổng Tử.

Khổng Tử nghe nói Công Liếm Dương kiên quyết như vậy, bèn thuận nước đẩy thuyền, nói:

- Không dỡ bỏ cũng chẳng sao. Một là, ba thành đã phá hai, Thành Thành đã rơi vào thế cô lập. Hai là, Công Liếm Dương từ trước vẫn trung thành với vua Lỗ, không thể làm những việc trái phép như gia thần của hai nhà kia. Ba là, Thành Thành ở phía Bắc gần nước Tề, bảo vệ cửa lớn phía Bắc, thiết nghĩ, giữ lại tường thành của Thành Thành cũng là điều rất cần thiết.

Thúc Tôn và Lý Tôn nghe Khổng Tử giảng giải có lý, lại thấy được thực lợi là tước bỏ và làm yếu thế lực của gia thần, nên không có ý kiến gì nữa. Mạnh Tôn và gia thần của ông ta cũng được bảo đảm thể diện, cuối cùng tường Thành Thành đã được giữ lại.

Vậy thì sao Khổng Tử lại thay đổi chủ ý, đồng ý giữ lại tường thành của một nhà? Đó là vì mục đích chính trị hủy hoại Tam Đô đã đạt được, địa vị của nhà vua được tăng cường, “Tam Hoàn” đã phải giải trừ vũ trang, sự uy hiếp đối với nhà vua đã giảm bớt, đồng thời còn khống chế được thế lực của gia thần, thực quyền của “Tam Hoàn” cũng đã được khôi phục. Dỡ bỏ tường thành đã đưa tới sự phản loạn của gia thần hai nơi, khó khăn lắm mới có thể dập tắt được. Nếu lại bức cho Công Liếm Dương làm loạn thì cục diện sẽ càng khó tháo gỡ. Hơn thế, nước Tề ở phía Bắc đang như hổ khát nước, việc giữ lại tường thành của Thành Thành quả thực cũng là cần thiết. Do vậy, Khổng Tử mới quay ngoắt 180 độ.

Hành động hủy hoại Tam Đô của Khổng Tử đã bảo vệ được lợi ích của bọn thống trị nước Lỗ, do đó đã được vua tôi nước Lỗ tôn trọng. Thế nhưng, Lỗ Định Công tham lam, quen hưởng lạc, không nghĩ gì đến việc triều chính, Khổng Tử tự thấy nếu cứ ở nước Lỗ thì cũng làm nên công trạng gì, bèn dẫn một số học sinh rời khỏi nước Lỗ, tới nơi khác thực hành chủ trương chính trị dùng lễ trị quốc của mình.

Khổng Tử chủ trương tích cực nhập thế, nhiệt thành hoạt động chính trị. Ông đi chu du các nước suốt 14 năm trời, phần lớn thời gian sống ở nước Vệ (trước sau gần 10 năm và nước Tần (ba năm), thời gian còn lại thì bôn ba ở các nước như Tống, Thái, Sở... kể cũng đáng thương, Khổng Tử dẫn một số học sinh chạy Đông, chạy Tây, tiến hành du thuyết với vua các nước tuyên truyền chủ trương chính trị, nhưng chủ trương của ông lại quá thủ cựu, kết quả là không được người đời tiếp thu hoặc kính nhi viễn chi, tôn kính ông nhưng không trọng dụng ông. Đi tới đâu Khổng Tử cũng đụng phải chướng ngại, cuối cùng đành phải trở về nước Lỗ. Từ đó, ông chuyên tâm một dạ ở nhà dạy học, nghiên cứu học vấn. Cho đến năm 73 tuổi (năm 479 trước Công Nguyên), thì ông qua đời.

Cống hiến nổi bật nhất của Khổng Tử vẫn là về mặt giáo dục. Trước đây, trường học đều do quan phủ mở, chỉ có con em quý tộc mới được tới học. Khổng Tử đã sáng lập ra “Tự học”, tự thu nạp các học trò lại để dạy. Như vậy, sự lũng đoạn về giáo dục của giới quý tộc đã bị phá tan. Khổng Tử đề xuất ra khẩu hiệu “Hữu giáo vô loại”, thu nhận học sinh không hạn chế bởi môn đệ, đẳng cấp, cho nên trong đám học sinh không hạn chế bởi môn đệ, đẳng cấp, cho nên trong đám học sinh của ông vừa có con em quý tộc vừa có con em dân nghèo, vừa có người nước Lỗ lại có người của các quốc gia khác. Ông đã mở ra khóa trình bốn môn học là đức hạnh, ngôn ngữ, chính trị và văn học; còn dạy dỗ cho học sinh kỹ năng của “Lục nghệ” là lễ tiết, âm nhạc, bắn nỏ, đánh xe, viết chữ, toán học... Khổng Tử coi câu nói “Học nhi bắt yến, hối nhân bất quyền” là châm ngôn luôn luôn treo trước mặt, có nghĩa là, việc học tập không bao giờ được coi là đầy đủ, việc dạy dỗ cho con người cũng không biết mệt mỏi. Ông động viên học sinh kết hợp, thống nhất giữa học tập và suy nghĩ, cho rằng chỉ đọc sách một cách cứng nhắc mà không suy xét đúng mức thì sẽ có thể bị mê hoặc; chỉ suy đi nghĩ lại mà không chăm chỉ học tập thì sẽ có thể bước lệch lạc, nếu vậy thì càng nguy hiểm. Những phương pháp và thái độ dạy học của Khổng Tử được người đời rất ca tụng. Khổng Tử làm giáo dục đã giành được thành tích rất to lớn. Truyền thuyết kể rằng học sinh của ông trước sau đã có tới ba nghìn người, trong số học sinh có thành tích nổi trội có tới 72 người, hiện tượng này vào thời đó là điều đáng kinh ngạc!

Trong số học sinh của Khổng Tử có nhiều nhân tài xuất sắc, như Nhan Uyên, Mẫn Tổn nổi tiếng về phẩm đức tốt; như Tử Lộ, Nhiễm Hữu trội hẳn lên về chính trị; như Tử Cống, Công Tây Hoa ngôn luận, trí tuệ vượt người; còn có Tử Hạ, Tử Du, Tể Ngã... được Khổng Tử rất yêu quý.

Có một lần, Tử Lộ hỏi Khổng Tử:

- Một người nếu đã nghe hiểu được chủ trương, có nên lập tức thi hành ngay không?

Khổng Tử bình tĩnh trả lời:

- Trước hết nên hỏi ý kiến người khác, sau đó sẽ quyết định có nên thực hành hay không?

Khổng Tử bình tĩnh trả lời:

- Trước hết nên hỏi ý kiến người khác, sau đó sẽ quyết định có nên thực hành hay không?

Khổng Tử bình tĩnh trả lời:

- Trước hết nên hỏi ý kiến người khác, sau đó sẽ quyết định có nên thực hành hay không?

Sau khi Tử Lộ đi rồi, Nhiễu Hữu cũng tới hỏi thầy:

- Nếu cho rằng làm một việc tốt, liệu có nên làm ngay không?

Khổng Tử lập tức nói:

- Điều đó thì tất nhiên rồi, cần phải lập tức làm ngay!

Công Tây Hoa có mặt ở đó rất buồn bực, hỏi Khổng Tử”

- Tử Lộ và Nhiễu Hữu hỏi cùng một sự việc, tại sao câu trả lời của thầy lại không giống nhau?

Khổng Tử nói:

- Bình thường Tử Lộ làm việc gan dạ, thế nhưng rất thô lộ, dễ khinh xuất, thì ta khuyên hắn phải lắng nghe ý kiến của người khác. Nhiễu Hữu làm việc vững vàng thận trọng, nhưng không đủ dũng khí, còn nghi ngại, thì ta động viên hẳn làm việc phải quyết đoán.

Phương pháp “giáo dục theo đối tượng” này của Khổng Tử thực sự rất cao minh. Ngoài ra, ông còn có một số câu nói như: “Tam nhân hành tất hữu ngã sư”, “Ôn cố như tri tân”, “Tri tri vi tri tri, bất tri vi bất tri, thị tri dã”(1) cũng rất được mọi người tín phục.

Những năm cuối đời, Khổng Tử tập trung tinh thần và sức lực chỉnh lý các điểm tích văn hóa cổ đại. Truyền thuyết kể rằng Ngũ Kinh bao gồm “Dịch”, “Lễ”, “Thượng Thư”, “Thi Kinh” “Nhạc”... đều do ông chỉnh lý và sửa chữa. Ông còn chỉnh lý và sửa chữa Xuân Thu, bộ sách lịch sử theo thể biên niên đầu tiên của Trung Quốc. Những điển tích văn hóa cổ điển này được lưu truyền đến ngày nay, có tác dụng to lớn đối với việc truyền bá học thuyết của Nho gia, được tôn thờ là bộ sách “kinh điển” của Nho gia. Đó là công lao vĩ đại của Khổng Tử. Sau khi Khổng Tử qua đời, các đệ tử của ông đã đem những lời nói và việc làm của ông ghi chép, chỉnh lý lại, biên tập thành bộ Luận ngữ. Đây là bộ sách ghi chép những tư tưởng chủ yếu của Khổng Tử.

ở thời Xuân Thu, một tư tưởng khác cũng nổi tiếng không kém Khổng Tử, đó là Lão Tử. Lão Tử là người huyện Khổ, nước Sở (phía Đông huyện Lộc ấp, tỉnh Hà Nam ngày nay), họ Lý, tên Nhĩ, từng làm quan viên của nhà tàng thư triều Chu, sau vì chiến tranh loạn lạc và thế nước suy yếu, ông đã rời bỏ triều Chu, đi nơi khác.

Truyền thuyết kể rằng Khổng Tử đã từng thỉnh giáo qua Lão Tử, còn ca tụng Lão Tử là “con rồng” bay vút lên trời cao. Thế nhưng tư tưởng của Lão Tử và Khổng Tử không giống nhau. Lão Tử cho rằng trời là vật chất, chính là nói trời là thứ không có ý chí, không thể chi phối họa phúc cát hung của con người trong thế gian. Chỉ có “Đạo” mới là nền tảng của vạn vật. Đạo đã tồn tại từ trước trời đất, chính là Đạo sản sinh ra vạn vật, mà con người không nhìn thấy và sờ thấy. Đồng thời, Đạo lại lấy tự nhiên làm căn cứ, thế giới vạn vật chính là chịu sự ràng buộc của các quy luật tự nhiên. Tư tưởng này của Lão Tử đã phủ định sự tồn tại và quyền uy của thiên thần.

Điều đặc biệt quý là Lão Tử có tư tưởng biện chứng phong phú. Ông cho rằng sự vật có liên hệ với nhau và chuyển hóa lẫn nhau. Ví dụ, ông nói: “Hữu vô tương sinh, nan dị tương thành, trường đoản tương hình, cao hạ tương khuynh”, “Họa hề phúc chi sở ỷ, phúc hề họa chi sở phục”.(2)

Trước tình trạng chiến tranh liên miên, đời sống nhân dân khổ sở, Lão Tử cực kỳ bất mãn, phê phán không tiếc lời bọn thống trị bóc lột nhân dân, chủ trương quan tâm đến nỗi đau khổ của dân chúng, nỗ lực giúp đỡ họ, thế nhưng đồng thời ông lại chủ trương “Vô vi tri nhi tri”(3) để cho dân chúng “vô tri vô dục”(4), theo ông, có như vậy xã hội mới được yên ổn. Tư tưởng này của Lão Tử hoàn toàn khác với tư tưởng tích cực nhập thế của Khổng Tử, có mặt hợp lý, nhưng cũng có mặt không chính xác.

Khi Lão Tử đi khỏi triều Chu, qua Hàm Cốc Quan. Viên Lệnh doãn của Hàm Cốc Quan biết ông có học vấn cao sâu, khuyên ông:

- Ngài sắp ra đi rồi, xin ngài hãy viết cho tôi một bộ sách.

Lão Tử bèn viết ra một bộ sách Đạo đức kinh, còn có tên là Lão Tử. Hiện tại chúng ta tìm hiểu tư tưởng Lão Tử, chủ yếu là căn cứ vào bộ sách này.

Lão Tử được người đời sau gọi là cụ Tổ của “Đạo gia”. Đạo gia và nho gia chủ trương tuy không giống nhau, nhưng đều là lưu phái tư tưởng quan trọng trong thời cổ đại Trung Quốc, đã có ảnh hưởng rất lớn đối với hậu thế.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.